Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Từ việc phân tích những vấn đề lý luận về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thực tiễn thực hiện công tác này tại tỉnh Bình Dương, tác giả cho rằng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một nhiệm vụ rất cần thiết, theo đó hoạt động này cần phải đảm bảo được những định hướng như sau:

Thứ nhất, nâng cao sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động áp dụng pháp luật về hoạt động bảo vệ người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng theo pháp luật hiện hành của Việt Nam. Đảng lãnh đạo bằng việc đề ra chủ trương đường lối, chính sách áp dụng pháp luật và không tham gia trực tiếp vào việc bảo vệ người lao động Việt Nam ở tất cả các giai đoạn của quá trình người lao động đi sang nước ngoài làm việc từ giai đoạn chuẩn bị, thời gian làm việc tại nước ngoài cho đến khi họ trở về nước. Sự lãnh đạo của Đảng chỉ đạt hiệu quả khi có các chủ trương, chính sách, đường lối đúng đắn để việc áp dụng pháp luật về bảo vệ người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đạt hiệu quả cao, góp phần đảm bảo quyền lợi cho công dân Việt Nam, đồng thời mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và là bước đệm trong quá trình phát triển đất nước.

Thứ hai, Pháp luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải bảo đảm hài hòa giữa thực thi các Điều ước quốc tế và bảo vệ quyền con người. Quyền con người là khát vọng và thành quả của quá trình phát triển nhận thức lâu dài trong lịch sử nhân loại, là một giá trị mà các dân tộc văn minh đều hướng tới. Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Theo đó, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công cụ hiệu quả nhất cho việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân chính là hệ thống pháp luật, đặc biệt là Hiến pháp. Thông qua việc thể chế hóa thành luật, quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp ghi nhận sẽ có điều kiện được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt nhất trong thực tiễn. Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung một số quyền mới, là thành tựu của gần 30 năm đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa; thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm thực hiện, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Theo đó, để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, hệ thống pháp luật cần được rà soát lại, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, trong đó có các quy định về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cần được bảo hộ, hỗ trợ trong suốt quá trình di cư: giai đoạn trước khi ra nước ngoài, giai đoạn đi ra nước ngoài; giai đoạn hồi hương. Theo đó, pháp luật người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài cần được tiếp cận theo hướng toàn diện, từ trước khi xuất cảnh, trong thời gian ở nước ngoài cho đến khi quay trở về, tái hòa nhập cộng đồng của người lao động. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Thứ ba tiếp tục rà soát hệ thống văn bản pháp luật có liên quan tới hoạt động bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, qua đây đánh giá hiệu quả hay bất cập trong quá trình thực tiễn áp dụng để có những ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật làm cơ sở đảm bảo cho hoạt động bảo vệ người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng diễn ra một cách thuận lợi. Thông qua việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh vấn đề này, Nhà nước quản lý việc công dân nước mình đi làm việc ở nước ngoài một cách hiệu quả hơn, đồng thời pháp luật quy định vấn đề này đóng vai trò vừa điều chỉnh các quan hệ xã hội, vừa hướng dẫn cũng như làm rõ các vấn đề liên quan đến các chủ thể trong mối quan hệ này, qua đó tạo môi trường pháp lý giúp cho hoạt động bảo vệ người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đạt hiệu quả, mang lại lợi nhuận và giảm thiểu những vi phạm, tranh chấp trên thực tế.

