Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người, hay nhân quyền, là một giá trị cơ bản, quan trọng của nhân loại. Đó là thành quả của sự phát triển lịch sử, là một đặc trưng của xã hội văn minh. Quyền con người cũng là một quy phạm pháp luật, đương nhiên nó đòi hỏi tất cả mọi thành viên của xã hội, không loại trừ bất cứ ai, đều có quyền và nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền và tự do của mọi người.
Được chính thức pháp điển hóa trong luật quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quyền con người đã trở thành một hệ thống các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế có tính chất bắt buộc với mọi quốc gia, và việc tôn trọng, bảo vệ các quyền con người đã trở thành thước đo về trình độ văn minh của các nước và các dân tộc trên thế giới. Ở Việt Nam, kể từ khi giành độc lập năm 1945, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến quyền con người. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2/9/1945 được coi là một văn kiện có tính lịch sử trên phương diện quốc tế về quyền con người. Trên cơ sở đó, quyền con người đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp nước ta: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và gần đây nhất là Hiến pháp 1992 sửa đổi ngày 28 tháng 11 năm 2013 tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII.
Mặc dù quyền con người có ứng dụng và ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội nhưng do một số nguyên nhân, hoạt động giáo dục về quyền con người ở nước ta còn nhiều hạn chế. Điều này dẫn tới một số hệ quả tiêu cực đó là do thiếu kiến thức về quyền, người dân không biết tự bảo vệ các quyền của mình, đồng thời thiếu ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện các nghĩa vụ công dân, dẫn đến sự vi phạm các quyền hợp pháp của người khác hoặc của cộng đồng.
Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, việc giáo dục nhân quyền có ý nghĩa to lớn hơn bao giờ hết vì nó thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam với thế giới và khu vực, góp phần xây dựng nền văn hóa nhân quyền toàn cầu. Xuất phát từ những nhu cầu lý luận và thực tiễn trên đây, việc nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá những thành tựu đã đạt được và những khuyết điểm còn tồn tại của giáo dục nhân quyền; đồng thời xác định phương hướng hoàn thiện hóa giáo dục nhân quyền là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách cả trên bình diện quốc gia và ở từng địa phương.
Đắk Lắk là một tỉnh lớn ở vùng Tây Nguyên. Vấn đề giáo dục pháp luật nói chung, những năm qua đã được quan tâm phát triển bởi các cơ quan hữu quan. Tuy nhiên, vấn đề giáo dục quyền con người còn là vấn đề mới, cần được nghiên cứu sâu sắc cả về lý luận cũng như thực tiễn để tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động này trong thời gian tới. Do vậy, tôi chọn đề tài “Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay” làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp –Luật Hành chính của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Vấn đề giáo dục pháp luật nói chung đã nhận được sự quan tâm của nhiều cơ quan, tổ chức và các nhà khoa học. Từ năm 1995 tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, có thể kể tên một số công trình tiêu biểu sau:
- Công trình đã viết thành sách:
Bàn về giáo dục pháp luật của hai tác giả Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1995; Sống và làm việc theo pháp luật – Một số vấn đề giáo dục pháp luật cho thanh niên, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1997; Giáo dục quyền con người, Những vấn đề lý luận và thực tiễn của GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên,NXB Khoa học xã hội, 2011.
- Các đề tài khoa học cấp Nhà nước và cấp bộ:
Tìm kiếm mô hình giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít người, Đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, 1995; Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các trường chính trị ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2000; Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chương trình quốc gia về phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn tới, Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp, 2004…
- Các luận án, luận văn:
Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ Luật học của tác giả Dương Thanh Mai, 1996; Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay, Luận án Phó tiến sĩ Luật học của tác giả Đinh Xuân Thảo, 1996; Giáo dục quyền con người, quyền công dân ở nước ta hiện nay – Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Nguyễn Hữu Trí, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2001 và một số luận văn thạc sĩ luật học, luận văn cử nhân của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở khác.
Các công trình nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề rất cơ bản cả về lý luận và thực tiễn trong hoạt động giáo dục pháp luật trên nhiều góc độ. Tuy nhiên, có thể nói rằng, hiện nay vẫn có rất ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục quyền con người, nhất là nghiên cứu ở bình diện một địa phương như tỉnh Đắk Lắk. Vì vậy, đây là đề tài nghiên cứu có hệ thống trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình, tài liệu khoa học trên và các tài liệu khác có liên quan về giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của Luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng của vấn đề quyền con người, giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk hiện nay, để xác định được phương hướng, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ:
- Tìm hiểu những khái niệm, tính chất và đặc điểm của quyền con người;
- Hệ thống hóa lý luận chung về giáo dục quyền con người;
- Đánh giá thực trạng của công tác giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk hiện nay;
- Từ thực trạng đó, đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác giáo dục quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về quyền con người và giáo dục về quyền con người, trên cơ sở đó làm nền tảng để nghiên cứu vấn đề thực trạng hoạt động giáo dục quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk thời gian qua, nghiên cứu những giải pháp nâng cao việc hoàn thiện hoạt động này trong thời gian tới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về đối tượng: Hoạt động giáo dục quyền con người của các chủ thể có thẩm quyền, trách nhiệm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
- Phạm vi về nội dung: Quyền con người nói
- Phạm vi thời gian, không gian: Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; trong khoảng thời gian từ 2013 trở lại đây (2016).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với quyền con người, với giáo dục quyền con người ở nước ta.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, hệ thống, so sánh, phân tích, tổng hợp để nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng giáo dục về quyền con người ở Đắk Lắk hiện nay nhằm đề xuất, luận chứng một cách khoa học phương hướng, giải pháp tăng cường giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo nghiên cứu tương đối có hệ thống về giáo dục quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay; trên cơ sở tính đặc thù của quyền con người và hoạt động giáo dục quyền con người, Luận văn đánh giá thực trạng và phân tích nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk trong thời gian qua; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp góp phần thực hiện tốt vấn đề giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.
7. Kết cấu Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục quyền con người
- Chương 2: Thực trạng và quan điểm, giải pháp giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk hiện nay
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI
1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI
1.1.1. Khái niệm, tính chất và đặc điểm quyền con người
1.1.1.1. Khái niệm quyền con người Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Quyền con người, theo định nghĩa trong “Đại từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học, cũng chính là “nhân quyền” [56]. Cho đến nay, chúng ta phải thừa nhận rằng khó có thể tìm thấy một định nghĩa triết học “kinh điển” nào về quyền con người. Ngay cả những nhà tư tưởng lớn như Lôccơ [John Locke (1632–1704)], Rútxô [Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778)]… và sau này Mác [Karl Heinrich Marx (1818 – 1883)], Engen [Friedrich Engels (1820 – 1895)], Lênin [Vladimir Ilyich Lenin (1870 – 1924)] cũng không đưa ra một định nghĩa nào về khái niệm này giống như cách làm thông thường đối với các khái niệm triết học khác. Nhìn lại quá khứ và hiện tại, quyền con người thường được nhìn nhận theo các khuynh hướng khác nhau, trong đó chủ yếu theo bốn khuynh hướng là: Tự nhiên, thực định, kinh tế và quan niệm.
- Thứ nhất: Khuynh hướng “quyền tự nhiên”:
Những tư tưởng coi quyền con người là quyền “tự nhiên”, “trời phú” đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại. Ở Trung Quốc, Mặc Tử (479-381 trước Công nguyên) đã cho rằng quyền bình đẳng tự nhiên của con người đó là “ý trời”. Theo đó, mỗi người đều có quyền tham gia công việc Nhà nước tuỳ theo đạo đức và tài năng của họ, chứ không phải do dòng dõi quyết định. Cũng như vậy, mỗi người đều có các quyền giống nhau và đều bị trừng phạt nếu phạm tội. Ở Hy Lạp cổ đại, các nhà triết học cũng có những tư tưởng tương tự.
Giai cấp tư sản khi thực hiện cách mạng tư sản, đã coi quyền con người như một vũ khí của mình để tranh giành quyền lực với giai cấp phong kiến, và để tập hợp lực lượng trong xã hội; do đó ngay từ thế kỷ XVIII vấn đề nhân quyền đã được giai cấp tư sản đề cập, tiêu biểu như trong Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789.
Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ dựa trên Mười tu chính án do James Madison (1751 – 1836) đưa ra. Các tu chính án này hạn chế quyền lực của chính quyền liên bang, bảo vệ quyền của tất cả công dân, những người sinh sống trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Trong các quyền được liệt kê mà các tu chính án này đảm bảo có: tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo; quyền được mang vũ khí của người dân; quyền tự do hội họp; quyền tự do kiến nghị; quyền không bị lục soát và tịch thu vô lý; quyền không bị hình phạt tàn bạo và bất bình thường; quyền không bị tự buộc tội do bị ép buộc. Đạo luật Nhân quyền cũng hạn chế quyền của Quốc hội bằng cách cấm Quốc hội ban hành luật về thành lập tôn giáo và cấm chính quyền liên bang tước quyền sống, quyền tự do hay tài sản của bất kỳ người nào mà không thông qua tố tụng pháp luật.
Trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, quyền con người là những quyền được bảo hộ “Quốc hội thừa nhận và tuyên bố, với sự chứng kiến và sự bảo hộ của đấng tối cao, các quyền sau đây của con người là của con người và của công dân” [23, tr.21]. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Nội dung Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp được tiếp tục thể hiện trong Hiến pháp của Cộng hòa Pháp năm 1958, với tư tưởng chủ đạo là “Hoạt động tự do của con người là một quyền tự nhiên, vì vậy, không cần phải liệt kê lại những quyền gì là được phép: tất cả những gì luật pháp không nghiêm cấm đều được phép làm; ngược lại, cần phải xác định rõ những điều cần nghiêm cấm, dĩ nhiên là có xét đến những quy định trong Hiến pháp”[19, tr.370].
Về mặt xã hội, thuyết quyền tự nhiên mang ý nghĩa phản kháng. Nó là tư tưởng của các lực lượng tiến bộ chống lại trật tự xã hội bất công, bất bình đẳng. Vì thế, không chỉ trong quá khứ, mà cả ngày nay thuyết này vẫn có ý nghĩa nhất định.
Thuyết quyền tự nhiên có điểm tích cực là đề cao con người với tư cách là sản phẩm cao nhất, tinh tuý nhất của sự phát triển tự nhiên. Nhưng nhược điểm của nó là ở chỗ, nó che lấp nguồn gốc xã hội của quyền con người và do đó, không thấy tính lịch sử, tính giai cấp, sự phát triển trong những đòi hỏi về quyền con người.
- Thứ hai: Khuynh hướng “thực định”:
Trái với khuynh hướng quyền tự nhiên – khuynh hướng không để ý đến mặt pháp luật và Nhà nước của quyền con người, khuynh hướng thực định lại coi quyền con người là tất cả những gì mà Nhà nước thông qua pháp luật để quy định cho cá nhân. Chỉ những gì pháp luật cho phép tự do làm hay không làm thì mới là quyền con người, và chỉ được coi là quyền con người khi một hành vi hay một yêu cầu của cá nhân là hợp pháp.
Khuynh hướng thực định có điểm hợp lý là đã gắn quyền con người với pháp luật, với ý chí mà Nhà nước (mà điều này thì không thể bỏ qua được, vì quyền con người tất nhiên phải tồn tại dưới hình thức pháp luật).
Nhưng, nó cũng có nhược điểm ở chỗ, nó chỉ coi ý chí Nhà nước là nguồn gốc của quyền con người, coi trọng tính hợp pháp của quyền, song lại không để ý đến tính hợp lý của nó – cái mà nhờ đó, ngay cả những đòi hỏi, những nhu cầu hợp lý cho cuộc sống (nhưng chưa được pháp luật ghi nhận) cũng phải được coi là quyền con người. Do đó, không thể coi quyền con người chỉ là cái được phép làm, được hưởng theo pháp luật, mà còn cả cái đáng được làm, đáng được hưởng (những cái chưa được pháp luật khẳng định, nhưng sẽ phải khẳng định).
- Thứ ba: Khuynh hướng “kinh tế”: Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Khuynh hướng kinh tế coi quyền con người là những quyền nảy sinh từ nhu cầu của sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác, khuynh hướng này coi nguồn gốc của quyền con người là kinh tế. Không phải “trời phú” tự nhiên, cũng không phải do Nhà nước ban phát, mà chính đời sống kinh tế của con người trao cho con người các quyền. Giáo sư Viện khoa học xã hội Trung Quốc – Từ Sùng Ôn trong bài báo “Về phương pháp luận nghiên cứu vấn đề nhân quyền” trích Tạp chí “Nghiên cứu triết học”, số 12/1992 đã viết: “nhân quyền, suy cho cùng bắt nguồn từ điều kiện kinh tế – xã hội, phản ánh lợi ích cơ bản của một giai cấp nhất định”.
Khuynh hướng kinh tế có điểm hợp lý ở chỗ, nó cho thấy nguồn gốc của quyền con người là bản thân đời sống xã hội của con người. Nó tước bỏ cái vỏ “thần thánh”, “tự nhiên”, không giải thích được của quyền con người, trả quyền con người về với đời sống thực tại của con người. Theo khuynh hướng này, có thể đi đến quan điểm duy vật lịch sử về vấn đề quyền con người. Nó cũng cho thấy tính giai cấp trong những đòi hỏi về quyền con người.
Song, sẽ là không đầy đủ nếu coi quyền con người chỉ có nguồn gốc kinh tế. Quyền con người còn bao hàm những yêu cầu về danh dự, nhân phẩm, về đời sống tinh thần, tình cảm của con người…, nghĩa là những điều nằm ngoài phạm trù kinh tế.
