Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

2.1.1. Quy định pháp luật về hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

  • Nội dung hợp đồng đưa người lao động Việt Nam trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Hiện nay, việc bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vẫn luôn gây ra nhiều khó khăn cho các cơ quan nhà nước của cả Việt Nam và nước tiếp nhận lao động. Sự khó khăn đó xuất phát từ việc bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm ở nước ngoài không chỉ trong thời gian người lao động đang làm việc mà còn cả trước và sau giai đoạn này. Như vậy có thể thấy việc bảo vệ người lao động thông qua một hợp đồng là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết, qua đó giúp cho hoạt động đi làm việc tại nước ngoài của người lao động được đảm bảo, quyền và nghĩa vụ của các bên được xác lập, hạn chế những tranh chấp phát sinh giữa người lao động và đơn vị, tổ chức liên quan đến hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Có thể thấy theo pháp luật hiện hành, có 06 hình thức đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, theo đó người lao động sẽ tham gia một trong các hợp đồng thuộc các trường hợp bao gồm: “hợp đồng ký với đơn vị sự nghiệp; với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu ở nước ngoài; người lao động đi học việc, bồi dưỡng kiến thức; tổ chức, cá nhân đầu tư ở nước ngoài và hợp đồng người lao động tự ký kết với người sử dụng lao động ở nước ngoài. Tuy nhiên, mặc dù trên thực tế người lao động có tham gia bằng hình thức nào cũng phải đáp ứng các yêu cầu như sau:

Thứ nhất, hợp đồng lao động phải đảm bảo tính minh bạch trong nội dung hợp đồng lao động ký kết với người lao động, đảm bảo cho mọi người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài hiểu và nắm bắt rõ mọi thông tin liên quan đến chính sách và việc làm ngoài nước. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Có thể thấy đây có thể coi là một nguyên tắc đầu tiên trong hoạt động bảo vệ người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Tại Điều 37 Công ước MWC của Liên Hợp Quốc quy định: “Trước khi khởi hành hoặc chậm nhất là vào thời điểm họ được chấp nhận vào quốc gia nơi có việc làm, người lao động di trú và các thành viên gia đình họ có quyền được các quốc gia xuất xứ hay quốc gia nơi có việc làm thông báo đầy đủ, nếu thích hợp, về mọi điều kiện có thể áp dụng đối với việc họ được chấp nhận và đặc biệt là những điều kiện liên quan đến việc cư trú và các công việc có hưởng lương mà họ có thể làm, cũng như những yêu cầu mà họ phải đáp ứng ở quốc gia nơi có việc làm và cơ quan thẩm quyền mà họ cần gặp nếu có bất kỳ thay đổi nào về những điều kiện đó.”

Đảm bảo cho mọi người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài hiểu và nắm bắt rõ mọi thông tin liên quan đến chính sách và việc làm ngoài nước. Việc cung cấp các thông tin cần thiết về việc đi làm việc ở nước ngoài được thực hiện một cách công khai trong quá trình tuyển chọn lao động, tư vấn trực tiếp, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động. Khi người lao động hiểu và nắm bắt rõ chính sách và pháp luật của Việt Nam, của quốc gia tiếp nhận lao động họ có thể an tâm lên đường sang nước ngoài làm việc hơn. Trong lượng lớn các thông tin về chính sách và pháp luật Việt Nam về người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì các thông tin liên quan đến điều kiện được đi làm việc ở nước ngoài của người lao động và nghĩa vụ tài chính mà người lao động phải thực hiện là những thông tin quan trọng mà mỗi một người lao động trước khi ra nước ngoài làm việc quan tâm đầu tiên và các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp.

Căn cứ theo pháp luật Việt Nam, tại Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cũng đưa ra quy định tương tự: “Doanh nghiệp dịch vụ có nghĩa vụ đăng tải trên trang thông tin điện tử về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; danh sách nhân viên nghiệp vụ; địa chỉ trụ sở, địa chỉ kinh doanh;… thông tin đầy đủ, chính xác về số lượng, tiêu chuẩn tuyển chọn, điều kiện làm việc, quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động theo nội dung hợp đồng cung ứng lao động; danh sách người lao động tham gia chuẩn bị nguồn và được tuyển chọn.

Như vậy, có thể thấy những quy định này về cơ bản đã thể hiện tính minh bạch thông qua việc cung cấp đầy đủ thông tin của hợp đồng lao động giúp người lao động có thể hiểu được tính chất công việc mà mình sẽ làm trong tương lai, chính sách pháp luật của Việt Nam và nước tiếp nhận lao động, điều kiện làm việc và nghĩa vụ phải thực hiện trong thời gian làm việc,… Theo đó, người lao động sẽ chủ động hơn đối với việc đi làm việc tại nước ngoài của mình, khi nhận thấy có vấn đề xảy ra thì họ có thể chấm dứt hợp đồng hoặc thông báo với cơ quan chức năng để xử lý, qua đó sẽ hạn chế được tình trạng doanh nghiệp sẽ lợi dụng để nhằm thu thêm các khoản phí để thu nhiều lợi nhuận, các cơ quan quản lý Nhà nước cũng theo đây có thể xử lý kịp thời những hành vi phạm liên quan đến hợp đồng này. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Thứ hai, hợp đồng lao động cần có nội dụng cụ thể và đầy đủ theo quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định về tiền môi giới, tiền dịch vụ, tiền ký quỹ trong hợp đồng lao động phải phù hợp với Luật định.

Mỗi loại hợp đồng đều phải có một nội dung cụ thể theo quy định của pháp luật, việc phân chia như vậy nhằm tránh tình trạng các doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức, cá nhân không ghi rõ ràng về các thông tin quan trọng như tiền môi giới, tiền dịch vụ, tiền ký quỹ, thời hạn làm việc,… qua đó lợi dụng những kẽ hở đó để gây hại đến người lao động.

Ví dụ như nội dung của hợp đồng cung ứng lao động thường phải được ghi lại cụ thể và phù hợp quy định trong các điều khoản hiệp định song phương được ký kết giữa Việt Nam, phù hợp với pháp luật Việt Nam và nước tiếp nhận lao động. Chẳng hạn Hiệp định về hợp tác lao động giữa chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, các quy định tại điều 5 của Hiệp định này đặt ra những yêu cầu cụ thể về nội dung trong hợp đồng cung ứng lao động giữa hai bên.

Tại pháp luật Việt Nam, cụ thể theo khoản 1 Điều 7 Thông tư số 21/2021/TT- BLĐTBXH có quy định về mức trần thù lao theo hợp đồng môi giới: “Mức trần thù lao theo hợp đồng môi giới theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ với tổ chức, cá nhân trung gian nhưng không được vượt quá 0,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động cho mỗi 12 tháng làm việc. Trường hợp hợp đồng lao động có thời hạn làm việc từ 36 tháng trở lên thì mức trần thù lao theo hợp đồng môi giới không quá 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng của người lao động” hay tại Điều 8 Thông tư này cũng quy định cụ thể về mức trần tiền dịch vụ thu từ người lao động đối với một số thị trường, ngành, nghề, công việc. Như vậy, tùy từng thị trường, ngành, nghề, công việc sẽ có những mức thu khác nhau được quy định tại Phụ lục XI Thông tư này, ví dụ như tại thị trường Đài Loan người lao động Việt Nam đi làm việc trong lĩnh vực Hộ lý và y tá tại bệnh viện, trung tâm dưỡng lão thì mức trần tiền dịch vụ 0,7 tháng tiền lương/mỗi 12 tháng hợp đồng và tối đa không quá 02 tháng tiền lương/hợp đồng từ 36 tháng trở lên, đối với hoạt động Chăm sóc người bệnh tại gia đình, giúp việc gia đình, nông nghiệp, thuyền viên tàu cá gần bờ thì người lao động Việt Nam sẽ chịu mức trần tiền dịch vụ 0,4 tháng tiền lương/mỗi 12 tháng hợp đồng và tối đa không quá 01 tháng tiền lương/hợp đồng từ 36 tháng trở lên; đối với thị trường Ma-lai-xi-a và các nước Tây Á thì Lao động giúp việc gia đình sẽ không phải chịu mức phí này.

