Luận văn: Giải pháp PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần và các giải pháp hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.4. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về trách nhiệm người quản lý, người điều hành tại các Ngân hàng thương mại cổ phần

2.4.1. Bổ sung những quy định về điều kiện, tiêu chuẩn cho người quản lý, người điều hành.

Về mặt lý luận, một ngân hàng muốn duy trì tính ổn định và phát triển, nhân tố quan trọng nhất là lựa chọn con người lãnh đạo. Con người là khâu then chốt của mọi vấn đề. Thực tiễn cho thấy điều kiện, tiêu chuẩn của người quản lý người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần là vô cùng quan trọng. Người lãnh đạo có năng lực hay không, có đạo đức không, có trình độ chuyên môn vững vàng hay không phụ thuộc rất lớn vào quy định này.

Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành đã bổ sung rất nhiều quy định liên quan đến trình độ chuyên môn, như: bằng đại học, kinh nghiệm quản lý. Tuy nhiên, điều luật cũng không nêu rõ là bằng cấp gì, căn cứ khoa học nào để xác định thời gian kinh nghiệm sẽ tác động đến năng lực của Nguời quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Hoặc là tình tiết” Có đạo đức nghề nghiệp” được hiểu như thế nào, hiện vẫn chưa có giải thích rõ của cơ quan soạn thảo. Do đó, tác giả kiến nghị:

Một là, quy đinh cụ thể chặt chẽ hơn về nội dung “Có đạo đức nghề nghiệp”, cần phải có hướng dẫn đối với tiêu chuẩn này. Theo tác giả, “Có đạo đức nghề nghiệp” phải được đánh giá một cách trung thực, khách quan và minh bạch, nên chăng khi đánh giá “Có đạo đức nghề nghiệp” hay không, trong quy trình bổ nhiệm người quản lý, người điều hành cần bổ sung quy định về lấy phiếu tín nhiệm của cá nhân đó nơi đang công tác, hoặc ý kiến đánh giá của đồng nghiệp nơi công tác…

Hai là, trong các quy định về bằng cấp, kinh nghiệm cần quy định lại chỉ những cá nhân có bằng cấp đào tạo sau đại học về các ngành tài chính, ngân hàng và Luật thì mới tham gia vào quản lý, điều hành ngân hàng, kinh nghiệm công tác phải thể hiện bằng sự đánh giá của đồng nghiệp và khách hàng trong thời gian làm việc trước đây, đánh giá qua nhiều nội dung và tiêu chí khác nhau. Luận văn: Giải pháp PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.

Ba là, sửa đổi khoản 2 Điều 50 Luật các tổ chức tín dụng 2017 theo hướng như sau: Bổ sung thêm cụm từ trừ trường hợp thành viên độc lập được bầu 02 nhiệm kỳ liên tục nhằm đảm bảo tính độc lập của thành viên Hội đội quản trị độc lập và hợp pháp hóa việc thành viên Hội đồng độc lập được tín nhiệm bầu vào nhiệm kỳ tiếp theo.

Bốn là, sửa đổi một số nội dung tại Điều 33, Điều 34 Luật các tổ chức tín dụng 2017 để phù hợp với LDN2020, Luật Phòng chống tham nhũng và Luật HTX, cụ thể: tại Điều 33 cần bổ sung thêm đối tượng là viên chức và người có liên quan của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc, Phó Giám đốc và chức danh tương đương của Quỹ tín dụng nhân dân vào quy định những người không được là thành viên Hội đồng quản trị,thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và chức danh tương đương của ngân hàng thương mại cổ phần.

Năm là, sửa đổi cụ thể nội dung: phần vốn góp của Nhà nước tại tổ chức tín dụng thành “phần vốn góp Nhà nước nắm từ 50% vốn điều lệ trở lên tại tổ chức tín dụng hoặc được cử, chỉ định tham gia quản lý, điều hành, kiểm soát tổ chức tín dụng theo yêu cầu nhiệm vụ”. Việc sửa đổi, bổ sung quy định về các nội dung nêu trên phải phù hợp, đồng bộ, không mâu thuẫn, xung đột và không làm điều chỉnh, thay đổi nội dung Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.4.2. Bổ sung quy định nhằm tách bạch giữa chủ sở hữu với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần

Một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng một số lãnh đạo của các ngân hàng thương mại cổ phần bị truy cứu trách nhiệm hình sự đó là sự vi phạm nguyên tắc tách bạch giữa chủ sở hữu ngân hàng với người người quản lý, người điều hành. “Chủ sở hữu” “người quản lý, điều hành” là hai chủ thể khác nhau nhưng có sự tác động qua lại, biện chứng lẫn nhau. Trong đó, chủ sở hữu hoàn toàn có thể có những tác động theo ý muốn chủ quan của mình để can thiệp vào hoạt động quản lý, điều hành của người quản lý, người điều hành ngân hàng nhằm gây ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông khác, hoặc lợi ích của chính ngân hàng. Muốn ngăn chặn vấn đề này, có 02 yếu tố chúng ta phải tách bạch và phân rõ giữa chủ sở hữu và người quản lý, người điều hành ngân hàng: một là, tài sản của chủ sở hữu; hai là, quyền lực, chức vụ của chủ sở hữu và người quản lý, người điều hành phải tách biệt, không có mối quan hệ trên dưới hoặc chỉ đạo lẫn nhau.

Như vậy, giải pháp đặt ra là phải bổ sung quy định để giải quyết triệt để tình trạng can thiệp của chủ sở hữu hoặc cổ đông lớn vào hoạt động quản trị ngân hàng. Luận văn: Giải pháp PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.

Sự tác động đó có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng cơ bản đã thay đổi chủ trương, chính sách của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại.

Do đó, tác giả kiến nghị cần bổ sung các quy định dưới đây vào Điều 38, Điều 50 của Luật các tổ chức tín dụng 2017, cụ thể:

Một là, chủ sở hữu, nhóm cổ đông lớn, sở hữu vốn điều lệ cao không được can thiệp dưới bất cứ hình thức nào vào hoạt động quản lý, điều hành của ngân hàng. Giao nhiệm vụ này cho Ngân hàng NN giám sát chủ sở hữu về nội dung này thông qua báo cáo của HĐQT va Ban điều hành ngân hàng thương mại cổ phần.

Hai là, kiểm soát một cách chặt chẽ tài sản của chủ sở hữu, bắt buộc phải kê khai tài sản do bản thân, người thân, người liên quan sở hữu tránh sở hữu hộ hoặc sở hữu che giấu gián tiếp qua nhiều chủ thể.

Ba là, tăng cường minh bạch hóa cơ cấu cổ đông và tài sản của chủ sở hữu.

Bốn là, sửa đổi tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông, cổ đông lớn, cụ thể quy định giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông cá nhân, cổ đông là tổ chức, cổ đông và người liên quan của cổ đông. Nếu làm được vấn đề này có thể sẽ khắc phục cơ bản tình trạng chi phối, thao túng của cổ đông lớn vào hoạt động của người quản lý, người điều hành. Theo đó, cần sửa đổi Điều 55 Luật các tổ chức tín dụng 2017 theo hướng sau:

Quy định giảm tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ theo hướng: Một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 3% (hoặc nhỏ hơn tỷ lệ này) vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng. Một cổ đông là tổ chức không được sở hữu vượt quá 10% (hoặc nhỏ hơn tỷ lệ này) vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng.

Quy định giảm tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ theo hướng: Cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu cổ phần vượt quá 15% (hoặc nhỏ hơn tỷ lệ này) vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng.

2.4.3. Bổ sung quy định về chế tài nội bộ đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm của người quản lý, người điều hành Luận văn: Giải pháp PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.

Nội dung này được các nhà nghiên cứu về Luật các tổ chức tín dụng 2017 đề cập rất nhiều, tuy nhiên, chưa được NHNNVN chấp thuận đưa vào nội dung dự thảo sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2023. Hiện này, các chế tài xử ký về mặt nội bộ thì được quy định trong Quy chế tổ chức và hoạt động của từng ngân hàng thương mại cổ phần; các chế tài xử lý hành chính thì quy định trong văn bản hướng dẫn của NHNNVN cụ thể là Nghị định 88/2019/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Chính Phủ và Nghị định 143/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021. Riêng chế tài xử lý về mặt hình sự thì được quy định qua nhiều tội danh trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Chưa có một chế tài cụ thể nào được quy định trong Luật các tổ chức tín dụng 2017, do đó, cần nghiên cứu, sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng theo hướng sau:

Một là, quy định về nội dung trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần và chế tài xử lý nếu người quản lý, người điều hành không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ các trách nhiệm của mình. Có như vậy, mới tạo sự đồng bộ, thống nhất trong cơ chế kiểm soát hành vi của người quản lý, người điều hành và tạo sự răn đe nhất định cho các chủ thể này trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Hai là, quy định trách nhiệm cụ thể cho cơ quan quản trị khác như Bản Kiểm soát, Thành viên HĐQT độc lập tiến hành giám sát và có trách nhiệm báo cáo ĐHĐCĐ, NHNN về các vi phạm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.