Thứ tư, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động bảo vệ người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam và xu thế toàn cầu hóa, hợp tác quốc tế. “Cụ thể pháp luật về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng không chỉ nằm trong mối quan hệ của hệ thống pháp luật quốc gia như Bộ luật Lao động năm 2019, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2019, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Luật Việc làm năm 2013, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020,… thì còn phải phù hợp với những văn bản pháp luật quốc tế mà Việt nam là thành viên được kể đến như: Công ước quốc tế bảo vệ người lao động di trú của Liên Hợp Quốc; Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ năm 1990; Công ước về xóa bỏ mọi các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965; Công ước về xóa bỏ mọi các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979; Công ước số 97 về di trú tìm việc làm (sửa đổi) năm 1949,…” Bên cạnh đó Đảng và Nhà nước cũng cần phải quan tâm tới các Điều ước song phương mà Việt nam ký kết với một số quốc gia khác, qua đó giúp cho quá trình đi làm việc của người lao động Việt Nam trở nên dễ dàng hơn, đồng nghĩa với đó là việc bảo vệ họ cũng mang lại hiệu quả tốt đẹp.

Thứ năm, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phải bảo đảm sự thống nhất của các văn bản pháp luật có liên quan. Cụ thể pháp luật hiện hành về Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là kết quả của hoạt động kế thừa các quy định đã có từ trước đó, đồng thời phải bổ sung, sửa đổi những điều mà thực tiễn đòi hỏi mà pháp luật cũ chưa điều chỉnh được, do đó hoạt động này cần phải có sự đánh giá chính xác cũng như dự trù một cách kỹ lưỡng, cụ thể trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng về “nhu cầu thực tế cần pháp luật bảo vệ người lao động những cái gì, phải áp dụng biện pháp ra sao, phải kiểm soát các cá nhân, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ở những mặt nào,… là cơ sở để hình thành các quy phạm pháp luật bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài, mức độ phù hợp với thực tiễn xã hội càng cao thì tính khả thi của pháp luật cũng càng cao,” do đó việc làm tốt công tác này là cách hiệu quả nhất để giúp cho những quy định trong luật được thực thi trong thực tế mang lại kết quả mà định hướng đề ra, từ đó có thể giải quyết được một số những vấn đề còn tồn tại dẫn tới quyền lợi của người lao động đi làm việc tại nước ngoài bị xâm phạm hay nghiêm trọng hơn là xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn.

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Từ những định hướng nêu trên đối với công tác bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nói chung và thực tiễn thực hiện công tác này tại địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng, cần phải có những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả của hoạt động này trên thực tế, không chỉ tại tỉnh Bình Dương mà còn áp dụng trong phạm vi rộng hơn trên phạm vi cả nước. Theo đây, một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về công tác bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được đưa ra, đặc biệt giải quyết những bất cập được phân tích ở trên như sau:

3.2.1. Nội dung bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Thứ nhất, pháp luật hiện hành về hoạt động bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, cụ thể là Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 cần có sự sửa đổi theo hướng quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, doanh nghiệp một cách chung nhất, ngoài những quyền và nghĩa vụ chung, tại mỗi loại hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài có quy định riêng về quyền và nghĩa vụ của từng loại chủ thể này. Như vậy về cơ bản không chỉ người dân mà còn ngay cả các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này cũng có cái nhìn chung nhất cũng như dễ dàng nắm bắt được những đặc điểm riêng và đánh giá được những ưu, nhược điểm đối với từng hình thức. Người lao động cũng vì vậy mà có thể đưa ra lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình.

Thứ hai, pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 cần phải điều chỉnh về khái niệm “người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài”, theo đó với bất cập hiện nay việc thiếu sót về một khái niệm hoàn chỉnh của một vấn đề về cơ bản sẽ khiến cho việc áp dụng những quy định có liên quan gặp khó khăn. Chính vì vậy, pháp luật hiện hành cần phải tiến hành bổ sung một cách kịp thời khái niệm này, theo đó có thể sửa đổi theo hướng như sau: “Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp động là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên cư trú trên lãnh thổ Việt Nam, đã, đang và sẽ làm một công việc hưởng lương ở nước ngoài có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động đi làm việc ở nước ngoài.” Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Thứ ba, hoàn thiện các quy định pháp luật bảo vệ người lao động sau thời gian làm việc ở nước ngoài. Quy định đảm bảo cho người lao động Việt Nam được hồi hương sau thời gian làm việc ở nước ngoài. Tổ chức, cá nhân đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có trách nhiệm bảo vệ người lao động trên đường đi ra nước ngoài và về nước, mỗi chuyến bay của lao động phải cử cán bộ đại diện của đơn vị mình đi cùng đoàn bay, đón lao động ở sân bay, đưa lao động đến địa điểm làm việc đã thỏa thuận, khi người lao động về nước cần phối hợp với phía đối tác đưa tiễn lao động ra sân bay hồi hương về nước an toàn.