  • Nội dung bảo vệ người lao động Việt Nam trong thời gian đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Đối với người lao động nói chung và người lao động đi làm việc ở nước ngoài nói riêng, thu nhập là động lực lớn nhất để họ chấp nhận rời xa gia đình, quê hương, tổ quốc mình, bởi vì trong quan niệm của mình, họ luôn mong ước việc kiếm được nhiều tiền hơn để cái thiện hoàn cảnh của bản thân, gia đình và tương lai. Chính vì vậy, thu nhập là nội dung bảo vệ chính trong hoạt động bảo vệ người lao động khi làm việc ở nước ngoài. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1848, Liên Hợp Quốc đã quy định về việc bảo vệ tiền lương của người lao động như sau: “Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác.

Quan niệm này của Liên Hợp Quốc là nguyên tắc xuyên suốt trong việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài của những công ước khác trên thế giới, lẫn pháp luật riêng của quốc gia.

Như trong công ước MWC, Liên Hợp Quốc đã kế thừa quan niệm trên để quy định về quyền lợi liên quan đến tiền lương mà người lao động đi làm việc ở nước ngoài được hưởng như sau: “Người lao động di trú mà được phép làm công việc có hưởng lương theo những điều kiện trong giấy phép liên quan có quyền được đối xử bình đẳng với các công dân của quốc gia nơi có việc làm trong việc thực hiện công việc có hưởng lương đó.”

Hiện nay, trong các văn kiện quốc tế, Liên Hợp Quốc hay ILO không nêu cụ thể về các tài liệu tham chiếu có thể sử dụng để xác định mức tiền lương mà người lao động có thể được nhận, bởi vì họ muốn giữ lại tính linh hoạt trong việc xác định tiền lương tối thiểu của mỗi quốc gia. Cho nên hiện nay, trong Công ước về bảo vệ tiền lương, ILO khuyến khích việc các nước tham gia vào các đối thoại xã hội, đặc biệt là thỏa ước tập thể, để từ đó xác định mức tiền công tại cấp lĩnh vực và các tham vấn ba bên liên quan đến việc xác lập tiền công tối thiểu trên phạm vi quốc gia.

Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể tại Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2020 có quy định về quyền của người lao động, theo đó người lao động được “Hưởng tiền lương, tiền công, chế độ khám bệnh, chữa bệnh, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tai nạn lao động và quyền lợi, chế độ khác theo hợp đồng lao động; chuyển về nước tiền lương, tiền công, thu nhập, tài sản hợp pháp khác của cá nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận lao động.

Như vậy, có thể thấy không chỉ pháp luật quốc tế mà ngay cả pháp luật Việt Nam cũng đưa ra những quy định nhằm đảm bảo chế độ tiền lương của người lao động nói chung và người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài nói riêng, theo đây có thể thấy chế độ về tiền lương có thể được coi là một trong những nội dung mà người lao động vô cùng quan tâm và là một nội dung bảo vệ cơ bản nhất đối với một người lao động. Tuy nhiên việc thu nhập của người lao động đi làm việc ở nước ngoài được nhà nước ta thực hiện gián tiếp thông qua cơ chế giám sát thực hiện hợp đồng của các cá nhân, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Nếu có bất kể vấn đề gì xảy ra, trước tiên và chủ yếu là yêu cầu các cá nhân, tổ chức này phải thực hiện việc đàm phán với đối tác nước ngoài yêu cầu thực hiện nghiêm túc các vấn đề liên quan đến việc làm và thu nhập của người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

  • Bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thông qua quy định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi

Bên cạnh chế định về tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cũng là một vấn đề mà người lao động rất quan tâm, theo đó đây là những quyền lợi mà người lao động xứng đáng được hưởng để đảm bảo về sức khỏe, tinh thần. Theo đó, khi người lao động đảm bảo về mặt sức khỏe thì sẽ thực hiện được công việc của mình tốt hơn, mang lại lợi ích cho người sử dụng lao động tại nước ngoài hoặc doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu công trình, dự án ở nước ngoài. Tuy nhiên, trên thực tế có thể thấy tại nhiều nơi thường xuyên xảy ra hiện tượng bóc lột sức lao động của người lao động nói chung và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nói riêng dẫn đến việc người lao động bị quá sức và không thể làm việc lâu dài, lâu dần sẽ nghỉ việc và không thực hiện đủ thời gian như đã cam kết trong hợp đồng.

Theo Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1848, Liên Hợp Quốc đã quy định về chế định bảo vệ người lao động nói chung và người lao động đi làm việc ở nước ngoài nói riêng, theo đây: “Ai cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lý số giờ làm việc và những ngày nghỉ định kỳ có trả lương”.

Hiện tại pháp luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 chưa đưa ra được quy định cụ thể về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động quốc gia mình khi đi làm việc tại nước ngoài mà tùy từng ngành nghề, tính chất của từng loại công việc cũng như địa điểm làm việc của mỗi một nơi sẽ khác nhau, do đó pháp luật hiện hành không thể đưa ra quy định một cách cố định mà thời gian này sẽ linh hoạt. Vì vậy trong thời gian người lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cần phải thỏa thuận với bên sử dụng lao động về thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, nếu bên sử dụng lao động không thực hiện đúng thì có thể bị coi là bóc lột sức lao động và vi phạm hợp đồng. Theo đó tại khoản 1 Điều 7 Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp động năm 2020 quy định về các hành vi bị cấm trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng bao gồm: “Lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo, cung cấp thông tin gian dối hoặc dùng thủ đoạn khác để lừa đảo người lao động; lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép, mua bán người, bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật.”

Bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thông qua quy định khác. Bên cạnh những nội dung về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nêu trên, bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài được thể hiện tại Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của người lao động di trú và gia đình của họ năm 1990 có quy định về quyền không bị phương hại đến thỏa thuận về đánh thuế hai lần của người lao động cụ thể tại Điều 48. Theo pháp luật Việt Nam được sự quan tâm từ phía Đảng và Nhà nước trong việc đề ra các chủ trương, chính sách cũng như ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện Luật đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ và đồng bộ để điều chỉnh hoạt động này. Cụ thể về việc quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng về lĩnh vực đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Ví dụ đối với quyền và nghĩa vụ của người lao động, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 bổ sung một số quyền và nghĩa vụ bao gồm: “Không phải đóng bảo hiểm xã hội hoặc thuế thu nhập cá nhân hai lần ở Việt Nam và ở nước tiếp nhận lao động nếu Việt Nam và nước đó đã ký hiệp định về bảo hiểm xã hội hoặc hiệp định tránh đánh thuế hai lần”; “Đơn phương chấm dứt hợp đồng” theo điểm đ khoản 1 Điều 6; “Được bảo hộ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng” theo điểm d khoản 1 Điều 6 và có trách nhiệm “thông báo với cơ quan đăng ký cư trú nơi trước khi đi làm việc ở nước ngoài hoặc nơi ở mới sau khi về nước theo quy định của Luật Cư trú trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhập cảnh” theo điểm g khoản 2 Điều 6. Như vậy về cơ bản pháp luật Việt Nam về Người lao động đi làm việc ở nước ngoài năm 2020 đã mở rộng phạm vi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ này là một hoạt động có ý nghĩa rất thiết thực, qua đây các bên có thể hiểu được rõ hơn về quyền hạn cũng như trách nhiệm của mình cần phải làm gì, nếu không thực hiện thì có thể bị xử lý theo quy định pháp luật để đảm bảo hiệu quả tối đa nhất đối với hoạt động đi làm việc tại nước ngoài của người lao động Việt Nam. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Có thể thấy trong thời gian người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, hoạt động quản lý và bảo vệ người lao động là một nội dung vô cùng quan trọng buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm liên quan phải làm tốt vai trò của mình. Chính vì vậy pháp luật đã đề cao hơn nữa về vai trò của các tổ chức, cá nhân này thông qua các quy định, đầu tiên là trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, vì đây là nhóm chủ thể có tính quyết định chủ yếu đối với việc bảo đảm các quyền và lợi ích của người lao động được thực hiện trên thực tế.

Ứng với mỗi hình thức hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài mà các tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân liên quan sẽ tuân theo các quy định khác nhau về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, theo đó về bản chất hoạt động này phải vì “mục tiêu bảo vệ người lao động nên doanh nghiệp dịch vụ, doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề, đơn vị sự nghiệp phải có trách nhiệm thực hiện đúng các nội dung hợp đồng đã cam kết với người lao động; Tổ chức quản lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; Phối hợp với bên nước ngoài giải quyết các vấn đề phát sinh khi người lao động chết, bị tai nạn lao động, tai nạn rủi ro, bị bệnh nghề nghiệp, bị xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và giải quyết tranh chấp liên quan đến người lao động; Báo cáo và phối hợp với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài quản lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài.,.. (Điều 26, 32, 35, 41, 43 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng).