2.4.4. Bổ sung quy định nằm tăng cường quyền lực cho cổ đông nhỏ, thành viên Hội đồng quản trị độc lập để hạn chế sự lạm quyền của người quản lý, người điều hành

Quy định về bầu dồn phiếu tại Điều 148 LDN 2020 mục đích chính là tăng cường quyền lực cho cổ đông nhỏ nhưng để quy định này phát huy hiệu quả hơn nữa nên quy định tỷ lệ thông qua quyết định bầu thành viên HĐQT, BKS chỉ cần tuân theo quy tắc có số phiếu bầu từ cao xuống thấp. Hiện nay, tỷ lệ 65% là quá cao và Luật Doanh nghiệp 2020 vẫn tiếp tục giữ tỷ lệ này. Và như vậy, cho dù bầu dồn phiếu thì cổ đông thiểu số cũng khó để mà có tiếng nói thông qua hoặc phủ quyết đối với nghị quyết của ĐHĐCĐ với tỷ lệ này. Luận văn: Giải pháp PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.

Về thành viên HĐQT độc lập là một quy định mới của Luật các tổ chức tín dụng 2017, nhằm tăng cường sự kiểm soát trong Hội đồng quản trị và Ban điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Tuy nhiên, để chủ thể này phát huy tác dụng, cần xem xét sửa đổi các quy định mang tính thực quyền hơn, tăng thời hạn nhiệm kỳ đối với chủ thể này, bổ sung các quy định hạn chế sự can thiệp của chủ sở hữu lên chủ thể này.

Bổ sung các quy định cụ thể tăng cường vai trò kiểm soát của Thành viên HĐQT Độc lập lên HĐQT, Tổng giám đốc, cùng với BKS tạo ra một cơ chế kiểm soát hiệu quả, ngăn chặn sự lạm quyền của HĐQT hoặc Tổng giám đốc ngân hàng thương mại cổ phần

Lưu ý việc sửa đổi, bổ sung quy định về cơ cấu, nhiệm kỳ HĐQT; cơ cấu BKS; nhiệm kỳ TGĐ (Giám đốc); tiêu chuẩn, điều kiện thành viên BKS phải phù hợp, đồng bộ và không làm điều chỉnh, thay đổi nội dung Luật Doanh nghiệp, Luật số 69/2014/QH13. Việc sửa đổi, bổ sung số lượng nhiệm kỳ của thành viên độc lập Hội đồng quản trị của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần phải phù hợp, đồng bộ và không làm điều chỉnh, thay đổi nội dung LDN 2020.

2.4.5. Quy định chi tiết và cụ thể các trách nhiệm người quản lý, người điều hành trong Luật các tổ chức tín dụng

Theo đó, cần quy định nội dung thực hiện trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần ngay sau Điều 38 của Luật các tổ chức tín dụng 2017, có thể bổ sung thêm Điều 38b, trong đó nêu rõ 04 trách nhiệm theo tinh thần của nguyên tắc Basel và OECD đó là:

Trách nhiệm thực hiện quyền, nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, vì lợi ích của ngân hàng, cổ đông và chủ sở hữu tổ chức tín dụng.

  • Trách nhiệm trung thành với ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của ngân hàng.
  • Trách nhiệm công khai các lợi ích liên quan.
  • Trách nhiệm không lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của tổ chức tín dụng để thu lợi cá nhân gây thiệt hại cho tổ chức tín dụng; không được tạo điều kiện để bản thân hoặc người có liên quan của mình vay vốn, sử dụng các dịch vụ ngân hàng khác của tổ chức tín dụng với những điều kiện ưu đãi, thuận lợi hơn so với quy định chung của tổ chức tín dụng gây thiệt hại cho tổ chức tín dụng.

2.4.6. Bổ sung, hoàn thiện quy định pháp luật nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng quyền hạn, chức vụ của người quản lý, người điều hành Luận văn: Giải pháp PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.