- Thứ tư: Khuynh hướng “quan niệm”:
Khuynh hướng quan niệm cho rằng quyền con người là tất cả những gì mà con người cho là cần thiết và có giá trị đối với cuộc sống con người, tức là quyền lợi, nhu cầu, lợi ích và những giá trị tinh thần đều có thể trở thành quyền con người. Quyền con người là vấn đề phức tạp đa nghĩa, chứa đựng những mặt đối lập, mâu thuẫn, nhưng không loại trừ nhau. Đó là các mặt khách quan và chủ quan, tự nhiên và xã hội, kinh tế và tinh thần, văn hoá và chính trị, đạo lý và luật pháp. Nó cũng là sự kết hợp giữa các yếu tố quốc tế và dân tộc, giai cấp và nhân loại, v.v…
Qua phân tích trên đây có thể rút ra kết luận: Quyền con người là những quyền không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào; đó là: quyền sống, quyền tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc, quyền được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật, quyền an ninh thân thể, quyền không bị hình phạt tàn bạo và bất bình thường…Đó cũng là những đòi hỏi chính đáng về tự do và những nhu cầu cuộc sống cơ bản cần được đáp ứng của con người, không bị phá hủy khi xã hội dân sự được thiết lập và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ hoặc chuyển nhượng các quyền này. Nói cách khác, quyền con người đóng vai trò “là cơ sở để xác định tính điều chỉnh tự định đoạt của con người, khả năng độc lập của con người trong việc giải quyết các nhu cầu cá nhân” [19,tr.21]. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
1.1.1.2. Tính chất của quyền con người
Quyền con người có các tính chất cơ bản sau đây:
- Thứ nhất: Tính phổ biến
Tính phổ biến của nhân quyền thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người, không có sự phân biệt đối xử vì màu da, chủng tộc, dân tộc, giới tính, độ tuổi, thành phần xuất thân… Con người, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn được công nhận là con người và được hưởng những quyền và sự tự do cơ bản.
Liên quan đến tính chất này, cần lưu ý là bản chất của sự bình đẳng về quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, mà là bình đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người.
- Thứ hai: Tính đặc thù
Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng quyền con người nhưng mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống. Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, vấn đề quyền con người mang những sắc thái, đặc trưng riêng gắn liền với trình độ phát triển kinh tế – xã hội ở khu vực đó. Ví dụ: ở các nước Tây Âu, do điều kiện kinh tế phát triển nên con người ở đây được hưởng chế độ an sinh xã hội tốt hơn nơi khác. Ngược lại, ở một số nước châu Á, do kinh tế còn chậm phát triển nên mức độ thụ hưởng an sinh xã hội thấp hơn.
- Thứ ba: Tính không thể tước bỏ
Tính không thể tước bỏ của nhân quyền thể hiện ở chỗ các quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức Nhà nước. Ở đây, khía cạnh “tùy tiện” nói đến giới hạn của vấn đề. Nó cho thấy không phải lúc nào nhân quyền cũng “không thể tước bỏ”. Trong một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi một người phạm một tội ác thì có thể bị tước tự do theo pháp luật, thậm chí bị tước quyền sống.
- Thứ tư: Tính không thể phân chia
Tính không thể phân chia của nhân quyền bắt nguồn từ nhận thức rằng các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, nên về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào. Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người.
Tuy nhiên, tính chất không thể phân chia không hàm ý rằng mọi quyền con người đều cần phải được chú ý quan tâm với mức độ giống hệt nhau trong mọi hoàn cảnh. Trong từng bối cảnh cụ thể, cần và có thể ưu tiên thực hiện một số quyền nhất định, miễn là phải dựa trên những yêu cầu thực tế của việc đảm bảo các quyền đó chứ không phải dựa trên sự đánh giá về giá trị các quyền đó. Ví dụ, trong bối cảnh dịch bệnh đe dọa hoặc với những người bị bệnh tật, quyền được ưu tiên thực hiện là quyền được chăm sóc y tế; còn trong bối cảnh nạn đói, quyền được ưu tiên phải là quyền về lương thực, thực phẩm. Ở góc độ rộng hơn, trong một số hoàn cảnh, cần ưu tiên thực hiện quyền của một số nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong khi vẫn tôn trọng quyền của các nhóm khác. Điều này không có nghĩa là bởi các quyền được ưu tiên thực hiện có giá trị cao hơn các quyền khác, mà là bởi các quyền đó trong thực tế đang bị đe dọa hoặc bị vi phạm nhiều hơn so với các quyền khác.
- Thứ năm: Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của nhân quyền thể hiện ở chỗ việc đảm bảo các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác. Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác.
Thực tế cho thấy, để đảm bảo các quyền bầu cử, ứng cử (các quyền chính trị cơ bản), cần đồng thời bảo đảm một loạt quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khác có liên quan như quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc y tế, quyền có mức sống thích đáng… vì nếu không, các quyền bầu cử, ứng cử có rất ít ý nghĩa với những người đói khổ, bệnh tật hay mù chữ. Tương tự, việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đều gắn liền với sự phát triển của quyền dân sự, chính trị, bởi kết quả của việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị chính là sự ổn định, lành mạnh và hiệu quả trong quản lý Nhà nước, quản lý xã hội – yếu tố nền tảng để thúc đẩy các điều kiện sống về kinh tế, xã hội, văn hóa của mọi người dân. [11]
1.1.1.3. Đặc điểm của quyền con người
Nhận thức chung cho rằng, quyền con người là một phạm trù đa diện, có thể nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau như đạo đức, tôn giáo, chính trị, xã hội, pháp luật… cụ thể như sau:
- Thứ nhất, quyền con người nhìn từ góc độ đạo đức – tôn giáo
Những ý niệm đầu tiên về quyền con người có lẽ được nảy sinh từ quan niệm về các chuẩn mực đạo đức – cách thức đối xử giữa người với người trong xã hội –mà vốn có và hiện còn trong văn hóa truyền thống của hầu hết dân tộc trên trái đất. Cụ thể, ở khắp nơi trên thế giới, người ta đều lưu truyền những quy tắc ứng xử, coi đó là những quy luật vàng, kiểu như: nếu muốn người khác đối xử với mình như thế nào thì hãy đối xử với người khác như thế, ác giả ác báo hoặc gieo gì gặt nấy… Rõ ràng, ẩn chứa trong nội hàm các quy luật vàng này là yêu cầu tôn trọng các quyền, tự do chính đáng và tự nhiên của người khác.
Những quy tắc đạo đức hàm chứa những ý tưởng về quyền con người như vậy sau đó được đúc kết, khái quát, bổ sung và phát triển trong giáo lý của các tôn giáo. Sức mạnh đức tin của các tôn giáo đó biến các ý tưởng về quyền con người trở thành những quy phạm đạo đức – tôn giáo được tuân thủ rộng rãi ở nhiều xã hội, trong đó đề cao và cổ vũ tình yêu thương đồng loại, sự công bằng, bình đẳng, tự do và nhân phẩm – những yếu tố nền tảng của quyền con người.
Nhìn tổng thể, trong suốt quá trình phát triển của quyền con người, kể cả khi các quyền con người đã được pháp điển hóa trong pháp luật quốc gia và quốc tế, nó vẫn bị các phạm trù đạo đức và tôn giáo chi phối. Sự chi phối đó không bộc lộ, lặng lẽ, tàng ẩn nhưng rất sâu sắc. Nói cách khác, trong suốt tiến trình phát triển của nó, quyền con người luôn phản ánh và mang nặng dấu ấn của các giá trị và quy tắc đạo đức, tôn giáo. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
- Thứ hai, quyền con người nhìn từ góc độ lịch sử – xã hội
Xét tổng thể, lịch sử loài người thực chất là một quá trình phấn đấu không ngừng để tồn tại và nâng cao các tiêu chuẩn sống, trong đó bao gồm việc phấn đấu để xác lập và bảo vệ những giá trị tự do, bình đẳng, công bằng và nhân phẩm cho tất cả các cá nhân thành viên của cộng đồng nhân loại. Theo dòng lịch sử, ảnh hưởng và tác động của quyền con người ngày càng mở rộng, từ ý niệm, tư tưởng đến các quy tắc, quy phạm và cơ chế; từ cấp độ cộng đồng đến cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Trong suốt quá trình phát triển này, quyền con người luôn mang những dấu ấn về chính trị, kinh tế, văn hóa của từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử của xã hội loài người.
- Thứ ba, quyền con người từ góc độ triết học
Trên phương diện triết học, sự hình thành, phát triển của quyền con người phản ánh quy luật của xã hội loài người từ thấp đến cao. Cụ thể, nó phản ánh quá trình phát triển mang tính quy luật trong nhận thức của loài người từ những khái niệm sơ khai nhất về công bằng, bình đẳng, tự do và nhân phẩm cho đến những tư tưởng, học thuyết và những quy phạm pháp lý về quyền con người.
Trong triết học, quyền con người từ lâu đã trở thành một đối tượng nghiên cứu với những tư tưởng, học thuyết được phát triển bởi nhiều nhà triết học nổi tiếng. Những tư tưởng triết học về quyền con người, đặc biệt là về các quyền tự nhiên và các quyền pháp lý là nền tảng lý luận cho việc pháp điển hóa các quyền con người vào pháp luật quốc gia và quốc tế, cũng như trong việc bảo đảm thực hiện các quyền này trên thực tế.
- Thứ tư, quyền con người từ góc độ chính trị
Ngay từ khi còn ở dưới dạng quan điểm, tư tưởng, quyền con người đã là một vấn đề ảnh hưởng, chi phối quan hệ chính trị, cả ở phạm vi quyết định giúp giai cấp tư sản lật đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến.
Sau đó, quyền con người đã trở thành một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Ngay từ khi quyền con người bắt đầu được pháp điển hóa trong luật quốc tế (kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai), vấn đề quyền con người đã bị “chính trị hóa” một cách sâu sắc và hệ thống. Từ khi cuộc Chiến tranh Lạnh kết thúc cho đến thời điểm hiện nay, mặc dù mức độ “chính trị hóa” quyền con người đã ít nhiều giảm đi, tuy nhiên, đây vẫn là hiện thực không thể tránh khỏi và sẽ cùng tồn tại lâu dài trong các hoạt động quốc tế về quyền con người. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Xét ở phạm vi quốc tế, quyền con người đã trở thành một trong những vấn đề chi phối (trực tiếp hoặc gián tiếp) mạnh mẽ và toàn diện các quan hệ chính trị quốc tế ở mọi cấp độ, từ toàn cầu, khu vực đến song phương. Xét ở phạm vi quốc gia, từ lâu, các đảng phái chính trị trên thế giới đã nhanh chóng nhận thấy và nắm lấy quyền con người như một thứ vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh giành và giữ quyền lực Nhà nước. Quyền con người trở thành các tiêu chí được dùng để đánh giá tính tiến bộ, phù hợp trong cương lĩnh tranh cử; trở thành cơ sở để các đảng phái phê phán, chỉ trích lẫn nhau; thậm chí trở thành một yếu tố quyết định sự tồn vong của một chính thể, một người đứng đầu Nhà nước hoặc một chế độ xã hội. Tại nhiều nước trên thế giới hiện nay, quyền con người đã trở thành một trong các chủ đề trung tâm không chỉ trong cuộc đấu tranh quyền lực giữa các chính đảng, mà còn trong các chính sách đối nội, đối ngoại của quốc gia.
- Thứ năm, quyền con người từ góc độ pháp lý
Là một phạm trù đa diện, song quyền con người có mối liên hệ gần gũi hơn cả với pháp luật. Điều này trước hết là bởi cho dù quyền con người có là bẩm sinh, vốn có (nguồn gốc tự nhiên) hay phải do các nhà nước quy định (nguồn gốc pháp lý), thì việc thực hiện các quyền vẫn cần có pháp luật. Hầu hết những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người (các quyền tự nhiên) không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà trở thành những quy tắc ứng xử chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả mọi chủ thể trong xã hội. Chính vì vậy, quyền con người gắn liền với các quan hệ pháp luật và là một phạm trù pháp lý.
Thực tế cho thấy, với tư cách là chủ thể của pháp luật, con người – cùng với quyền, tự do và nghĩa vụ, những thuộc tính xã hội gắn liền với nó – luôn là đối tượng phản ánh của các hệ thống pháp luật. Pháp luật xác lập và bảo vệ sự bình đẳng giữa các cá nhân con người trong xã hội và sự độc lập tương đối của các cá nhân với tập thể, cộng đồng, nhà nước, thông qua việc pháp điển hóa các quyền tự do tự nhiên, vốn có của cá nhân. Theo nghĩa này, pháp luật có vai trò đặc biệt, không thay thế trong việc ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người. Vai trò của pháp luật với quyền con người thể hiện ở những khía cạnh cụ thể như sau:
Pháp luật là phương tiện chính thức hóa, pháp lý hóa giá trị xã hội của các quyền tự nhiên: Mặc dù được thừa nhận song thông thường các quyền tự nhiên không mặc định được áp dụng trực tiếp trong xã hội. Về nguyên tắc, các nhà nước trên thế giới chỉ bảo đảm thực hiện những quyền pháp lý – tức là có nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người đã được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Như vậy, chỉ khi mang tính pháp lý, các quyền tự nhiên mới chuyển thành những quyền con người có đầy đủ giá trị hiện thực. Pháp luật chính là phương tiện để thực hiện quá trình chuyển hóa đó. Nó có sứ mệnh cao cả là biến những nghĩa vụ pháp lý (hay các quy tắc cư xử chung do Nhà nước cưỡng chế thực hiện), từ đó xã hội hóa giá trị các quyền tự nhiên của con người. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Pháp luật là phương tiện đảm bảo giá trị thực tế của các quyền con người: như đã đề cập, chỉ khi được quy định trong pháp luật, việc tuân thủ và thực hiện các quyền con người mới mang tính bắt buộc với mọi chủ thể trong xã hội. Ở đây, pháp luật đóng vai trò là công cụ giúp Nhà nước bảo đảm sự tuân thủ, thực thi các quyền con người của các chủ thể khác nhau trong xã hội, đồng thời cũng là công cụ của các cá nhân trong việc bảo vệ các quyền con người của chính họ thông qua việc vận dụng các quy phạm và cơ chế pháp lý quốc gia và quốc tế có liên quan.