Trong thời gian người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tranh chấp là điều khó tránh khỏi, đôi khi có những tranh chấp vượt quá tầm kiểm soát của cá nhân, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ những đối tượng này cần có sự tác động của cơ quan nhà nước. Theo đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm “Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và có trách nhiệm công khai các thông tin về người lao động, xây dựng, quản lý, vận hành dữ liệu về người lao động, Phối hợp với Bộ Ngoại giao cử công chức và hướng dẫn nghiệp vụ quản lý lao động đối với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài,… Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về người lao động làm việc ở nước ngoài trong phạm vi địa phương. Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài “Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Hỗ trợ, hướng dẫn và phối hợp với cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, tổ chức, cá nhân Việt Nam đầu tư ra nước ngoài và cơ quan, tổ chức của nước sở tại trong việc quản lý, giải quyết các vấn đề phát sinh đối với người lao động, đưa người lao động về nước; Hỗ trợ người lao động tiếp cận, đóng góp, thực hiện các thủ tục và nhận hỗ trợ từ Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước trong thời gian làm việc ở nước ngoài,…

Về việc khiếu nại, tố cáo, khởi kiện là những quyền cơ bản của người lao động, theo đây pháp luật hiện hành có quy định người lao động Việt Nam có quyền “khiếu nại, khởi kiện, tố cáo các hành vi vi phạm trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Như vậy, với việc quy định thừa nhận việc người lao động Việt Nam có các quyền năng trên dù ở bất cứ giai đoạn nào từ trước, trong và sau quá trình đi làm việc ở nước ngoài của người lao động, tuy nhiên trên thực tế ở giai đoạn trong thời gian làm việc tại nước ngoài quyền năng này được bộc lộ rõ nhất, điều này được lý giải bởi việc trong thời gian này người lao động đã nhận ra được những quyền lợi mà mình được hưởng là chưa phù hợp hay doanh nghiệp, tổ chức không thực hiện đúng theo hợp đồng quy định liên quan tới quyền lợi của mình. Do đó, khi phát hiện có hành vi vi phạm, người lao động cho dù đang làm việc tại nước ngoài vẫn có thể khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật Việt Nam đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ các quyền lợi chính đáng của mình tới cơ quan đại diện ngoài giao của Việt Nam tại nước ngoài hoặc có thể khởi kiện tới Tòa án Việt Nam để yêu cầu giải quyết. Về trình tự thủ tục khiếu nại, tố cáo tuân theo quy định Luật Khiếu nại 2011 sửa đổi bổ sung 2021 và Luật Tố cáo năm 2018 sửa đổi, bổ sung năm 2020 và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Đối với việc khởi kiện và yêu cầu giải quyết tranh chấp liên quan đến người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được thực hiện theo Bộ luật TTDS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019 và các văn bản hướng dẫn. Bên cạnh đó pháp luật nước ta cũng đưa ra các nguyên tắc giải quyết tranh chấp tùy vào từng chủ thể khác nhau mà pháp luật sẽ quy định không giống nhau, bao gồm giải quyết trên cơ sở hợp đồng đã ký kết; thỏa thuận giữa các bên, Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế mà Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ký kết với bên nước ngoài hoặc dựa trên quy định của Việt Nam và nước tiếp nhận lao động (Điều 72 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020). Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Về việc xử lý vi phạm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc tại nước ngoài căn cứ Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, theo đó “tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong lĩnh vực đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với hình thức xử lý chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền”, mức phạt tiền được quy định cụ thể đối với từng trường hợp tại các Điều 42, 43, 44, 45 Nghị định này cao nhất là 200.000.000 đồng và chịu các hình phạt bổ sung quy định tại Khoản 2 Điều 3 và các biện pháp khắc phục hậu quả tại Điều 4 Nghị định này. Bên cạnh đó, tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm mà cá nhân, tổ chức có thể bị áp dụng pháp luật hình sự đối với hành vi vi phạm, ví dụ như hành vi tổ chức, doanh nghiệp cưỡng ép người lao động ở lại nước ngoài trái phép, người lao động trốn ở lại nước ngoài trái phép…

  • Nội dung bảo vệ người lao động Việt Nam trong thời gian đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng sau khi làm việc ở nước ngoài

Khi kết thúc thời gian làm việc ở nước ngoài người lao động vẫn luôn nhận được sự bảo vệ của nhà nước và pháp luật, dù lý do về nước của họ là hết hạn hợp đồng hay về nước trước hạn. Trước tiên đó là vấn đề hồi hương, bao gồm cả việc hồi hương an toàn, an ninh và hợp pháp cho cho người lao động, tuy nhiên dường như pháp luật Việt Nam đang bỏ ngỏ, chưa chú trọng vấn đề này. Quá trình hồi hương của người lao động có thể diễn ra rất ngắn trong vài giờ đồng hồ tuy nhiên nếu không bảo vệ họ về đến Việt Nam an toàn thì vẫn chưa đạt được mục đích.

Sau khi về nước, người lao động về nước được quyền thanh lý Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với tổ chức, cá nhân đưa mình đi làm việc ở nước ngoài. Ngoài ra, người lao động còn được hưởng chính sách hỗ trợ của nhà nước dành riêng cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng khi về nước. Thanh lý hợp đồng đồng nghĩa với việc họ chấm dứt việc thực hiện các nghĩa vụ đối với tổ chức, cá nhân đưa họ đi làm việc ở nước ngoài.

Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng còn quy định sau trở về nước người lao động sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ việc làm và khuyến khích tạo việc làm theo quy định của nhà nước. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thông báo cho người lao động về nước nhu cầu tuyển dụng lao động ở trong nước; hướng dẫn, giới thiệu người lao động đăng ký tìm việc làm phù hợp. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tiếp nhận và tuyển dụng người lao động về nước vào làm việc hoặc đưa đi làm việc ở nước ngoài. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người lao động về nước đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho mình và cho người khác. Người lao động gặp khó khăn thì được vay vốn ưu đãi theo quy định của pháp luật để tạo việc làm. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Thực tiễn thực hiện quy định của Luật năm 2006 về chính sách, pháp luật hỗ trợ việc làm cho thấy mặt được của chính sách, pháp luật hỗ trợ việc làm, khuyến khích tạo việc làm cho những người lao động về nước sau thời gian làm việc ở nước ngoài là một vài địa phương đã tổ chức tư vấn giới thiệu việc làm cho người lao động sau khi về nước thông qua sàn giao dịch việc làm, hội chợ việc làm. Nhờ đó, nhiều người lao động đã tìm được việc làm phù hợp, phát huy được tiềm năng tích lũy được khi làm việc ở nước ngoài. Theo báo cáo, các doanh nghiệp đã thực hiện hỗ trợ giới thiệu việc làm cho người lao động sau khi về nước, làm việc với các tổ chức tại Việt Nam, liên kết với các Trung tâm dịch vụ việc làm để tìm kiếm cơ hội việc làm cho người lao động sau khi về nước tại các khu công nghiệp, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài; có chính sách giảm phí cho những lao động hoàn thành hợp đồng và mong muốn đăng ký tham gia đơn hàng/thị trường khác. Một nghiên cứu gần đây đã cho rằng Việt Nam đã có những đổi mới về pháp luật (như hoàn thiện luật pháp, cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là thủ tục hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, hỗ trợ khởi nghiệp kinh doanh…) đã tạo môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách, pháp luật hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài khi về nước.

Một số thỏa thuận với các quốc gia tiếp nhận lao động Việt Nam cũng có tác dụng rất lớn trong việc hỗ trợ việc làm cho người lao động sau khi về nước, như: Thỏa thuận ngày 15/4/2008 giữa Bộ Lao động Thương binh và Xã hội với tổ chức JITCO (Tổ chức hợp tác tu nghiệp quốc tế Nhật Bản), IMM (Hiệp hội phát triển nhân lực quốc tế các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhật Bản, nay là Tổ chức phát triển nguồn lực quốc tế Nhật Bản) về cấp “Giấy chứng nhận về tay nghề, tiếng Nhật cho người lao động sau khi hoàn thành hợp đồng trở về nước” để tìm kiếm việc làm.