NHTMCP là loại hình doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức phức tạp do tính chất đối vốn và số lượng cổ đông lớn, quy mô hoạt động lớn. Chính điều này quyết định đến cơ cấu tổ chức của ngân hang. Sự khác nhau về phân chia cổ phần trong ngân hàng đã đưa đến vai trò, địa vị, quyền lợi của mỗi cổ đông là khác nhau. Từ đó có cổ đông lớn và cổ đông nhỏ (hay còn gọi là cổ đông thiểu số). Thực tế cho thấy, những cổ đông lớn, người quản lý lạm dụng quyền lực của mình để tìm cách trục lợi cá nhân mà không quan tâm đến hoạt động chung của ngân hàng hoặc phớt lờ lợi ích của cổ đông khác. Thậm chí trên thực tế đã có trường hợp lợi dụng ảnh hưởng của mình để chi phối hoạt động của ngân hàng, thực hiện hành vi vi phạm pháp luật để thu lời bất chính mà điển hình nhất là trường hợp của các vụ án Phạm Công D và đồng phạm tại Ngân hang VNCB, vụ án Trần Phương B và đồng phạm tại ngân hàng Đông Á, hoặc vụ án Trầm B và đồng phạm tại Ngân hàng Phương Nam.

Chính vì vậy, ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực của cổ đông lớn và người quản lý là vấn đề cần phải được coi trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của những cổ đông nhỏ, qua đó làm lành mạnh hóa các hoạt động quản trị, điều hành kinh doanh của ngân hàng. Để thực hiện được điều đó, tác giả đề xuất một số giải pháp như sau:

Một là, cần nâng cao tính độc lập, và vai trò của BKS hoặc thành viên HĐQT độc lập. Đây là cơ quan có chức năng kiểm soát quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại cổ phần. Việc nâng cao tính độc lập, tính chuyên nghiệp và hiệu lực của BKS và thành viên HĐQT độc lập là một trong những giải pháp cơ bản và chủ yếu để ngăn ngừa sự lạm quyền của HĐQT, cổ đông lớn hoặc người quản lý ngân hàng. Pháp luật hiện hành cũng đã chú ý đến vấn đề này song còn chưa triệt để. Về mặt pháp lý thì thành viên BKS do chính ĐHĐCĐ bầu và miễn nhiệm; nhưng trên thực tế BKS thường do chính các thành viên HĐQT chỉ định, mà thành viên HĐQT thường cũng chính là những cổ đông lớn; và họ tự bầu cho mình làm thành viên HĐQT và đồng thời có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn và bầu thành viên BKS. Và như vậy, thành viên BKS là không hoàn toàn độc lập, họ sẽ chịu những ảnh hưởng nhất định từ HĐQT hoặc người điều hành. Họ cũng không phải là người có chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm nghề nghiệp; không chuyên trách kiểm soát nội bộ ngân hàng. Có thể nói, trong nội bộ ngân hàng họ sẽ có vị thế và cả uy tín thấp hơn so với thành viên HĐQT và người điều hành. Vì vậy, BKS trên thực tế khó hoàn thành được chức năng, nhiệm vụ như luật định và trở nên hình thức. Luận văn: Giải pháp PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.

Hai là, tăng cường vai trò giám sát của cổ đông. Pháp luật có thể xem xét để quy định bổ sung quyền chất vấn của cổ đông cũng như cơ chế đảm bảo thực thi quyền đó. Điều này được thực hiện sẽ góp phần làm tăng khả năng giám sát điều hành của cổ đông, giúp ngăn chặn sớm hành vi gây thiệt hại cho ngân hàng của người quản lý. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quy định trách nhiệm đối với người quản lý khi người này ngăn cản việc thực thi quyền tiếp cận thông tin của cổ đông.

2.4.7. Tăng cường sự thanh tra, giám sát, kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước đối với việc thực hiện trách nhiệm người quản lý, người điều hành tại các Ngân hàng thương mại cổ phần

Như đã phân tích, NHNNVN là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng, đồng thời là Ngân hàng Trung ương đảm nhận chức năng độc quyền phát hành tiền, cung ứng các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho các tổ chức tín dụng và cung cấp dịch vụ tài chính, tiền tệ cho Chính phủ. Với nhiệm vụ và quyền hạn đó, thiết nghĩ trong cơ chế thanh tra, giám sát và kiểm soát trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần cần phải nâng cao vai trò của NHNN. Do đó, trong lần sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng tới đây (hiện Dự thảo Luật đang lấy ý kiến các Bộ, ngành, cơ quan, người dân) cần quy định thêm nhiều nội dung về sự giám sát của NHNNVN đối với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần, cụ thể:

Một là, NHNNVN giám sát toàn diện hoạt động của người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng thông qua Thành viên Hội đồng quản trị độc lập và Ban Kiểm soát của ngân hàng thương mại cổ phần. Quy định trách nhiệm báo cáo của Thành viên HĐQT độc lập và BKS về NHNNVN với một thời gian cụ thể, nội dung báo cụ thể về trách nhiệm của Người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần.