Thực tế cho thấy, tư tưởng đề cao pháp luật, coi pháp luật là phương tiện hữu hiệu để bảo đảm các quyền con người đã được khẳng định từ rất sớm. Từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên, một vị vua vĩ đại của xứ Babylon là Hammurabi (1810 –1750 TCN) đã tuyên bố rằng, mục đích của ông trong việc ban hành đạo luật cổ nổi tiếng (mang tên ông) là để “…ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức người yếu”. Vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, một nhiếp chính quan La Mã là Arokhont Salon đã tuyên bố ý định giải phóng cho tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp sức mạnh với pháp luật. Trong giai đoạn sau này, tư tưởng đề cao pháp luật với việc bảo đảm quyền con người cũng được phát triển nhiều bởi các nhà tư tưởng nổi tiếng của nhân loại, và được chứng minh bằng sự ra đời của ngày càng nhiều các văn bản pháp luật quốc gia và quốc tế về quyền và tự do của con người, từ Đại Hiến chương Magna Carta (the Magna Carta, 1251), Bộ luật về các quyền (the Bill of Rights, 1689) của nước Anh; Tuyên ngôn về các quyền của con người và của công dân (the Declaration of the Rights of Man and of the Citizen, 1789) của nước Pháp; Tuyên ngôn Độc lập (the Declaration of Independence, 1776) và Bộ luật về các quyền (the Bill of Rights, 1789/1791) của Mỹ cho tới Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và hệ thống đồ sộ hàng trăm văn kiện quốc tế về quyền con người do Liên Hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác thông qua từ đầu thế kỷ XX đến nay. Tất cả đã cho thấy vai trò không thể thay thế của pháp luật trong việc bảo đảm các quyền con người.
1.1.2. Giáo dục quyền con người Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
1.1.2.1. Khái niệm giáo dục quyền con người
Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị đập tan năm 1945, vấn đề nhân quyền đã trở thành mối quan tâm của cả Nhà nước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, nên khi tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời thì vấn đề cơ bản, đầu tiên nêu ra của tổ chức này là vấn đề nhân quyền. Liên Hợp Quốc đã ban hành hàng loạt các văn kiện khẳng định các quyền và tự do của tất cả mọi người, đặc biệt khi Hiến chương Liên Hợp Quốc 1945 và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 ra đời thì vấn đề nhân quyền đã chuyển sang một bước ngoặt mới trong lịch sử nhân loại, trở thành một quan hệ cơ bản được điều chỉnh bằng pháp luật quốc tế. Trong thời gian qua, thuật ngữ “giáo dục quyền con người” cũng liên tục xuất hiện trong các văn kiện của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khu vực như Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), Tổ chức các nước châu Mỹ (OAS), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)… Đồng thời, thuật ngữ “quyền con người” cũng xuất hiện trong văn bản của các bộ giáo dục và của các tổ chức phi chính phủ. Tôn trọng và thúc đẩy việc bảo đảm quyền con người đã trở thành xu thế tất yếu mang tính toàn cầu, vấn đề giáo dục quyền con người, cũng vì đó, trở thành vấn đề được quan tâm đặc biệt ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.
- Hiện nay, có nhiều định nghĩa về giáo dục quyền con người:
“Giáo dục quyền con người được định nghĩa là các nỗ lực về đào tạo, phổ biến và thông tin nhằm tạo lập nền văn hóa toàn cầu về quyền con người thông qua truyền đạt kiến thức, các kỹ năng, hình thành các thái độ và hướng tới: Tăng cường tôn trọng quyền con người và các tự do cơ bản; Phát triển đầy đủ nhân cách con người và ý thức về nhân phẩm; Tăng cường hiểu biết, khoan dung, bình đẳng giới và tính hữu nghị giữa các dân tộc, người bản địa và các nhóm chủng tộc, quốc gia, đạo đức, tôn giáo và ngôn ngữ…” [58, tr.33].
“Giáo dục quyền con người là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có mục đích của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ tri thức về quyền con người để biết tự mình bảo vệ quyền của mình và tôn trọng quyền của người khác phù hợp với các yêu cầu, đòi hỏi của các chuẩn mực trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về quyền con người” [3]. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
“Giáo dục quyền con người là tất cả quá trình học hỏi để phát triển kiến thức, kỹ năng và các giá trị của quyền con người, nhằm thúc đẩy sự công bằng, khoan dung, nhân phẩm, cũng như tôn trọng các quyền và nhân phẩm của người khác” [58].
Trong cuốn sách Hướng dẫn giáo dục nhân quyền xuất bản tại Đại học Minnesota của Mỹ năm 2000, bà Nancy Flowers – một nhà giáo, nhà hoạt động nhân quyền của Mỹ đã định nghĩa giáo dục nhân quyền là “tất cả những hiểu biết nhằm phát triển kiến thức, kỹ năng và các giá trị của nhân quyền.” Theo bà, giáo dục nhân quyền liên quan đến sự kết hợp xem xét giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài. Sự hiểu biết về nhân quyền tất yếu gắn với việc áp dụng hệ thống giá trị nhân quyền trong mối quan hệ giữa con người với con người, trong gia đình và với các thành viên trong cộng đồng. Trong đó, bà nói đến kỹ năng “phát triển con người”, đó là những kỹ năng công nhận thiên hướng của bản thân mỗi người, chấp nhận những khác biệt và chịu trách nhiệm bảo vệ quyền của những người khác. Tuy nhiên, trong công việc của mình, những người lập chương trình giáo dục nhân quyền phải tính đến bối cảnh xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế và khả năng tác động của việc giáo dục đó đối với chuyển biến của xã hội.
Còn theo bà Felisa Tibbitts – giám đốc Hiệp hội nhân quyền của Mỹ thì “về cơ bản, giáo dục nhân quyền là hoạt động xây dựng các nền văn hóa nhân quyền trong các cộng đồng của chúng ta.”
Theo một định nghĩa khác của ông Shulamith Koening – người sáng lập “Thập kỷ giáo dục nhân quyền toàn dân” (PDHRE) thì giáo dục nhân quyền là “để mọi người biết về nhân quyền và đưa ra đòi hỏi về nhân quyền” [58, tr.30].
Như vậy, nói một cách đơn giản, giáo dục quyền con người là một quá trình nhằm truyền đạt các kiến thức, các kỹ năng để người học có những hiểu biết về quyền con người, những giá trị phẩm giá, bình đẳng, tin cậy lẫn nhau, sự tôn trọng và hiểu biết về quyền của người khác, tôn trọng pháp luật để từ đó thúc đẩy mọi người tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội và cùng nhau xây dựng một “nền văn hóa nhân quyền” chung [18]. Đó cũng là việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến cho mỗi cá nhân trong cộng đồng hiểu rõ những quyền cơ bản của họ, đồng thời giúp họ hiểu được cách thức bảo vệ các quyền đó cũng như đạt được các kỹ năng để có thể sử dụng các quyền này trong cuộc sống.
1.1.2.2. Mục đích của giáo dục quyền con người
Mục đích là cái nhằm đạt được sự mong muốn, hoài bão, ý chí của một con người hay tổ chức thông qua suy nghĩ và các hoạt động cụ thể trong cuộc sống. Mục đích giáo dục quyền con người là một vấn đề vô cùng quan trọng trong giáo dục quyền con người, vì không những nó chi phối, ảnh hưởng một cách toàn diện và sâu sắc đến những yếu tố quan trọng khác của xã hội, mà còn chi phối, ảnh hưởng một cách toàn diện và sâu sắc về mọi mặt trong đời sống của con người – động lực và mục tiêu phát triển của xã hội. Giáo dục quyền con người có nhiều mục đích khác nhau, nhưng ta có thể dựa vào “bộ ba mục đích” của phổ biến giáo dục pháp luật nói chung để xác định mục đích của việc giáo dục quyền con người. Mục đích giáo dục pháp luật bao gồm ba tiêu chí: Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
- Tiêu chí 1: đạt được mục đích nhận thức pháp luật
- Tiêu chí 2: đạt được mục đích thái độ, tình cảm, niềm tin pháp luật
- Tiêu chí 3: đạt được mục đích hành vi, phù hợp pháp luật [28, tr.3-8].
Giáo dục ý thức quyền con người, theo ba tiêu chí đó, cũng nhằm những mục đích chính như sau:
Mục đích nhận thức: Giáo dục quyền con người nhằm hình thành và mở rộng tri thức về quyền con người. Mục đích cảm xúc: giáo dục quyền con người nhằm hình thành tình cảm và lòng tin đối với việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con người. Mục đích hành vi: giáo dục quyền con người nhằm hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự hợp pháp, tích cực để bảo đảm, bảo vệ và thực hiện quyền con người.
Mục đích giáo dục quyền con người là nhằm khơi gợi biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm và thái độ của đối tượng theo hướng tích cực, góp phần hoàn thiện nhân cách đối tượng bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội, nhằm xây dựng nguồn lực con người – động lực của sự phát triển bền vững. Bên cạnh đó, mục đích giáo dục quyền con người còn tạo ra những con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội: hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của việc bảo vệ quyền con người và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Giáo dục quyền con người cũng đồng thời cung cấp một cơ sở cho việc giải quyết xung đột và thúc đẩy các trật tự xã hội. Quyền của con người thường xuyên xung đột, ví dụ khi một người vi phạm vào trật tự an toàn xã hội, họ đã xung đột với quyền tự do của người khác. Vì vậy, hiểu biết về quyền con người cũng tạo ra một khuôn khổ để phân tích và giải quyết các xung đột. Giáo dục quyền con người đồng thời cũng là việc dạy các kỹ năng về đàm phán, thương lượng và đồng thuận. Mục đích của giáo dục nhân quyền, theo Liên Hợp Quốc, cũng là “Xây dựng một nền văn hóa nhân quyền toàn cầu và cho tất cả mọi người – xây dựng mối quan hệ hợp tác trên toàn cầu vì nhân quyền – thúc đẩy sự khoan dung trong tư tưởng nhân quyền rộng khắp thế giới” (theo Thông điệp các đại diện cao ủy Liên Hợp Quốc về nhân quyền nhân ngày nhân quyền năm 1997).
Người ta vẫn thường kêu gọi thực hiện các phong trào giải phóng con người, song có thể nói, chỉ có thể giải phóng con người dựa trên hiểu biết về quyền con người. Giáo dục quyền con người thông qua chuyển giao kiến thức, xây dựng kỹ năng và hình thành quan điểm được coi là nền tảng để thực hiện công tác phòng ngừa các vi phạm và trao cho con người quyền năng để tự giải phóng mình. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Thúc đẩy quyền con người trước hết là làm cho con người nhận thức được quyền con người để họ biết được các quyền của mình, hướng dẫn mọi người cách sử dụng các quyền đó một cách tốt nhất. Để đạt được mục đích này cần có sự tham gia của nhiều bên, trong đó có cả ngành giáo dục và các tổ chức phi chính phủ (NGO).
Tổ chức Ân xá quốc tế tin rằng, học về quyền con người là bước đầu tiên hướng tới sự tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người. Các chương trình giáo dục về quyền con người được xây dựng nhằm mục đích thúc đẩy việc giảng dạy về quyền con người. Các chương trình này phải được thiết kế để giúp các giáo viên của các trường từ mẫu giáo cho đến các trường đại học cũng như các nhà giáo dục làm việc trong các tổ chức phi chính thức như là các tổ chức cộng đồng, các diễn đàn xã hội, giáo dục nhân quyền… đều có thể sử dụng được nhằm để thúc đẩy các nguyên tắc về quyền con người và hệ thống các giá trị được thiết lập bởi Tuyên ngôn thế giới về quyền con người.
Giáo dục quyền con người giúp cho người dân cảm nhận được sự quan trọng của quyền con người, tiếp thu các giá trị về quyền con người và hòa nhập vào nó theo cách mà họ sống. Những giá trị và thái độ về quyền con người bao gồm:
- Củng cố sự tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản (Điều 30.2 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người);
- Giáo dục việc tôn trọng người khác và tôn trọng chính mình;
- Hiểu về bản chất của phẩm giá con người và tôn trọng phẩm giá của người khác;
- Cảm thông với những người bị vi phạm quyền và đoàn kết với họ;
- Công nhận rằng việc mọi công dân đều có quyền con người là một điều kiện tiên quyết để có một xã hội công bằng và nhân đạo;
- Quan niệm rằng khía cạnh quyền con người về dân sự, xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa là vấn đề gây xung đột ở khắp nơi trên thế giới;
- Tin tưởng rằng hợp tác thì tốt hơn là xung đột.
Tóm lại, mục đích của việc giáo dục quyền con người là để hướng con người vào việc phát triển có đủ đức, đủ tài, nói cách khác là nhằm trang bị và hoàn thiện cho con người, làm cho cá nhân con người trở nên hữu ích hơn với gia đình và cộng đồng xã hội… Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
1.1.2.3. Vai trò của giáo dục quyền con người
- Vai trò của giáo dục quyền con người trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền là thành tựu của nền văn minh nhân loại trong tiến trình phát triển xã hội loài người. Tư tưởng Nhà nước pháp quyền được hình thành từ lâu trong lịch sử và ngày càng hoàn thiện như một phương thức tổ chức Nhà nước mà trong đó có các đặc điểm nội bật như: quyền lực Nhà nước được bắt nguồn từ nhân dân; các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được phân công thực hiện rõ ràng; pháp luật là tối thượng; và các cam kết quốc tế được Nhà nước đảm bảo thực hiện. Đặc biệt, trong Nhà nước pháp quyền, quyền con người luôn luôn được coi trọng; pháp luật quy định đầy đủ về quyền con người và được bảo đảm trong thực tế. Nhà nước pháp quyền là một Nhà nước mà ở đó, quyền và nghĩa vụ của tất cả và của mỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Nhà nước và cá nhân phải tuân thủ pháp luật, việc thực hiện pháp luật được bảo đảm bằng một hệ thống Tòa án độc lập. Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọng giá trị cao nhất là con người. Nhà nước phải đảm bảo cho công dân có đủ khả năng và điều kiện chống lại sự tùy tiện của Nhà nước, có một cơ chế chặt chẽ để kiểm tra tính hợp pháp và hợp hiến của pháp luật và các hành vi của bộ máy chính quyền Nhà nước. Nhà nước pháp quyền phải tạo ra cho công dân sự bảo đảm rằng người ta không bị đòi hỏi cái ngoài hoặc trên những điều được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Trong Nhà nước pháp quyền, Hiến pháp giữ vị trí tối cao trong hệ thống pháp luật. Hiến pháp xây dựng trên cơ sở bảo đảm tự do và quyền công dân [22, tr.39-40].
