Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở khu bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Để phát triển DLCĐ đem lại hiệu quả và mang tính bền vững, góp phần tích cực vào bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) nói riêng và bảo tồn tài nguyên, môi trường cho phát triển bền vững nói chung ở KBTB Phú Quốc, việc xác lập mô hình DLCĐ có căn cứ khoa học được xem là định hướng chính trong điều kiện hiện nay ở khu vực này.

3.1. Cơ sơ khoa học cho việc xây dựng mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc.

3.1.1. Sự cần thiết cho việc xây dựng mô hình du lịch cộng đồng

Theo quyết định phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2030 với mục tiêu phát triển: xây dựng đảo Phú Quốc phát triển bền vững; hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa và bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng và quốc gia. Từng bước xây dựng trở thành một thành phố biển đảo, trung tâm du lịch và dịch vụ cao cấp; trung tâm khoa học công nghệ của quốc gia và khu vực Đông Nam Á.

Với dự báo khách du lịch: Phấn đấu đến năm 2025 thu hút 14 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 58 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng tương ứng 6% và 4,3%/năm; năm 2030 thu hút 18 triệu lượt khách quốc tế và 71 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng tương ứng 5,2% và 4,1%/năm. Tổng thu từ khách du lịch: Năm 2020 đạt 372 nghìn tỷ đồng, tương đương 18,5 tỷ USD; năm 2025 đạt 523 nghìn tỷ đồng, tương đương 26 tỷ USD; năm 2030 đạt 708 nghìn tỷ đồng, tương đương 35,2 tỷ USD. Đóng góp của du lịch trong GDP:  Năm 2020 du lịch  chiếm 7% tổng GDP cả nước; năm 2025, chiếm 7,2% và năm 2030, chiếm 7,5%. Số lượng cơ sở lưu trú: năm 2020 có 580.000 buồng; năm 2025 có 754.000 buồng; năm 2030 có 900.000 buồng. Chỉ tiêu việc làm: Năm 2020 là 2,9 triệu (trong đó 870 nghìn lao động trực tiếp); năm 2025 là 3,5 triệu (trong đó 1,05 triệu lao động trực tiếp); năm 2030 là 4,7 triệu (trong đó 1,4 triệu lao động trực tiếp).

Với tiềm năng sẵn có của mình KBTB Phú Quốc hội đủ điều kiện để hình thành và phát triển ngành du lịch biển, đảo, khó địa phương nào sánh kịp. Theo thống kê của ngành du lịch, khoảng 90% số du khách đến Phú Quốc đều chọn các sản phẩm du lịch biển đảo. Tuy vậy có một thực tế rằng việc định hướng cũng như đầu tư phát triển du lịch tại địa phương dường như bỏ qua loại hình du lịch có gắn với văn hóa bản địa trong nỗ lực bảo tồn và giáo dục môi trường với sự tham gia tích cực của cộng đồng ngư dân ven biển đảo, điều này thể hiện rõ trong Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ hoàn toàn không đề cập đến mô hình làng du lịch sinh thái cộng đồng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

3 .1.2. Phân tích mô hình DPSIR làm cơ sở khoa học trong việc đưa ra phương án phát triển du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc

Trong những năm gần đây, trong khi hoạt động du lịch tại địa phương có những bước tiến mạnh mẽ, tỉ lệ du khách tới với Phú Quốc ngày một cao thì ngược lại hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản của cộng đồng ngư dân ven biển đảo lại liên tục gặp những điều kiện khai thác, các rủi ro do thiên tai hay do thiếu nguồn lực (nhân lực, tài chính, kỹ thuật). Việc nâng cao hiệu quả kinh tế thông qua việc tạo các sinh kế thay thế mới vừa đáp ứng được khả năng khai thác nguồn lợi vừa đảm bảo bền vững cho ngư dân là rất cần thiết. Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Năm 1999 Tổ chức Môi trường Châu Âu (EEA) đã xây dựng mô hình Đánh giá Tổng hợp DPSIR. Đây là một mô hình nhận thức dùng để xác định, phân tích và đánh giá các chuỗi quan hệ nguyên nhân – kết quả, hậu quả của chúng và các biện pháp ứng phó cần thiết. Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu các vấn đề cho phát triển du lịch cộng đồng có thể sử dụng quan điểm tương tự theo mô hình DPSIR. Cấu trúc của mô hình bao gồm các thông số chỉ thị về điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội của vùng nghiên cứu, dựa vào đặc điểm và bản chất, các thông số này được chia thành 5 hợp phần theo sơ đồ dưới đây:

Phân tích mô hình DPSIR

  • (1)Lực tác động (DRIVER):

Nhìn nhận hiện trạng tại cộng đồng ở KBTB Phú Quốc ta có thể thấy rõ cuộc sống của cộng đồng nơi đây phụ thuộc rất nhiểu vào yếu tố môi trường, đặc biệt là môi trường biển nên đời sống còn bấp bênh Bên cạnh đó là các lực tác động khác từ trình độ nhận thức của cộng đồng vùng ven biển còn thấp, chính sách đầu tư trên các đảo hầu như chỉ là chính sách đền bù, di dời dân đi nơi khác để dung quỹ đất vào phát triển du lịch. Thêm vào đó là hoạt động du lịch trên đất liền cũng tác động không nhỏ đến việc một lượng lớn ngư dân chuyển đổi công việc, tuy nhiên vì trình độ chưa đáp ứng tốt nên họ thường chuyển sang làm các nghề tự do.

  • (2) Áp Lực (PRESSURE):

Từ những tác động kể trên cộng đồng ven biển đang phải gánh chịu những áp lực lớn để thay đổi và thích nghi. Đó là việc phải lựa chọn những sinh kế khác nhau nhằm duy trì cuộc sống. Tuy nhiên một thực tế cho thấy mức sống của cộng đồng ven biển đảo vẫn thấp, việc tiếp cận với các điều kiện về y tế, về giáo dục vẫn rất khó khăn.

Sự di dân của cộng đồng ngư dân làm nghề cá sang làm các ngành nghề khác đã dẫn đến hiện trạng thiếu lao động nghiêm trọng.