Việc quy định chính sách hỗ trợ áp dụng đối với người lao động sau khi về nước là một chủ trương đúng đắn thể hiện sự quan tâm và trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân của mình nhằm hỗ trợ người lao động hòa nhập lại thị trường lao động trong nước và đời sống xã hội sau một thời gian đi làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, hiện tại những quy định đó lại hết sức chung chung, dưới luật cũng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nào, các chính sách chỉ mang tính khuyến khích và cũng không có biện pháp chế tài nếu các chủ thể hữu quan không thực hiện trách nhiệm nên nhìn chung tính hiệu quả không cao.

2.1.2 Biện pháp bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Trong quá trình đi làm việc ở nước ngoài của người lao động Việt Nam, để hoạt động bảo vệ những chủ thể này được hiệu quả cần thiết pháp luật phải quy định cụ thể về các biện pháp, thông qua đó cơ quan , tổ chức có liên quan cũng như từng cá nhân người lao động sẽ biết được quyền hạn và nghĩa vụ của mình, khi không thực hiện đúng và đầy đủ trách nhiệm này thì sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật Việt Nam và nước tiếp nhận lao động.

  • Biện pháp bảo vệ người lao động Việt Nam trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Thứ nhất, có thể thấy trong giai đoạn trước khi người lao động sang nước ngoài làm việc, các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, tổ chức có liên quan cần phải rõ ràng trong việc đưa ra các quyền và lợi ích của người lao động. Với sự nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, việc đi làm việc tại nước ngoài ngày càng có xu hướng tăng mạnh. Chính vì vậy, luật hóa về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động này là điều rất cần thiết, qua đó người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài sẽ căn cứ vào đó để làm cơ sở cho việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình, yêu cầu các cá nhân, tổ chức khác không được phép xâm phạm, đồng thời giúp các doanh nghiệp, cá nhân tự giới hạn hành vi được phép của mình trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Thứ hai, ở giai đoạn trước khi người lao động sang làm việc tại một quốc gia khác, nhà nước đã thể hiện trách nhiệm bảo vệ đối tượng này thông qua các hoạt động hỗ trợ về mặt thông tin, thủ tục, tài chính,… để hoạt động đi làm việc của họ trở nên dễ dàng hơn, hạn chế những rủi ro, bất trắc trong quá trình làm việc. Bên cạnh đó, hoạt động hỗ trợ công dân này về cơ bản sẽ hướng đến mục tiêu giúp những người lao động chưa đủ điều kiện để đi làm việc tại nước ngoài sẽ đủ điều kiện, từ tâm lý e ngại sẽ trở nên tự tin, mạnh dạn hơn. Như vậy, hoạt động triển khai và thực hiện các chương trình hỗ trợ người lao động Việt Nam trước khi đi làm việc ở nước ngoài này, tác giả cho rằng đây là một biện pháp có giá trị thực tiễn rất lớn, thông qua chính sách này sẽ thu hút những người lao động có nhu cầu tăng thu nhập, cải thiện đời sống, hạn chế những tranh chấp xảy ra trong thời gian mà họ làm việc tại một đất nước mà vốn họ không phải là công dân nên không có sự hiểu biết về những văn hóa của quốc gia đó.

Thứ ba, tăng cường các hoạt động đàm phán, ký kết các hiệp định song phương, đa phương, các thỏa thuận giữa Việt Nam với quốc gia tiếp nhận lao động. Trên thực tế công dân nước ta đã đi làm việc tại rất nhiều quốc gia mà Việt Nam với nước đó chưa ký kết các hiệp định song phương về hoạt động này, theo đó đây là việc không thể không thực hiện. Như vậy đây là hành lang pháp lý cơ bản để theo đó nhà nước ta sẽ căn cứ vào đó để tiến hành hoạt động đưa công dân sang làm việc, đồng thời là cơ sở bảo vệ công dân nước mình khi có bất kỳ vấn đề gì xảy ra trong thời gian làm việc. “Những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã rất nỗ lực đàm phán, ký kết các hiệp định song phương, đa phương về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đây là biện pháp có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp cơ quan nhà nước Việt Nam thực hiện trách nhiệm bảo vệ công dân mình tại quốc gia tiếp nhận được thuận lợi. Từ năm 1992, Việt Nam đã ký rất nhiều Thỏa thuận và Biên bản ghi nhớ về hợp tác lao động với 22 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong đó phải kể đến một số thỏa thuận quan trọng với các quốc gia: Liên Bang Nga; Lào; Séc, Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật, Slovakia, UAE, Ca-na-da”.

  • Biện pháp bảo vệ người lao động Việt Nam trong thời gian đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Có thể thấy, đây là giai đoạn vô cùng quan trọng, hầu hết những tranh chấp, mâu thuẫn xảy ra trong thời gian này chủ yếu xuất phát từ việc quyền lợi của người lao động đi làm việc ở nước ngoài bị tác động tiêu cực, theo đó họ bị áp bức bóc lột, trong thời gian làm việc họ thường xuyên bị bỏ bê, không quan tâm tới các chế độ. Chính vì vậy để đảm bảo tốt nhất quyền lợi của những đối tượng này, một số biện pháp được nêu ra như: Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Thứ nhất, trong thời gian người lao động đi làm việc ở nước ngoài, việc nâng cao trách nhiệm quản lý và bảo vệ người lao động của các chủ thể có liên quan tới hoạt động đi làm việc tại nước ngoài của người lao động là một biện pháp vô cùng quan trọng, theo đây có thể thấy pháp luật hiện hành của nước ta đã quy định về trách nhiệm này đối với các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức khá đầy đủ. “Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đưa người lao động đi làm việc xuất ngoại là những chủ thể nắm rõ nhất những điều kiện của người sử dụng lao động tại nước ngoài cũng như điều kiện làm việc, sinh hoạt…của người lao động, do đó họ là những người cần phải nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng, hạn chế tối đa nhất sự trậm chễ dẫn đến việc người lao động bị xâm phạm một cách nghiêm trọng.” Trong khi đó nhà nước là chủ thể có quyền năng đặc biệt, khi có vấn đề xảy ra với công dân của mình hoặc vấn đề xảy ra vượt tầm kiểm soát của doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động xuất ngoại thì khi đó Nhà nước sẽ tham gia bảo vệ người lao động thông qua hệ thống pháp luật quốc gia và các điều ước, thỏa thuận quốc tế.

Thứ hai, tăng cường hoạt động xử lý và giải quyết các vấn đề tranh chấp liên quan đến người lao động đi làm việc tại nước ngoài là một biện pháp đã được pháp luật quy định cụ thể thông qua một Nghị định riêng biệt (Nghị định 12/2022/NĐ- CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Luật Người lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hiện hành). Theo đó, cần tăng cường các hoạt động thanh kiểm tra để kịp thời phát hiện và xử lý những hành vi xâm phạm đến quyền lợi của người lao động. Bên cạnh đó khi có tranh chấp xảy ra thì áp dụng theo nguyên tắc mà pháp luật đã qua định, việc giải quyết tranh chấp cũng cần tiến hành một cách nhanh chóng, khách quan, qua đó nhằm xoa dịu những mâu thuẫn, căng thẳng giữa người lao động với các doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, cá nhân đưa họ đi làm việc ở nước ngoài hoặc với chủ sử dụng lao động, đồng thời giành lại những quyền lợi chính đáng của người lao động mà họ xứng đáng được hưởng.

Cần phải nhận thức rõ ràng rằng, công tác quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam tại nước ngoài trước hết là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan như Bộ Ngoại giao và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Công tác bảo hộ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp thì càng làm tăng trách nhiệm nặng nề của Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Tăng cường vai trò và hiệu quả hoạt động của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài trong việc tiếp cận và hỗ trợ người lao động Việt Nam ở nước ngoài giải quyết những vướng mắc, tranh chấp với người sử dụng lao động và môi giới nước ngoài về việc làm và điều kiện làm việc, tiền lương, thu nhập, đóng thuế thu nhập/chi phí theo quy định… công tác bảo hộ công dân tại các đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài phải đảm bảo về bình đẳng giới, hỗ trợ người lao động nam và nữ trong các trường hợp bị xâm hại, lạm dụng sao cho bảo vệ được quyền của công dân và người lao động và bảo vệ được danh tính, tôn trọng quyền riêng tư, bí mật cá nhân của họ. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Do đó, đẩy mạnh hơn nữa vai trò của các Ban quản lý lao động Việt Nam ở nước ngoài để hỗ trợ doanh nghiệp được nhiều hơn trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến người lao động; cần quy định rõ hơn trách nhiệm của các bên liên quan, đặc biệt là cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài, trong đó đặc biệt chú trọng đến vai trò của Ban quản lý lao động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài; Cần tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa các cơ quan trong nước với các cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài khi xử lý những phát sinh của thị trường để đảm bảo kịp thời, giúp các doanh nghiệp giải quyết sớm các vụ việc phát sinh.