Có thể nói rằng Nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp hiến, hợp pháp, hợp đạo đức, hợp lý và hiệu quả. Xây dựng nhà nước pháp quyền do vậy, đòi hỏi phải có một bản hiến pháp mang nội dung pháp quyền, dân chủ, ngắn gọn nhưng bao quát về nguyên tắc hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội dựa trên hai trụ cột chính là quyền, tự do con người, cơ chế bảo đảm thực thi và tổ chức, phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước. Hiến pháp cần xác định rõ ràng về trách nhiệm Nhà nước đối với quyền con người, cơ chế bảo vệ Hiến pháp, hiệu lực áp dụng trực tiếp của các nguyên tắc, tinh thần, quy tắc của Hiến pháp, làm sao cho chúng được viện dẫn, dẫn dắt ý thức, hành vi của con người trong thực tế. Theo tác giả Hoàng Thị Kim Quế, trong bài viết “Hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp và sự cần thiết ghi nhận trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” thì đây cũng là một trong những nhiệm vụ cơ bản của việc tạo lập một nền văn hóa pháp quyền, nhân quyền ở nước ta hiện nay.
Ở nước ta, tư tưởng Nhà nước pháp quyền đã có từ lâu. Nghiên cứu các bản Hiến pháp nước ta từ trước tới nay (Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992) cho thấy các yếu tố đặc trưng của Nhà nước pháp quyền đã được hình thành. Các bản Hiến pháp ở mức độ này hay mức độ khác đều khẳng định quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, phân công thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp… Và một lần nữa tư tưởng Nhà nước pháp quyền lại được khẳng định trong Hiến pháp Việt Nam sửa đổi, được thông qua tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII ngày 28/11/2013. Một trong những nội dung đổi mới, bước tiến quan trọng của Hiến pháp sửa đổi là đề cao nhân quyền như một điều kiện để xây dựng Nhà nước pháp quyền, từ đó thể chế hóa quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ công dân, đồng thời xác lập trách nhiệm bảo đảm những quyền đó được thực hiện trên thực tế. Hiến pháp sửa đổi khẳng định, các quyền con người, quyền công dân được Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Trước đây, Chương 5 Hiến pháp năm 1992 quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Hiến pháp năn 2013 đã mở rộng tên chương là “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” và đặt tại Chương 2, ngay sau Chương 1 quy định về chế độ chính trị, để khẳng định vị trí quan trọng của quyền con người, quyền công dân và cam kết của Nhà nước ta trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân đúng như Công ước quốc tế mà nước ta là thành viên. Chương 2 của Hiến pháp 2013 là chương có số lượng điều nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49) ghi nhận quyền con người, quy định quyền công dân, được thể hiện một cách đầy đủ, chính xác, có tính khả thi cao. Các quy định này theo hướng mở rộng, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Đặc biệt với Hiến pháp 2013, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, quyền được bảo đảm an sinh xã hội của mọi người dân được chính thức khẳng định thành một điều riêng (Điều 34). Quyền này được xác lập, thực hiện cùng với quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc của công dân. Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định. Phụ nữ được tạo điều kiện để phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Trẻ em được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Thanh niên được học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ. Người cao tuổi được tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Đây chính là cơ sở quan trọng để cụ thể hóa Hiến pháp trong đời sống bằng các luật. Ngay khi Hiến pháp có hiệu lực thì trong kế hoạch triển khai, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành kế hoạch thi hành Hiến pháp, trong đó ưu tiên các luật liên quan đến tổ chức bộ máy để rà soát, sửa đổi; đồng thời tăng cường công tác giáo dục quyền con người.
Vấn đề giáo dục về quyền con người là mục tiêu không thể tách rời trong xây dựng một Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bởi vì, để người dân tuân theo pháp luật, biết sử dụng luật pháp để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình thì trước tiên họ phải hiểu là họ có quyền làm điều đó, họ phải biết được cách thức để thực hiện yêu cầu của mình. Chính vì vậy, việc Đảng và Nhà nước ta quan tâm tới việc giáo dục quyền con người chính là sự thể hiện quyết tâm xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Ngoài ý nghĩa chính trị, giáo dục quyền con người còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc, vì nó sẽ giúp tất cả các chủ thể: từ công chức Nhà nước đến người dân bình thường, từ người thành thị đến người nông thôn, từ người dân miền xuôi đến đồng bào miền ngược… nhận thức đúng đắn hơn về quyền và nghĩa vụ đối với bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội… Thông qua giáo dục quyền con người, bản thân những cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước sẽ hiểu rõ hơn trách nhiệm của mình là phục vụ nhân dân, tránh bệnh quan liêu, lãnh cảm của cán bộ, công chức trước người dân. Mỗi cá nhân sẽ nhận thức đầy đủ hơn về quyền được đối xử công bằng, được yêu thương chăm sóc bởi người thân và cộng đồng xã hội, sẽ biết được trong trường hợp nào những quyền cơ bản của mình bị xâm hại và được quyền lên tiếng yêu cầu các cơ quan Nhà nước, các cá nhân có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình. Đồng thời, mỗi người cũng ý thức rõ ràng hơn về việc phải tôn trọng quyền cơ bản của những người xung quanh, biết yêu thương, chia sẻ, sống có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình cũng như xã hội… Khi được giáo dục về quyền con người, mỗi người trong cộng đồng xã hội sẽ nhận thức rõ hơn về những giá trị về danh dự nhân phẩm, từ đó có cách hành xử chuẩn mực, văn hóa hơn.
Giáo dục quyền con người thể hiện sự chủ động, tích cực của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết và điều ước quốc tế về quyền con người. Đến nay, Việt Nam đã ký, phê chuẩn hoặc gia nhập 09 công ước và 02 nghị định thư bổ sung công ước trong tổng số gần 20 công ước và nghị định thư bổ sung công ước về nhân quyền do Liên Hợp Quốc ban hành. Với số lượng như vậy, Việt Nam đã tham gia hầu hết các điều ước quốc tế chính về nhân quyền do Liên Hợp Quốc ban hành… Việc tích cực tham gia các điều ước quốc tế tạo hành lang pháp lý làm cơ sở để bảo vệ quyền con người, giáo dục quyền con người chính là biện pháp hữu hiệu để quyền con người được đảm bảo thực hiện trên thực tế. Điều này thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về vấn đề quyền con người và là minh chứng rõ ràng để chống lại các tư tưởng xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Giáo dục quyền con người góp phần nâng cao niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ VII khóa IX đưa ra nhận định: “Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân tuy đã được chăm lo củng cố và phát triển, nhưng chưa thật bền chặt và đang đứng trước những thách thức mới; lòng tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ của một bộ phận nhân dân chưa thật vững chắc, có phần vì đời sống còn nhiều khó khăn, vì bất bình trước những bất công xã hội, trước tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí còn phổ biến và nghiêm trọng; kỷ cương, pháp luật nhiều lúc, nhiều nơi bị buông lỏng; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; trật tự an toàn xã hội còn phức tạp. Các vụ khiếu kiện đông người vẫn còn nhiều, có lúc, có nơi còn gay gắt.” Chính vì vậy, thông qua hoạt động giáo dục quyền con người, các quyền cơ bản của con người được tôn trọng và bảo vệ, đạo đức xã hội được nâng cao hơn… Nhờ đó, quần chúng nhân dân sẽ đặt niềm tin nhiều hơn vào đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước [21].
Vai trò của giáo dục quyền con người đối với đội ngũ cán bộ, công chức Muốn xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền thì bên cạnh việc ban hành hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, điều quan trọng hơn là phải làm thế nào để đưa pháp luật vào thực tế đời sống xã hội, để mọi thành viên, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức am hiểu các nguyên tắc, quy định pháp luật; từ đó sử dụng pháp luật như một công cụ để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể và của mỗi công dân, và cụ thể hơn là bảo vệ quyền con người. Cán bộ, công chức là đội ngũ chủ yếu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình, cán bộ, công chức thường tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách là người đại diện cho Đảng và Nhà nước thực hiện các quyền và nghĩa vụ cụ thể trong quan hệ với nhân dân. Vì vậy, thái độ và hành vi xử sự đúng pháp luật, tôn trọng quyền con người hay không của cán bộ, công chức có tác động rất lớn đến đời sống pháp luật của nhân dân. Tuy nhiên, trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật nói chung và quyền con người nói riêng còn có những hạn chế, bất cập nhất định, chưa theo kịp và chưa được nâng tầm tương xứng với sự đổi mới của hệ thống pháp luật. Thái độ và hành vi của nhiều cán bộ công chức còn quan liêu, hách dịch. Giáo dục quyền con người cho đối tượng này chính là một biện pháp hữu hiệu nhằm trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật về quyền con người, góp phần hình thành lối sống và làm việc tôn trọng quyền con người cho họ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh.
Hơn nữa, cán bộ, công chức có vai trò kép trong giáo dục quyền con người; trong mối quan hệ của giáo dục quyền con người cho cán bộ, công chức thì họ là đối tượng của giáo dục quyền con người. Với vai trò là cán bộ, công chức trong quan hệ với nhân dân thì cán bộ, công chức trở thành chủ thể của giáo dục quyền con người. Vì vậy, vai trò của họ có tác động rất lớn đến hiểu biết, nhận thức, thái độ, tình cảm của nhân dân với pháp luật về quyền con người. Đảng và Nhà nước cần có những giải pháp đúng đắn để nâng cao chất lượng giáo dục quyền con người đối với đối tượng này.
1.2. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
1.2.1. Chủ thể giáo dục quyền con người
Theo từ điển tiếng Việt, có thể hiểu chủ thể “là đối tượng gây ra hành động mang tính tác động trong quan hệ đối lập với đối tượng chi phối của hoạt động tác động, gọi là khách thể.” Lý luận giáo dục cho rằng, chủ thể giáo dục là những thầy, cô giáo và tất cả những người làm công tác giáo dục khác.
Vận dụng quan niệm trên vào giáo dục quyền con người có thể thấy rằng, tuy đây là một dạng của giáo dục, nhưng nó có những đối tượng, phương pháp, hình thức giáo dục khác với giáo dục trong các nhà trường. Người thực hiện hành động giáo dục quyền con người không phải chỉ có những người thầy, cô giáo, những cá nhân làm công tác giáo dục, mà còn cả các tổ chức, cơ quan được giao nhiệm vụ hoặc tự nhận nhiệm vụ giáo dục quyền con người trước cộng đồng, xã hội; hoặc các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ tham gia thực hiện qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua sách báo và ở mọi nơi, mọi lúc, vì thế nếu coi chủ thể của giáo dục quyền con người chỉ là cá nhân những người làm công tác giáo dục thì sẽ không đầy đủ. Ở đây, chủ thể của giáo dục quyền con người là những cá nhân, những cơ quan, tổ chức làm công tác giáo dục trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao hoặc mang tính tự nguyện, mang tính trách nhiệm xã hội đã tham gia góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu giáo dục quyền con người [48].
Việc xác định chủ thể của giáo dục quyền con người có ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận và thực tiễn hoạt động giáo dục quyền con người. Trên cơ sở mối quan hệ, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể, đối tượng giáo dục trong hoạt động giáo dục quyền con người – chủ yếu là các hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của người giáo dục lên đối tượng giáo dục – cho phép xác định đúng mức những nhu cầu, khả năng và điều kiện tiếp nhận tác động lên hoạt động giáo dục quyền con người; cũng như cho phép xác định chính xác yêu cầu khách quan của chủ thể giáo dục quyền con người trong việc xác định nội dung, hình thức, phương tiện, biện pháp thích hợp để tiếp cận với đối tượng giáo dục quyền con người một cách có hiệu quả nhất.
1.2.2. Khách thể, đối tượng giáo dục quyền con người Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
1.2.2.1. Khách thể giáo dục quyền con người
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về khách thể. Tùy theo tính chất, phương pháp, đối tượng nghiên cứu khác nhau mà các ngành khoa học khác nhau có những quan niệm về các loại khách thể và đối tượng nghiên cứu của mình. Cụ thể:
Theo khoa học pháp luật: “Khách thể quan hệ pháp luật là những gì mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, là cái mà quan hệ pháp luật hướng tới, tác động tới, đó là những lợi ích vật chất, chính trị, tinh thần [29].
Một số nhà nghiên cứu đồng nhất khách thể với đối tượng giáo dục pháp luật dựa trên khái niệm về khách thể của Từ điển Tiếng Việt và quan niệm đồng nhất giáo dục của khoa học sư phạm. Những người này cho rằng: “Khách thể (đối tượng) giáo dục pháp luật ở đây không phải chỉ là những cá nhân, những nhóm người chung chung mà còn bao hàm cả những yếu tố bên trong của họ như nhận thức tình cảm, cảm xúc, hành vi, hành động cụ thể của họ phù hợp với pháp luật” [18, tr.16].
Theo chúng tôi, khách thể của giáo dục quyền con người là ý thức/nhận thức, những thói quen, nếp sống, hành vi ứng xử của công dân, của các nhóm cộng đồng và toàn xã hội, thể hiện trình độ nhất định của nền văn hóa pháp lý. Còn đối tượng giáo dục quyền con người là những cá nhân công dân, hay những nhóm cộng đồng xã hội cụ thể, tiếp nhận tác động của các loại hoạt động giáo dục quyền con người mà ý thức và hành vi của họ là khách thể của giáo dục quyền con người. Nghĩa là khách thể và đối tượng của giáo dục quyền con người là hai phạm trù mang ý nghĩa khác nhau.