  • (3) Hiện trạng (STATE) Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Tỉ lệ hộ nghèo của các ngư dân vùng ven biển đảo vẫn rất cao so với mặt bằng chung Nhìn chung dân cư tại các xã KBTB Phú Quốc sống bằng nghề khai thác thủy sản ven bờ là chính, một số ít làm dịch vụ du lịch, buôn bán nhỏ và sản xuất nông nghiệp. Tình trạng tăng dân số, thiếu công ăn việc làm, dân trí thấp, khai thác thủy sản bằng các nghề truyền thống, lạc hậu, hoạt động ven bờ dẫn đến nguồn thủy sản bị cạn kiệt, hệ sinh thái thảm cỏ bị xáo động và gây ô nhiễm môi trường nước, tác động lớn đến nơi cư trú của các loài thủy sản, đặc biệt một số loài động vật quý hiếm như Dugông, Rùa biển đang có nguy cơ tuyệt chủng.

Mức thu nhập của các hộ gia đình làm nghề biển rất bấp bênh. Theo anh Trường (xã Hòn Thơm) thì những năm trước khi còn sống bằng nghề biển thì với tàu ghe của chính mình anh cũng chỉ có mức thu nhập trung bình khoảng 20 triệu/ năm; đến một năm trở lại đây thì biển mất mùa nên anh không thể sống bằng nghề được và hầu như chỉ ở nhà và ai gọi gì làm đó.

Phú Quốc trước đây được xem như ngư trường có năng suất đánh bắt cao, tuy nhiên ngày nay áp lực đánh bắt lớn hơn rất nhiều so với mức sinh thái bền vững đã làm giảm mạnh nguồn tài nguyên thủy sản.

  •  (4) Tác động –Hậu quả (IMPACT)

Không thể phủ nhận trong những năm gần đây tình hình môi trường chung chịu nhiều thay đổi bất thường làm cho nghề biển có chiều hướng suy kiệt. Thời tiết vào 6 tháng mùa Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) thổi mạnh gây khó khăn cho bè ghẹ.

Sao biển gai được các nhà khoa học xác định là sinh vật địch hại nguy hiểm của san hô. Vì vậy, cần phải tổ chức cho các bên tham gia (các đơn vị kinh doanh du lịch, bộ đội, biên phòng và cộng đồng) thu gom định kỳ Sao biển gai, như một giải pháp bảo vệ rạn san hô hữu hiệu nhất trong điều kiện hiện nay.

Ngoài những tác động từ thực tế biến đổi khí hậu thì cũng còn có sự hủy hoại môi trường do bàn tay con người gây ra. Đó là: số tàu khai thác bằng xung điện và tàu cào làm giảm nguồn lợi và xung đột với các phương tiện khai thác tại địa phương; các hộ nuôi ốc hương sử dụng thức ăn tươi, làm tăng ô nhiễm tác động xấu cho môi trường khi phát triển ngày càng nhiều tại xã Hàm Ninh và xã Bãi Thơm; tình trạng đánh bắt thủy sản trái phép trong vùng lõi, vùng đệm thường xuyên xảy ra; các hành vi khai thác, mua bán, tiêu thụ Dugong, Rùa biển vẫn còn lén lút xảy ra …

Theo Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Quốc, năm 2015 toàn huyện hiện có 4.033 hộ kinh doanh cá thể, 1654 công ty, doanh nghiệp trong đó có trên 200 nhà nghỉ, khách sạn và resort từ đạt chuẩn từ 1 đến 4 sao, nhà nghỉ, phòng trọ du lịch đang hoạt động với hơn 1500 phòng và hơn 2600 gường và 60 cơ sở sản xuất nước mắm. Theo tính toán của ngành Tài nguyên Môi trường mỗi ngày trên đảo Phú Quốc nước thải ra môi trường từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các hộ dân và khách du lịch khoảng 18.000m3. Mặc dù đa số nhà nghỉ, khách sạn, resort trên địa bàn huyện Phú Quốc đi vào hoạt động sau thời điểm ra đời của Luật Bảo vệ môi trường (năm 1993) và các quy định về bảo vệ môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường (năm 2003); nhưng hiện nay đa số chỉ dùng hệ thống tự hoại xử lý chất thải; hệ thống xử lý nước thải hoặc có nhưng đạt theo tiêu chuẩn còn rất ít. Nước thải tại hầu hết các đơn vị được thu gom rồi qua bể lắng, sau đó thải trực tiếp theo hệ thống nước thải đô thị chung. Một số cơ sở có diện tích đất rộng thì cho thấm trực tiếp vào môi trường tự nhiên … Theo nhận xét của nhiều doanh nghiệp khách sạn, resort trên địa bàn huyện Phú Quốc trong các cuộc đối thoại giữa UBND tỉnh Kiên Giang với các doanh nghiệp thì đa số các khu du lịch, khách sạn ven biển ở Phú Quốc hiện nay đều xả nước trực tiếp ra biển và đều được cấp giấy chứng nhận nguồn nước thải bảo đảm tiêu chuẩn, nhưng tại một số khu vực nguồn nước đổ ra đều bốc mùi hôi thối nồng nặc. Ngoài ra, trên vùng biển Phú Quốc hàng tháng đang có hàng nghìn phương tiện khai thác thuỷ sản lớn nhỏ về trú đậu và hàng nghìn khách du lịch đến tham quan … Mặc dù trong những năm qua hoạt động thu gom và xử lý rác thải vẫn được thực hiện thường ngày, nhưng với việc xả rác thải, dầu loang và việc một số doanh nghiệp, nhà hàng vẫn ngang nhiên thải nước thải trực tiếp xuống biển … Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Như vậy sự đói nghèo vẫn tiếp tục gắn chặt với cộng đồng dân cư biển đảo và vấn đề sẽ là tạo ra các hình thái sinh kế mới mang tính bền vững không chỉ cho việc cải thiện điều kiện sống mà còn bảo đảm cho môi trường ít chịu ảnh hưởng tiêu cực nhất.

  • (5) Sự ứng xử của Xã hội (RESPONSE)

Hiện nay trọng tâm của chiến lược phát triển du lịch Kiên Giang là đưa tầm nhìn hướng biển. Từ nay đến 2030, tiếp tục đẩy mạnh hợp tác liên doanh với nước ngoài, từng bước hình thành một số khu du lịch biển lớn, hiện đại tầm cỡ quốc tế và có khả năng cạnh tranh với các trung tâm du lịch biển của các nước trong khu vực.

Từ thực trạng đói nghèo nên cư dân vùng ven biển và hải đảo đã được các tổ chức trong và ngoài nước hỗ trợ tạo ra các hình thức sinh kế mới như phối hợp với Hợp phần sinh kế bền vững bên trong và xung quanh các KBTB – Bộ NN& PTNT (Hợp phần LMPA) đầu tư và hỗ trợ cho cộng đồng đầu tư mô hình nuôi Ếch; phối hợp với Chương trình Liên minh Đất ngập nước (Tổ WAP Kiên Giang) xây dựng và triển khai mô hình ngân hàng Ghẹ ở xã Hàm Ninh. Thành phần tham gia quản lý, điều hành ngân hàng Ghẹ là bà con ngư dân khai thác nghề lưới Ghẹ trong xã.