Quy định cụ thể việc thực hiện các quy định về hỗ trợ người lao động sau khi về nước. Cụ thể: (i) Bổ sung quy định khuyến khích các doanh nghiệp ưu tiên tuyển dụng người lao động đã từng đi làm việc ở nước ngoài vào những công việc phù hợp. (ii) Cụ thể hóa quy định hỗ trợ vay vốn ưu đãi cho người lao động sau khi về nước (điều kiện, thủ tục, mức vay, lãi suất vay,…) (iii) Quy định xử lý đối với các cá nhân, tổ chức không thực hiện nghiêm túc các quy định về hỗ trợ người lao động sau khi về nước.

Thứ tư, nhằm hạn chế tối đa việc người lao động gặp khó khăn trong thời gian người lao động làm việc tại nước ngoài, hợp đồng là một hình thức rất quan trọng giúp cho các bên tránh được những tranh chấp cũng như là cơ sở bảo vệ quyền lợi của mình, qua đây hợp đồng ghi nhận sự thỏa thuận của các bên có liên quan tới hoạt động đi làm việc ở nước ngoài của người lao động Việt Nam. Có thể thấy pháp luật nước ta , cụ thể là khoản 3 Điều 14 Thông tư 21/2021/TT- BLĐTBXH quy định về nội dung hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, tuy nhiên một số doanh nghiệp, tổ chức đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết và sự tìm hiểu pháp luật của người lao động nên không những họ không ghi đầy đủ những nội dung này vào hợp đồng mà còn có thể có những hành vi vi phạm nhằm trục lợi cho bản thân, tổ chức mình. Chính vì vậy, để khắc phục vấn đề này, Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cần phải đưa nội dung này vào bởi trên thực tế đối với người dân nói chung không phải ai cũng có thể hiểu và nắm được các quy định để tự bảo vệ được quyền lợi của mình, đặc biệt là những văn bản hướng dẫn thì những chủ thể này càng khó tiếp cận, do đó việc đưa các nội dung của hợp đồng vào văn bản này sẽ khiến cho nhóm người lao động đặc biệt này dễ dàng hơn trong việc đòi quyền lợi của mình, hạn chế việc bị doanh nghiệp, tổ chức lợi dụng.

Thứ năm, đối với vấn đề pháp luật hiện hành của nước ta chưa đưa ra một quy định cụ thể về giới hạn thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài như hiện nay mà sẽ tôn trọng sự linh hoạt trong chế độ này tại từng ngành nghề, từng quốc gia khác nhau, theo tác giả nhận thấy là không phù hợp, điều này có thể dẫn tới việc người lao động của nước ta bị bóc lột sức lao động, đặc biệt là thời gian làm việc quá nhiều trong khi thời gian nghỉ ngơi lại ít dẫn tới việc tái tạo sức lao động dường như không đáng kể. Để khắc phục tình trạng này, pháp luật Việt Nam cần thiết phải bổ sung quy định giới hạn thời gian này tương tự như đối với người lao động làm việc trong nước.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp, tổ chức có chức năng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng cần phải thường xuyên hỏi thăm, cập nhật tình hình làm việc người lao động nhất là về thời gian làm việc, nghỉ ngơi để đảm bảo sức khỏe của người lao động quốc gia mình đi xuất khẩu lao động. Theo đó, khi phát hiện có vi phạm xảy ra, báo cáo với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền can thiệp một cách kịp thời và xử lý đúng quy định pháp luật tương ứng với hành vi vi phạm.