Nếu đồng nhất hai phạm trù này, trước hết thể hiện sự xem nhẹ kết quả mong muốn đạt được của hoạt động giáo dục quyền con người và không thấy hết sự khác biệt về tính chất, vai trò, quan hệ tác động qua lại giữa khách thể và đối tượng của giáo dục này. Trong quan hệ giữa đối tượng và khách thể thì đối tượng giáo dục quyền con người có vai trò tiếp nhận sự tác động của hoạt động giáo dục và là cơ sở của sự tồn tại của khách thể khi kết thúc hoạt động giáo dục quyền con người, và là phương tiện để khách thể thông qua đó mà biểu đạt ra ngoài. Hơn nữa, nếu đồng nhất khách thể với đối tượng giáo dục quyền con người sẽ không cho phép chúng ta xây dựng nội dung, phương pháp giáo dục thích hợp vì mỗi đối tượng giáo dục khác nhau luôn chứa đựng những yếu tố đặc thù đòi hỏi phải có nội dung, phương pháp giáo dục thích hợp với yếu tố đặc thù đó, hoặc không thấy hết được vai trò tác động trở lại của khách thể đối với đối tượng giáo dục khi nó đã hình thành và phát huy hiệu quả.
1.2.2.2. Đối tượng của giáo dục quyền con người Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Đối tượng của giáo dục quyền con người là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận giáo dục. Cũng như các dạng giáo dục khác, việc xác định nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục thích hợp nhằm thu được hiệu quả giáo dục cao phụ thuộc rất nhiều vào việc nghiên cứu, đánh giá đúng đắn, toàn diện về đối tượng giáo dục nói chung và giáo dục quyền con người nói riêng.
Đối tượng giáo dục quyền con người trước hết là toàn bộ cá nhân đang tồn tại trong cộng đồng nhân loại bao gồm tất cả các dân tộc trong mối quan hệ quốc tế. Trong mỗi dân tộc cụ thể, đối tượng của giáo dục quyền con người là những cá nhân công dân, những nhóm, cộng đồng xã hội cụ thể tiếp nhận những tác động của hoạt động giáo dục quyền con người, vừa mang tính quốc tế, vừa mang tính quốc gia mà ý thức và hành vi của họ là khách thể của giáo dục quyền con người.
Đối tượng giáo dục quyền con người ở Việt Nam vừa mang những đặc điểm chung của cộng đồng nhân loại, vừa có những đặc điểm riêng biệt. Đối tượng giáo dục quyền con người ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng và có thể phân loại thành các nhóm dựa trên các cơ sở, yếu tố, phản ánh trạng thái, địa vị pháp lý, điều kiện kinh tế, môi trường sống, việc làm, truyền thống văn hóa, đạo đức, tôn giáo của đối tượng giáo dục này. Các chủ thể giáo dục sẽ lựa chọn các nội dung, hình thức, giáo dục phù hợp nhằm làm cho từng đối tượng giáo dục tiếp thu được những tri thức cần thiết về quyền con người để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, thích ứng với vai trò, địa vị của họ trong quan hệ với cộng đồng, với công dân khác.
Con người sống trong một xã hội, ai cũng cần có hiểu biết về quyền con người vì đó là quyền của họ. Vì vậy, bất kỳ ai cũng đều có thể trở thành đối tượng của giáo dục quyền con người và ai cũng cần đến giáo dục quyền con người. Tuy nhiên, vài nhóm người cũng cần có những hiểu biết đặc biệt về giáo dục quyền con người vì họ đang sống trong hoàn cảnh đặc biệt, một vài người thường xuyên bị lạm dụng và bị vi phạm nhân quyền, những người khác thì lại giữ trọng trách trong các cơ quan Nhà nước và có trách nhiệm phải ủng hộ quyền con người, những người có khả năng và có ảnh hưởng đến giáo dục quyền con người.
Như vậy, có thể chia đối tượng của giáo dục quyền con người thành các nhóm chủ yếu như sau:
Thứ nhất: Những người làm công tác hành pháp và tư pháp
- Những người thi hành pháp luật bao gồm Cảnh sát, người làm công tác an ninh;
- Những người làm công tác giam giữ tù nhân;
- Luật sư, Thẩm phán và các Kiểm sát viên;
- Công chức Nhà nước;
- Quân nhân.
Thứ hai: Những người làm công tác lập pháp
- Nhà lập pháp; Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
- Những người được bầu cử và được chỉ định đảm trách các công vụ. Thứ ba: Những nghề nghiệp khác
- Những nhà giáo dục;
- Những người làm công tác xã hội;
- Những người làm công tác công đoàn;
- Những người làm công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng;
- Nhà báo và những đại diện của các cơ quan thông tin đại chúng. Thứ tư: Các tổ chức, các hiệp hội và các nhóm
- Các tổ chức của phụ nữ;
- Các nhà hoạt động xã hội tại cộng đồng và những người lãnh đạo các khu vực dân cư;
- Các nhóm người thiểu số;
- Các nhà lãnh đạo tôn giáo;
- Trẻ em và thanh niên;
- Sinh viên ở tất cả các cấp độ đào tạo;
- Người tị nạn;
- Những người nghèo cả ở thành phố và nông thôn;
- Người tàn tật;
- Người lao động nhập cư.
Có thể nói, giáo dục quyền con người cần phải đến được với mọi đối tượng trong xã hội. Tuy nhiên, để giảm thiểu các vi phạm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho các đối tượng dễ bị tổn thương, các nhóm đối tượng này cần phải được chú trọng nhiều hơn trong công tác giáo dục quyền con người và phải đảm bảo cho họ biết rõ về quyền, nghĩa vụ của mình cũng như các kỹ năng hành động liên quan đến quyền con người.
Ngoài ra, ngày nay người ta cũng nhắc đến việc phải tăng cường giáo dục nhân quyền cho giới lãnh đạo. Điều này là hoàn toàn hợp lý để tạo ra các chuyển biến trong xã hội. Sẽ chẳng có gì thay đổi nếu như các nhà lãnh đạo không ý thức được về nhân quyền và ý thức về việc họ có một trách nhiệm to lớn trong việc bảo vệ nhân quyền. Việc các nhà lãnh đạo có ý thức về quyền và biến nó thành các chiến lược hành động hiệu quả sẽ là phần thưởng lớn nhất cho những người làm công tác giáo dục nhân quyền.
1.2.3. Hình thức giáo dục quyền con người Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Theo giáo dục học, hình thức giáo dục được hiểu là cách thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm chiếm lĩnh nội dung giáo dục và đạt mục đích giáo dục. Ở khía cạnh này, giáo dục quyền con người cũng giống như các dạng giáo dục khác, do đó, cũng là những phương thức chuyển tải và tiếp nhận kiến thức (thông tin) nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục quyền con người.
Hình thức giáo dục quyền con người là các dạng hoạt động cụ thể, có tổ chức, phối hợp giữa các chủ thể giáo dục quyền con người và đối tượng giáo dục quyền con người. Hình thức giáo dục quyền con người rất đa dạng và phong phú và thường thể hiện dưới các dạng sau:
Giáo dục quyền con người có thể dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp; qua tranh ảnh, lời nói; qua phương pháp nêu gương, lên lớp, thảo luận, tham gia các hoạt động thực hành, thực tế, tự học và tham gia các hoạt động khác do người dạy quy định…
Giáo dục quyền con người cũng có thể được thực hiện một cách chính thức hoặc không chính thức. Giáo dục chính thức được kéo dài từ giáo dục trẻ thơ, qua bậc tiểu học và trung học đến giáo dục đại học. Nó là chương trình giảng dạy cơ sở và nó bao gồm giáo dục học thuật chung, đào tạo kỹ thuật và nghề nghiệp. Giáo dục không chính thức bao gồm những hoạt động giáo dục được tổ chức và thường là bên ngoài hệ thống giáo dục chính thức. Nó được thiết kế cho những nhóm học cụ thể với những mục tiêu học cụ thể. Giáo dục không chính thức bao gồm giáo dục và đào tạo nghề cơ bản, giáo dục thanh niên và cộng đồng.
- Ngoài ra, có thể chia hình thức giáo dục quyền con người thành hai loại:
Thứ nhất: Các hình thức giáo dục quyền con người mang tính phổ biến, truyền thống như phổ biến, nói chuyện về quyền con người tại các Hội nghị, cuộc họp, hội thảo, câu lạc bộ về quyền con người; các lớp giảng chuyên đề cho các đối tượng chuyên biệt, các hoạt động tuyên truyền, phổ biến qua sinh hoạt văn hóa cộng đồng ở các cụm dân cư, làng xã, buôn làng, qua đoàn thể quần chúng; các nơi thờ tự, sinh hoạt tôn giáo, tuyên truyền phổ biến giáo dục qua các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, sáng tác văn học nghệ thuật về đề tài quyền con người, thông tin cổ động, dạy và học về quyền con người.
Thứ hai: Các hình thức giáo dục quyền con người đặc thù. Đây là các hoạt động định hướng giáo dục quyền con người thông qua các hoạt động hoạch định đường lối, chính sách, hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp của các cơ quan Nhà nước, như Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Công an.
Theo cách tiếp cận của Luật Phố biến, giáo dục pháp luật năm 2012, thì giáo dục quyền con người – với tư cách là một nhóm nội dung của pháp luật, có thể được thực hiện thông qua: Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Một là, các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật chung cho công dân, như: Họp báo, thông cáo báo chí. 2. Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật. 3. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư. 4. Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật. 5. Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở. 6. Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở. 7. Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. 8. Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả.
Trong nhóm thứ nhất, hình thức thứ 5 thường đem lại những hiệu quả rõ ràng, khi đối tượng giáo dục (chí ít là người có liên quan trong sự việc) được giáo dục thông qua sự đối thoại trực tiếp và vận dụng giải quyết sự việc. Chẳng hạn, các bị can, bị cáo
Hai là, các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cho một số đối tượng đặc thù như: 1) người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân; 2) người lao động trong các doanh nghiệp; 3) nạn nhân bạo lực gia đình; 4) người khuyết tật; người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; 5) người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người bị phạt tù được hưởng án treo.
Trong nhóm thứ 2, nội dung giáo dục quyền con người được thể hiện rõ nét đối với các đối tượng là nạn nhân của bạo lực gia đình, người khuyết tật; người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người bị phạt tù được hưởng án treo.
Ba là, các hình thức giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân , như: 1) Giáo dục chính khóa thông qua việc lồng ghép trong các hoạt động giáo dục ở cấp mầm non; môn học đạo đức ở cấp tiểu học; môn học giáo dục công dân ở cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông; môn học pháp luật, pháp luật đại cương, pháp luật chuyên ngành tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học; các môn học trong cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân; 2) Giáo dục ngoại khóa và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Đây là hình thức giáo dục pháp luật chính thống, có thể được coi là nghĩa hẹp của “giáo dục pháp luật”.
1.2.4. Nội dung giáo dục quyền con người
Việc xác định nội dung giáo dục quyền con người là yếu tố quan trọng hàng đầu của quá trình giáo dục quyền con người. Nội dung giáo dục quyền con người dựa trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm của từng đối tượng cụ thể, và xuất phát từ đặc điểm, nhiệm vụ, mục đích của dạng giáo dục này. Phạm vi của dạng giáo dục này là rất rộng, có những đặc điểm đặc thù riêng không đồng nhất, không lẫn với các nội dung giáo dục khác, nhưng nó có thể lồng ghép, đan xen với nội dung giáo dục khác như giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật.
Theo bà Nancy Flowers, giáo dục về quyền con người phải cung cấp cho mọi người thông tin về quyền con người, bao gồm kiến thức về:
- Những giá trị cố hữu thuộc về tất cả mọi người và quyền của con người được đối xử trong sự tôn trọng;
- Các nguyên tắc về quyền con người chẳng hạn như tính toàn thể, tính không thể tách rời, tính phụ thuộc lẫn nhau của quyền con người;
- Làm thế nào mà quyền con người thúc đẩy việc tham gia vào quá trình ra quyết định và giải quyết hòa bình các tranh chấp;
- Về lịch sử và sự tiếp tục phát triển của quyền con người;
- Về pháp luật quốc tế, như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người hay về các công ước quốc tế;
- Về pháp luật của khu vực, quốc gia, địa phương mà nó củng cố cho pháp luật quốc tế về quyền con người;
- Về việc sử dụng luật về quyền con người để bảo vệ quyền con người và kêu gọi những đối tượng vi phạm giải thích về hành vi của mình;
- Về sự vi phạm quyền con người như là tra tấn, diệt chủng hoặc bạo lực đối với phụ nữ và các quyền lực mang tính xã hội, kinh tế, chính trị, dân tộc;
- Về con người và tổ chức phải có trách nhiệm để thúc đẩy, bảo vệ và tôn trọng quyền con người.
Tuy nhiên, không phải bất kỳ đối tượng giáo dục nào cũng đòi hỏi được sự cung cấp đầy đủ tất cả các thông tin về quyền con người nêu trên. Và cũng không thể thực hiện giáo dục một cách máy móc, thuần túy chỉ là cung cấp thông tin, mà cần phải lưu ý tới một thực tiễn, sự tồn tại mâu thuẫn của các thông tin, sự phủ định lẫn nhau của các thông tin và những đặc điểm đặc thù của nội dung giáo dục quyền con người để có nhận thức đầy đủ, khách quan, chính xác của chủ thể và đối tượng giáo dục. Cần phải có sự phân tích, đánh giá một cách khoa học, khách quan về các thông tin để tạo ra nhận thức một cách đúng đắn về quyền con người, tránh tình trạng áp đặt chủ quan, định kiến duy ý chí, dẫn đến sự nhận thức sai lệch hoặc không đạt hiệu quả cao của giáo dục quyền con người. Vì thế, khi thực hiện giáo dục quyền con người, cần phải xác định mục đích giáo dục cần đạt được của từng đối tượng giáo dục, trên cơ sở đó xác định mức độ, từng cấp giáo dục khác nhau cho từng đối tượng cụ thể.