  • Biện pháp bảo vệ người lao động Việt Nam sau khi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Hiện nay, pháp luật nước ta chủ yếu chỉ xoay quanh giai đoạn trước và trong thời gian người lao động đi làm việc ở nước ngoài mà giai đoạn sau khi làm việc ở nước ngoài trở về thì những quy định này còn chưa thực sự rõ ràng, theo đó chủ yếu các biện pháp bảo vệ đối tượng này sẽ xoay quanh việc thực hiện các chương trình hỗ trợ việc làm cho họ. Như vậy, về bản chất những hoạt động này mang tính nhân đạo bởi đây sẽ là phương thức giúp người lao động sau khi trở về nước họ sẽ khá khó khăn trong việc tìm kiếm một công việc mới luôn, cũng vì vậy mà cản trở tới khả năng tái hòa nhập cộng đồng của những người này. Chính vì vậy, trong thời gian tới để bảo đảm tốt nhất quyền lợi của người lao động đi làm việc ở nước ngoài, Nhà nước ta cần phải quan tâm hơn nữa đối với những biện pháp bảo vệ họ, đặc biệt là làm rõ những quy định liên quan tới bảo vệ người lao động Việt Nam sau khi họ đi làm việc ở nước ngoài trở về nước.

2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

2.2.1. Kết quả áp dụng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại tỉnh Bình Dương

Có thể thấy, từ khi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2006 ra đời cùng với những văn bản hướng dẫn đã thúc đẩy hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước khá rõ ràng, qua đó giải quyết vấn đề việc làm cũng như tăng thu nhập cho người dân và tăng ngân sách nhà nước. “Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, lượng kiều hối của Việt Nam nằm trong nhóm 10 nước có lượng kiều hối cao nhất, chủ yếu đến từ hoạt động gửi tiền về từ người đi lao động ở nước ngoài. Từ khi có Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2006 đến hết năm 2022 có khoảng 150 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; đến nay, cả nước đã có trên 500 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, theo đó tính đến hết năm 2022 theo thống kê số người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài là 712.600 người. Đặc biệt, trong giai đoạn 2016-2020, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài tăng trung bình 8%/năm; mỗi năm có khoảng 130 nghìn người lao động ra nước ngoài làm việc, chiếm 7%-10% số người được giải quyết việc làm mới của cả nước mỗi năm.

Cụ thể trong giai đoạn này Việt Nam đã đưa trên 600 nghìn lao động đi làm việc theo hợp đồng tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, chủ yếu trong khoảng 30 ngành nghề khác nhau từ lao động giản đơn đến chuyên môn kỹ thuật và chuyên gia. Trong giai đoạn năm 2020-2021 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đã khiến hoạt động đưa người lao động của nước ta ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng bị sụt giảm đáng kể, tuy nhiên kể từ năm 2022 do tình hình dịch bệnh về cơ bản đã được kiểm soát nên vấn đề người lao động Việt Nam được sang nước ngoài làm việc dần phục hồi và có chiều hướng tăng lên đáng kể, theo thống kê của Cục quản lý lao động: Năm 2020, Việt Nam chỉ đưa được 78,6 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt 60,5% so với kế hoạch đề ra và bằng 51,55% so với cùng kỳ năm 2019 (năm 2019, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 152,5 nghìn lao động); Năm 2021, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước là 45 nghìn lao động, bằng 57,3% so với năm 2020; Năm 2022, tổng số người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 142.779 lao động, đạt 158,64% kế hoạch năm 2022 và bằng 317,2% so với năm 2021; quý I-2023, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 37.923 lao động, đạt 34.48% kế hoạch năm 2023. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Có thể thấy, với con số người lao động đi làm việc của cả nước ta như vậy là khá lớn, theo đó chủ yếu người lao động sẽ tới các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,… trong đó theo số lượng ước tính đến năm 2022 “số người lao động Việt Nam đi làm việc tại thị trường trong đó riêng thị trường Đài Loan (Trung Quốc) có 230.000 người; Nhật Bản có gần 250.000 người; Hàn Quốc có gần 50.000 người; còn lại ở các thị trường khác (Trung Đông – Châu Phi, Đông Nam Á và Châu Âu). Theo đây, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài chủ yếu làm những công việc trong các lĩnh vực sản xuất chế tạo (cơ khí, dệt may, giày da, lắp ráp điện tử,…), xây dựng, nông nghiệp, thủy sản, dịch vụ (chăm sóc người già, người bệnh, giúp việc gia đình) và nhà hàng, điều này có thể được lý giải bởi bản chất người lao động nước ta là những người cần cù chịu khó, tỉ mỉ, khả năng nắm bắt công việc nhanh, ham học hỏi, sáng tạo, năng động, làm việc năng suất, chất lượng, đó là những yếu tố cần thiết để có thể hoàn thành những công việc mang tính đặc thù này. Tuy nhiên có thể thấy trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian vừa qua của Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Bình Dương, người lao động của tỉnh thành này đi làm việc ở nước ngoài là khá ít, theo buổi làm việc của Trung tâm Lao động ngoài nước (Colab) thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội với Sở LĐ-TB-XH tỉnh Bình Dương về công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và giải quyết việc làm cho lao động ở nước ngoài khi hết thời hạn và trở về địa phương,”theo đó có thể thấy người lao động ở Bình Dương chủ yếu lựa chọn Hàn Quốc làm quốc gia mà họ hướng tới để xuất khẩu lao động, tuy nhiên từ năm 2018 trở lại đây, số người lao động ở Bình Dương có nhu cầu đi xuất khẩu lao động giảm mạnh, cụ thể trong giai đoạn “từ năm 2018-2023 có 105 người lao động đăng kí đi lao động ở nước ngoài (đa số là người của các tỉnh thành khác chuyển khẩu vào Bình Dương) thi tiếng Hàn để đi làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình EPS. Tuy nhiên, trong số 105 lao động đăng kí thi chỉ có 59 người đậu, 26 người xuất cảnh.

Từ số liệu thống kê này có thể thấy đối với tình hình lao động tỉnh Bình Dương có nhu cầu và đủ điều kiện đi làm việc ở nước ngoài hiện nay là rất thấp, điều này có thể xuất phát từ một số nguyên nhân như trên địa bàn tỉnh Bình Dương có nhiều khu công nghiệp, đáp ứng được nhu cầu việc làm, thu nhập cao nên người lao động không mặn mà với việc đi xuất khẩu lao động. Hiện nay, mức lương tối thiểu cho lao động làm việc tại Hàn Quốc dao động từ 36 – 40 triệu đồng/tháng.” Bên cạnh đó trong giai đoạn 2019 – 2021 do ảnh hưởng của tình hình dịch bên Covid-19 diễn ra rất phức tạp ảnh hưởng tới mọi hoạt động của xã hội, trong đó vấn đề đi làm việc ở nước ngoài là một trong số những ảnh hưởng đó, cụ thể là việc xuất cảnh gặp rất nhiều khó khăn, theo đó một số thị trường tiếp nhận lao động thời gian trước đã đóng cửa, theo đó tại một số “thị trường lao động như Nhật Bản từ cuối tháng 01/2021, Đài Loan (Trung Quốc) từ giữa tháng 5/2021, Hàn Quốc đến tháng 5/2021 mới tiếp nhận trở lại lao động sau hơn 1 năm đóng cửa, nhưng trong nước nhiều địa phương thực hiện giãn cách do dịch bệnh bùng phát mạnh.