Thứ sáu, có thể thấy tại Điều 72 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hiện hành pháp luật chỉ quy định khá chung chung về nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong ba trường hợp bao gồm Tranh chấp giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, tổ chức, cá nhân Việt Nam đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Tranh chấp giữa người lao động Việt Nam với người sử dụng lao động ở nước ngoài và tranh chấp giữa doanh nghiệp dịch vụ, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với bên nước ngoài tiếp nhận lao động hoặc tổ chức, cá nhân trung gian. Về cơ bản các bên tranh chấp chưa giải quyết được vấn đề một cách triệt để. Chính vì lý do này, pháp luật cần nhanh chóng bổ sung quy định về vấn đề giải quyết tranh chấp, cụ thể về các vấn đề như phân loại tranh chấp để xác định việc áp dụng thủ tục tố tụng nào; thẩm quyền giải quyết tranh chấp; trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp,… đồng thời các quy định này cũng phải đảm bảo đồng nhất với hệ thống pháp luật hiện hành cả trong nước và quốc tế.

Thứ bảy, bổ sung các quy định về trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài, theo đó có chế độ báo cáo về số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài đầy đủ, kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền để kiểm soát có hiệu quả đối với lực lượng này. Bên cạnh đó bổ sung thêm quy định về trách nhiệm của một số đơn vị có vai trò hỗ trợ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài như cơ quan y tế trong việc giám định sức khỏe của người lao động, nhất là giai đoạn trước khi người lao động sang nước ngoài làm việc, theo đó với những cá nhân không đủ điều kiện về sức khỏe thì sẽ không được sang nước ngoài làm việc, điều này sẽ hạn chế thấp nhất tình trạng sau khi người lao động sang nước ngoài làm việc thì phát bệnh mà không được quan tâm một cách kịp thời để những hậu quả đáng tiếc. Ngoài ra cần phải quy định rõ ràng về trách nhiệm của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam trong việc phối hợp với nước sở tại trong việc quản lý, bảo vệ người lao động, giải quyết các tranh chấp một cách kịp thời nhằm bảo vệ người lao động, đặc biệt là giai đoạn người lao động đang làm việc ở nước ngoài. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

3.2.2. Biện pháp bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Thứ nhất, đối với việc đào tạo định hướng và trang bị những kiến thức cơ bản cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, pháp luật hiện hành cần quy định một cách cụ thể hơn, theo đó hướng dẫn cũng như đưa ra quy trình đào tạo, bồi dưỡng người lao động để hoạt động này mang lại kết quả tốt nhất. Ngoài ra thực tiễn cho thấy, do công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chưa đạt chất lượng nên xảy ra hiện trạng người lao động sang nước ngoài làm việc chưa mang lại được nhiều kết quả cả với cá nhân người lao động cũng như các tổ chức, doanh nghiệp hay nhà nước, do đó pháp luật cần quy định các chế tài đối với việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho người lao động của các tổ chức, doanh nghiệp chỉ thực hiện qua loa, hình thức, từ đó góp phần răn đe các trường hợp tương tự.

Bên cạnh đó, cần phải bổ sung tại Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 những quy định cụ thể về điều kiện tối thiểu đối với những cơ sở, trung tâm đào tạo, giáo dục định hướng cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, tránh tình trạng để cho các doanh nghiệp, tổ chức này tự quản về những hoạt động của mình dẫn tới việc họ tự tổ chức thuê giáo viên hướng dẫn, đào tạo, việc này có thể chỉ là hình thức nhằm chống đối cơ quan có thẩm quyền khiến cho chất lượng giảng dạy không đạt hiệu quả, từ đó người lao động không có những kiến thức đầy đủ phục vụ cho việc học tập và làm việc của mình, điều này có thể sẽ là nguyên nhân khiến họ thường xuyên gặp rắc rối trong thời gian làm việc tại nước ngoài. Chính vì vậy, đối với vấn đề này, pháp luật cần phải bổ sung những quy định về tiêu chuẩn đối với những cá nhân đào tạo, giảng dạy này có thể “là những người có trình độ, bằng cấp, am hiểu rõ pháp luật đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, pháp luật hình sự, dân sự, hành chính,… và pháp luật của quốc gia tiếp nhận”.