- Theo tác giả Nguyễn Hữu Trí [48], nội dung giáo dục quyền con người được chia thành ba cấp độ khác nhau như sau:
Yêu cầu tối thiểu về nội dung giáo dục quyền con người. Cấp độ này bao gồm những nội dung tối thiểu nhất, phổ thông nhất về quyền con người, phù hợp với đối tượng là quảng đại quần chúng nhân dân, nhằm giúp họ hình thành những tri thức tối thiểu, hình thành tình cảm, thói quen đơn giản trong việc thực hiện quyền con người.
Yêu cầu riêng về giáo dục quyền con người theo nhu cầu về ngành, nghề, địa vị xã hội, giới, nhóm xã hội. Nội dung giáo dục quyền con người ở cấp độ này thường có tính tổng hợp, hệ thống, nền tảng, bao gồm: hệ thống các khái niệm, phạm trù cơ bản của quyền con người; những tri thức về quyền con người được ghi nhận trong pháp luật quốc gia, quốc tế, những tri thức cơ bản về xây dựng và đảm bảo quyền con người; việc xử lý vi phạm quyền con người.
Yêu cầu giáo dục có tính chuyên ngành về quyền con người. Đây là cấp độ cao nhất của giáo dục quyền con người, bao gồm những tri thức mang tính chuyên sâu về quyền con người, những vấn đề mang tính chất kỹ năng, kỹ xảo, thao tác nghề nghiệp về quyền con người. Nội dung giáo dục ở cấp độ này chủ yếu dành cho các đối tượng trở thành chuyên gia nghiên cứu, giảng dạy, các chuyên gia hoạt động trong các tổ chức quốc gia, quốc tế về quyền con người.
Giáo dục về quyền con người đồng thời cũng đem đến cho con người cảm giác về trách nhiệm để tôn trọng và bảo vệ quyền con người và trao cho họ các kỹ năng để hành động phù hợp. Các kỹ năng hành động đó bao gồm:
- Nhận biết rằng quyền con người có thể được thúc đẩy và bảo vệ ở nhiều cấp, thông qua từng cá nhân cụ thể, tập thể hay cấp độ thể chế; Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
- Phát triển các hiểu biết mang tính phê bình về hoàn cảnh sống;
- Phân tích các hoàn cảnh thông qua quan điểm đạo đức;
- Nhận thức rằng các hoàn cảnh không công bằng có thể được cải thiện;
- Nhận thức rằng mọi cá nhân và các thành phần xã hội đều có thể đóng góp vào việc bảo vệ quyền con người;
- Phân tích các yếu tố tạo ra sự vi phạm nhân quyền;
- Nhận biết và có khả năng sử dụng các công cụ về quyền con người mang tính toàn cầu, khu vực, quốc gia, địa phương và các cơ chế khác để bảo vệ quyền con người;
- Có kế hoạch hành động phù hợp để đáp lại việc thiếu công bằng;
- Hành động để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.
Ở Việt Nam hiện nay, nội dung giáo dục quyền con người ngoài những nội dung trên còn cần phải nhấn mạnh vào giáo dục Hiến pháp như một phần quan trọng của giáo dục quyền con người, vì một mặt, Hiến pháp là đạo luật cao nhất, là hệ quy chiếu cho tất cả những quy định pháp luật Nhà nước; mặt khác, Hiến pháp thể hiện đầy đủ nội dung giáo dục quyền con người mà Nhà nước đảm bảo cam kết thực hiện. Ý thức về Hiến pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền, tự do của con người. Tư tưởng, nhận thức về hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp liên quan đến các quyền con người cũng sẽ định hướng, dẫn dắt và kiểm soát, kìm chế những sự lạm dụng pháp luật gây phương hại, làm sai lệch bản chất của các quyền.
Việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung của Hiến pháp, nâng cao nhận thức và niềm tin về Hiến pháp để hình thành ý thức tự giác, tôn trọng và chấp hành Hiến pháp; bảo đảm cho Hiến pháp được tuân thủ và nghiêm chỉnh chấp hành trong mọi tầng lớp nhân dân… sẽ góp phần cải thiện thực trạng về quyền con người ở Việt Nam. Nhằm giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa và kết quả của việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, những nét mới của Hiến pháp (sửa đổi); tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội về việc triển khai và thực thi Hiến pháp, pháp luật; ngày 17/1/2014, Ban Tuyên giáo Trung ương cũng đã ban hành công văn số 102-HD/BTGTW về việc Hướng dẫn tuyên truyền Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nội dung chính như:
Một là, tuyên truyền khẳng định Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam được thông qua tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XIII là kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước. Hai là, tuyên truyền về những nội dung cơ bản, nêu lên những điểm mới của bản Hiến pháp, đặc biệt là những nội dung về quyền con người. Ba là, phổ biến, tuyên truyền về một số vấn đề cần lưu ý trong đấu tranh làm thất bại những luận điệu kích động, xuyên tạc của các thế lực thù địch.
1.2.5. Phương pháp giáo dục quyền con người Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
1.2.5.1. Các căn cứ lựa chọn phương pháp giáo dục quyền con người
Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “me todos”, có nghĩa là con đường, cách thức tự vận động bên trong nội dung, nó gắn với hoạt động của con người, giúp con người hoàn thành được những nhiệm vụ phù hợp với mục tiêu đã đề ra [39]. Phương pháp tạo nên hiệu quả của quá trình giáo dục quyền con người, vì vậy, việc lựa chọn phương pháp luôn được đặt lên hàng đầu trong khi thiết kế, xây dựng ý đồ triển khai một bài giảng cụ thể. Phương pháp bao giờ cũng xuất phát từ một mục đích nhất định, nội dung giáo dục nhất định. Mục đích, nội dung giáo dục quyền con người quy định phương pháp nhưng bản thân phương pháp có tác dụng trở lại mục đích, nội dung, làm cho nội dung ngày càng hoàn thiện, làm cho mục đích đạt được ngày càng cao. Phương pháp giáo dục quyền con người có mối quan hệ qua lại mật thiết với các nhân tố khác của quá trình giáo dục mà trước hết là hình thức giáo dục. Phương pháp giáo dục và hình thức giáo dục quyền con người là hai khái niệm độc lập, không đồng nhất, nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Mỗi hình thức giáo dục nhất định luôn luôn gắn với những phương pháp giáo dục nhất định, đặc thù của hình thức đó. Ngược lại, phương pháp giáo dục tác động trở lại làm cho hình thức giáo dục phát triển ngày càng hướng đích, ngày càng hoàn thiện hơn.
Do không có một phương pháp giáo dục quyền con người nào là tối ưu, mỗi phương pháp đều có những mặt ưu điểm và nhược điểm riêng nên người dạy phải biết lựa chọn để phát huy những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của từng phương pháp. Một phương pháp giáo dục quyền con người được coi là hợp lý và hiệu quả khi đáp ứng được 3 yêu cầu sau:
Một là, phương pháp này phải có mục tiêu giáo dục quyền con người rõ ràng; tạo ra khả năng cao nhất để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục quyền con người; phát triển nhận thức, kỹ năng, thái độ của người học; Hai là, phương pháp này phải phù hợp với nội dung giáo dục quyền con người cụ thể, đặc thù của từng môn học, bài học và phù hợp với từng vấn đề cụ thể, từng giai đoạn cụ thể trong tiến trình giờ học. Ba là, phương pháp này phải phù hợp với năng lực, trình độ, sở thích, hứng thú, kinh nghiệm của người dạy, người học và các điều kiện giáo dục quyền con người…
Xuất phát từ những yêu cầu trên, việc lựa chọn phương pháp giáo dục quyền con người phải căn cứ vào: mục tiêu và nội dung giáo dục quyền con người (môn học, chương, mục, bài học, từng nội dung cụ thể trong các giai đoạn triển khai giờ học…); nguyên tắc giáo dục quyền con người; đặc điểm tâm sinh lý, khả năng, trình độ, hứng thú của người học và trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của người dạy… Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Để phát huy hết ưu điểm của các phương pháp giáo dục quyền con người, người dạy cần kết hợp, xen kẽ nhiều phương pháp nhằm lấy ưu điểm của phương pháp này, khắc phục nhược điểm của phương pháp kia, tạo ra sự linh hoạt, đa dạng trong một giờ học.
1.2.5.2. Các yêu cầu của phương pháp giáo dục quyền con người
Phương pháp giáo dục quyền con người phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên. Phương pháp giáo dục quyền con người phải giúp và buộc đối tượng sử dụng tốt công cụ thông tin trên mạng để bổ sung kiến thức còn thiếu. Mục tiêu và phương pháp giáo dục cũng phải thay đổi. Chúng ta xem quá trình dạy và học thông qua ba tầng tiếp thu của đối tượng như sau: Nếu chỉ dừng ở tầng 1 – tiếp nhận thông tin, thầy giảng, trò nghe và ghi nhớ. Trò cần học thuộc với hi vọng sử dụng kiến thức đó để kiếm sống. Điều này thực sự nguy hiểm khi những kiến thức của người thày không được bổ sung, cập nhật kịp thời trong điều kiện của một xã hội thay đổi từng ngày. Tầng 2 diễn ra khi đã có sự trao đổi thông tin và tạo thông tin mới, tức là thầy và trò có sự trao đổi trong quá trình dạy và học nhằm bám sát thực trạng xã hội, giúp trò sau này dễ dàng vận dụng được những điều đã học vào những môi trường thực tế hết sức đa dạng. Tầng 3 là rèn luyện cách tiếp cận, hình thành phương pháp tư duy sáng tạo. Trong quá trình giáo dục, với những bài học khác nhau, người thầy phải chọn những nội dung để kết cấu thành hệ thống bài giảng nhằm từng bước hình thành một phương pháp tư duy, tạo nên kỹ năng sáng tạo cho trò. Kết quả là trò sẽ có phương pháp tiếp cận thực tế độc đáo và hiệu quả, có kỹ năng giải quyết vấn đề ở tầm tư duy ngang bằng thời đại. Như vậy, điều hết sức quan trọng mà thầy cần rèn cho trò tại trường là phương pháp tiếp cận thông tin, quan sát và nhận dạng vấn đề, hình thành nhận thức mới đúng đắn và ngang bằng với trình độ chung của học sinh cùng bậc, ít nhất là của các nước tiên tiến trong khu vực. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
1.2.5.3. Các phương pháp giáo dục quyền con người
Giáo dục quyền con người có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, có thể kể đến các phương pháp tiêu biểu như:
Phương pháp nêu vấn đề – tình huống: giúp người học vận dụng được các kỹ năng để giải quyết những vấn đề của nội dung bài học. Phương pháp này có vai trò là qua các tình huống có vấn đề, vụ án, người học khai thác các mâu thuẫn, chỉ ra cách giải quyết chúng. Khi áp dụng, người dạy phải thiết kế, phân loại, chỉ ra các vấn đề, tình huống của nội dung giáo dục quyền con người; điều khiển, hướng dẫn, điều chỉnh các hướng giải quyết vấn đề và kiểm chứng tính đúng đắn của những kết luận (quan điểm) mà người học đưa ra. Người học phải tìm kiếm, giải quyết mâu thuẫn, đề ra giả thuyết và phương hướng giải quyết. Ưu điểm của phương pháp này là giúp người đọc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và hình thành tư duy phê phán. Tuy nhiên, nhược điểm là khó triển khai, tốn nhiều công sức, thời gian…
Phương pháp thuyết trình – minh họa: phương pháp này có mục tiêu làm cho người học ghi nhớ nên nó phù hợp với nội dung giáo dục quyền con người. Bản chất của phương pháp này là cách thức tổ chức việc lĩnh hội tri thức thông qua con đường thông báo, trình bày, diễn giải thông tin và nội dung giáo dục quyền con người. Nó đóng vai trò là bước khởi đầu cho việc khám phá sự vật, hiện tượng, khái niệm đơn giản về quyền con người. Khi áp dụng, người dạy phải thông báo, truyền đạt thông tin bằng các phương tiện khác nhau, trong đó chủ yếu là ngôn ngữ, phương tiện trực quan (sơ đồ, bảng biểu, ví dụ minh họa…); người học phải lĩnh hội tư duy, ghi nhớ nội dung mà người dạy đã trình bày… Ưu điểm của phương pháp này là dễ triển khai và có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa thời gian, không gian, số lượng lớn người học với khối lượng thông tin truyền đạt. Tuy nhiên, nhược điểm là làm cho người học thụ động, không hình thành được kỹ năng, thao tác, vận dụng xử lý thông tin và thiếu sự tương tác, phản hồi từ phía người học.
Phương pháp sàng lọc: nhằm cung cấp thông tin để người học lựa chọn và sắp xếp theo dạng đúng, sai. Phương pháp này buộc người học phải tìm hiểu, suy nghĩ, lựa chọn vấn đề và xác định đúng sai qua đó ghi nhớ nội dung bài học, đồng thời khuyến khích người học tính tích cực, chủ động tham gia vào quá trình học tập. Khi áp dụng người dạy phải cung cấp hàng loạt thông tin để người học chọn lựa, ghi to, rõ thông tin lên bảng. Người dạy cùng người học sắp xếp thông tin theo dạng đúng – sai. Các thông tin đưa ra để lựa chọn được chuẩn bị kỹ và không quá dễ.