Ngoài ra các mô hình DLCĐ đã trở thành một hình thức sinh kế thay thế đáp ứng tốt cho việc phát triển nói chung trên các vùng ven biển và hải đảo.

3.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc

 3.2.1. Giải pháp đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

Mục tiêu: nhằm đảm bảo các điều kiện hạ tầng kỹ thuật để phát triển DLCĐ Khu bảo tồn biển Phú Quốc. Cụ thể hóa bằng việc đầu tư nâng cấp phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động DLCĐ, đảm bảo chất lượng, tiện nghi, đồng bộ đáp ứng được nhu cầu của du khách.

  • Nội dung thực hiện:

Việc xây dựng nâng cấp cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cần xác định các nguyên tắc:

  • Phải đạt hiệu quả tối ưu trong quá trình xây dựng và khai thác
  • Phát huy được giá trị và đạt được hiệu quả trong sử dụng tài nguyên du lịch, đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho vận chuyển, tham quan nghỉ ngơi của du khách.
  • Không phá vỡ tính liên kết các giá trị về cảnh quan môi trường tự nhiên và văn hóa xã hội
  • Tôn trọng ý kiến của cộng đồng địa phương.

Trong việc nâng cấp xây dựng các công trình để khai thác tài nguyên cho hoạt động du lịch cần huy động tối đa các nguồn lực được hỗ trợ từ nhà nước, khuyến khích sự tham qua đầu tư từ các thành phần tư nhân, tranh thủ vốn từ các chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo, chương trình tạo nguồn sinh kế mới cho cộng đồng ngư dân và tăng cường hợp tác với các tổ chức phi chính phủ. Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Hệ thống điện và nước sạch cũng là yếu tố rất quan trọng trong phát triển du lịch cộng đồng, dù tài nguyên du lịch hấp dẫn và người dân thân thiện nhưng nếu điện nước không đảm bảo cũng sẽ khó kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch

Bên cạnh cơ sở hạ tầng thì cơ sở vật chất kỹ thuật cũng cần hỗ trợ đầu tư. Đối với các hộ dân làm dịch vụ lưu trú như nhà cho khách ở theo dạng homestay thì cần đảm bảo điều kiện tối thiểu về không gian, về nhà vệ sinh, nhà tắm, các trang thiết bị cũng được sắp đặt một cách gọn gàng, tạo được những dấu ấn đặc trưng của đời sống dân cư vùng miền ven biển đảo.

3.2.2. Giải pháp về công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của du lịch cộng đồng

Mục tiêu: Thu hút tất cả mọi đối tượng trong cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch bằng các chính sách hỗ trợ, các giải pháp nâng cao thu nhập cho tất cả các thành viên và một cơ chế chia sẽ lợi nhuận công bằng bền vững.

Nội dung thực hiện:

  • Việc tập huấn cho hướng dẫn viên:

Tổ chức lớp tập huấn để tăng cường việc làm cho người dân: Tổ chức lớp dạy hàng quí về kiến thức du lịch và du lịch sinh thái cộng đồng cho những người quan tâm. Nhưng dạng lớp này, tốt nhất tổ chức theo mô hình nhóm 20 người, thuyết giảng trong vòng 45 phút và thực hành khoảng 84 giờ (2 ngày/đợt) trong vào những ngày nhất định (linh hoạt theo giờ của học viên).

  • Tập huấn cho nhà quản lý các ban ngành có liên quan:

Cần đặc biệt lưu ý ở đối tượng này chính là tác động của các quyết định quản lý của họ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành. Và, những hiểu biết chi tiết của họ về du lịch cộng đồng và cách thức quản lý du lịch cộng đồng đóng vai trò rất lớn. Do đó, việc tổ chức định kì những buổi hội thảo trao đổi theo từng chuyên đề do một chuyên gia du lịch sinh thái phụ trách là một điều cần thiết. Hơn nữa, những sự cố xảy ra nếu có cũng cần sự đóng góp ý kiến, kinh nghiệm của tất cả mọi nhà quản lý là một điều hữu ích để có thể chọn giải pháp tối ưu.

  • Thu hút sự tham gia của cộng đồng cư dân vào hoạt động du lịch

Trong việc lập kế hoạch và quản lý hoạt động du lịch cộng đồng, những thông tin liên quan đến mục tiêu, ý nghĩa, trách nhiệm và quyền lợi của du lịch cộng đồng cần phải được chuyển tải đến mọi thành viên của cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau. Việc duy trì các kênh giao tiếp và trao đổi thông tin thường xuyên giúp cho tất cả các thành viên cộng đồng và các bên liên quan cảm thấy chính họ là một phần của một tổ chức, được tham gia vào quá trình đưa ra quyết định cho đến quá trình thực hiện dự án. Quá trình duy trì các kênh giao tiếp và trao đổi thông tin thường xuyên này có thể tốn nhiều thời gian, công sức và chi phí, nhất là thời điểm bắt đầu xây dựng du lịch cộng đồng nhưng về lâu dài sẽ giúp cho cộng đồng địa phương có thể hoạt động một cách hiệu quả và tự tin dựa trên nền tảng cơ cấu đội ngũ và quy chế sẵn có.

Cũng cần phải có các chính sách hỗ trợ ban đầu cho cộng đồng ven biển đảo để người dân có điều kiện nâng cấp và khai thác ngay chính cơ sở vật chất của mình (nhà, phương tiện vận chuyển …) phục vụ du lịch, bên cạnh đó cũng tổ chức các lớp tập huấn đào tạo về du lịch để cộng đồng có thể được tham gia những công tác nghiệp vụ như hướng dẫn viên (đặc biệt trong hoạt động du lịch sinh thái), nấu ăn (đặc biệt là các món ăn đặc sản địa phương), làm buồng … hoặc những công việc khác như dọn dẹp vệ sinh, bảo vệ … Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Để việc thực hiện mô hình DLCĐ đạt kết quả và nhằm hạn chế những thiệt thòi mà cộng đồng có thể phải chịu trong hoạt động phát triển du lịch, đặc biệt để giảm áp lực tác động của cộng đồng đối với tài nguyên và môi trường du lịch do hoạt động khai thác cho cuộc sống sinh hoạt, cần thiết phải tạo cho cộng đồng cơ hội được tham gia một cách tích cực nhất vào các hoạt động du lịch bao gồm:

  • Hướng các ngành nghề sản xuất truyền thống của cộng đồng phục vụ cho hoạt động du lịch như sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ song mây, mành ốc, đan lưới …
  • Tham gia quản lý các cơ sở lưu trú trên địa bàn cộng đồng, đón khách, phục vụ nhu cầu lưu trú của khách với sự h trợ của Ban quản lý các khu du lịch, các công ty lữ hành và chính quyền địa phương.
  • Như có thể nghiên cứu áp dụng các mô hình quản lý đánh bắt thủy sản và nuôi trồng thủy sản dựa vào hội người đánh cá, hội người nuôi trồng thủy sản. Tham gia các dịch vụ du lịch như ăn uống, bán hàng thủ công mỹ nghệ sản phẩm địa phương, cho thuê thuyền thúng, thuyền đáy kính…
  • Tham gia vận chuyển khách, hàng hoá cho khách từ trung tâm đón tiếp thu du lịch đến các điểm tham quan, vui chơi giải trí, nghiên cứu …
  • Khuyến khích cộng đồng phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của cộng đồng như hoạt động lễ hội, ca nhạc … để phục vụ du lịch. Tuy nhiên cần có biện pháp hạn chế những tác động tiêu cực tới văn hoá truyền thống bản địa từ phía du khách và việc thương mại hoá những giá trị này từ phía các nhà tổ chức, phát triển du lịch. – Tổ chức sản xuất, thu mua các thực phẩm, hoa trái nông sản phục vụ nhu cầu du lịch.

Từ những lợi ích cụ thể mà cộng đồng có được thông quá hoạt động du lịch, cộng đồng sẽ nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn các giá trị tự nhiên và nhân văn trong phát triển du lịch. Như vậy việc thực hiện mô hình DLCĐ sẽ ngày càng đạt hiệu quả tốt hơn.

3.2.3. Giải pháp bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên du lịch Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Mục tiêu: Thực hiện công tác trùng tu, bảo tồn các tài nguyên của Khu bảo tồn biển hiện có, đây là những nguồn tài nguyên quý giá góp phần tạo thương hiệu cho hình thức du lịch cộng đồng ven biển – đảo.

  • Nội dung thực hiện:

Triển khai thực hiện tốt Quy hoạch chung xây dựng bảo tồn và phát huy giá trị KBTB Phú Quốc để làm cơ sở cho đầu tư phát triển DLCĐ trong vùng.

Trong các mô hình du lịch dựa vào cộng đồng trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường luôn là một trong những tiêu chí hàng đầu. Để phát triển hơn nữa hiệu quả của mô hình du lịch cộng đồng tại các làng ven biển và hải đảo thì cần có những giải pháp cụ thể cho vấn đề tài nguyên và môi trường.

Đối với môi trường và tài nguyên thiên nhiên: KBTB Phú Quốc là một trong hệ thống 12 khu bảo tồn biển hiện nay ở Việt Nam và là một trong những vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang với nhiều hệ sinh thái biển điển hình có lợi thế trong việc tận dụng nguồn khách sẵn có để phát triển du lịch. Tuy nhiên do tác động của chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư, dư thừa thuốc trừ sâu và phân hoá học từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thức ăn dư thả từ bè nuôi trồng thuỷ sản và đặc biệt là hoạt động đánh bắt thuỷ sản, khai thác rạn san hô, cỏ biển của dân cư sống ở vùng đệm KBTB đã đe doạ trực tiếp đến đa dạng sinh học cũng như môi trường sống (sinh cảnh) của nhiều loài sinh vật quý hiếm đã làm mất đi phần nào vẻ đẹp vốn có của biển Phú Quốc. Trước mắt, huyện đảo và các xã nơi tổ chức hoạt động du lịch cần có những biện pháp nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về ý thức bảo vệ tài nguyên môi trường thông qua chương trình giáo dục. Phối hợp với các ngành giáo dục đưa giáo dục môi trường vào chương trình chính khóa và ngoại khóa của giáo dục phổ thông đồng thời với việc thường xuyên tổ chức các buổi họp cộng đồng. Nội dung giáo dục phải phù hợp với phong tục tập quán và lối sống văn hóa của người dân địa phương, sử dụng phương pháp đơn giản hóa ngôn ngữ và chuyển thể thành dạng ngôn ngữ mà người bình thường cũng có thể hiểu được. Cụ thể là:

Nâng cao nhận thức của các đối tượng về các giá trị của tài nguyên thiên nhiên, các hệ sinh thái tự nhiên, kho dự trữ thiên nhiên quý hiếm, bảo tồn những cảnh quan độc đáo, các loài đặc hữu của địa phương.

Giáo dục về đạo đức môi trường và cách ứng xử thân thiện với môi trường cho cả người dân và khách du lịch. Về phương pháp thực hiện, tùy theo trình độ hiểu biết của mỗi đối tượng khác nhau để có cách giáo dục cho phù hợp nhất. Ví dụ, đối với học sinh vùng ven biển hay trên đảo, có thể lồng ghép chương trình học với các hoạt động ngoại khóa về môi trường và các điểm du lịch; đối với người dân địa phương thì phải chọn các phương pháp giáo dục truyền thống, hướng vào cộng đồng hay với khách du lịch, chúng ta có thể vừa giới thiệu cho khách vừa diễn giải về môi trường bằng ngôn ngữ của khách.

Ngoài ra, một biện pháp cần thực hiện ngay đó là xây dựng các thùng rác và nội quy bảo vệ môi trường và tôn trọng nên văn hóa bản địa trên các tuyến du lịch thuộc xã với nguyên tắc thân thiện với môi trường, cần có những giải pháp k  thuật có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm thiểu nguồn rác thải và xử lý ô nhiễm môi trường. Thành lập các đội chuyên thu gom rác thải (có thể phân theo khu do các tổ chức như đoàn thanh niên, hội phụ nữ quản lý hoặc có thể vận động các hộ gia đình trực tiếp tham gia vào việc vệ sinh thường xuyên tại khu vực dân cư). Điểm du lịch nên bố trí các thùng đựng rác dọc con đường trên chuyến hành trình của khách – Bên cạnh các giá trị tự nhiên, những giá trị văn hoá truyền thống của vùng ven biển đảo cũng cần được bảo vệ và giữ gìn, đồng thời phát huy bằng các biện pháp cụ thể như:

Xây dựng và tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về các món ăn truyền thống và mang đậm bản sắc địa phương. Qua đó cũng là dịp để giới thiệu đếm khách du lịch, đồng thời đây cũng là các sự kiện thu hút sự chú ý của du khách và người dân địa phương.