Thứ hai, giảm bớt chi phí ở các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ khi tham gia quan hệ đưa công dân đi làm việc ở nước ngoài. Có thể thấy trên thực tế pháp luật đã quy định về mức phí phải nộp của người lao động với doanh nghiệp dịch vụ, tuy nhiên có rất nhiều trường hợp doanh nghiệp lại đẩy mức phí dịch vụ lên cao hơn, do đó gây tâm lý e ngại đối với người dân cũng như áp lực đối với trách nhiệm này nên xảy ra nhiều vụ việc người lao động bỏ trốn ra ngoài làm thêm để bù lại khoản chi phí đó. Thiết nghĩ pháp luật từ đây nên có xu hướng giảm mức phí dịch vụ cũng như các loại chi phí khác nhằm khuyến khích hoạt động đi làm việc tại nước ngoài của người dân, đây cũng là một trong những cách thức bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong thời gian tới. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Thứ ba, đối với quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hiện nay được quy định tại Nghị định số 12/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Tuy đã có những sự sửa đổi, bổ sung so với Nghị định 28/2020/NĐ-CP về một số trường hợp người vi phạm phải chịu trách nhiệm xử lý như: Tại khoản 3, Điều 11 “Hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”; tăng mức phạt tiền từ (20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng) lên đến(50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng) đối với hành vi lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi hoặc bóc lột sức lao động hoặc dụ dỗ, ép buộc người học nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật (điểm a Khoản 2 Điều 14 Nghị định 12/2022/NĐ-CP) và hành vi tuyển người dưới 14 tuổi vào học nghề, tập nghề, trừ những nghề, công việc được pháp luật cho phép (Điểm B khoản 2 Điều 14 Nghị định 12/2022/NĐ-CP); Hành vi không thông báo bảng kê trả lương hoặc có thông báo bảng kê trả lương cho người lao động nhưng không đúng theo quy định… nhưng có thể thấy hiện nay chủ yếu cá nhân, tổ chức vi phạm trên thực tế chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính, do đó các chủ thể này chưa thực sự nghiêm túc đối với quá trình làm việc của mình mà điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của người lao động. Chính vì vậy, cần phải nâng cao mức xử lý này để làm bài học cho những trường hợp vi phạm cũng như răn đe đối với những trường hợp có dấu hiệu vi phạm trong hoạt động bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó quy định rõ thẩm quyền xử lý vi phạm trong công tác này.

Thứ tư, đối với giai đoạn sau khi người lao động hết thời hạn làm việc ở nước ngoài và trở về nước, pháp luật cần phải bổ sung các quy định liên quan đến việc bảo vệ những đối tượng này, ví dụ như các các tổ chức, cơ quan có liên quan cần phải đảm bảo an toàn cho người lao động trong thời gian họ trở về, trong đó mỗi chuyến bay sẽ phối hợp với đơn vị tiếp nhận lao động để hỗ trợ trong việc đưa đón người lao động an toàn, bên cạnh đó cử người đại diện để giám sát và kiểm soát tốt nhất về tình hình của người lao động, tổ chức đón người lao động tại sân bay và đưa về trụ sở cơ quan, hỗ trợ xe đưa đón người lao động trở về nhà an toàn nhất.