Phương pháp tự nghiên cứu: phương pháp này có mục tiêu giúp người học phân tích, tổng hợp, đánh giá, đưa ra quan điểm, ý kiến riêng về những vấn đề của nội dung giáo dục quyền con người. Vai trò của phương pháp này giúp người học phát huy các kỹ năng làm việc độc lập, sáng tạo, mềm dẻo và thích ứng nhanh trong việc giải quyết các vấn đề mới. Khi áp dụng, người dạy phải đưa ra yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề cụ thể của nội dung giáo dục quyền con người. Người học phải độc lập tìm kiếm các phương pháp để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu. Ưu điểm của phương pháp này là giúp người học phát huy khả năng làm việc độc lập, khả năng tìm tòi, phát hiện vấn đề và giải quyết chúng một cách sáng tạo. Tuy nhiên, nhược điểm là hạn chế sự giao tiếp giữa người dạy với người học và khó tổ chức. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Phương pháp tái tạo: làm cho người học hiểu, bước đầu vận dụng, nên nó phù hợp với nội dung giáo dục quyền con người các vấn đề chuyên sâu. Phương pháp này có vai trò là giúp người học hình thành kỹ năng, kỹ xảo, thao tác thuần thục với thông tin và nội dung giáo dục quyền con người. Khi áp dụng, người dạy phải thiết kế, đưa ra các “mẫu” (bài tập, bảng biểu, chỉ dẫn…) và phải chương trình hóa các nội dung giáo dục quyền con người. Người học phải thao tác, lặp lại theo mẫu, theo chỉ dẫn, sử dụng các kỹ thuật để nhận diện, hiểu rõ vấn đề, bước đầu hình thành, phát triển kỹ năng thực hiện các thao tác đơn lẻ. Ưu điểm của phương pháp này là giúp người học hiểu được bản chất vấn đề, hình thành kỹ năng vận dụng tri thức đã lĩnh hội để giải quyết các tình huống thực tiễn. Tuy nhiên, nhược điểm là dễ dẫn đến học “tủ”, rập khuôn, cứng nhắc.
Phương pháp khám phá, sáng tạo: là phương pháp giúp cho người học phân tích được các vấn đề của nội dung đặt ra. Phương pháp này giúp người học hình thành kỹ năng tự xác định, phân tích và giải quyết các vấn đề chứa trong nội dung giáo dục quyền con người. Khi áp dụng, người dạy phải hướng dẫn cách xác lập vấn đề, tìm kiếm, thu nhập cứ liệu và lập kế hoạch giải quyết các vấn đề của nội dung. Người học phải xác lập, phân tích, lên kế hoạch độc lập để tìm kiếm giải pháp, con đường giải quyết vấn đề. Ưu điểm của phương pháp này là giúp người học rèn luyện, kích thích tư duy phê phán, sáng tạo, phát triển kỹ năng độc lập giải quyết vấn đề, tìm kiếm giải pháp mới cho cùng một vấn đề. Tuy nhiên, nhược điểm là khó tổ chức triển khai, tốn nhiều công sức, thời gian, đòi hỏi người dạy và người học phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng [26].
Còn một số phương pháp khác như: phương pháp ghi ý kiến lên bảng, đóng vai, hỏi chuyên gia… Khi áp dụng phương pháp ghi ý kiến lên bảng, người dạy phải cử 2 người học lên bảng ghi lại các ý kiến của lớp hoặc của nhóm và phải biết lồng ý kiến của người học vào bài giảng. Phương pháp đóng vai là phương pháp biên soạn kịch bản phù hợp với bài (xây dựng nhân vật, tình huống). Khi áp dụng phương pháp này, người dạy phải chọn diễn viên và giao nhiệm vụ cho họ. Người học nhập vai và diễn. Người dạy nêu câu hỏi để người học trả lời nhằm giải quyết tình huống mà người dạy đã đưa ra. Phương pháp hỏi chuyên gia là phương pháp nêu chủ đề để người học nghiên cứu và đưa ra câu hỏi. Khi áp dụng phương pháp này, người dạy phải thu thập, sắp xếp và phân loại câu hỏi. Người học phải lựa chọn câu hỏi và trả lời ngắn gọn (không tranh luận). Giáo dục quyền con người cũng cần chú trọng phương pháp mới như phương pháp học trực tuyến trên mạng E-Learning. Phương pháp này tuy không hoàn toàn thay thế được bằng phương thức đào tạo truyền thống nhưng E-learning cho phép giải quyết một vấn đề nan giải trong lĩnh vực giáo dục quyền con người đó là nhu cầu đào tạo tăng lên, quá tải so với khả năng của các cơ sở đào tạo. Phương thức đào tạo này có sức lôi cuốn rất nhiều người học, rất phù hợp với hoàn cảnh của những người đi làm nhưng vẫn muốn nâng cao trình độ. Đặc biệt, E – learning cho phép học viên tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan đến bài học một cách tức thời, duyệt lại những phần đã học một cách nhanh chóng, trao đổi mới những người cùng học hoặc giáo viên ngay trong quá trình học, những điều mà theo cách học truyền thống là không thể có được, hoặc nếu có thì phải cần chi phí quá cao.
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Trên thực tế, để xây dựng được nền văn hóa nhân quyền vừa đảm bảo tính phù hợp với luật pháp quốc tế, vừa phù hợp với nền văn hóa và điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia là một quá trình lâu dài, phức tạp và nhìn chung, các chương trình giáo dục quyền con người luôn được xây dựng dưới sự ảnh hưởng của các yếu tố như sau:
1.3.1. Ý thức pháp luật của mỗi người dân
Lịch sử mấy ngàn năm văn hiến, hào hùng của Việt Nam luôn là niềm tự hào của mỗi người con đất Việt. Đó là lòng yêu nước, yêu độc lập dân tộc, là truyền thống đoàn kết một lòng đấu tranh chống ngoại xâm, là tinh thần lá lành đùm lá rách, nhường cơm sẻ áo, là nền văn minh lúa nước ở đó mỗi người dân gắn bó chặt chẽ với một cộng đồng làng xã, gần gũi với con đê, bến nước, sân đình, là sự phong phú, đa sắc màu văn hóa của 54 dân tộc cùng sinh sống… Người dân Việt Nam hình thành thói quen đặt nhân nghĩa lên hàng đầu, tình người được hết sức coi trọng trong các mối quan hệ xã hội… Có thể nói đây là một yếu tố thuận lợi nhất định đối với công tác giáo dục quyền con người, bởi lẽ, một trong những mục đích của công tác giáo dục quyền con người chính là giúp mỗi cá nhân không những hiểu và tôn trọng quyền của bản thân, mà còn biết tôn trọng, không làm phương hại đến những người xung quanh.
Tuy nhiên, cũng chính từ truyền thống lịch sử, văn hóa ấy, những quan niệm về đạo đức, lễ giáo phong kiến cổ hủ như sự trọng nam khinh nữ, sự nhẫn nhịn của người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội, tâm lý một điều nhịn chín điều lành, dĩ hòa vi quý… vẫn còn mang đậm dấu ấn và ảnh hưởng lâu dài trong đời sống nhân dân. Điều này đã tác động sâu sắc đến nhận thức về quyền con người và giáo dục về quyền con người, trong đó có giáo dục về bình quyền và bình đẳng giới. Tính chất của nền kinh tế đất nước ta hiện nay cho thấy, phần đông dân cư ở nước ta đã và đang gắn bó với nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, manh mún, phân tán, với những tập tục phức tạp, rườm rà, do vậy ý thức pháp luật của nhiều người dân còn thấp, một bộ phận dân cư chưa có thói quen sống và làm việc theo pháp luật, thậm chí có một số người còn xem pháp luật như là một sự trói buộc, thường tìm cách trốn tránh pháp luật. Nếu nhìn lại lịch sử chúng ta thấy thái độ bất tuân pháp luật đã hình thành và phát triển từ rất lâu trong xã hội thực dân phong kiến. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Khi đó pháp luật chủ yếu thể hiện ý chí và mang lại lợi ích cho thực dân, phong kiến, khi mà giữa nhà nước và nhân dân lao động luôn có sự đối lập nhau, thì người dân lao động luôn tìm mọi cách để trốn tránh pháp luật, không tuân theo pháp luật. Khi đó những tập tục của cộng đồng làng, bản… nơi những người dân phải co cụm lại vì lợi ích cục bộ của cộng đồng đôi khi còn quan trọng, được tôn trọng và thực hiện nghiêm hơn cả pháp luật của nhà nước thực dân phong kiến (phép vua thua lệ làng).
Do tính chất bền vững của tâm lý pháp luật mà thái độ bất tuân pháp luật đã trở thành thói quen, đã ăn sâu, bám rễ trong ý thức của nhiều người; do vậy, trong họ luôn tiềm ẩn khuynh hướng tìm mọi cách để lẩn tránh luật pháp, tìm cách “lách luật”, tìm ra những kẽ hở, những khiếm khuyết, hạn chế của pháp luật để hễ có cơ hội thì vụ lợi. Việc thay đổi những tình cảm, thái độ pháp lý không phù hợp và tạo dựng, củng cố tâm lý pháp luật đúng đắn là việc làm vô cùng khó khăn hiện nay, bởi tính chất bền vững, bám rễ của yếu tố tâm lý trong ý thức của mỗi người trong chúng ta. Chính vì vậy, công tác giáo dục quyền con người cần chú trọng đến yếu tố này.
1.3.2. Hệ thống thể chế cầm quyền
Hệ thống thể chế cầm quyền cùng với các quan điểm, chính sách, pháp luật liên quan đến quyền con người; độ mở và độ minh bạch của thông tin về quyền con người là một yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giáo dục quyền con người. Nhà nước phải có chính sách đúng đắn thì mới có thể xây dựng chiến lược giáo dục quyền con người hiệu quả. Các thông tin về quyền con người cần được công khai với công dân, đồng thời tạo điều kiện để công dân tiếp cận. Một nhà nước có hệ thống thể chế cầm quyền hoàn bị, trong đó có thể chế giáo dục, nhà cầm quyền tốt, có những công dân tốt thì trật tự kỷ cương được duy trì, mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, của mỗi cá nhân đều có điều kiện phát triển.
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam trong chủ trương, đường lối và trong mọi hoạt động luôn khẳng định sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người, làm hết sức mình để bảo đảm và thực hiện quyền con người trên thực tế. Đó là một yếu tố tích cực cho việc giáo dục quyền con người ở Việt Nam.
Khi nhắc đến hệ thống thể chế cầm quyền, không thể không nhắc tới vai trò của nhà cầm quyền, mà cụ thể là đạo đức chính trị vì con người của họ. Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các quyết sách và chiến lược của mình, một mặt, đã khẳng định rằng “cán bộ quyết định tất cả”, “thành công hay thất bại đều do cán bộ”, mặt khác, đòi hỏi người cán bộ, công chức phải thật sự là nô bộc của dân, trọng dân, học dân, biết dùng sức dân, trí tuệ của dân để phục vụ dân. Đạo đức chính trị của nhà cầm quyền sẽ tác động tới việc tồn tại quyền con người và thực hiện quyền con người. Cán bộ, công chức là những nhà cầm quyền, tức là những người xếp đặt thể chế và vận hành thể chế. Theo đúng Tinh thần pháp luật của Montesquieu thì “người tạo lập ra thể chế nhưng khi thể chế vận hành phải bị thể chế sai khiến”. Một khi không có những điều đó giáo dục quyền con người chỉ còn là một biện pháp chính trị thuần túy, xa rời những mục tiêu mà một nền giáo dục chân chính phải theo đuổi. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều cán bộ, công chức còn tỏ thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu khi thực hiện nhiệm vụ. Điều này không những vi phạm đạo đức công vụ, mà còn vi phạm quyền con người, làm mất lòng tin trong nhân dân. Cùng với đó, việc giáo dục quyền con người chỉ hiệu quả khi có một hệ thống độc lập và có sự phối hợp liên ngành trong phối hợp thực hiện giáo dục quyền con người một cách thống nhất, đồng bộ trong cả nước.
1.3.3. Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội là tiền đề cho sự phát triển của giáo dục quyền con người. Khi kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, người dân sẽ có ý thức hơn về quyền của mình và tham gia công cuộc đấu tranh vì các quyền của mình. Ngược lại, khi trình độ phát triển kinh tế thấp thì người dân không có điều kiện để tìm hiểu pháp luật nói chung và quyền con người nói riêng.
Sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong những năm qua có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của văn hóa, giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các hoạt động giáo dục quyền con người cho thế hệ trẻ, tầng lớp thanh thiếu niên đông đảo trong xã hội và những nhóm đối tượng khác.
Tuy nhiên, ở vùng sâu vùng xa, nơi mà điều kiện kinh tế còn khó khăn thì việc phổ biến giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục quyền con người nói riêng sẽ gặp nhiều trở ngại, không chỉ từ nguồn kinh phí đầu tư, mà còn là từ phía người dân. Khi đời sống kinh tế còn chưa đáp ứng được nhu cầu cơ bản thì người dân cũng khó quan tâm đến những vấn đề khác.
1.4. CÁC BẢO ĐẢM GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI
1.4.1. Bảo đảm về chính trị
Cơ sở pháp lý đầu tiên của việc giáo dục quyền con người phải nhắc tới là Hiến pháp năm 1992, trong đó Điều 50 đã quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quy chế về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng.” Trong 12 điều được bổ sung vào Hiến pháp sửa đổi tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII ngày 28/11/2013 có tới 5 Điều đề cập đến quyền con người là Điều 19, Điều 34, Điều 41, Điều 42 và Điều 43.
Đường lối, chính sách nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là tôn trọng và đảm bảo quyền con người “Trước mắt, thực hiện tốt các quy chế dân chủ ở cơ sở, mở rộng dân chủ ở các cấp; tăng cường tuyên truyền giáo dục các quan điểm đúng đắn, phê phán các quan điểm sai lầm, những nhận thức mơ hồ về dân chủ và nhân quyền” [27]. Đường lối đó Đảng Cộng sản Việt Nam dựa trên nhận thức quyền con người là giá trị chung của nhân loại được tạo lập bởi sự phấn đấu của các dân tộc qua các thời đại. Sự nghiệp giáo dục quyền con người vừa có ý nghĩa cấp bách, vừa có ý nghĩa lâu dài. Sự nghiệp này muốn thành công đòi hỏi sự tham gia tích cực của toàn bộ hệ thống chính trị ở Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Sự nghiệp này đòi hỏi quyết tâm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc tạo ra điều kiện chính trị thuận lợi để thực hiện có hiệu quả việc giáo dục quyền con người ở nước ta.