Hai là, NHNNVN có thẩm quyền thanh tra ngay lập tức toàn bộ hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần khi có thông tin phản ảnh từ báo chí, doanh nghiệp và người dân về việc thực hiện trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần.

Ba là, Bổ sung quy định tại Điều 60 Luật các tổ chức tín dụng 2017 về thẩm quyền triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ của NHNNVN theo hướng: NHNNVN có thẩm quyền triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ khi nhận được thông tin từ Thành viên HĐQT độc lập và BKS ngân hàng thương mại cổ phần cho rằng người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần đang xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của ngân hàng hoặc đang có hành vi lạm dụng quyền hạn để trục lợi cá nhận, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho Ngân hàng.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Giải pháp PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.

Qua hơn 12 năm thực hiện, Luật Các tổ chức tín dụng đã có những đóng góp quan trọng trong công tác quản lý cũng như tạo môi trường pháp lý ổn định cho hoạt động của hệ thống ngân hàng. Luật các tổ chức tín dụng 2017 và các văn bản hướng dẫn đã tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại cổ phần nâng cao chất lượng công tác quản trị, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, tiếp cận dần với những chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong hoạt động ngân hàng, trong đó nâng cao trách nhiệm của Người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần.

Tuy nhiên, để tăng cường chất lượng quản trị, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần, một số quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2017 cần được sửa đổi, bổ sung kịp thời như: điều chỉnh quy định về tỷ lệ nắm giữ cổ phần của 01 cổ đông, nhóm cổ đông và người có liên quan của cổ đông, tỷ lệ giới hạn cấp tín dụng để hạn chế việc thao túng trong hoạt động ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị, điều hành của tổ chức tín dụng; giải thích và bổ về các điều kiện tiêu chuẩn của người quản lý, người điều hành. Đặc biệt bổ sung quy định về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần trong chính LCTCTTD 2017 nhằm nâng cao chất lương quản trị ngân hàng.

Toàn bộ nội dung chương 2 đã đánh giá thực trạng quy định về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần thông qua phân tích Luật các tổ chức tín dụng 2017 để từ đó nhận đính đúng về các mặt hạn chế của các quy định liên quan đến người quản lý, người điều hành hiện nay. Trên cơ sở các đánh giá đó, tác giả mạnh dạn đưa ra các giải pháp căn cơ và lâu dài nhằm nâng cao trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần như đã nêu ở trên.

KẾT LUẬN CHUNG Luận văn: Giải pháp PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.

Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” có nội dung: ”Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tiền tệ, ngân hàng trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập, tăng cường trách nhiệm, tăng tính công khai, minh bạch trong quản trị và hoạt động của các tổ chức tín dụng, phù hợp với yêu cầu của cơ cấu lại các tổ chức tín dụng trong từng giai đoạn; …sửa đổi, bổ sung các quy định về tăng cường xử lý sở hữu chéo, ngăn ngừa việc lạm dụng quyền quản trị, điều hành, quyền cổ đông lớn để thao túng hoạt động của tổ chức tín dụng…

Trên tinh thần đó, để tăng cường chất lượng quản trị, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần, đặc biệt là các chế định liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần, một số quy định của Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành cần được sửa đổi, bổ sung kịp thời như: điều chỉnh quy định về tỷ lệ nắm giữ cổ phần của 01 cổ đông, nhóm cổ đông và người có liên quan của cổ đông, tỷ lệ giới hạn cấp tín dụng, bổ sung trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ của người quản lý, điều hành tổ chức tín dụng để hạn chế việc thao túng trong hoạt động ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị, điều hành của tổ chức tín dụng, bổ sung các quy đinh về thực hiện trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần và các cơ chế kiểm soát, chế tài xử lý khi người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm của mình theo quy định…

Trước yêu cầu đó, toàn bộ các nội dung trong Luận văn này ít nhiều cũng có những đánh giá nhất định về thực trạng quy định của pháp luật về trách nhiệm của Người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Từ đó, đưa ra các giải pháp mang tính lý luận và thực tiễn để đảm bảo việc thực hiện trách nhiệm của người quản lý, người điều hành NHTCMP một cách đúng đắn, đầy đủ và phù hợp với quy định của pháp luật. Xây dựng công cụ để quản lý ngân hàng thương mại cổ phần, đặc biệt kiểm soát chặt chẽ trách nhiệm của người quản lý, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần; phát hiện sớm vi phạm và xử lý kịp thời trách nhiệm của các cá nhân quản trị, điều hàng góp phần ổn định hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng. Luận văn: Giải pháp PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464