Sau khi người lao động về nước, thời gian đầu là một giai đoạn khó khăn đối với vấn đề tìm việc làm, do đó ảnh hưởng khá nhiều tới đời sống và thu nhập của họ, với những người đã có một khoản tiết kiệm thì họ buộc phải tiêu vào số tiền đó để duy trì cuộc sống, vì vậy mà vai trò của việc đi làm việc ở nước ngoài chưa đạt được hiệu quả mà các họ mong muốn. Do đó, cần phải bổ sung một số quy định trong văn bản pháp luật như: Ưu tiên hướng tới người lao động làm những ngành nghề mà trong thời gian làm việc ở nước ngoài họ đã từng làm, nhất là những công việc có tính chất đặc thù như sản xuất chế tạo (cơ khí, dệt may, giày da, lắp ráp điện tử,…), xây dựng, nông nghiệp, thủy sản, dịch vụ (chăm sóc người già, người bệnh, giúp việc gia đình) và nhà hàng,…; Quy định về hỗ trợ người lao động trong việc vay vốn ưu đãi để họ có thể làm một số công việc như mở cơ sở sản xuất, kinh doanh,… cụ thể hoạt động này, người lao động sẽ được hỗ trợ các công việc như điều kiện, thủ tục, mức vay, lãi suất vay…

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật nhằm bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nói chung là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của các cấp chính quyền, là quyền lợi mà người lao động này xứng đáng được hưởng, theo đây bên cạnh những giải pháp hoàn thiện pháp luật thì một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được đưa ra như sau:

Thứ nhất, nâng cao sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong việc đề ra các chủ trương, chính sách cụ thể bằng việc chấp hành nghiêm chỉnh những định hướng mà Đảng và Nhà nước đề ra. Kết quả của hoạt động chấp hành là việc xác lập một quan hệ thông qua hợp đồng đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài mà ở đó quyền và lợi ích của người lao động được đảm bảo, đồng thời các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này cũng thu về được những lợi nhuận nhất định. Theo đó, để công tác bảo vệ người lao động đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng nói chung và đặc biệt tại tỉnh Bình Dương nói riêng đạt hiệu quả thì cần phải có sự tuân thủ một cách nghiêm túc những quy định hiện hành của pháp luật có đề cập đến vấn đề này, đây chính là cơ sở, là công cụ giúp cho việc bảo vệ người lao động được thực thi trên thực tế, đồng nghĩa với đó là sự tín nhiệm, nâng cao niềm tin của người dân đối với chính quyền, từ đó giúp họ tự tin khi tham gia vào quan hệ này mà không còn tâm lý e dè như trước kia.

Thứ hai, đối với cơ quan quản lý Nhà nước cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Thông qua hoạt động này, các cơ quan nhà nước ở trung ương cần có những buổi kiểm tra, giám sát các hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp trong lĩnh vực đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cũng như việc tuân theo pháp luật của người dân ở các địa phương, qua đó nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của doanh nghiệp hay của người lao động trong lĩnh vực này.

Theo đó, đối với nhóm giải pháp này cần phải được tiến hành theo định kỳ ít nhất mỗi năm 01 lần, bên cạnh đó cũng tăng cường các buổi kiểm tra đột xuất nhằm phát hiện những trường hợp vi phạm một cách khách quan, chính xác nhất về thực trạng làm việc của các cá nhân, tổ chức có liên quan nhằm tránh tình trạng có sự sắp xếp, chuẩn bị kỹ càng chỉ khi có đoàn kiểm tra tới làm nhiệm vụ. Một số hoạt động được kể đến trong nhóm giải pháp này như:

Nâng cao hệ thống cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị phục vụ cho việc đào tạo, trang bị những kiến thức giúp người dân dễ dàng tiếp cận về pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nói chung và bảo vệ người Việt nam đi làm việc ở nước ngoài nói riêng, cụ thể ở công tác này là việc thường xuyên tiến hành kiểm tra các loại máy móc, trang thiết bị của đơn vị, doanh nghiệp nhằm kịp thời phát hiện những sai sót, hỏng hóc để có phương hướng xử lý diễn ra nhanh chóng, đồng thời trong trường hợp các loại máy móc, trang thiết bị này đã cũ kỹ, lỗi thời, không đảm bảo được chất lượng thì tiến hành việc thay thế, bổ sung đầy đủ trang thiết bị, từng bước hiện đại hóa hệ thống thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy, theo đó các loại máy móc, trang thiết bị này tốt nhất phải là những loại mới nhất, tân tiến nhất phù hợp với năng lực của người dân cũng như xu hướng thế giới. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

“Yêu cầu các doanh nghiệp trước khi thực hiện công tác tuyển chọn, tư vấn lao động tại các địa phương phải cung cấp các hồ sơ, thông tin thị trường mà mình đang tuyển dụng đã được Cục quản lý lao động cấp phép, báo cáo xin phép Sở Lao động – Thương binh và xã hội của tỉnh.

Yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo danh sách người lao động xuất cảnh hàng tháng cho các Ban quản lý lao động hoặc Đại sứ quán Việt Nam tại quốc gia tiếp nhận lao động (họ tên, số điện thoại, địa chỉ làm việc,…) để các Ban quản lý tiện theo dõi, đồng thời chủ động liên lạc nắm bắt tình hình sinh sống và làm việc của người lao động. Trong đó, phải đảm bảo được những cá nhân đi làm việc ở nước ngoài có điều kiện được giữ liên lạc với người thân, gia đình cũng như tổ chức, doanh nghiệp hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Cần xử lý nhanh chóng, nghiêm khắc khi phát hiện có dấu hiệu của các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Thực tiễn hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, không ít các đơn vị, doanh nghiệp nhằm mục đích thu lại số vốn đã bỏ ra một cách nhanh nhất có thể nên đã tiến hành việc nâng một số loại phí dịch vụ lợi dụng sự thiếu hiểu biết từ người dân; việc ký kết hợp đồng không đầy đủ các nội dung gây bất lợi cho người lao động trong quá trình làm việc;… Do đó, để hạn chế những hành vi này xảy ra cần có chế tài nghiêm khắc xử lý các trường hợp vi phạm, đồng thời pháp luật cần quy kết trách nhiệm rõ ràng cho từng cá nhân liên quan và quan trọng hơn cả là công tác tăng cường kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng.

Thứ ba, đối với các các tổ chức, cá nhân có liên quan tới hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đối với giai đoạn trước khi đưa người lao động đi sang nước ngoài thì cần phải đề cao việc cung cấp “cho người lao động những kiến thức, kỹ năng cơ bản để giúp họ có thể dễ dàng làm quen với môi trường làm việc mới, bên cạnh đó cũng cần phải tạo điều kiện cho họ sau khi trở về nước. Cụ thể, trước khi sang nước ngoài làm việc, người lao động được định hướng những công việc mà họ phải làm, được làm và không được làm để tránh những mâu thuẫn xảy ra trong thời gian họ làm việc, đồng thời đưa ra chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ người lao động sau khi về nước theo Điều 60 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020.” Bên cạnh đó, các tổ chức có liên quan khác như Ngân hàng, Trung tâm Dịch vụ việc làm cũng cần phải phát huy vai trò của mình trong việc hỗ trợ người dân đi làm việc ở nước ngoài trở về, đặc biệt là giai đoạn sau khi người lao động trở về thông qua các hình thức hỗ trợ như vay vốn để sản xuất kinh doanh hay hỗ trợ tìm kiếm việc làm phù hợp cho nhóm người lao động này để giúp họ hòa nhập với cộng đồng và ổn định cuộc sống sau khi về nước.

Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đi làm việc ở nước ngoài. Theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, họ cho rằng để công tác bảo vệ người lao động sang nước ngoài làm việc đạt được hiệu quả nhất định thì ngay chính lực lượng này phải được tiếp cận và trang bị những kiến thức phù hợp, qua đó giúp họ biết được mình đang bị xâm phạm như thế nào và quyền được bảo vệ ra sao, chính vì vậy trước hết cần phải nâng cao được chất lượng của những đối tượng này. Cụ thể, “các cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề, quản lý hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này cần có sự phối hợp với nhau để tìm hiểu, phân tích, dự báo nhu cầu của thị trường lao động nước ngoài để xác định chỉ tiêu đào tạo cho phù hợp; Các cơ sở dạy nghề và các doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo nghề và ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu của từng thị trường; Phải trang bị đầy đủ cho người lao động những kiến thức cơ bản về pháp luật Việt Nam, pháp luật, đất nước, con người, phong tục, tập quán, văn hóa của quốc gia mà người lao động sắp đến làm việc, về quyền và nghĩa vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, nội dung hợp đồng, nội quy nơi làm việc, nội quy ký túc xá,…