Nghiên cứu, khôi phục lại nét văn hóa truyền thống của cư dân trên đảo: lễ hội, các điệu múa, bài hát, thơ văn về đảo. Xây dựng các đội văn nghệ dân gian thu hút sự tham gia của tất cả các hộ gia đình trong các xã, thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu học hỏi kinh nghiệm. Đây là đội văn nghệ nòng cốt cho phong trào văn hóa, văn nghệ của xã và sẽ là đội văn nghệ tham gia biểu diễn phục vụ khách. Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Tìm hiểu về các nghề truyền thống của địa phương tạo cơ hội phát triển kinh tế cho nhân dân.

3.2.4. Giải pháp xúc tiến quảng bá du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc

Mục tiêu: Giới thiệu cung cấp thông tin về DLCĐ cho thị trường khách trong và ngoài nước để thu hút ngày càng nhiều khách biết đến và tới tham gia vào mô hình này tại vùng ven biển đảo. Đồng thời đưa hoạt động DLCĐ sớm hội nhập một cách thật sự, sâu rộng và hiệu quả, có tính cạnh tranh cao vào thị trường các sản phẩm du lịch trên địa bàn huyện đảo Phú Quốc.

  • Nội dung thực hiện:

Trong hoạt động du lịch, công tác quảng bá và xúc tiến là cung cấp những thông tin về sản phẩm giúp khách du lịch có sự lựa chọn và thực hiện chuyến đi của mình được thuận tiện và có hiệu quả nhất. Hình thức DLCĐ không chỉ khơi dậy niềm tự hào về các giá trị văn hóa vùng miền mà còn giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cộng đồng cư dân và của khách tham quan đối với sự nghiệp phát triển du lịch. Việc tiến hành quảng bá xúc tiến là công việc kéo dài, cần sự phối hợp nguồn lực của nhiều cơ quan đơn vị trong và ngoài nước. Nội dung thực hiện sẽ tập trung vào các vấn đề dưới đây:

Việc đầu tiên để triển khai xúc tiến quảng bá DLCĐ một cách bài bản, chuyên nghiệp, các kế hoạch cụ thể cần được xác định thông qua các nghiên cứu thị trường để tạo ra các sản phẩm cho các thị trường mục tiêu.

Tổ chức hoạt động xúc tiến quảng bá cần huy động các nguồn lực xã hội và tổ chức thực hiện theo cách liên kết, hợp tác giữa các thành phần như nhà nước, tư nhân, từ các cấp quản lý cấp cao đến các hiệp hội du lịch, các doanh nghiệp, các cộng đồng cư dân sở tại, phối hợp với công ty du lịch tổ chức tour của tỉnh hoàn thành các chương trình hấp dẫn gởi đến các công ty lữ hành ở Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh thành khác … xây dựng chu i liên kết phát triển du lịch sinh thái cộng đồng với các doanh nghiệp du lịch lữ hành, kiểm soát 100% lượng du khách tham quan, lặn biển trong khu vực tiểu khu; nâng cao giá trị sản phẩm Ghẹ xanh thông qua liên kết chui giá trị Ghẹ xanh từ ngư dân đến người tiêu dùng …

Tham gia các tổ chức các hội chợ, triển lãm chuyên đề về du lịch nói chung hằng năm trong các dịp lễ hội tại chính địa phương và các tỉnh thành khác để cung cấp thường xuyên và kịp thời đến du khách các thông tin về sản phẩm DLCĐ vùng ven biển của Phú Quốc. Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Tạo điều kiện để các đoàn FAMTRIP cho các nhà báo, các hãng du lịch lữ hành, các doanh nghiệp liên quan đến khảo sát, làm quen tiếp cận với các tuyến điểm du lịch và mô hình làm DLCĐ của Phú Quốc. Đây là một hình thức quảng bá rất hiệu quả mà các nước thường áp dụng.

Có thể phối hợp nhiều hình thức quảng bá về hình ảnh du lịch cộng đồng tại KBTB Phú Quốc đến khách du lịch. Theo phương thức truyền thống như: in ấn tập gấp, tờ rơi, các loại đĩa VCD có vai trò như một hướng dẫn tour; hay qua phương tiện truyền thông đại chúng như: truyền hình, báo mạng điện tử, hay thông qua việc lồng ghép trong các phim tài liệu, phóng sự giới thiệu về Phú Quốc.

Thiết kế chương trình du lịch mang tính đặc thù cộng đồng Kiên Giang khác hẳn các tour trước đó, mang tính đột phá … Để đánh giá mức độ thành công của các tour này cơ quan đầu ngành của Tỉnh phải mời các chuyên gia, nhà điều hành tour tham dự đóng góp ý kiến. Chuyển sang giai đoạn thử nghiệm phục vụ du khách lấy ý kiến để chỉnh đổi.

Có chiến lược hoạt động marketing theo từng thời điểm. Đẩy mạnh các hoạt động marketing, chương trình du lịch đặc thù phù hợp với đối tượng học sinh cùng gia đình vào mùa hè.

3.2.5. Giải pháp về đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho DL Đ

Mục tiêu giải pháp: tận dụng sự hỗ trợ từ các tổ chức, cơ quan để đào tạo các khóa ngắn và dài hạn cho các thành viên trong cộng đồng ven biển đảo nơi tổ chức mô hình DLCĐ. Thúc đẩy trình độ dân trí chung của cộng đồng nhằm tạo ra một lực lượng lao động có trình độ tri thức tốt, đủ khả năng phục vụ đáp ứng các nhu cầu cho du khách.  

Nội dung thực hiện: Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Con người là nhân tố quyết định của mọi sự phát triển, có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và hiệu quả của hoạt động du lịch vì suy cho cùng thì yếu tố con người là quan trọng nhất. Không thể có sản phẩm du lịch chất lượng cao nếu không có được đội ngũ cán bộ, các nhà quản lý và những người lao động có kiến thức quản lý, am hiểu chuyển môn nghiệp vụ, có tay nghề cao. Vì vậy, cần phải có những giải pháp để sử dụng có hiệu quả và phát triển nguồn nhân lực cho du lịch. Việc đào tạo và nâng cao nhận thức được xem là một yếu tố then chốt để cải thiện chất lượng dịch vụ, nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động kinh doanh của loại hình du lịch cộng đồng. Đối với từng đối tượng cần phải xây dựng những chương trình đào tạo phù hợp thông qua việc điều tra, đánh giá nhu cầu đào tạo tại địa phương.

  • Đối với cán bộ phương và cán bộ Ban quản lý du lịch cộng đồng

Cán bộ phường và cán bộ Ban quản lý du lịch cộng đồng là những người trực tiếp nhất tham gia vào công tác quản lý hoạt động du lịch cộng đồng và sự phát triển của loại hình du lịch này tại địa phương. Do đó cần triển khai kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn ngoại ngữ cho cán bộ. Tập trung vào các hình thức đào tạo ngắn hạn và tham quan nghiên cứu mô hình hoạt động du lịch cộng đồng trong cả nước cũng như nước ngoài, phối hợp chặt chẽ với các viện nghiên cứu và các tổ chức quôc tế để tổ chức các khóa đào tạo với những nội dung có tính thực tiễn và chuyện môn cao. Đồng thời Ban quản lý có thể liên hệ với một số trường đào tạo về du lịch để phối hợp với họ mở các lớp bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ thuộc ban quản lý. Ngân sách đào tạo lấy từ ngân sách tỉnh, địa phương và từ quỹ du lịch cộng đồng. Bên cạnh đó cũng cần tổ chức các buổi gặp mặt, trao đổi những kinh nghiệm trong công tác quản lý mô hình DLCĐ với nhau.

  • Đối với cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng

Qua khảo sát cho thấy trình độ dân trí của người dân tại các vùng ven biển vẫn đang còn khá thấp do điều kiện về thu nhập và giáo dục còn hạn chế. Chính vì vậy, cần có những chính sách đào tạo các nghề trực tiếp về du lịch như: nghề buồng, bếp, phục vụ du lịch, đặc biệt là ngoại ngữ. Hình thức chủ yếu là đào tạo các khóa ngắn hạn, phối hợp với các trường trung cấp, cao đẳng nghiệp vụ và các trung tâm dạy nghề, đồng thời cũng có kế hoạch kiểm tra chất lượng phục vụ của các hộ tham gia đón khách để rút ra những kinh nghiệm và bổ sung nghiệp vụ mới trong công tác phục vụ khách du lịch.

Ngoài ra cũng cần tập trung chủ yếu vào các hoạt động nâng cao nhận thức về các vấn đề có liên quan tới các hoạt động du lịch như hiểu biết về giá trị của tài nguyên và môi trường, hiểu biết xã hội, những kiến thức có liên quan đến pháp luật có liên quan, mục đích của du lịch cộng đồng, du lịch bền vững. Trong chiến lược đào tạo cần từng bước đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên là người bản địa tinh thông về nghiệp vụ du lịch, am hiểu về văn hóa dân tộc, giỏi về ngoại ngữ để phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách du lịch. Bên cạnh việc tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng nghiệp vụ cho người dân, ban quản lý cũng khuyến khích các hộ tự học tập lẫn nhau, những hộ mới nên tham khảo kinh nghiệm của các hộ chuyên phục vụ khách từ các mô hình ở nơi khác, tổ chức các buổi gặp mặt trao đổi kinh nghiệm giữa các hộ dân với nhau.

3.2.6. Giải pháp cho việc chia sẻ công bằng lợi ích giữa các bên tham gia Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Mục tiêu giải pháp: Tạo ra sự minh bạch và công bằng tối đa trong phân chia các lợi ích cho các bên tham gia khi hoạt động du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc.

Nội dung thực hiện:

Trong hoạt động du lịch, việc chia sẻ lợi ích một cách thỏa đáng cho tất cả các bên tham gia là một nhiệm vụ khó khăn khi mà các bên đều mong muốn nhận những lợi ích tối đa. Vì vậy, để phân chia được công bằng cần phải nhìn nhận một cách khách quan và tổng quát về những đóng góp cũng như những hệ quả cả tích cực lẫn tiêu cực của tất cả các bên.

Các phương pháp phân chia lợi nhuận cho các thành viên cá nhân trong cộng đồng cần chú ý cẩn thận. Để đạt được điều này, cần thành lập một BQL du lịch cộng đồng như một cơ quan đại diện. Lãnh đạo, chính quyền địa phương, cũng như các tổ chức cộng đồng (ví dụ như hội phụ nữ và đoàn thanh niên, nhóm thủ công mỹ nghệ) phải có đại diện trong BQL này. Ban quản lý phải quản lý tài chính thu nhập từ du lịch cộng đồng và các vấn đề quản lý khác như đại diện cho cộng đồng trong các cuộc họp và thảo luận với các bên liên quan, giám sát phát triển du lịch để đảm bảo rằng nó đáp ứng các mục tiêu chính sách trong chương trình hoạt động.

Một hệ thống lưu giữ hồ sơ tài chính tốt sẽ cung cấp thông tin quan trọng để quản lý tài chính hiệu quả. Đồng thời cũng giúp đỡ để tạo ra sự minh bạch giữa các thành viên cộng đồng và, do đó, tránh được sự mất lòng tin khi xảy ra những vấn đề liên quan đến doanh thu du lịch cộng đồng.

Một trong những mục tiêu chính của du lịch cộng đồng là cùng nhau tạo thu nhập và phân chia công bằng. Thu nhập chung có thể được sử dụng cho đầu tư sản xuất trong cộng đồng (ví dụ như giếng nước, năng lượng mặt trời, cung cấp nước, y tế hoặc các chương trình giáo dục) hoặc cho các hộ gia đình nghèo nhất của làng.

3.2.7. Giải pháp cơ chế, chính sách quản lý phù hợp

Mục tiêu giải pháp: Tạo khung về pháp lý về cơ chế quản lý và những chính sách khuyến khích đầu tư và mở rộng hoạt động phát triển DLCĐ nhằm huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ cho sự phát triển DLCĐ vừa theo chiều rộng lẫn chiều sâu.

  • Nội dung thực hiện: Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Du lịch cộng đồng nói riêng và du lịch nói chung là một lĩnh vực kinh tế xã hội mang tính liên vùng, liên ngành. Hơn nữa, du lịch cộng đồng là hình thức du lịch mang tính bền vững, vì vậy, việc cơ chế chính sách quản lý hợp lý đóng vai trò quan trọng không chỉ đem lại hiệu quả cho du lịch cộng đồng mà còn cho nhiều lĩnh vực khác.

  • Tạo lập cơ chế chính sách quản lý phù hợp:

Việc lên kế hoạch và xây dựng cơ chế quản lý cần đảm bảo các yếu tố: hệ thống quản lý đúng đắn, mối quan hệ liên kết giữa chủ thể và năng lực quản lý phù hợp và mô hình quản lý cần phải phân cấp rõ ràng, tránh sự chồng chéo, đan xen:

  • Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch
  • Tổng cục du lịch
  • Sở Du lịch tỉnh Kiên Giang
  • Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang
  • Chi cục Thủy sản tỉnh Kiên Giang
  • UBND xã Hàm Ninh, xã Hòn Thơm, xã Bãi Thơm
  • Ban quản lý DLCĐ
  • Cộng đồng địa phương.

Tuy nhiên, đối tượng quản lý chủ yếu của hoạt động DLCĐ vẫn là cơ quan quản lý du lịch tại địa phương, cấp UBND các xã và Ban quản lý điều hành.

  • Xây dựng chính sách đầu tư phát triển du lịch cộng đồng vùng ven biển đảo

Đầu tiên cần gắn kế hoạch phát triển du lịch cộng đồng ven biển đảo vào chính sách phát triển du lịch chung của tỉnh nhằm tận dụng tối đa những cơ hội thông qua các gói kích cầu du lịch mà tỉnh triển khai.

Do du lịch cộng đồng là cách thức làm du lịch hướng đến sự bền vững, góp phần bảo tồn các giá trị tài nguyên và xóa đói giảm nghèo nên việc tạo điều kiện thuận lợi là việc cần làm cũng như trách nhiệm của những nhà quản lý du lịch và chính quyền địa phương.

  • Tạo môi trường thông thoáng hấp dẫn các nhà đầu tư:

Đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cơ bản du lịch bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, ưu tiên tập trung hỗ trợ đầu tư tại các vùng ven biển đảo có tiềm năng phát triển DLCĐ như: làng chài Hàm Ninh, làng chài Hòn Thơm, …

Ngoài các chính sách ưu đãi đầu tư được ghi theo luật định (Nghị định 108/2006/NĐ-CP) cần có chính sách ưu đãi linh hoạt hơn như miễn tiền thuê đất, miễn hoặc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian ban đầu, giảm thuế đối với việc khai thác tài nguyên ở địa phương để phục vụ xây dựng khu du lịch như: khai thác vật liệu xây dựng, khai thác rừng, khai thác nước, mặt nước, kinh doanh khai thác các làng nghề, các sự kiện văn hóa thể thao.

Thực hiện chính sách khuyến khích miễn thuế nhập khẩu thiết bị, vật tư, phương tiện máy móc, tàu thuyền nhằm thúc đẩy sự cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

  • Tập trung huy động các nguồn vốn xã hội vào đầu tư phát triển du lịch cộng đồng vùng ven biển đảo:

Khuyến khích, kêu gọi các thành phần kinh tế, mọi người dân tham gia đầu tư, đóng góp vào các chương trình, dự án DLCĐ ở địa phương xem như là phần đóng góp trách nhiệm đối với cộng đồng.

Tăng cường các nguồn vốn ngân sách, vốn vay, tranh thủ các nguồn vốn tài trợ của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế khác vào việc tạo nguồn sinh kế bền vững và bảo tồn các giá trị tự nhiên và nhân văn cho cư dân vùng ven biển.

3.3. Một số kiến nghị

3.3.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch

  • Cần sớm ban hành các chính sách, cơ chế quản lý và cho việc phát triển du lịch cộng đồng tại các vùng biển đảo xa bờ.
  • Xây dựng các kế hoạch, chương trình hành động quốc gia có gắn với du lịch cộng đồng tại các vùng ven biển đảo.
  • Quy hoạch chi tiết cho phát triển du lịch tại tỉnh Kiên Giang trong đó có xác định vùng ưu tiên cho phát triển mô hình du lịch cộng đồng.
  • Ban hành các chính sách ưu đãi khuyến khích mọi thành phần tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng.
  • Coi trọng đầu tư cho công tác giáo dục, nâng cao dân trí cho cộng đồng cư dân ven biển và hải đảo.
  • Tuyên truyền và giáo dục người dân, cán bộ quản lý về vai trò của họ đối với việc phát triển du lịch cộng đồng nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế, về xã hội và bảo vệ môi trường.
  • Vấn đề nước ngọt luôn là vấn đề có tính sống còn trên đảo Phú Quốc. Cần có chính sách đầu tư khôi phục và xây mới các hồ chứa; xây thêm các bồn và bể chứa nước mưa. Đầu tư xây dựng trạm xử lý nước để cung cấp nước sạch cho người dân trên đảo. Xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải đảm bảo yêu cầu k thuật.
  • Giải quyết vấn đề năng lượng cũng là yêu cầu cấp thiết. Đầu tư xây dựng trạm phát điện nhỏ, cho người dân vay vốn mua máy phát điện. Tiến tới kêu gọi đầu tư, liên kết xây dựng nhà máy phát điện sử dụng năng lượng sạch trong tương lai như năng lượng mặt trời, năng lượng sóng, gió …
  • Căn cứ và các chính sách chung của nhà nước, ban hành các quy định trong việc khai thác DLCĐ gắn liền với việc bảo vệ môi trường-cảnh quan thiên nhiên, bảo tồn các di sản văn hóa. Đối với những vùng ven biển nơi có nhiều dự án về khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng đang triển khai cần quản lý giám sát nghiêm ngặt việc xả thải, chiều cao xây dựng công trình, thay đổi cảnh quan, san lấp đồi cát, … Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

 3.3.2. Đối với các doanh nghiệp lữ hành du lịch, các cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch

  • Cần phối hợp chặt chẽ với cộng đồng địa phương, với chính quyền, với Ban quản lý du lịch cộng đồng ven biển đảo, các khu bảo tồn thiên nhiên, tổ chức khai thác hợp lý hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn.
  • Để tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng phục vụ nhu cầu của du khách, gắn với việc khai thác cần có sự phối hợp đào tạo huấn luyện các nghiệp vụ du lịch cho cộng đồng cư dân theo mục tiêu phát triển bền vững.
  • Đóng vai trò quảng bá, xúc tiến cho hoạt động du lịch cộng đồng tại KBTB Phú Quốc thông qua những tờ rơi, tập gấp, trang web công ty với tinh thần trách nhiệm cao nhất.

3.3.3. Đối với cộng đồng dân cư vùng ven biển và hải đảo

  • Cộng đồng cần tích cực mạnh dạn tham gia vào các hoạt động du lịch để chia sẻ lợi ích với các doanh nghiệp.
  • Tạo ra một môi trường an ninh, an toàn và vệ sinh cho khách du lịch
  • Luôn thể hiện lòng hiếu khách và nhiệt tình khi tham gia phục vụ cho khách du lịch
  • Tăng cường học tập, nâng cao trình độ về nghiệp vụ du lịch, các kĩ năng giao tiếp và ngoại ngữ đáp ứng nhu cầu của họat động du lịch tại địa phương.
  • Nghiêm chỉnh chấp hành các chính sách, qui định của các cấp, các ngành trong hoạt động kinh doanh du lịch tại địa phương.
  • Phát triển hoạt động kinh doanh du lịch nhưng vẫn duy trì các hoạt động sản xuất truyền thống nhằm đảm bảo nguồn thu nhập ổn định cho gia đình và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống – cơ sở cho hoạt động du lịch.
  • Bảo tồn các giá trị tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn không chỉ đáp ứng cho hoạt động du lịch mà còn vì các thế hệ hiện tại và tương lai. Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Tóm tắt chương 3.

Trong chương 3, tác giả trình bày sự cần thiết của phát triển du lịch cộng đồng tại các vùng ven biển và hải đảo cùng với việc phân tích mô hình DPSIR đã chỉ ra thực trạng các vấn đề của cộng đồng ven biển hải đảo, từ đó làm cơ sở đưa ra các giải pháp cho việc xây dựng mô hình DLCĐ nhằm tạo ra một hướng sinh kế lâu dài và bền vững.

Trong việc xác định mục tiêu của mô hình du lịch cộng đồng đã làm rõ sự ưu tiên gắn liền với những lợi ích mà cộng đồng sẽ hưởng thụ. Việc triển khai mô hình sẽ cần sự tham gia của nhiều bên với các chính sách chia sẻ quyền lợi một cách công bằng thỏa đáng. Tuy có một số điều kiện thuận lợi nhất định song để áp dụng phát triển mô hình du lịch cộng đồng vào thực tế thì còn vô vàn những trở ngại. Chính vì thế chương 3 tác giả cũng đã đề ra 7 giải pháp liên quan chặt chẽ đến chiến lược phát triển của du lịch cộng đồng tại các các KBTB. Cuối cùng để giải pháp được thực thi hiệu quả thì tác giả cũng đã có những kiến nghị lên các cấp quản lý nhà nước về du lịch cũng như với chính các đối tác từ công ty lữ hành và cho chính người dân sống tại các KBTB.

Như vậy trong điều kiện cuộc sống của cộng đồng ven biển đảo ngày một khó khăn thì sự phát triển du lịch cộng đồng có thể là một hướng đi tốt rất đáng để xem xét và cũng phù hợp với xu hướng chung của du lịch Việt Nam và trên thế giới đó là phát triển du lịch bền vững.

PHẦN KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Phú Quốc có rất nhiều điều kiện thuận lợi về tài nguyên du lịch để phát triển DLCĐ. Tuy nhiên, hiện nay hoạt động DLCĐ của huyện đảo này vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có, trong quá trình phát triển du lịch tỉnh Kiên Giang còn những bất cập trong quy hoạch cũng như trong các chính sách đầu tư. Chính điều này đã để lại những ảnh hưởng xấu cho thiên nhiên và cho chính cộng đồng địa phương. Như vậy, bên cạnh các loại hình du lịch đã trở nên quen thuộc với du khách, tỉnh Kiên Giang cần tìm ra nhiều hướng đi mới bền vững hơn cho phát triển du lịch.

Qua việc thực hiện đề tài: “Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang”, luận văn đã đạt được một số kết quả sau:

  1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ nhất của đề tài: hệ thống hóa và làm rõ cơ sở khoa học về phát triển hoạt động DLCĐ. Phân tích, tổng hợp những nghiên cứu của các tác giả trước, kết hợp với những kinh nghiệm từ các địa phương đã thực hiện phát triển hoạt động DLCĐ, luận văn đã phần nào làm rõ được cơ sở khoa học về DLCĐ. Luận văn khẳng định, địa phương chỉ có thể trở thành điểm đón khách DLCĐ khi có đủ các điều kiện cần thiết. Đó là điều kiện về cung DLCĐ (tài nguyên du lịch), các điều kiện về cầu DLCĐ của điểm cấp khách và các điều kiện khác như điều kiện về tuyến chuyển tiếp, khả năng tiếp cận và sự đồng thuận, ủng hộ của người dân địa phương.
  2. Kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ hai của đề tài: xác định các điều kiện để phát triển DLCĐ ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc. Từ những nghiên cứu thực tế, luận văn khẳng định KBTB Phú Quốc có đầy đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động DLCĐ. Các điều kiện thuận lợi đó thể hiện ở các nhóm điều kiện: cung DLCĐ ở KBTB Phú Quốc, cầu KBTB Phú Quốc và các điều kiện khác như sự ủng hộ, đồng thuận của cộng đồng người dân địa phương. Việc xác định các điều kiện phát triển DLCĐ ở KBTB Phú Quốc đã khẳng định định hướng đúng đắn của đề tài. Từ những khảo sát, nghiên cứu về thực trạng phát triển du lịch nói chung và du lịch cộng đồng ở KBTB Phú Quốc nói riêng, tác giả đã khẳng định những thuận lợi, khó khăn tồn tại, những vấn đề đặt ra với việc phát triển DLCĐ ở KBTB Phú Quốc, làm tiền đề đưa ra những giải pháp và kiến nghị ở chương 3.
  3. Kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ ba của đề tài: trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động DLCĐ của KBTB Phú Quốc. Chương 3 của luận văn đã đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển DLCĐ tại KBTB Phú Quốc một các bền vững, phát huy được giá trị tài nguyên sẵn có của địa phương.
  4. Do những điều kiện chủ quan và khách quan, luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế. Tác giả luận văn hi vọng sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp chân thành để đề tài có được những kết quả hoàn thiện hơn và có thể đưa vào áp dụng thực tế. Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc.

Tóm lại cho đến nay, dù chưa có định hướng rõ ràng về việc phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn KBTB Phú Quốc, nhưng với “Tầm nhìn hướng biển” được nêu trong “Chiến lược phát triển du lịch được quy hoạch đến năm 2030 của tỉnh Kiên Giang” đã cho thấy tiền đề của sự phát triển mang tính bền vững mà du lịch cộng đồng là một cách thức đáng để quan tâm và áp dụng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc

One thought on “Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464