Trong quá trình đi làm việc ở nước ngoài của người lao động nói chung và người lao động trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng đã được Đảng và Nhà nước cũng như chính quyền địa phương khá quan tâm, theo đó tuy số lượng người lao động của tỉnh Bình Dương có nhu cầu và tiến hành sang nước ngoài làm việc không nhiều nhưng nhờ có các cơ quan truyền thông, báo chí và dư luận xã hội quan tâm hợp tác trong công tác thông tin, tuyên truyền các chính sách, pháp luật và thông tin về tình hình lao động đi làm việc ở nước ngoài, thị trường lao động ngoài nước qua đó nâng cao được nhận thức của xã hội và người lao động. Cùng với đó, đội ngũ các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ngày càng tăng cả về lượng và chất, đóng góp rất lớn và quan trọng vào kết quả đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Theo đây, thực hiện theo công văn số 5469/UBND-VHXH về việc tăng cường quản lý công tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, UBND tỉnh đã phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan thực hiện các chương trình phổ biến về các chính sách đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài, phân tích ý nghĩa của hoạt động này đối với người dân để họ tiếp cận cũng như có lối suy nghĩ thoải mái hơn khi có ý định đi làm việc tại nước ngoài, bên cạnh đó thông qua việc tìm hiểu về nhu cầu, nguyên vọng của người dân, chính quyền sẽ từ đó cung cấp một số những thông tin về thị trường lao động mà người lao động hướng tới cũng như theo chính sách, cụ thể như: Công việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi, yêu cầu về đào tạo, chi phí, mức lương… từ đó giúp người lao động có những kiến thức ban đầu rất hữu ích có thể giúp họ hạn chế những tranh chấp, mâu thuẫn trong quá trình đi làm việc tại nước ngoài, đồng thời đây sẽ là căn cứ để bảo vệ họ khi nhận thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm.

Tỉnh Bình Dương đánh giá cao công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh. Theo đó, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với các hành vi cho thuê, mượn, mua, bán giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, đặc biệt đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động dịch vụ đưa người đi lao động ở nước ngoài phải có vốn điều lệ trên 5 tỷ đồng và phải thuộc sở hữu pháp nhân, thể nhân Việt Nam; người đại diện theo pháp luật và nhân viên nghiệp vụ phải có trình độ, tiểu chuẩn nhất định; chủ động phòng ngừa, đấu tranh đối với các tổ chức, cá nhân lợi dụng chính sách về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để dụ dỗ, lôi kéo đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bất hợp pháp; có biện pháp hạn chế tình trạng người lao động bỏ trốn ở lại cư trú bất hợp pháp và vi phạm pháp luật của nước sở tại; giám sát chặt chẽ công tác đào tạo nghề, ngoại ngữ và các kiến thức cần thiết cho người lao động; nâng cao ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật Việt Nam và nước tiếp nhận lao động cho người lao động trên địa bàn tỉnh trước khi đi làm việc ở nước ngoài.

Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài; luật hóa trách nhiệm của Nhà nước và cơ quan đại diện ngoại giao trong công tác bảo hộ công dân. Cụ thể, Khoản 3, Điều 17, Hiến pháp năm 2013 quy định “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ”. Đồng thời, tại Khoản 2, Điều 4, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định: Nhà nước “bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân Việt Nam trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.” Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Bên cạnh những biện pháp bảo vệ người lao động của địa bàn tỉnh Bình Dương đi làm việc tại nước ngoài ở giai đoạn trước và trong thời gian họ được đưa sang nước ngoài làm việc cũng như quá trình làm việc, sau khi người lao động trở về sẽ được Trung tâm dịch vụ việc làm của địa phương phối hợp với các cơ quan ban ngành hỗ trợ những đối tượng này có công việc bình thường trở lại, theo đó với điều kiện là một địa phương nổi tiếng với các khu công nghiệp nên do đó họ được giới thiệu và tư vấn về những công việc tại đây để hướng người lao động sau khi từ nước ngoài trở về sớm có một việc làm để hòa nhập cộng đồng cũng như tạo ra của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của bản thân và gia đình, hạn chế thấp nhất tình trạng thất nghiệp của địa phương cũng là cách thức để góp phần ổn định trật tự xã hội.

Ngoài ra nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động sau khi trở về nước, các cơ quan, tổ chức có liên quan sẽ ưu tiên để người lao động làm những ngành nghề mà họ đã được đào tạo và làm việc tại nước ngoài, nhất là những công việc có tính chất đặc thù như lĩnh vực sản xuất chế tạo (cơ khí, dệt may, giày da, lắp ráp điện tử…), xây dựng, nông nghiệp, thủy sản, dịch vụ (chăm sóc người già, người bệnh, giúp việc gia đình) và nhà hàng… Theo đó đây là những biện pháp giúp người lao động có niềm tin hơn nữa về chính quyền, từ đó giúp họ có động lực sang nước ngoài làm việc để tạo ra nguồn thu nhập, đồng thời đây cũng là một cách để du nhập nền văn hóa, sự văn minh của các nước trên thế giới và áp dụng tại quốc gia mình. Ngoài ra một sự việc được kể đến trong giai đoạn 2019-2022 đó chính là trong khoảng thời gian này tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn ra rất phức tạp trên toàn thế giới, do đó không chỉ Trung Quốc, Việt Nam mà các quốc gia tiếp nhận lao động Việt Nam cũng ảnh hưởng rất lớn, trước tình hình ngàn cân treo sợi tóc như vậy, được sự quan tâm từ Đảng và Nhà nước, cơ quan Đại sứ quán đã đưa ra quan điểm “luôn đặt sinh mệnh của đồng bào là ưu tiên cao nhất”, theo đó đã tổ chức rất nhiều những chuyến bay hồi hương đưa người Việt về nước, đây là một hành động mang tính nhân văn rất lớn và được sự ủng hộ, đồng lòng của toàn thể đồng bào cả nước nói chung cũng như địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng.

2.2.2. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

  • Những kết quả đạt được 

Có thể thấy Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2020 và những văn bản hiện hành hướng dẫn thực hiện các công việc liên quan tới việc bảo vệ những đối tượng này đã tạo một hành lang vững chắc trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quan hệ bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Có thể thấy, xuất phát từ yêu cầu quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng nhằm củng cố hệ thống cơ sở hạ tầng, do đó việc đổi mới văn bản quy phạm pháp luật, thông qua đó nghiên cứu về thực tiễn áp dụng quy phạm pháp luật đó là một giải pháp phù hợp. Qua thực tiễn phân tích về tình hình thực hiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài tại tỉnh Bình Dương có thể thấy việc áp dụng pháp luật liên quan đến hoạt động này đã đạt được những kết quả đáng kể sau:

Thứ nhất, qua việc áp dụng nghiêm túc những quy định pháp luật về người lao động đi làm việc ở nước ngoài nói chung và bảo vệ những đối tượng này ở tất cả các giai đoạn của quá trình đi làm việc ở nước ngoài nói riêng có thể thấy đã nâng cao niềm tin của người dân đối với chính quyền về lĩnh vực này.

Theo đó, biểu hiện ở việc ngày càng nhiều công dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũng như trên cả nước lựa chọn sang nước ngoài làm việc, số liệu đã được phân tích ở trên thông qua những hình thức khác nhau có thể là: “thông qua doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; thông qua doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề hoặc thông qua hợp đồng lao động cá nhân.” Trong đó tỷ lệ người lao động đi làm việc thông qua hình thức hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn nhất, theo đó đã mang lại hiệu quả rất lớn trong việc tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần tạo nên nguồn thu nhập cho người lao động, là một bước đệm cho công cuộc xóa đói giảm nghèo của đất nước và mang lại lợi ích kinh tế, nhất là đối với các doanh nghiệp dịch vụ hoạt động trong lĩnh vực này. Do đó, số lượng người lao động Việt Nam nói chung và người dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng đi làm việc ở nước ngoài tăng dần qua các năm là một khẳng định về việc tổ chức và thực hiện chính sách này của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với những người có nhu cầu làm việc tại nước ngoài, qua đây góp phần đưa đất nước phát triển ngày càng toàn diện thông qua việc người lao động tiếp thu những tinh hoa, những điều mới mẻ và tiến bộ từ nước mà họ đi làm việc để mang những điều tiến bộ đó về áp dụng tại nước nhà.

Thứ hai, hoạt động bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một cách gián tiếp để thúc đẩy sự phát triển của đất nước thông qua việc đóng thuế vào ngân sách nhà nước, đồng thời số kiều hối từ Ngân hàng nhà nước từ đó cũng tăng lên. Qua hoạt động gửi tiền về của người lao động làm việc tại nước ngoài, Nhà nước có thể sử dụng số ngoại hối đó để mang đi đầu tư hay sử dụng vào mục đích mua sắm quốc tế có sử dụng thông qua đồng ngoại tệ.

Thứ ba, việc thực hiện nhanh chóng, triệt để công tác bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài góp phần thể hiện được tính nhân đạo của các cấp chính quyền đối với người dân, đặc biệt thể hiện trong giai đoạn 2019-2021 khi tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn ra trên toàn thế giới rất phức tạp thì việc mở các chuyến bay với mục đích đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài trở về nước là một hoạt động bảo vệ những đối tượng này, theo đây hành động đưa người lao động trở về đã tạo nên sự đồng lòng ủng hộ của toàn thể nhân dân, từ đó giúp người dân có niềm tin với Nhà nước và tự tin hơn trong quyết định sang nước ngoài làm việc của mình. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Thứ tư, qua việc áp dụng các quy định về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nói chung và thực tiễn trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng được phân tích ở trên có thể thấy chính quyền địa phương đã rất quan tâm tới vấn đề này, theo đó đã đề cao chất lượng của hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với các cá nhân, tổ chức có liên quan trong tất cả các giai đoạn mà người lao động đi làm việc ở nước ngoài từ trước khi người lao động được đưa sang nước ngoài, thời gian người lao động tại nước sở tại và sau khi họ hồi hương góp phần giúp họ ổn định cuộc sống, do đó khi phát hiện có sự vi phạm xảy ra cơ quan có thẩm quyền tiến hành xử lý theo quy định pháp luật, mức phạt được quy định cụ thể tại Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

  • Những khó khăn, vướng mắc

Bên cạnh những thành tựu đạt được thì việc áp dụng quy định pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũng gặp không ít những khó khăn ảnh hưởng tới kết quả của hoạt động bảo vệ những đối tượng này ở tất cả các giai đoạn kể từ khi chuẩn bị sang nước ngoài làm việc, trong thời gian người lao động làm việc cũng như sau khi họ làm việc ở nước ngoài trở về. Theo đây tác giả đưa ra một số những khó khăn, vướng mắc nổi bật được kể đến như sau:

Thứ nhất, qua thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật Việt Nam nói chung và Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nói riêng hiện hành có thể thấy các quy định còn khá dàn trải, chưa thống nhất tại một văn bản pháp luật cũng như tại một điều luật cụ thể mà quy định tại một số điều luật khác nhau trong cũng một hệ thống văn bản pháp luật hay tại những văn bản pháp luật khác nhau liên quan đến vấn đề này, do đó việc áp dụng trên thực tế về hoạt động bảo vệ người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cũng gặp không ít khó khăn trong việc tìm kiếm pháp luật phù hợp, khi đã tìm được văn bản hướng dẫn đó lại cần xác định hiệu lực, vì vậy mất khá nhiều thời gian để tìm ra một quy định được coi là có thể áp dụng.

Thứ hai, trải qua quá trình áp dụng pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hiện nay một bất cập khá lớn đưa ra đó chính là pháp luật hiện hành nước ta chưa có một văn bản nào đưa ra một khái niệm đầy đủ nhất về bản chất của “người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng” mà hiện nay Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 chỉ định nghĩa một cách chung chung là: “là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên cư trú tại Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này”. Như vậy, ngay từ việc thiếu sót về khái niệm sẽ là một một lỗ hổng khá lớn khiến cho việc giải quyết các vấn đề có liên quan tới đối tượng này gặp nhiều khó khăn, trong đó là những vấn đề xoay quanh việc bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài khiến cho quyền lợi của họ bị ảnh hưởng và không được bảo vệ một cách chính xác, kịp thời. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Thứ ba, thực tiễn cho thấy nhằm mục đích nhanh chóng thu hồi về số vốn đã bỏ ra để đào tạo người lao động mà không ít các doanh nghiệp đã vi phạm một số các nghĩa vụ của mình về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và nổi bật nhất là tình trạng nâng lên một số loại phí dịch vụ và các phí khác cao hơn so với quy định pháp luật do lợi dụng sự thiếu hiểu biết hay tâm lý thường không tìm hiểu của người dân. Đối với người lao động, do không hiểu rõ hay làm trái với chương trình đào tạo định hướng trước khi sang nước ngoài làm việc mà đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của mình. Theo hợp đồng và pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật nước sở tại áp dụng hình thức xử lý đối với các chủ thể vi phạm về quyền và nghĩa vụ của mình tùy thuộc vào các mức độ khác nhau.

Thứ tư, pháp luật hiện hành chưa thực sự quan tâm đến vấn đề đào tạo định hướng, bồi dưỡng người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, do đó xảy ra hiện tượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài chưa đạt chất lượng đào tạo, thường xuyên xảy ra các vi phạm hợp đồng hay không tuân thủ những nội quy, quy chế lao động tại nước bạn, từ đó dễ dẫn đến việc xảy ra các tranh chấp, do vậy các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này lâu dần mất uy tín trên thị trường lao động quốc tế. Chính vì vậy việc pháp luật chưa quan tâm đến vấn đề này là một thiếu sót, do đó xét trong tổng thể hoạt động bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài, đây là một bất cập khiến quyền và lợi ích của họ bị ảnh hưởng, từ đó có thể gây ra một số những vấn đề khiến họ bị coi là vi phạm tại nước sở tại và bị xử lý trách nhiệm tùy thuộc vào hành vi vi phạm.

Thứ năm, khó khăn trong việc người lao động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi nội dung công việc không đúng như nội dung thỏa thuận trong Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người lao động Trong thực tế khi người lao động được doanh nghiệp đưa làm việc ở nước theo Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với các điều kiện công việc và mức lương đã thỏa thuận trước, tuy nhiên khi sang làm việc ở nước ngoài, không ít trường hợp người lao động không được ký hợp đồng lao động và làm công việc, mức lương, thời gian làm việc và các điều kiện về lao động không được bảo đảm. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Minh chứng: Chị Trịnh Thị Huyền Trang (trú tại Hoàng Văn Thụ, Phường 4, Quận Tân Bình) có mẹ ruột là bà Đào Thị Hải Kim (SN: 1972) được công ty Tân Hoàng Minh đưa đi xuất khẩu lao động vào ngày 9/1/2017 có đơn kêu cứu gửi đến: Bộ lao động thương binh và xã hội; Cục quản lý lao động nước ngoài; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm và trật tự quản lý kinh tế; Báo Đời sống và Pháp luật trình bày: trong hợp đồng kí kết có ghi rõ một ngày lao động 8-9h/ ngày với thu nhập một tháng ít nhất là 1.500.000 SAR/ tháng nhưng từ khi sang Ả Rập đến nay đã gần hai tháng bà Kim vẫn chưa được nhận lương lao động và phải làm việc từ 4-5h sáng đến 21-22h đêm. Còn trong đơn cầu cứu ông Nguyễn Mạnh Trị cho biết vợ ông là bà Nguyễn Thị Hòa được công ty Tân Hoàng Minh, địa chỉ: 118 Nguyễn Hồng Đào, phường 14, quận Tân Bình, TP.Hồ Chí Minh đưa đi xuất khẩu lao động tại Ả – Rập – xê – út từ ngày 11/06/2016. Tuy nhiên, khi sang bên đó, vợ ông bị đối xử tệ bạc, vi phạm nghiêm trọng HĐLĐ, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Trong đơn cầu cứu có nội dung: “Vợ nói ở đây khổ lắm, làm việc vất vả từ 05h30 sáng đến 12h00 khuya, có khi tới 2h-3h sáng mới được nghỉ mà chủ nhà không cho ăn, chỉ được ăn mì gói….

Trong khuôn khổ Dự án Tam giác (nhằm bảo vệ người lao động Việt Nam trong và từ khu vực tiểu vùng song Mekong mở rộng khỏi bị bóc lột lao động), Tổ chức Lao động quốc tế đã phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (MOLISA) và Hội Trợ giúp pháp lý cho người nghèo Việt Nam (VJASP) rà soát cơ chế khiếu nại hiện hành đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong số 44 người lao động trở về nước trước hạn gặp khó khăn trong khi làm việc ở nước ngoài được phỏng vấn, 30% trong số họ cho biết họ quyết định không khiếu nại vì họ không biết phải nộp đơn khiếu nại tới cơ quan nào hoặc cho rằng họ có thể không nhận được sự hỗ trợ nào nếu khiếu nại. 30% trong số họ đã gửi đơn khiếu nại tới doanh nghiệp dịch vụ hoặc chính quyền địa phương và cho biết họ đã nhận được sự phản hồi, tuy nhiên, 100% cho rằng khiếu nại của họ không được giải quyết một cách thoả đáng. Từ các dẫn chứng trên có thể thấy, việc người lao động tự bảo vệ quyền là lợi ích hợp pháp của mình khi làm việc ở nước ngoài trong thực tế còn nhiều khó khăn.

Thứ sáu, “công tác quản lý lao động làm việc ở nước ngoài của nhiều doanh nghiệp thực hiện cũng chưa thường xuyên hoặc còn mang tính hình thức. Các thông tin về thị trường lao động ngoài nước, về bên tiếp nhận lao động và về bản thân người lao động ở nước ngoài chưa đầy đủ làm cho việc bảo vệ người lao động đang làm việc ở nước ngoài gặp nhiều khó khăn hoặc không thể thực hiện được khiến cho không ít người lao động bị lợi dụng, bóc lột, xâm hại, đặc biệt là đối với lao động nữ.” Theo đó bất cập này xảy ra có thể kể đến ngay từ việc đào tạo kiến thức nghề và ngoại ngữ cho người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Các cơ sở đào tại tính đến thời điểm này chủ yếu đào tạo trong thời gian ngắn hạn từ vài tháng hoặc chỉ mang tính hình thức, do đó khi sang nước ngoài làm việc, người lao động sẽ cảm thấy lúng túng và khó thích nghi với sự thay đổi này. Như vậy để lực lượng này làm việc một cách hiệu quả cần chú trọng công tác đào tạo kiến thức về ngôn ngữ cũng như kiến thức về nghề mà họ làm là một nhiệm vụ đáng được quan tâm.

Thứ bảy, có thể thấy chế định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một nội dung vô cùng quan trọng trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, theo đó đây có thể được coi là căn cứ để bảo vệ người lao động trong trường hợp họ bị bóc lột sức lao động từ người sử dụng lao động. Tuy nhiên một vấn đề tồn tại đối với nội dung này là pháp luật chưa đưa ra được quy định cụ thể về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với nhóm lao động này mà sẽ tôn trọng sự linh hoạt trong chế độ này tại từng ngành nghề, từng quốc gia khác nhau, do đó, xuất phát từ việc pháp luật không quy định giới hạn về nội dung này có thể sẽ là một lỗ hổng khiến cho các vi phạm liên quan đến thời gian làm việc và nghỉ ngơi của người lao động Việt Nam khi sang làm việc tại nước ngoài, điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của người lao động. Chính vì vậy, để kiểm soát tốt nhất vấn đề này cũng như bảo vệ người lao động di cư sang nước ngoài làm việc, cần phải bổ sung quy định giới hạn thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi để bảo đảm chất lượng làm việc và sức khỏe của nhóm đối tượng này.

  • Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Từ những khó khăn, bất cập nêu trên, tác giả cho rằng bất kỳ vấn đề nào xảy ra đều có những nguyên nhân nhất định, đó có thể là nguyên nhân chủ quan hoặc nguyên nhân khách quan nhưng cho dù là nguyên nhân nào đi chăng nữa cũng có thể là yếu tố ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng của công tác bảo vệ người lao động, theo đó quyền và lợi ích của họ sẽ không được bảo đảm kịp thời. Theo đây tác giả đưa ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn tới những khó khăn, bất cập được kể đến như:

Thứ nhất, do pháp luật liên quan đến bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn chưa được hoàn thiện và còn giàn trải tại nhiều văn bản khác nhau được kể đến như Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020; Nghị định số 88/2015/ NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 95/2013/ NĐ-CP quy đinh xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Nghị định số 112/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Nghị định số 12/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Thông tư số 21/2021/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020,… và nhiều những văn bản có liên quan khác đã gây nên sự khó khăn trong quá trình áp dụng trong việc tìm kiếm và áp dụng đúng văn bản pháp luật, đặc biệt là người dân khó có thể tìm hiểu đúng, đủ những quy định này khiến họ không thể tự bảo vệ cho mình khi bị xâm phạm ở tất cả các giai đoạn từ trước khi người lao động sang nước ngoài làm việc, trong quá trình làm việc tại nước ngoài và sau khi người lao động trở về nước.

Có thể thấy pháp luật là công cụ điều chỉnh một quan hệ xã hội theo những chủ trương mà nhà làm luật đưa ra, theo đó “Nhà nước cho phép người dân được làm gì, không cho phép họ làm gì hay bắt buộc họ phải làm gì, làm như thế nào… Với quyền lực của mình, nhà nước có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để tổ chức thực hiện pháp luật, yêu cầu các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải thực hiện pháp luật nghiêm chỉnh. Khi cần thiết, nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo vệ pháp luật, trừng phạt người vi phạm, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong cuộc sống.” Do đó việc pháp luật chưa được hoàn thiện là một điểm hạn chế cần thiết phải được sự quan tâm từ phía Đảng và Nhà nước cũng như chính quyền địa phương để công tác bảo vệ những đối tượng là người lao động đi làm việc tại nước ngoài được diễn ra một cách có hiệu quả nhất.

Thứ hai, có thể thấy, trong giai đoạn năm 2019-2022 là giai đoạn khó khăn trong lĩnh vực đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài do tình hình đại dịch Covid-19 ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động đi làm việc cũng như đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, có giai đoạn nhà nước dừng hẳn hoạt động này lại. Tuy nhiên đến thời điểm này, khi tình hình dịch bệnh đã giảm thiểu đáng kể nên hoạt động này có xu hướng trở lại phát triển bình thường, do đó điều kiện tự nhiên là một nguyên nhân không nhỏ ảnh hưởng đến hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Thứ ba, do việc cung cấp các thông tin về thị trường lao động cũng như đào tạo kiến thức nghề và ngoại ngữ cho người lao động của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đưa người lao động sang nước ngoài làm việc chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường hiện nay có thể xuất phát từ công tác quản lý thiếu chặt chẽ, không nắm được đầy đủ các thông tin thị trường lao động một cách thường xuyên, đồng thời không thực hiện các chế độ báo cáo thông tin một cách nghiêm túc khiến cho việc cập nhật thông tin này của các chủ thể liên quan tới hoạt động bảo vệ người lao động của địa bàn bị ảnh hưởng, đồng nghĩa với đó là sự tiếp cận thông tin của người lao động bị hạn chế, điều này khiến cho họ không thể biết được quyền lợi mà mình có thể được bảo vệ. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

Thứ tư, do thái độ làm việc của lực lượng cán bộ địa phương liên quan đến công tác này còn chưa cao, chưa thể hiện rõ được vai trò của mình, theo đó những cán bộ này còn xảy ra tình trạng không làm việc một cách nghiêm túc. Bên cạnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm còn chưa được đánh giá cao còn để xảy ra việc dung túng hành vi vi phạm từ những tổ chức, doanh nghiệp thực hiện việc đưa người lao động sang nước ngoài làm việc, do đó từ việc xử lý không triệt để những hành vi vi phạm khiến cho các doanh nghiệp này ngày càng trở nên làm việc thiếu nghiêm túc, do đó vì trục lợi mà doanh nghiệp sẽ vi phạm một số các nghĩa vụ và nổi bật nhất là tình trạng nâng lên một số loại phí dịch vụ và các phí khác cao hơn so với quy định pháp luật do lợi dụng sự thiếu hiểu biết hay tâm lý thường không tìm hiểu của người dân. Ngoài ra, chế tài xử lý vi phạm chưa được quy định cụ thể khiến cho việc việc giải quyết hành vi vi phạm chưa mang lại những kết quả mà Đảng và Nhà nước hướng tới.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Ở chương này, tác giả phân tích thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, cụ thể là các nội dung pháp luật về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua quy định về hợp đồng lao động, tiền lương, chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và một số những quy định khác, bên cạnh đó phân tích về các biện pháp bảo vệ những đối tượng này trong tất cả các giai đoạn kể từ trước khi đi làm việc ở nước ngoài, trong thời gian làm việc ở nước ngoài và sau khi trở về nước, tại phần 2.2 tác giả phân tích về thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài qua thực tiễn tại tỉnh Bình Dương. Qua đó, tác giả đưa ra một số những đánh giá về quá trình thực hiện công tác này để có thể thấy bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác bảo vệ công dân tại đây vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế cần phải khắc phục.

Chương 2 chính là cơ sở để đưa ra những giải pháp khắc phục, bổ sung các quy định của pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nói chung và cụ thể tại địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng được thể hiện ở chương 3. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam

One thought on “Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam

  1. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam says:

    Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464