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Từ thực tiễn thực hiện công tác bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh Bình Dương ở Chương 2, tại Chương này tác giả đưa ra một số những định hướng nâng cao hiệu quả thực hiện công tác bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nói chung và tại địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng, bên cạnh đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật liên quan tới vấn đề này cũng như một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện công tác này trong thời gian tới.

Có thể thấy, xã hội ngày càng phát triển, theo đó các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ trong hoạt động bảo vệ người lao động Việt Nam đi sang nước ngoài làm việc nói riêng cũng có những thay đổi, chính vì vậy pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và những văn bản có liên quan đã nhiều lần có sự sửa đổi, bổ sung nhằm phù hợp với tình hình thực tế. Tuy nhiên, qua phân tích thực trạng về phát hiện những điểm bất cập, tác giả đã đưa ra những kiến nghị và giải pháp cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện công tác này trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũng như áp dụng trên cả nước với mục tiêu chung cuối cùng là xây dựng và hoàn thiện một hệ thống pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nói chung hoàn chỉnh, trong đó có vấn đề bảo vệ những đối tượng này nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đời sống, hạn chế những khó khăn, vướng mắc, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động sang nước ngoài làm việc trong quan hệ này.

KẾT LUẬN

Hiện nay, việc người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một hoạt động dần trở thành xu hướng, qua đây góp phần cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của các gia đình cũng như nền kinh tế của đất nước, qua đó không chỉ mang lại những giá trị về vật chất mà còn giúp đất nước ta nói chung và tại từng địa phương nói riêng tiếp thu được những tinh hoa về kỹ thuật, kinh nghiệm làm việc, công nghệ hiện đại từ nước ngoài. Nhờ những đóng góp vô cùng quan trọng của người lao động Việt Nam ở nước ngoài đã giúp cho đất nước ta ngày càng đi lên và mục tiêu hướng tới trở thành một nước phát triển.

Có thể thấy, bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, theo đó đây là một hoạt động thể hiện tính nhân văn của từ các cấp chính quyền đối với bộ phận người dân đã có những đóng góp to lớn cho nền kinh tế – xã hội nước nhà không chỉ về mặt kinh tế mà còn là sự tiếp nhận nền văn hóa phát triển từ các quốc gia tiếp nhận. Để hoạt động này diễn ra một cách thuận lợi và đạt hiệu quả, việc thay thế bởi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 cho pháp luật cũ năm 2006 đã tạo nên một hành lang pháp lý quan trọng, đặc biệt đối với việc bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài trong tất cả các giai đoạn kể từ trước khi người lao động sang nước ngoài, trong thời gian họ làm việc tại nước ngoài và giai đoạn hồi hương. Tuy nhiên từ việc nghiên cứu trên thực tế có thể thấy việc áp dụng quy định pháp luật trong vấn đề bảo vệ người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng bên cạnh những thành tựu đạt được thì cũng gặp không ít những khó khăn, vướng mắc.

Do đó, phát hiện những điểm hạn chế trong những quy định và thực tiễn thực thi trên thực tế về vấn đề này là điều cần thiết nhằm bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia quan hệ hợp đồng để từ đây đưa ra các ý kiến kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật phù hợp với xu thế phát triển trong lĩnh vực lao động của toàn cầu nhằm mang lại những hiệu quả tích cực không chỉ đối với nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp mà còn với cả từng cá nhân người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam

3 thoughts on “Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam

  2. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam says:

    Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam

  3. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam says:

    Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464