Tiến sỹ Cao Văn Thái – Viện nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã có một bài viết về vấn đề sự phát triển nhận thức của Đảng ta về quyền con người đăng trên Tạp chí Cộng sản số 113 năm 2006. Bài viết cho thấy, sự phát triển nhận thức của Đảng về quyền con người được thể hiện trên nhiều phương diện, từ thế giới quan, phương pháp luận, nội dung khái niệm đến thực tiễn về quyền con người. Đảng và Nhà nước ta cũng nhận thức rõ vấn đề giáo dục quyền con người trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhận thức ấy được cụ thể hóa ở các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và thực hiện hóa bởi việc thành lập các cơ quan Nhà nước chuyên trách nghiên cứu về quyền con người, các cơ quan chuyên trách về quyền phụ nữ cũng như quyền trẻ em trong quá trình chỉ đạo xây dựng các chương trình hành động quốc gia về quyền phụ nữ, quyền trẻ em…
Có thể nói, những nhận thức đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vai trò của công tác giáo dục quyền con người là một trong những điều kiện thuận lợi để công tác giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay nói chung và giáo dục quyền con người ở tỉnh Đăk Lăk nói riêng được triển khai thực hiện trên thực tế một cách hữu hiệu.
1.4.2. Bảo đảm về kinh tế Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là điều kiện kinh tế cho đảm bảo giáo dục quyền con người. Từ góc nhìn vận động của lịch sử, có thể nhận thấy, bản chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có khả năng đưa đến một xã hội mang bản chất nhân văn, xã hội của sự phát triển tự do và toàn diện của cá nhân mỗi người, xã hội phát triển trong quan hệ hài hòa giữa con người và con người với tự nhiên.
Bước sang thế kỷ XXI, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải là nền kinh tế thị trường dựa trên nền tảng khoa học công nghệ tiên tiến, kết hợp hài hòa giữa bốn yếu tố: thị trường – Nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự – hội nhập quốc tế sâu rộng. Mục tiêu chung của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là hướng đến sự hưng thịnh của quốc gia, dân tộc, sự giàu có của người dân và sự bình đẳng giữa con người, quyền con người được bảo đảm.
Một nền kinh tế thị trường phát triển lành mạnh đặt ra yêu cầu cao về sự công bằng, bình đẳng, chủ động, sáng tạo, bảo đảm thực thi đầy đủ thực thi các quyền con người, quyền công dân, trong đó có tự do kinh doanh. Và chính nền kinh tế thị trường ấy sẽ tạo ra cơ sở vật chất để thực hiện có hiệu quả công cụ giáo dục quyền con người ở Việt Nam [25].
1.4.3. Bảo đảm về xã hội và nhận thức xã hội
Các kế hoạch, các chính sách về giáo dục quyền con người khó có thể đi vào cuộc sống trong một xã hội mà các công dân còn thờ ơ với chính trị, không tích cực tham gia vào các công việc chung của đất nước, không nhạy cảm về các vấn đề chính trị – pháp lý, không dũng cảm đấu tranh với các hành vi lạm quyền, chuyên quyền, với sự thiếu tinh thần trách nhiệm, vô cảm trước nỗi đau của con người, với vi phạm dân chủ, vi phạm quyền con người. Kiến thức và sự hiểu biết về quyền con người của chính người dân và việc sẵn sàng sử dụng những kiến thức này của họ sẽ là một công cụ cho sự thay đổi [58, tr.40].
Một khi người dân ý thức rõ về trách nhiệm trước vận mệnh của quốc gia, vận mệnh của chính mình thì chắc chắn họ sẽ có đòi hỏi cao đối với lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Trước đòi hỏi đó các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước luôn luôn trăn trở tìm ra các giải pháp đổi mới sự lãnh đạo của mình, xây dựng cơ chế hữu hiệu để kiểm tra, giám sát quyền lực, bảo vệ có hiệu quả quyền con người, trong đó có việc xây dựng chiến lược về giáo dục quyền con người để Nhà nước ta thực sự là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, một Nhà nước thực sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người.
1.4.4. Bảo đảm về pháp lý
Pháp luật là tiền đề, nền tảng tạo cơ sở pháp lý để công dân đấu tranh bảo vệ các quyền con người, các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nhìn nhận từ góc độ này, pháp luật chính là chỗ dựa, là công cụ, vũ khí của mọi người trong xã hội để bảo vệ quyền con người. Pháp luật đóng được vai trong này vì nó là đại lượng mang giá trị phổ biến, là chuẩn mực của sự công bằng, hợp lý, hợp lẽ phải. Nó là cơ sở, là căn cứ để công dân đánh giá, kiểm tra, đối chiếu các hành vi từ phía Nhà nước và các thành viên trong xã hội, đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền con người có thể bị xâm phạm từ phía các cơ quan, tổ chức, công chức Nhà nước trong khi thi hành công vụ, cũng như từ phía các thành viên khác trong xã hội, bởi vì trong quan hệ với Nhà nước, công dân vừa là người chủ Nhà nước, vừa là đối tượng bị quản lý cho nên quyền và lợi ích hợp pháp của họ có nguy cơ xâm hại cao. Trong hoạt động của bộ máy Nhà nước thì hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật có nguy cơ làm phương hại đến các quyền con người là rất lớn.
Các quyết định quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước, các phán quyết của cơ quan bảo vệ pháp luật đều trực tiếp tác động đến các quyền và lợi ích của công dân. Trong mối quan hệ với các cơ quan này, công dân là người bị quản lý và chịu sự phán quyết nên họ luôn luôn ở vị thế bất lợi. Trong điều kiện đó, người công dân không có vũ khí, phương tiện nào khác hữu hiệu hơn là sử dụng pháp luật để đấu tranh tự bảo vệ các quyền và lợi ích của mình. Chỉ có bằng pháp luật, bằng các quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, các quyền và nghĩa vụ của công dân mới tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc để mọi người đấu tranh chống lại các hành vi xâm hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Vai trò của pháp luật trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người còn thể hiện trong mối quan hệ giữa pháp luật và các điều kiện bảo đảm khác (chính trị, kinh tế, văn hóa…). Các điều kiện trên đều phải thông qua pháp luật, thể hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hội ổn định, được hiện thực hóa trên quy mô toàn xã hội. Và chỉ có như vậy thì các điều kiện đó mới phát huy được vai trò của mình trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người.
Trong lĩnh vực giáo dục quyền con người, các quy định pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho kế hoạch, chiến lược về giáo dục quyền con người. Các quy định pháp luật sẽ xác định trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ và quyền lợi của các cơ quan, tổ chức, công chức, viên chức Nhà nước và các cá nhân trong lĩnh vực giáo dục quyền con người. Các quy định pháp luật là cơ sở pháp lý không thể thiếu để thực hiện thu – chi cho các hoạt động giáo dục quyền con người [31].
Trong thời gian vừa qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản thể hiện rõ quyết tâm trong việc giáo dục quyền con người trong thời đại mới:
Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 09 tháng 12 năm 2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ nhân dân. Nội dung Chỉ thị nêu rõ:
Xác định rõ phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong những năm tới, cần tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện thật tốt công tác này để góp phần tạo chuyển biến căn bản về ý thức tôn trọng pháp luật và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Nghị quyết số 900/UBTVQH 11 ngày 21/03/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (giai đoạn 2007 – 2012) đã chỉ rõ một trong những nhiệm vụ cần thực hiện là: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân. Củng cố cơ sở pháp lý về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân…”
Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 12 năm 2007 về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ nhân dân. Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP khẳng định chủ trương: “Tiếp tục quán triệt đầy đủ và sâu sắc hơn nữa về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đảng viên và nhân dân theo đúng tinh thần Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; xác định rõ phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Quyết định số 270/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 02 năm 2009 phê duyệt Đề án “Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của đất nước” thuộc Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ từ năm 2008 đến năm 2012, khẳng định nhất quán quan điểm đẩy mạnh hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời kỳ hội nhập của đất nước.
Kế hoạch số 160/KH-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 19 tháng 3 năm 2009 về ban hành Kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2009 của ngành giáo dục. Kế hoạch đã nêu rõ mục đích cũng như nhiệm vụ trọng tâm của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong ngành. Trong Kế hoạch này, đáng chú ý là nội dung: các cơ sở giáo dục và đào tạo phải “chỉ đạo việc giảng dạy các kiến thức pháp luật trong chương trình môn học đạo đức, giáo dục công dân và các môn học liên quan”, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp phải “bổ sung nội dung pháp luật phù hợp vào chương trình giáo dục của tất các các ngành đào tạo”; các vụ, cục, thanh tra, văn phòng, đơn vị thuộc Bộ phải: “Tổ chức xây dựng chương trình môn học Pháp luật đại cương và giáo trình dùng chung cho các trường đại học, cao đẳng không chuyên luận… Biên soạn Giáo trình pháp luật dùng cho đào tạo trung cấp chuyên nghiệp…; Biên soạn tài liệu hướng dẫn giáo viên đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy các kiến thức pháp luật trên cơ sở kết quả rà soát nội dung giáo dục pháp luật trong chương trình, sách giáo khoa đạo đức, giáo dục công dân và hoạt động ngoài giờ lên lớp…”. Những quy định này chính là cơ sở để các cấp giáo dục tổ chức triển khai công tác phổ biến giáo dục pháp luật, giáo dục quyền con người một cách hiệu quả hơn trong thời gian tới.
1.4.5. Bảo đảm về nguồn nhân lực và vật lực Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Để tiến hành giáo dục quyền con người cần có một đội ngũ những người am hiểu về quyền con người, được đào tạo, được cung cấp những tri thức vững vàng về quyền con người và cơ chế đảm bảo quyền con người. Họ sẽ trở thành những nhà giáo góp phần đưa quyền con người vào cuộc sống thông qua các bài giảng sinh động và sâu sắc của mình. Như vậy, đào tạo, huấn luyện một đội ngũ các giảng viên, các tuyên truyền viên về quyền con người là một nhiệm vụ đặt ra rất cấp bách hiện nay.
Theo con số thống kê từ Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật Bộ Tư pháp, ở địa phương hiện tại có 63/63 Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Phòng phổ biến, giáo dục pháp luật với 263 cán bộ chuyên trách. Đối với các cơ quan thông tin đại chúng, lực lượng biên tập viên, phóng viên chuyên viết về pháp luật được củng cố và tăng cường. Hiện cả nước có 232 báo cáo viên pháp luật trung ương, 4761 báo cáo viên cấp tỉnh, 15116 báo cáo viên cấp huyện và hơn 73 000 báo cáo viên cấp xã và gần 70 000 người từ các lực lượng khác tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật [17].
Trước yêu cầu mà quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, giáo dục quyền con người, nguồn nhân lực hiện có chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu đặt ra bởi một số nguyên nhân sau:
Bản thân phần lớn đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật cũng chưa được đào tạo một cách bài bản lý luận chung về quyền con người, họ thường chỉ nghiên cứu, tìm hiểu những văn bản luật cụ thể, ví dụ: về quyền của trẻ em, quyền của người khuyết tật, về vấn đề bình đẳng giới… mỗi khi cần phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn nội dung các quy định pháp luật tương ứng trong trường hợp cần thiết.
Giáo dục và tìm hiểu quyền con người cần phải được tất cả các chủ thể, các bên tham gia, được xã hội dân sự cũng như các chính phủ và các công ty xuyên quốc gia cùng thực hiện. Thông qua hiểu biết về quyền con người, chân lý “văn hóa quyền con người” sẽ được phát triển dựa trên sự tôn trọng, bảo vệ, thực hiện tuân thủ và thực hành quyền con người. Tuy nhiên, ở một số cơ quan chức năng vẫn tồn tại hiện tượng một bộ phận cán bộ còn mang nặng ý thức ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ kinh phí từ bên ngoài, chưa tích cực, chủ động, chưa có sự quan tâm đúng mức đến công tác phổ biến kiến thức pháp luật nói chung, công tác giáo dục quyền con người nói riêng.
Số cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có trình độ ngoại ngữ và biết tiếng dân tộc thiểu số là rất hạn chế. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm nước ngoài về vấn đề quyền con người, giáo dục quyền con người cũng như gây khó khăn trong việc tiếp cận, phổ biến kiến thức pháp luật cần thiết cho đồng bào dân tộc thiểu số, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền được tiếp cận thông tin của họ.
Cùng với việc đào tạo, huấn luyện một đội ngũ các giảng viên, các tuyên truyền viên về quyền con người, chúng ta cần tích cực biên soạn các giáo trình, các tài liệu đào tạo, giảng dạy về quyền con người.
Có thể nói, bên cạnh sự chú trọng đầu tư đội ngũ nhân lực thực hiện công tác giáo dục, phổ biến pháp luật thì Đảng và Nhà nước hiện nay cũng rất quan tâm đến nguồn vật lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hiện nay, việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách Nhà nước bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07/12/2007 về việc thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày 12/03/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012 đã chỉ rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành trong việc bố trí ngân sách hàng năm cho hoạt động giáo dục pháp luật trên cơ sở Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan. Về cơ bản, ngân sách cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở vật chất, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ tuyên truyền… đã được đầu tư một cách mạnh mẽ hơn, ví dụ, riêng ngân sách thực hiện đề án “Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước” thuộc Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ từ năm 2008 đến năm 2012 lên tới 29 tỷ đồng. Như vậy, xét về nguồn vật lực, chúng ta có thể tin tưởng rằng, khi có kế hoạch, chương trình cụ thể cho công tác giáo dục quyền con người, các cơ quan chức năng sẵn sàng đầu tư nguồn lực tài chính cần thiết để triển khai hoạt động này trên thực tế. Luận văn: Giáo dục về quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk