Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở Khu Bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, ngành du lịch thực sự đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam với doanh thu lên đến hàng ngàn tỷ đô la, chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân và tạo ra trên 10% lao động toàn cầu. Đặc biệt với những quốc gia hoặc những vùng lãnh thổ kém phát triển nhưng có nhiều tài nguyên du lịch thì ngành kinh tế du lịch đã thực sự trở thành cứu cánh cho nền kinh tế. Tại những địa phương đó, du lịch đã góp phần tích cực vào n lực xoá đói giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách thành thị với nông thôn, đem lại cuộc sống ổn định và ấm no cho cộng đồng ở những vùng xa xôi hẻo lánh mà kinh tế khó có điều kiện phát triển.
Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân mà cộng đồng địa phương sinh sống tại các điểm đến du lịch bị mất lợi thế về kinh tế, xã hội, chính trị trong các hoạt động phát triển du lịch … Do vậy sự tham gia của cộng đồng địa phương như một bên tham gia, một đối tác của ngành du lịch là một yêu cầu phát triển mới nhằm đảm bảo những cân bằng về lợi ích giữa các bên tham gia: Nhà nước – Các doanh nghiệp – Cộng đồng – Du khách để hướng tới một sự phát triển bền vững trong tương lai. Hoạt động bảo tồn thiên nhiên gắn với phát triển du lịch cộng đồng (DLCĐ) sẽ góp phần xoá đói giảm nghèo, giúp cho cộng đồng cư dân địa phương sống không lệ thuộc vào thiên nhiên. Khi cuộc sống ổn định họ sẽ hạn chế khai thác (tác động) thiên nhiên, môi trường. Thiên nhiên được bảo vệ với nhiều cảnh quan đẹp lại tạo ra sức thu hút đối với khách du lịch … và đó chính là cách tiếp cận để phát triển du lịch bền vững mà nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã và đang hướng tới.
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đã xác định Phú Quốc là trung tâm du lịch sinh thái chất lượng cao tầm cỡ khu vực và quốc tế (Chính phủ, 2010). Chính vì vậy việc bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đa dạng sinh học là rất quan trọng. Vùng biển Phú Quốc được đánh giá là một ngư trường giàu có với trữ lượng lớn các loài thủy sản: Tôm, ghẹ, cua, trai ngọc, … Bên cạnh đó, vùng biển này còn có những rạn san hô và thảm cỏ biển, là những hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao, có giá trị lớn về kinh tế, khoa học và môi trường. Để bảo vệ tính đa dạng sinh học, nhất là những rạn san hô và thảm cỏ biển, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Kiên Giang đã thành lập Khu bảo tồn biển (KBTB) Phú Quốc nhằm bảo tồn, tổ chức khai thác giá trị tài nguyên và môi trường vùng biển này theo đúng quy định của pháp luật, gồm 2 khu vực: khu phía Đông Bắc đảo Phú Quốc và khu phía Nam quần đảo An Thới. KBTB Phú Quốc là một trong hệ thống 12 khu bảo tồn biển hiện nay ở Việt Nam và là một trong những vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang với nhiều hệ sinh thái (HST) biển điển hình như rạn san hô, cỏ biển và tính đa dạng sinh học cao, trong đó có nhiều loài sinh vật quý hiếm, đặc biệt là có loài Dugon (Bò biển) và rùa biển. Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Hiện nay đa dạng sinh học ở KBTB Phú Quốc đã và đang bị suy thoái bởi tác động của hoạt động phát triển kinh tế xã hội (KT-XH), trong đó có tác động sinh kế truyền thống của cộng đồng. Tác động của chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư, dư thừa thuốc trừ sâu và phân hoá học từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thức ăn dư thả từ bè nuôi trồng thuỷ sản và đặc biệt là hoạt động đánh bắt thuỷ sản, khai thác rạn san hô, cỏ biển của dân cư sống ở vùng đệm KBTB đã đe doạ trực tiếp đến đa dạng sinh học cũng như môi trường sống (sinh cảnh) của nhiều loài sinh vật quý hiếm, thậm chí là Bò biển (Dugon), rùa biển, … ở KBTB.
Một nguyên nhân quan trọng của tình trạng trên được xác định là do cuộc sống của người dân ở vùng đệm KBTB Phú Quốc cho đến nay chủ yếu vẫn dựa vào sinh kế truyền thống là nông nghiệp và đánh bắt thuỷ sản cho dù du lịch ở Phú Quốc nói chung và tại KBTB Phú Quốc nói riêng tương đối phát triển. Nói một cách khác cho đến nay ở KBTB Phú Quốc vẫn chưa có được mô hình phát triển sinh kế mới, đặc biệt là sinh kế dựa vào du lịch cho cộng đồng, để cộng đồng có thể có được cơ hội chuyển đổi sinh kế và nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và qua đó giảm sức ép đến môi trường và đa dạng sinh học. Chính vì vậy cần thiết phải nghiên cứu và phát triển mô hình du lịch mà ở đó người dân có thể tham gia, chuyển đổi sinh kế và hưởng lợi từ du lịch.
Hiện nay đã có rất nhiều nghiên cứu ở cả trong nước và trên thế giới đã chứng minh được rằng cộng đồng địa phương đóng góp một phần không nhỏ vào phát triển các dịch vụ cung cấp cho khách du lịch, góp phần bảo vệ tài nguyên môi trường và là chủ thể để phát triển du lịch. Tuy vậy, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể về mô hình DLCĐ tại KBTB Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Vì vậy để giải quyết các vấn đề nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở Khu Bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang” cho hướng nghiên cứu của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Phát triển du lịch cộng đồng ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- –Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về du lịch cộng đồng.
- –Đánh giá thực trạng của du lịch cộng đồng ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc.
- –Đề xuất các giải pháp để phát triển du lịch cộng đồng.
3. Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Từ nghiên cứu thực trạng để đưa ra các giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
3.2.Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
- Về không gian: Khu bảo tồn biển Phú Quốc thuộc huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Về thời gian: sử dụng nguồn dữ liệu nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2015. Số liệu sơ cấp được thực hiện từ tháng 02/2017 đến tháng 07/2017.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp
Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát và thu thập tài liệu: Đây là phương pháp truyền thống nhằm thu thập các số liệu thứ cấp đáng tin cậy nhằm đánh giá các nguồn lực để phát triển du lịch nói chung và phát triển mô hình DLCĐ nói riêng tại địa bàn nghiên cứu. Nguồn thông tin được thu thập từ các đề tài nghiên cứu, báo cáo khoa học của các sở, ban, ngành, địa phương, sách báo và các phương tiện truyền thông.
- Số liệu sơ cấp:
Dựa trên kết quả của nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng sẽ được thực hiện bằng cách tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu thông qua điều tra, khảo sát bằng bảng câu hỏi kèm theo thang đo. Sau khi bảng câu hỏi khảo sát được tiến hành qua các bước:
- Thực hiện việc điều tra khảo sát.
- Nhận kết quả điều tra khảo sát.
- Xử lý số liệu khảo sát trên phần mềm Excel để tính toán tần suất làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng trong chương 2 và đề ra giải pháp ở chương 3.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra khảo sát và thu thập tài liệu:
Đây là phương pháp truyền thống nhằm thu thập các số liệu thứ cấp đáng tin cậy nhằm đánh giá các nguồn lực để phát triển du lịch nói chung và phát triển DLCĐ nói riêng tại địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp và đánh giá: Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Được sử dụng để thống kê, so sánh, đánh giá các số liệu thực trạng phát triển du lịch thông qua các chỉ tiêu thống kê ngành. Thông qua việc phân tích, so sánh, tổng hợp, mô hình hoá và cân đối: các dữ liệu thu thập từ các phương pháp trên sẽ được xử lý, sắp xếp một cách hợp lý, hệ thống nhằm đảm bảo tính chính xác, logic, xúc tích khoa học, giáo dục và thực tiễn nhằm xây dựng mô hình lý thuyết.
- Phương pháp chuyên gia:
Để thực hiện đề tài luận văn, tác giả có tham vấn ý kiến của nhiều chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng.
- Phương pháp thực địa:
Nhằm mục đích kiểm tra chỉnh lý và bổ sung tư liệu; đối chiếu và lên danh mục cụ thể các đối tượng nghiên cứu; sơ bộ đánh giá các thực trạng trong chương 2.
Tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học dựa vào các bảng câu hỏi đóng/ mở nhằm khảo sát ý kiến của cộng đồng cư dân, du khách, công ty lữ hành về các vấn đề cho phát triển DLCĐ tại địa bàn nghiên cứu. Sau đó xử lý các số liệu sơ cấp thu thập và thông qua các phần mềm Excel làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng trong chương 2 và đề ra giải pháp ở chương 3.
5. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Việc xây dựng mô hình, các kiến nghị và tìm ra giải pháp phát triển DLCĐ nhằm giảm áp lực cho môi trường tự nhiên do chính cộng đồng tạo nên, tạo thêm sinh kế, cơ hội việc làm cho cộng đồng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong nghiên cứu khoa học, góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Đề tài góp phần củng cố những lý luận về DLCĐ cho việc phát triển DLCĐ các vùng ven biển, các KBTB.
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Kết quả nghiên cứu góp phần giúp KBTB Phú Quốc có cái nhìn nhận tổng quan về công tác phát triển du lịch cộng đồng.
Khảo sát về nhu cầu cho phát triển DLCĐ và khảo sát đánh giá nguồn lực thực tiễn phát triển DLCĐ tại KBTB Phú Quốc, các KBTB khác có thể tham khảo kết quả nghiên cứu của đề tài trong quá trình nghiên cứu nâng cao về mô hình du lịch cộng đồng tại địa phương mình.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm ba chương như sau:
- Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển du lịch cộng đồng.
- Chương 2. Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại khu bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Chương 3. Định hướng và giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở khu bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
1.1. Các vấn đề cơ bản về du lịch cộng đồng
1.1.1. Khái niệm
Khái niệm “Du lịch cộng đồng” xuất hiện vào những năm đầu thế kỷ 20, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất cho khái niệm này.
Do có những quan điểm nghiên cứu, góc nhìn khác nhau về vị trí của du lịch cộng đồng mà cho đến nay còn tồn tại khá nhiều ý kiến, khái niệm về vấn đề này, những khái niệm này được sử dụng khá linh hoạt và được thay đổi tuỳ thuộc vào tác giả, địa điểm và các dự án cụ thể, song các vấn đề về bền vững và cộng đồng địa phương (điển hình ở khu vực nông thôn, những người nghèo và ở vùng sâu vùng xa) là những nội dung chính được đề cập, xem xét.
Theo Nicole Hausle và Wolffang Strasdas (2000): “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”.
Ở Thái Lan khái niệm Community Based Tourism – Du lịch dựa vào cộng đồng được định nghĩa: “DLCĐ là du lịch có tính đến tính bền vững về mặt môi trường, văn hóa và xã hội. Nó do chính cộng đồng quản lý và làm chủ vì lợi ích của cộng đồng vì mục đích tạo cho du khách có khả năng nhận thức và tìm hiểu về cộng đồng và lối sống của cộng đồng” (REST, 1997).
Còn Tổ chức mạng lưới du lịch cộng đồng vì người nghèo đã nêu: “DLCĐ là một loại hình du lịch bền vững thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng. Các sáng kiến của DLCĐ nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng. Các sáng kiến của DLCĐ còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên”. (Dauglas Hainsworth, Walter Jamieson, 2007) Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Tại Việt Nam, cũng có nhiều nhà nghiên cứu đề cập về DLCĐ. Tác giả Võ Quế (2006) đã nhìn nhận: “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên”. Bên cạnh nội dung xem xét phát triển DLCĐ là phương thức góp phần đẩy mạnh tính hiệu quả trong công tác bảo tồn, tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012) còn đề cập đến việc tham gia của cộng đồng địa phương như sau: “DLCĐ có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch. Cộng đồng nhận được sự hợp tác, h trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách”.
Ngoài ra còn nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau, tuy nhiên có thể thống nhất và hiểu du lịch cộng đồng là loại hình du lịch bền vững dựa vào cộng đồng địa phương. Du lịch cộng đồng là một cách tiếp cận nhằm tạo ra lợi nhuận cao nhất cho người dân địa phương, những người sử dụng du lịch như một công cụ tạo nguồn lợi kinh tế. Du khách phải trả tiền khi họ đến tham quan khu vực và khoản tiền này được sử dụng để bảo vệ các di sản văn hoá và thiên nhiên và giúp phát triển KT-XH của địa phương đó.
Căn cứ vào những nội hàm về du lịch cộng đồng kể trên, Phạm Trung Lương (2010) đã đưa ra khái niệm tổng quát:
“Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mang lại cho du khách những trải nghiệm về bản sắc cộng đồng địa phương, trong đó cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, được hưởng lợi ích KT-XH từ hoạt động du lịch và có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường, bản sắc văn hóa của cộng đồng”.
Mức độ tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch khác nhau tùy thuộc vào vai trò của cộng đồng:
Mức độ thụ động: Đây là mức độ thấp nhất đối với sự tham gia của cộng đồng, theo đó cộng đồng chỉ được xem là đối tượng du lịch (tài nguyên) và hầu như không có vai trò gì đối với hoạt động phát triển du lịch. Trong trường hợp này các công ty du lịch sẽ đưa điểm quần cư cộng đồng với những yếu tố chính là con người, lối sống cộng đồng, văn hóa, tín ngưỡng, kiến trúc quần cư, …) vào chương trình du lịch và coi đó là một điểm đến để đưa khách đến tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm về con người, văn hóa, lối sống của cộng đồng. Cộng đồng không có vai trò gì (tham gia thụ động) đối với kế hoạch phát triển du lịch và hầu như không được hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch. Hoạt động du lịch trong trường hợp cộng đồng tham gia một cách thụ động thường được gọi là “Du lịch tham quan cộng đồng” Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Mức độ tham gia: theo đó cộng đồng tham gia cung cấp một số dịch vụ (bán hàng lưu niệm, dịch vụ ăn uống, …) tại điểm du lịch nơi cộng đồng sinh sống và qua đó được hưởng một số lợi ích về vật chất. Trong trường hợp này, ngoài vai trò là “tài nguyên” như trên, cộng đồng đã có vai trò nhất định trong hoạt động du lịch và được hưởng một phần lợi ích trong chu i giá trị du lịch. Hoạt động du lịch trong trường hợp này thường được gọi là “Du lịch có sự tham gia của cộng đồng”
Mức độ chủ động: Đây là mức độ cao nhất đối với sự tham gia của cộng đồng, theo đó cộng đồng là chủ thể tổ chức và cung cấp dịch vụ và qua đó sẽ đêm đến cho du khách những trải nghiệm tốt về cộng đồng, về những giá trị tự nhiên và văn hóa nơi cộng đồng sinh sống. Trong trường hợp này các công ty du lịch sẽ chỉ đóng vai trò là đối tác của cộng đồng. Cộng đồng vừa có vai trò là “tài nguyên” vừa đóng vai trò là người tổ chức khai thác chính các giá trị “tài nguyên” đó. Trong trường hợp này hoạt động du lịch thường được gọi là “Du lịch dựa vào cộng đồng” hay “Du lịch cộng đồng”. Du lịch cộng đồng chính là hình thức nơi đảm bảo mức độ tham gia cao nhất của cộng đồng vào hoạt động du lịch. Tên gọi “Du lịch dựa vào cộng đồng” thường được sử dụng trong trường hợp muốn nhấn mạnh đến hình thái tổ chức hoạt động du lịch, theo đó cộng đồng là chủ thể tổ chức và cung cấp dịch vụ du lịch; còn tên gọi “Du lịch cộng đồng” thường được sử dụng trong trường hợp chủ thể tổ chức và đối tượng du lịch trung tâm (tài nguyên chính tại điểm đến) là cộng đồng.
Như vậy các nhà nghiên cứu dự án cần đảm bảo rằng, cộng đồng địa phương có thể phát huy được vai trò của mình vào công tác quản lý du lịch, đưa du lịch trở thành giải pháp đáp ứng nhu cầu phát triển địa phương. Từ đó, có thể tiếp tục tạo ra những sản phẩm, dịch vụ du lịch tiêu biểu thông qua đặc điểm nổi bật của cộng đồng.
1.1.2. Vai trò của du lịch cộng đồng
Theo Phạm Trung Lương (2010) với bản chất của du lịch cộng đồng, việc phát triển du lịch cộng đồng sẽ có những tác động tích cực bao gồm:
Góp phần tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương, đặc biệt ở vùng nông thôn nơi tỷ lệ đói nghèo còn cao. Đây sẽ là yếu tố tích cực góp phần làm giảm tác động của cộng đồng đến các giá trị cảnh quan, tự nhiên và qua đó sẽ góp phần bảo tồn tài nguyên, môi trường đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững;
Góp phần để cộng đồng, đặc biệt là những người dân chưa có điều kiện trực tiếp tham gia vào các dịch vụ du lịch, được hưởng lợi từ việc phát triển hạ tầng du lịch (giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, …). Đây cũng sẽ là yếu tố tích cực để đảm bảo sự công bằng trong phát triển du lịch, một trong những nội dung quan trọng của phát triển du lịch bền vững;
Góp phần tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng và qua đó sẽ góp phần làm thay đổi cơ cấu, nâng cao trình độ lao động khu vực này. Đây sẽ là yếu tố quan trọng góp phần hạn chế được dòng di cư của cộng đồng từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị, ổn định xã hội đảm bảo cho phát triển bền vững chung; Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Phát triển du lịch cộng đồng sẽ góp phần tích cực trọng việc phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nghề truyền thống, vì vậy có đóng góp cho phát triển du lịch bền vững từ góc độ tài nguyên, môi trường du lịch;
Phát triển du lịch cộng đồng sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh giao lưu văn hóa và kế đến là giao lưu kinh tế giữa các vùng miền, giữa Việt Nam với các dân tộc trên thế giới. Đây cũng sẽ là yếu tố quan trọng trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam đồng thời tạo cơ hội để phát triển kinh tế ở những vùng còn khó khăn, đảm bảo sự phát triển bền vững nói chung, du lịch nói riêng.
Với những tác động tích cực trên, việc đẩy mạnh phát triển du lịch nói chung, du lịch cộng đồng nói riêng sẽ có vai trò rất quan trọng trong phát triển bền vững ở Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ người dân sống ở vùng nông thôn ở Việt
Nam còn cao, chiếm tới hơn 70% dân số cả nước, và tỷ lệ hộ đói nghèo cũng còn khá cao.
1.1.3 . Các thành phần tham gia vào mô hình du lịch cộng đồng
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, vì vậy các thành phần tham gia hoạt động phát triển du lịch, trong đó bao gồm cả du lịch cộng đồng, là khá đa dạng. Để có thể xác định được đầy đủ và có tính hệ thống về các đối tác tham gia hoạt động du lịch cần được xem xét từ mối quan hệ cung – cầu, mối quan hệ nền tảng của ngành kinh tế trong cơ chế thị trường. Theo Phạm Trung Lương (2010) các thành phần tham gia vào mô hình du lịch cộng đồng, bao gồm:
1.1.3.1. Các thành phần tham gia hoạt động du lịch từ góc độ “cung” du lịch:
Các thành phần này là những chủ thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình khai thác tài nguyên, xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch để đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách cũng như xây dựng “môi trường” để thực hiện quá trình này (ví dụ: xây dựng chính sách, h trợ tư vấn, …). Các thành phần chủ yếu ở đây bao gồm:
- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch: bao gồm các nhà quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương và địa phương.
- Các cơ quan/tổ chức tư vấn phát triển du lịch: bao gồm các tổ chức (viện, trường, …) nghiên cứu, tư vấn các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch (tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, thị trường – sản phẩm du lịch, đầu tư du lịch, …), quy hoạch phát triển du lịch, …; Các tổ chức này có thể là tổ chức nhà nước, tư nhân hoặc phi chính phủ;
- Các doanh nghiệp du lịch: có thể là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp cổ phần/liên doanh trong các lĩnh vực dịch vụ du lịch như lưu trú, lữ hành, vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ có liên quan khác. Trong xu thế hội nhập hiện nay, doanh nghiệp du lịch có thể là doanh nghiệp liên doanh/cổ phần với đối tác nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài theo những điều khoản mà Việt Nam cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO);
- Các chủ sở hữu/chủ quản lý tài nguyên du lịch: là các tổ chức, cá nhân có quyền quản lý hoặc sở hữu các tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn (vật thể và phi vật thể). Trong thực tế có những dạng tài nguyên rất có giá trị, hấp dẫn khách du lịch như các sinh hoạt (văn hóa hoặc đời sống) truyền thống, các lễ hội truyền thống, … do cộng đồng tự quản lý (theo nghĩa duy trì và phát triển).
1.1.3.2. Các thành phần tham gia hoạt động du lịch từ góc độ “cầu” du lịch
Khách du lịch là thành phần tham gia hoạt động du lịch với tư cách là những người “tiêu thụ” sản phẩm du lịch tại những nơi những sản phẩm này được xây dựng và “bán”. Điều 34, Luật Du lịch đã xác định rõ khách du lịch bao gồm:
Khách du lịch quốc tế: là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. (Quốc hội, 2005) Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Đây là thành phần tham gia có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động du lịch bởi nếu thiếu thành phần này, hoạt động du lịch sẽ không tồn tại.
Ngoài những đối tác thuộc 2 nhóm đối tác chính tham gia hoạt động du lịch, một số đối tác có liên quan:
- Các cơ quan quản lý nhà nước ở các lĩnh vực có liên quan đến phát triển du lịch như giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường, văn hóa, …
- Các tổ chức quốc tế như Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Chương trình Phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP), …
- Các tổ chức phi chính phủ (NGO): thường là các tổ chức h trợ cho các nước đang phát triển các dịch vụ tư vấn về kinh nghiệm, phát triển các mô hình về phát triển du lịch bền vững. Những tổ chức hiện đang có những đóng góp tích cực cho phát triển du lịch ở Việt Nam bao gồm: Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), Tổ chức bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Qu Bảo tồn Động vật Hoang dã (WWF), …
1.3.3.3 Vai trò của các thành phần tham gia hoạt động phát triển du lịch cộng đồng
Tùy thuộc vào vị trí của mình trong hoạt động phát triển du lịch, m i đối tác tham gia hoạt động phát triển du lịch cộng đồng đều có vai trò nhất định. Vai trò này cũng có thể sẽ có những thay đổi phụ thuộc vào hoàn cảnh phát triển chung của du lịch Việt Nam cũng như hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương.
Vai trò cụ thể của từng thành phần bao gồm:
- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch
Vai trò chủ yếu của thành phần này đối với phát triển du lịch cộng đồng là hoạch định chính sách, tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho du lịch cộng đồng phát triển. Các chính sách này có thể là các chính sách ở tầm vĩ mô mang tính quốc gia, song cũng có thể là các chính sách đặc thù mang tính địa phương, phù hợp với chủ trương, định hướng chung của Đảng và Nhà Nước về phát triển KT-XH và du lịch của đất nước. Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Vai trò này là rất quan trọng bởi nó tạo nền tảng cho du lịch cộng đồng phát triển, đặc biệt trong bối cảnh phần lớn những nơi cộng đồng sinh sống hiện đang còn nhiều khó khăn, hạn chế trong phát triển; khả năng thu hút đầu tư cho phát triển du lịch cộng đồng còn nhiều hạn chế.
Bên cạnh vai trò xây dựng chính sách, môi trường pháp lý cho phát triển du lịch cộng đồng, thành phần này cũng sẽ thực hiện chức năng giám sát, quản lý đối với các hoạt động phát triển của du lịch cộng đồng, đảm bảo những hoạt động này phù hợp với những quy định hiện hành của nhà nước không chỉ trong lĩnh vực du lịch mà còn trong những lĩnh vực có liên quan khác mà hoạt động phát triển du lịch cộng đồng có khả năng gây ra những tác động như tài nguyên, môi trường, văn hóa, xã hội, …
Vai trò của đối tác này còn được thể hiện ở trách nhiệm tạo dựng hình ảnh của du lịch cộng đồng ở Việt Nam trên thị trường quốc tế. Nói một cách khác cơ quan quản lý nhà nước về du lịch có vai trò rất quan trọng trong hoạt động xúc tiến điểm đến của du lịch Việt Nam, trong đó có du lịch cộng đồng, để thu hút khách du lịch quốc tế.
Tổng cục Du lịch trước đây và nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch là cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở cấp trung ương; sở quản lý nhà nước về du lịch ở các địa phương chính là những thành phần này.
- Các cơ quan/tổ chức tư vấn phát triển du lịch
Là thành phần có vai trò quan trọng đối với hoạt động phát triển du lịch cộng đồng bởi những đối tác này giúp cụ thể hóa các chính sách, định hướng phát triển thông qua việc xây dựng các đề án/dự án quy hoạch, phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng và tiếp cận với thị trường.
Các cơ quan/tổ chức này luôn cập nhật những thông tin, quan điểm phát triển để chuyển thành những phương án cụ thể trong phát triển du lịch cộng đồng đối với từng lãnh thổ địa lý, phù hợp với định hướng phát triển KT-XH của từng vùng
miền, từng địa phương cụ thể.
Trong nhiều trường hợp, những thành phần này sẽ giúp các nhà đầu tư phân tích lựa chọn các phương án phát triển mô hình hợp lý nhất để khai thác có hiệu quả những giá trị tài nguyên du lịch trên địa bàn nơi du lịch cộng đồng phát triển phục vụ cho nhiều mục tiêu phát triển.
Các cơ quan/tổ chức tư vấn còn thực hiện các nghiên cứu đánh giá các giá trị tài nguyên, thực trạng môi trường và tác động môi trường cho từng phương án phát triển du lịch cộng đồng trên những địa bàn cụ thể, góp phần đảm bảo phát triển du lịch cộng đồng bền vững. Đây là những vấn đề mà các đối tác tham gia khác ít có năng lực để thực hiện.
- Các doanh nghiệp du lịch Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Là thành phần quan trọng trong hoạt động đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng, cung cấp các dịch vụ du lịch cộng đồng có liên quan nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách.
Tất nhiên việc xây dựng, phát triển các sản phẩm và các dịch vụ có liên quan sẽ được dựa trên kết quả hoạt động của các thành phần đã phân tích trên. Tuy nhiên các doanh nghiệp du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển du lịch nói chung và phát triển du lịch cộng đồng nói riêng bởi đối tác này trực tiếp tham gia vào quá trình “cung” các sản phẩm du lịch cộng đồng cụ thể.
Các doanh nghiệp lữ hành, ngoài chức năng cung cấp các dịch vụ lữ hành còn có chức năng quan trọng là quảng bá các sản phẩm du lịch cộng đồng tới khách hàng (khách du lịch) thông quan văn phòng đại diện, các đại lý lữ hành của mình. Đây là vai trò quan trọng có tính “kết nối” giữa “cung” và “cầu” tạo ra một công đoạn liên tục trong hoạt động phát triển du lịch cộng đồng.
- Các chủ sở hữu/chủ quản lý tài nguyên du lịch
Về bản chất đây chính là cộng đồng nơi phát triển loại hình du lịch cộng đồng. Đây thực sự là các “đối tác” của các doanh nghiệp du lịch bởi việc xây dựng, phát triển các sản phẩm chỉ có thể thực hiện trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch.
Hiện nay còn tồn tại những mâu thuẫn/xung đột trong hoạt động phát triển du lịch nói chung, phát triển du lịch cộng đồng nói riêng từ góc độ khai thác và bảo tồn các giá trị tài nguyên du lịch. Những xung đột này hiện còn tồn tại ở cả tầm vĩ mô và vi mô và ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển du lịch. Chính vì vậy vai trò của những chủ thể này là rất quan trọng và cần được quan tâm thỏa đáng trong quá trình hoạt động phát triển du lịch cộng đồng ở bất cứ quy mô nào.
- Khách du lịch
Được xem là một trong hai “vế” của hoạt động phát triển du lịch cộng đồng. Vai trò chính của khách du lịch là “tiêu thụ” các sản phẩm du lịch được tạo ra phù hợp với nhu cầu của bản thân mình.
Với vai trò này, có thể khẳng định du lịch nói chung, du lịch cộng đồng nói riêng không thể tồn tại nếu sự “tham gia” của đối tác này.
Tuy nhiên một vấn đề quan trọng cần được đề cập bên cạnh vai trò trên là vai trò “phản biện” đối với các sản phẩm và các dịch vụ bổ sung có liên quan được tạo ra trong quá trình hoạt động phát triển du lịch cộng đồng. Nếu thiếu sự phản biện của đối tác này, các sản phẩm du lịch và các dich vụ có liên quan khác không thể hoàn thiện và tiệm cận với nhu cầu của thị trường và vì vậy sẽ không thể phát triển được như mong muốn. Nói một cách khác khách du lịch có vai trò quan trọng trọng việc góp phần đảm bảo sự phát triển du lịch cộng đồng bền vững thông qua vai trò “phản biện” của mình.
- Các cơ quan quản lý nhà nước ở các lĩnh vực có liên quan đến phát triển du lịch:
Hoạt động du lịch sẽ không thể phát triển nếu thiếu sự tham gia của các đối tác có liên quan như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, … Vai trò của các đối tác này lại càng trở nên quan trọng đối với hoạt động phát triển du lịch cộng đồng bởi thông thường laọi hình này phát triển trên những địa bàn còn nhiều hạn chế, khó khăn trong phát triển.
- Các tổ chức quốc tế Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Hoạt động du lịch không thể thiếu sự hợp tác, h trợ và chia sẻ kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO). Điều này là thực tế bởi hoạt động phát triển du lịch không thể “bó” trong một quốc gia, một vùng mà hoạt động này luôn có tính liên vùng, liên quốc gia. Điều này sẽ còn có ý nghĩa hơn khi du lịch Việt Nam đang hội nhập đầy đủ hơn với khu vực và quốc tế, khi hoạt động du lịch Việt Nam sẽ phải tuân thủ đầy đủ hơn những quy định mang tính quốc tế để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong hoạt động du lịch.
Hiện nhiều dự án quốc tế trong lĩnh vực du lịch do các tổ chức quốc tế như Công đồng Châu Âu (EU), Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), tài trợ trong lĩnh vực đào tạo phát triển nguồn nhân lực, gắn du lịch với xóa đói giảm nghèo, … đã và đang phát huy có hiệu quả, góp phần tích cực vào phát triển du lịch nói chung, du lịch cộng đồng nói riêng ở Việt Nam. Vai trò của các đối tác này không chỉ ở sự giúp đỡ về vật chất mà còn ở sự giúp đỡ trao đổi kinh nghiệm, xây dựng chính sách, … cho phát triển du lịch ở Việt Nam.
- Các tổ chức phi chính phủ
Cũng có vai trò rất quan trọng đối với phát triển du lịch Việt Nam. Khác với vai trò mang tính vĩ mô của các tổ chức quốc tế đã đề cập, các tổ chức phi chính phủ thường giúp du lịch Việt Nam trong phát triển các mô hình cụ thể, thực hiện những vấn đề cụ thể mang tính vi mô. Đặc biệt, các tổ chức này rất quan tâm h trợ phát triển du lịch ở những vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn với những dự án về đào tạo, nâng cao nhận thức k năng của cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, bảo vệ môi trường du lịch, …
Kết quả thực tế của các dự án như phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại Vường Quốc Gia Xuân Thủy (Nam Định) do Tổ chức Bảo tồn sinh vật Biển và Phát triển Cộng Đồng tài trợ; dự án phát triển du lịch sinh thái ở khu bảo tồn biển Hòn Mun (Khánh Hòa) do Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế tài trợ; dự án phát triển du lịch cộng đồng ở A Lưới (Thừa Thiên – Huế) do Tổ chức Phát triển Hà Lan tài trợ; … đã minh chứng cho vai trò của các đối tác này với phát triển du lịch nói chung, phát triển du lịch cộng đồng nói riêng ở Việt Nam.
1.1.4. Nguyên tắc chủ yếu của du lịch cộng đồng Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Theo Phạm Trung Lương (2010) cho rằng một số nguyên tắc chủ yếu đối với phát triển du lịch cộng đồng được xác định dựa trên bản chất của du lịch cộng đồng bao gồm:
Công bằng về mặt xã hội: các thành viên của cộng đồng sẽ tham gia vào việc lên kế hoạch, triển khai, kiểm soát các hoạt động du lịch tại cộng đồng, ở đây cần nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt dộng du lịch. Từ đó lợi ích kinh tế sẽ được chia sẻ công bằng và rộng khắp, không chỉ riêng cho các công ty du lịch mà còn dành cho các thành viên của cộng đồng.
Tôn trọng các giá trị văn hoá của cộng đồng: thực tế cho thấy chương trình du lịch nào cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cộng đồng địa phương. Điều quan trọng là các giá trị văn hoá của cộng đồng phải được bảo vệ và giữ gìn với sự đóng góp tích cực của tất cả các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch, đặc biệt là cư dân địa phương bởi không đối tượng nào có khả năng bảo vệ và duy trì các giá trị văn hoá tốt hơn chính họ. Cộng đồng địa phương phải nhận thức được vai trò và vị trí của mình cũng như những lợi, hại mà việc phát triển du lịch mang đến.
Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng: Theo nguyên tắc này cộng đồng cùng được hưởng lợi như các thành phần khác tham gia vào các hoạt động kinh doanh cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch. Nguồn thu từ hoạt động du lịch được phân chia công bằng cho mọi thành viên tham gia hoạt động, đồng thời lợi ích đó cũng được trích một phần thông qua “Qu cộng đồng” để sử dụng cho lợi ích chung của cộng đồng: tái đầu tư cho cộng đồng xây dựng đường sá, cầu cống, điện và chăm sóc sức khoẻ giáo dục …
Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hoá hướng tới sự phát triển bền vững.
1.1.5. Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch cộng đồng
Với tư cách là một loại hình du lịch, việc phát triển du lịch cộng đồng cũng cần một số điều kiện cơ bản bên cạnh một số điều kiện đặc thù liên quan đến cộng đồng. Theo PGS.TS. Phạm Trung Lương (2010) những điều kiện cụ thể để phát triển loại hình du lịch này bao gồm: Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Cần có nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn hấp dẫn có khả năng thu hút khách du lịch. Đây là điều kiện cơ bản vì tài nguyên du lịch chính là tiền đề hay cơ sở để tổ chức các hoạt động du lịch. Tuy nhiên mức độ thu hút khách của một điểm đến phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, chủng loại, tính độc đáo … của nguồn tài nguyên. Đồng thời khả năng duy trì và phát triển nguồn khách phụ thuộc vào vai trò của cộng đồng dân cư ở địa phương trong việc bảo tồn, tôn tạo những giá trị của tài nguyên tại điểm đến.
Cần có khả năng tiếp cận điểm đến du lịch cộng đồng. Cũng tương tự như đối với việc phát triển các loại hình du lịch khác, hoạt động phát triển du lịch không thể thực hiện được nếu không có hạ tầng tiếp cận điểm tài nguyên. Đây là đặc điểm rất đặc trưng của du lịch khi sản phẩm du lịch được xây dựng và tiêu thụ tại ch . Điều này khác với hoạt động sản xuất kinh doanh khác khi sản phẩm thương mại có thể được sản xuất ở một nơi rồi vận chuyển đến thị trường tiêu thụ ở nơi khác.
Cần có sự hiện diện của cộng đồng dân cư sinh sống tại điểm đến hoặc tại khu vực liền kề phát triển du lịch. Phong tục tập quán, lối sống, trình độ học vấn, quy mô cộng đồng, cơ cấu nghề nghiệp … là những yếu tố cần được xác định và đánh giá rõ ràng trước khi quyết định xây dựng điểm đến du lịch cộng đồng.
Cần có sự tự nguyện của cộng đồng đối với đề xuất phát triển du lịch cộng đồng. Đây là điều kiện đặc thù rất quan trọng để có thể phát triển du lịch cộng đồng bởi loại hình du lịch này chỉ có thể phát triển cùng với sự nhận thức sâu sắc của cộng đồng về trách nhiệm và quyền lợi của họ khi tham gia vào hoạt động du lịch.
Cần có nhu cầu đối với sản phẩm du lịch cộng đồng: Phát triển du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng phải phù hợp với quy luật “Cung – Cầu”. Thị truờng khách đủ lớn về số lượng và đảm bảo chất lượng (khả năng chi trả), ổn định cho vùng, từ đó đảm bảo khối lượng công ăn việc làm cho cộng đồng, thu nhập đều đặn cho họ.
Điểm đến du lịch cộng đồng cần được quy hoạch và đưa vào hệ thống tuyến điểm du lịch của lãnh thổ. Đây là điều kiện chung để phát triển bất kỳ một điểm đến du lịch nào, trong đó có điểm đến du lịch cộng đồng. Tuy nhiên trong trường hợp du lịch cộng đồng, điều kiện này trở nên quan trọng hơn bởi bản thân cộng đồng thường không có khả năng tự tổ chức quy hoạch và kết nối với hệ thống tuyến điểm du lịch của lãnh thổ.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch cộng đồng Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Theo tác giả Chu Đức Tùng (2016) tính hiệu quả của hệ thống cơ chế chính sách và các biện pháp khuyến khích hợp lý từ các cơ quan quản lý, các ngành liên quan để tạo ra một môi trường thuận lợi cho du lịch cộng đồng phát triển. Các cơ chế, chính sách này liên quan đến việc:
- Hỗ trợ hạ tầng du lịch tại các điểm du lịch cộng đồng;
- Tăng khả năng tiếp cận của cộng đồng đối với các nguồn vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi như một phần của chính sách xóa đói giảm nghèo;
- Quảng bá du lịch cộng đồng và xúc tiến hình ảnh điểm đến du lịch cộng đồng;
- H trợ đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho cộng đồng;
- Ưu đãi và giá thuê đất lập dự án, thuế kinh doanh dịch vụ du lịch cộng đồng, …;
- H trợ các doanh nghiệp lữ hành có hợp tác đưa khách đến các điểm du lịch cộng đồng;
- Tính hấp dẫn và hình ảnh điểm đến: Có nguồn tài nguyên tại điểm đến du lịch cộng đồng là điều kiện tiên quyết để phát triển du lịch cộng đồng, tuy nhiên điểm đến đó có thu hút được nhiều khách không hay nói cách khác mức độ phát triển của điểm đến du lịch cộng đồng sẽ phụ thuộc nhiều vào mức độ hấp dẫn và hình ảnh điểm đến;
- Năng lực của cộng đồng: bao gồm năng lực về tổ chức quản lý hoạt động du lịch; k năng cung cấp các dịch vụ du lịch cơ bản (dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ hướng dẫn), khả năng về tài chính để phát triển các sản phẩm du lịch tại điểm đến;
- Mức độ h trợ của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch đối với thực hiện quy hoạch điểm đến du lịch cộng đồng, đầu tư nâng cấp hạ tầng du lịch tại điểm đến, đào tạo k năng tổ chức quản lý và cung cấp dịch vụ, xúc tiến hình ảnh điểm đến;
- Mức độ hợp tác của các công ty du lịch, đặc biệt là các công ty lữ hành trong việc quảng bá sản phẩm du lịch cộng đồng và đảm bảo nguồn khách;
- Mức độ h trợ của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ về kinh nghiệm tổ chức du lịch cộng đồng cũng như tăng cường năng lực cho cộng đồng tổ chức quản lý và tham gia hoạt động du lịch.
1.3 Bài học kinh nghiệm trong phát triển du lịch cộng đồng một số nước Asian và tại Việt Nam Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
1.3.1. Các mô hình trong phát triển du lịch cộng đồng ở Indonesia và Malaysia
- Kinh nghiệm du lịch cộng đồng của Indonesia: xây dựng thành công vùng du lịch biển đảo Bali
Nét tương đồng: Trước đây, vùng biển đảo Bali còn rất hoang sơ và kém phát triển, tài nguyên du lịch chủ yếu là biển đảo và văn hóa truyền thống, nhưng với những chính sách đúng đắn của quốc gia và sự năng động của chính quyền địa phương, cùng sự phối hợp với các doanh nghiệp du lịch – dịch vụ, các tổ chức phi chính phủ gắn với phát triển cộng đồng sở tại đã làm thay đổi một vùng biển đảo hoang sơ thành khu du lịch biển nổi tiếng thế giới.
Indonesia được mệnh danh là đất nước “vạn đảo”, nơi có rừng nhiệt đới rộng lớn nhất Đông Nam Á và có nhiều thiên đường biển đảo đẹp, nổi tiếng trên thế giới. Chính phủ Indonesia đã định hướng cho việc phát triển du lịch bền vững bằng các chiến lược nhằm bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học, phát huy bản sắc văn hóa độc đáo, nhờ vậy các năm qua tuy gặp nhiều thiên tai, khủng bố nhưng tốc độ phát triển của ngành kinh tế du lịch vẫn được duy trì. Năm 2010 lượng khách du lịch quốc tế đạt khá cao khoảng 5,185 triệu lượt khách, thu nhập du lịch từ khách quốc tế đạt trung bình hàng năm từ 5,1 – 5,8 tỷ USD. (Đinh Kiệm, 2013)
- Mô hình du lịch vùng biển đảo Bali:
Năm 1990, dưới sự hỗ trợ của tổ chức UNDP, dự án quy hoạch tổng thể khu du lịch được chính phủ thông qua và tiến hành xây dựng.
Dự án được quy hoạch phát triển trên một vùng địa lý kinh tế cụ thể nhằm tạo ra sự phát triển cân bằng gồm 16 vùng hiện có, đồng thời bổ sung các vùng mới, vùng biển đảo, đất liền. Ở 16 vùng được chia làm ba loại chính: vùng biển phía Nam Bali, các vùng biển khác, vùng đất liền. Ba vùng có chính sách phát triển khác nhau dựa trên các đặc trưng cơ bản về thiên nhiên, cường độ phát triển, các loại hoạt động và đặc điểm nguồn khách.
Chính phủ Indonesia đã thực hiện quy hoạch phát triển bền vững toàn vùng Bali rồi mới quy hoạch bền vững chi tiết ở địa phương và đảm bảo sự thống nhất từ vùng đến địa phương.
- Kinh nghiệm quản lý trên tầm vi mô: Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Chính là sự hỗ trợ của chính quyền về mặt đất đai, cơ sở hạ tầng, chính sách xúc tiến quảng bá hướng dẫn lập quy hoạch … Các doanh nghiệp du lịch ở Indonesia đã phối hợp chặt chẽ với các ngành kinh doanh khác và các địa phương để khai thác các yếu tố văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, phối hợp hài hòa giữa các loại hình du lịch nhờ vậy nhiều vùng miền ở Indonesia luôn có những sản phẩm du lịch đặc thù và đa dạng.
Dưới sự hỗ trợ của các cơ quan chính phủ, các doanh nghiệp du lịch, các hợp tác xã, các tổ chức cộng đồng địa phương đã chủ động xây dựng nội dung quy hoạch phát triển cho các khu du lịch do mình quản lý dựa theo các tiêu chí thống nhất gồm:
i.Đánh giá sự giàu có và độc đáo của tài nguyên du lịch hiện có (Hệ sinh thái, thực, động vật đặc hữu và cảnh quan thiên nhiên, nền văn hóa truyền thống và các di sản,…)
ii.Nền văn hóa truyền thống bản địa (yếu tố đa văn hóa kết hợp) iii. Nhu cầu của khách du lịch, các sản phẩm chủ lực
- Cung cấp các lợi ích kinh tế xã hội nhằm cải thiện cuộc sống cho cộng đồng địa phương trong quá trình hoạt động
Các mối đe dọa đến hệ sinh thái, ô nhiễm khi khai thác tài nguyên vi. Đầu tư cơ sở hạ tầng, gắn kết với hệ thống giao thông đến các khu du lịch vii. Phạm vi đất đai được giao hoặc thuê.
Một kinh nghiệm quan trọng được rút ra là việc tận dụng tối đa các nguồn tài nguyên du lịch nhân văn với sự tham gia chủ động của cộng đồng nhằm tạo ra sản phẩm du lịch văn hóa đáp ứng cho du khách (trùng tu chùa chiềng, đền đài, nhà cửa, khôi phục lễ hội văn hóa truyền thống). Phát triển du lịch dựa vào yếu tố văn hóa đã giúp người dân trong cộng đồng tự hào về bản sắc văn hóa của mình hơn, ý thức được du lịch không chỉ để cải thiện kinh tế mà còn là công cụ để bảo tồn, được sử dụng để quảng bá triết lý phát triển bền vững (vùng Ubud-Bali). (Đinh Kiệm, 2013)
- Kinh nghiệm của Malaysia: phát triển loại hình Du lịch sinh thái văn hóa gắn kết với du lịch cộng đồng – Homestay
Nét tương đồng: Vùng Duyên hải Cực Nam Trung Bộ hiện có trên 1040 làng bản, trong đó có khoảng 400 làng nông nghiệp, ngư nghiệp ven biển có điều kiện có thể triển khai loại hình du lịch homestay, nhưng việc khai thác còn nhiều bất cập vì địa phương và các công ty du lịch chưa có kinh nghiệm triển khai. Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Malaysia là một quốc gia rất coi trọng đến phát triển du lịch, theo thống kê của UNWTO trong vùng Châu Á – Thái Bình dương, lượng khách quốc tế đến Malaysia chiếm hàng thứ hai chỉ sau cường quốc du lịch là Trung Quốc. Du khách khi đến Malaysia thường chọn các tour dạng du lịch sinh thái (DLST), và một trong các loại hình du lịch được ưa chuộng phải kể đến du lịch sinh thái văn hóa dựa vào cộng đồng – Homestay, đây là loại hình DLST văn hóa nông thôn dựa vào cộng đồng. Với loại hình này, du khách sẽ được sinh hoạt chung nhà với người dân bản địa như một thành viên trong gia đình và trải nghiệm cuộc sống hằng ngày để biết về văn hóa của người dân nơi đó. Bắt đầu được triển khai từ những năm 1980, đến nay loại hình du lịch homestay đã phát triển rộng rãi ở 13 bang trên toàn quốc với gần 3300 hộ dân từ 230 ngôi làng khắp cả nước. Hàng năm đón hơn 160.000 lượt du khách trong đó có 30.000 khách quốc tế đến chủ yếu từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Úc mang lại nguồn thu trên 16 triệu USD cho các hộ tham gia.
Kết quả thu được tại 5 bang có loại hình homestay phát triển nhất năm 2009:
Bảng 1.1: Tình hình hoạt động Homestay tại 5 Bang/ Tỉnh của Malaysia
Các bài học kinh nghiệm về triển khai homestay được nhìn nhận trên các góc độ gồm:
- Kinh nghiệm ở tầm vĩ mô:
Để thực hiện thành công các chương trình phát triển DLST Homestay, Bộ Du lịch Malaysia (MOTOUR-Ministry of tourism) đã chủ động yêu cầu có sự năng lực gắn kết chung giữa các cấp độ khác nhau của chính quyền các cấp, của khu vực tư nhân, và các cộng đồng địa phương. Một hiệp hội Homestay Malaysia chuyên trách được thành lập, trong đó bao gồm đại diện thành viên Chính phủ liên bang, chính quyền địa phương, đại diện khu vực tư nhân và tổ chức phi Chính phủ, Ủy ban này được MOTOUR mới tham vấn chính về kế hoạch chương trình Homestay quốc gia. Hiệp hội Homestay đã đề xuất về phía chính quyền các cấp có trách nhiệm đóng góp để thực hiện chương trình với các nhiệm vụ cụ thể như:
- +Đề xuất hướng dẫn, chính sách phát triển chương trình homestay cụ thể cho các bang, tỉnh.
- +Cấp phép cho các làng và các hộ thành viên tham gia chương trình
- +Cung cấp ngân qua ban đầu cho đầu tư hạ tầng, hỗ trợ nâng cấp nhà cửa cho các hộ tham gia (ví dụ: hỗ trợ mỗi hộ 5.000 RM để sửa sang hệ thống toilet, bếp…)
- +Quảng bá chương trình homestay ở trong và ngoài nước.
- +Liên hệ với các đơn vị chức trách có liên quan.
* Kinh nghiệm ở tầm vi mô:
Kinh nghiệm về chuẩn bị cho tổ chức Homestay: Địa phương cùng các doanh nghiệp đang hoạt động tại địa bàn, thành lập nhóm tư vấn trực thuộc Hiệp hội, tổ chức vận động, phát hiện giúp đỡ những hộ có điều kiện tham gia, lập thủ tục cấp phép, … Sự kết hợp này thật sự có kết quả đối với các vùng nông thôn nghèo ở Malaysia. Khi xét chọn, nhóm tư vấn địa phương dựa vào 5 điều kiện mà các hộ cần hội đủ như: đường sá vào nhà thuận tiện, đầy đủ tiện nghi cho du khách như phòng ngủ, toilet, gia đình không có tiền sử về tội phạm, không bị mắc các bệnh xã hội có thể lây lan cho cộng đồng, đạt tiêu chuẩn cao về vệ sinh môi trường. Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Việc chuẩn bị cho triển khai Homestay bao gồm:
Thứ nhất: Về phía chính quyền các bang và vùng: tổ chức huấn luyện trong vòng 7 ngày cho các hộ được cấp phép, theo các nội dung như hướng dẫn cách làm vệ sinh ngôi nhà mình sạch sẽ, an ninh hơn, cách tiếp đón du khách, trang trí lại cho thẫm m hơn.
Thứ hai: Về phía các doanh nghiệp du lịch, lữ hành, đại diện cộng đồng dân cư địa phương: huấn luyện kỹ năng về quản lý, phát triển về dịch vụ du lịch, tạo các sản phẩm du lịch đặc thù, hướng dẫn cách sử dụng các nguồn thu có hiệu quả …
Các tiêu chuẩn chính để phát triển loại hình du lịch Homestay có 3 tiêu chuẩn chính đó là: sản phẩm, thành phần tham gia và nguyên tắc tham gia.
Sản phẩm liên quan đến việc thu hút du khách như cảnh quan thiên nhiên, tập quán truyền thống, kiến trúc bản địa, di tích lịch sử, nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ, âm nhạc và hoạt động văn hóa, ẩm thực, hoạt động sản xuất nông nghiệp cổ truyền và các lễ hội đặc biệt được tổ chức hàng năm …
Thành phần tham gia, đây là yếu tố quyết định đến sự thành công của chương trình, các chủ hộ, thành viên khác chủ động tham gia chương trình với vai trò của người lãnh đạo như là một doanh nghiệp thực thụ và đảm nhận nhiều công việc cụ thể trong nhóm. Bên cạnh đó cần khuyến khích những người địa phương khác cùng tham gia đầu tư cho hoạt động du lịch, phát triển các dịch vụ …
Nguyên tắc tham gia: được Hiệp hội soạn thảo dựa trên sự thảo luận kỹ của những người tham gia, của doanh nghiệp du lịch, của chính quyền các cấp trên tinh thần xuyên suốt hệ thống, thống nhất cao, phải xuất phát từ tâm tư trách nhiệm của những người liên quan để bảo đảm phát triển bền vững. (Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới, 2008)
Như vậy, đối với các vùng ven biển đảo Việt Nam nói chung và huyện đảo Phú Quốc nói riêng thì các mô hình du lịch dựa vào cộng đồng như trên sẽ là những bài học có giá trị thực tiễn và đóng góp kinh nghiệm quý giá cho các nhà quản lý, hoạch định chiến lược phát triển du lịch tham khảo ứng dụng.
1.3.2. Một số mô hình trong phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Nhận thức được vai trò quan trọng của cộng đồng trong phát triển du lịch bền vững, nhiều mô hình phát triển du lịch với sự tham gia của cộng đồng đã được khuyến khích phát triển ở các địa phương, đặc biệt tại các trọng điểm du lịch, nơi hoạt động du lịch diễn ra sôi động với nhiều cơ hội cho cộng đồng.
Hình thức tham gia hoạt động du lịch phổ biến và chủ yếu nhất hiện nay của cộng đồng là cung cấp các dịch vụ ăn uống, bán hàng lưu niệm, các đặc sản địa phương cho khách du lịch. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy tại hầu hết các khu, điểm tham quan du lịch từ Sa Pa, Hạ Long, Đồ Sơn, Hương Sơn, Cửa Lò … đến Huế, Hội An, Nha Trang, Vũng Tàu, … Sự tham gia của cộng đồng ngày càng được mở rộng, thu hút được ngày một đông sự tham gia của cộng đồng, góp phần tăng cường sinh kế và cải thiện cuộc sống của người dân nơi diễn ra hoạt động du lịch.
Vận chuyển khách du lịch, đặc biệt bằng thuyền, ở nhiều điểm tham quan như Hạ Long, Tam Cốc – Bích Động, Hương Sơn, Bến Tre, … cũng là một trong những hình thức phổ biến và ngày càng phát triển hiện nay về sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch.
Loại hình du lịch lưu trú tại nhà dân (home-stay) đang là loại hình du lịch thu hút được sự quan tâm của du khách và bước đầu phát triển thành công ở một số địa phương như Sa Pa, Ba Bể, Vĩnh Long, …
Trong định hướng phát triển du lịch của mình, nhiều địa phương như Hải Phòng, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, … đã có quy hoạch phát triển loại hình du lịch cộng đồng đầy triển vọng này không chỉ với mục đích có thêm một sản phẩm du lịch mới mà còn tạo cơ hội để cộng đồng tham gia trực tiếp vào hoạt động phát triển du lịch.
Nhiều tổ chức phi chính phủ, điển hình là Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), đã phối hợp với Tổng cục Du lịch và nhiều địa phương xây dựng các mô hình phát triển du lịch cộng đồng gắn với việc bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hoá bản địa, đồng thời qua đó cũng góp phần vào nỗ lực xoá đói giảm nghèo. Ví dụ điển hình đối với những mô hình này có thể thấy ở Sa Pa (Lao Cai), Hòn Mun (Khánh Hòa), A Lưới (Thừa Thiên – Huế), …
Một số mô hình du lịch cộng đồng tiêu biểu tại Việt Nam Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
- Du lịch cộng đồng tại Bắc Kạn (Vườn quốc gia Ba Bể)
Vườn quốc gia (VQG) Ba Bể nằm trong địa phận huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, cách khoảng 150 km về phía tây bắc Hà Nội. Ba Bể là một trong huyện nghèo của tỉnh Bắc Kạn. Năm 1988, Ban Quản lý VQG Ba Bể đã thành lập Phòng Du lịch với nhiệm vụ phát triển một loạt các hoạt động du lịch như xây dựng các tuyến đi bộ leo núi, các homestay ở các bản làng người dân tộc ở các bản Pác Ngòi và Bó Lù. Năm 2002, khoảng 28.500 du khách trong đó có 8.500 khách du lịch nước ngoài đã lựa chọn nghỉ đêm tại một trong những bản này. Bản người Tày ở Pác Ngòi và bản người Dao ở Bó Lù cùng có 111 hộ gia đình, mười trong số này có dịch vụ nhà nghỉ tại gia; rất nhiều các hộ gia đình khác có kinh doanh đồ ăn và đồ uống, tổ chức các chuyến tham quan bằng thuyền trong khu vực hồ, hay các buổi trình diễn văn hoá và mô phỏng các hoạt động làm đồ mỹ nghệ. Khoảng hai mươi lăm người dân tộc thiểu số làm hướng dẫn viên cho Vườn. Trong mỗi làng có rất nhiều các nhóm hoạt động, ví dụ như: nhóm hướng dẫn, nhóm biểu diễn văn nghệ và nhóm bảo vệ khu vực với nhiệm vụ theo dõi, giám sát các hoạt động trong phạm vi làng. Đội trưởng của mỗi nhóm này sẽ phải làm việc với những người có trách nhiệm trong Phòng Du lịch của Vườn để trao đổi ý kiến.
Sáng kiến du lịch dựa vào cộng đồng tại khu vực VQG Ba Bể hỗ trợ rất nhiều cho công tác bảo tồn thiên nhiên và các bản sắc văn hóa. Bản thân các thành viên trong cộng đồng được hưởng lợi ích kinh tế lớn từ hoạt động du lịch, họ đã có ý thức chịu trách nhiệm về các chương trình vệ sinh môi trường cảnh quan, gìn giữ bản làng rất sạch sẽ và du lịch cộng đồng đã thực sự trở thành loại hình du lịch giữ vai trò chủ chốt và mang lại lợi ích cho cộng đồng.
- Du lịch cộng đồng tại Lào Cai
Những năm gần đây huyện Bắc Hà (Lào Cai) đã chú trọng phát triển “du lịch cộng đồng”, gắn liền khai thác với tôn tạo, bảo tồn vẻ đẹp thiên nhiên cùng các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của các dân tộc Mông, Dao, Tày … Cũng từ hoạt động này, đời sống người dân từng bước nâng cao, góp phần thiết thực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở địa phương.
Bắc Hà là huyện vùng cao nằm ở hướng đông bắc của tỉnh Lào Cai, có hơn 52 nghìn dân, thuộc 14 dân tộc, trong đó người Mông, Dao, Phù Lá, La Chí… chiếm hơn 80% số dân, cư trú ở 236 thôn, bản của 21 xã, thị trấn. Mỗi dân tộc, bản, làng nơi đây đều có những nét văn hóa riêng. Chính bởi phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng và bản sắc văn hóa độc đáo, tinh tế đã tạo điều kiện để vùng đất này phát triển du lịch. Thực hiện Chương trình phát triển dịch vụ-du lịch giai đoạn 20062010, huyện Bắc Hà hướng trọng tâm hoạt động vào “du lịch cộng đồng”. Trong giai đoạn này, Bắc Hà huy động hơn 100 tỷ đồng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển dịch vụ-du lịch khu vực trung tâm huyện và các điểm du lịch vệ tinh là các làng, bản; xây dựng làng, bản văn hóa gắn với phát triển du lịch cộng đồng và tổ chức các chương trình lễ hội văn hóa du lịch hằng năm. Huyện cũng đầu tư phát triển và xây dựng thương hiệu cho các làng nghề truyền thống ở xã Bản Phố và Tả Van Chư, như nấu rượu ngô đặc sản, rèn đúc nông cụ, dệt thổ cẩm dân tộc Mông; đầu tư hơn 10 tỷ đồng để mở và nâng cấp, đưa vào sử dụng hai tuyến đường du lịch: Bắc Hà-Na Hối-Bản Phố và Bắc Hà-Tả Chải-Bản Phố tới xã Bản Phố, xây dựng tuyến đường du lịch Tả Van Chư-Hang Rồng Nhù – Cồ Ván trị giá hơn năm tỷ đồng; hơn 800 triệu đồng xây dựng Làng văn hóa-du lịch đồng bào Mông xã Tả Van Chư. Thôn Trung Đô, xã Bảo Nhai, một thôn có 82 hộ dân tộc Tày, 427 nhân khẩu hiện đang lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống giàu bản sắc, điển hình là lễ hội Lồng tồng, nơi đây còn có Đền thờ quốc công Vũ Văn Mật – di tích lịch sử, văn hóa quốc gia, tới nay, thôn Trung Đô đã có 35 hộ gia đình người Tày làm du lịch cộng đồng rất hiệu quả.
Các hộ gia đình làm nhà sàn phục vụ du khách nghỉ ngơi tại nhà, làm dịch vụ ẩm thực tại chợ văn hóa, thành lập các đội văn nghệ biểu diễn phục vụ khách du lịch. Điển hình là nghệ nhân Vàng Seo Pao (thôn Na Kim) đã truyền dạy cho thanh niên nam nữ những điệu múa, điệu trống, kèn, hát giao duyên, thành lập đội xòe chuyên biểu diễn phục vụ các hoạt động văn hóa, văn nghệ của địa phương và phục vụ khách du lịch vào các ngày thứ bảy, chủ nhật hằng tuần, đem lại thu nhập ổn định.
Sa Pa (Lào Cai) cũng là một trong những địa phương phát triển mạnh du lịch cộng đồng với các điểm du lịch bản làng được du khách tham quan nhiều như bản Cát Cát, Sín Chải, Lao Chải, Tả Van … Sự phát triển của du lịch cộng đồng ở Sa Pa đã góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc các làng bản. Điển hình như bản Sín Chải, năm 2000 có tới 68% số hộ đói nghèo, đến nay chỉ còn 26%. Các bản khác tỷ lệ đói nghèo cũng giảm khá nhanh nhờ phát triển du lịch.
* Du lịch cộng đồng tại Thừa Thiên Huế Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
“Nâng cấp” xích lô (XL) thành sản phẩm du lịch. Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) đang hỗ trợ cho Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức lại xích lô du lịch trên địa bàn theo mô hình du lịch cộng đồng, nhằm nâng xích lô du lịch thành một sản phẩm du lịch đậm bản sắc văn hoá Huế. Việc hình thành các tổ XL ban đầu là do một nhóm người thông qua quen biết tập hợp, hoạt động theo từng địa bàn riêng. Các nhóm này hoạt động tự phát và độc lập, tự bảo vệ quyền lợi trong cạnh tranh với các tổ XL khác theo nguyên tắc XL ở địa bàn này không được dừng đón khách ở địa bàn khác.
Những năm qua, ngành du lịch đã phối hợp với UBND Thành phố Huế và các ngành liên quan nhiều lần tổ chức lại đội ngũ XL du lịch như: Mở các khoá tập huấn cho người lao động; thiết kế các mẫu XL du lịch mang đậm dấu ấn văn hoá Huế; cung cấp trang phục và vận động các doanh nghiệp kinh doanh du lịch hỗ trợ kinh phí sửa chữa, nâng cấp chất lượng XL theo mẫu thiết kế; bố trí bến bãi đậu xe. Đặc biệt năm 2004, Sở Du lịch phối hợp với Liên đoàn lao động Thành phố Huế thành lập Nghiệp đoàn Xích lô du lịch.
Năm 2008, UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế đã giao cho Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch xây dựng đề án “Tổ chức XL du lịch theo mô hình du lịch cộng đồng” để chấn chỉnh hoạt động của các tổ XL tự quản, tiến tới hình thành những tổ XL chuyên phục vụ khách du lịch.
- Du lịch cộng đồng tại Vĩnh Long
Hiện tỉnh Vĩnh Long có 20 điểm du lịch vườn theo mô hình du lịch cộng đồng cùng với mạng lưới 16 doanh nghiệp lữ hành, 39 khách sạn, 15 nhà nghỉ phục vụ đón khách du lịch. Sự phát triển của những điểm tham quan kiểu này là tiềm năng lớn để Vĩnh Long có thể phát triển mạnh mẽ du lịch cộng đồng. Du lịch cộng đồng được hiểu như là một loại hình du lịch mà trong đó, mọi hoạt động của nó gắn liền với cộng đồng dân cư. Mục đích là tạo điều kiện cho mọi thành viên trong cộng đồng, trong cụm dân cư được tham gia hoạt động du lịch, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần. Khách du lịch cộng đồng được sống với thiên nhiên, cảm nhận sự trong lành của cảnh quan thiên nhiên, nhận thức sâu sắc về những giá trị nhân văn của văn hóa truyền thống vùng, miền … Phát triển du lịch cộng đồng là sự phát triển bền vững nếu đừng bao giờ phá vỡ những giá trị nguyên sơ đó và khi đó nó cũng chính là thế mạnh của du lịch vùng miệt vườn sông nước. (Bùi Thanh Hương và Nguyễn Đức Hoa Cương, 2007) Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
1.3.3. Bài học kinh nghiệm rút ra từ các mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại các nước Asian và Việt Nam
Để tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển du lịch nói chung và đẩy mạnh mô hình du lịch cộng đồng nói riêng như một yếu tố quan trọng góp phần phát triển du lịch bền vững tại các khu, điểm du lịch, một số bài học kinh nghiệm được rút ra từ các mô hình phát triển DLCĐ tại các nước Asian và Việt Nam bao gồm:
Tiếp tục xây dựng những mô hình du lịch cộng đồng và cơ chế cụ thể phù hợp với đặc thù KT-XH và tập quán sinh hoạt của cộng đồng trên các vùng địa lý khác nhau nhằm tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển du lịch cộng đồng; cho sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển du lịch như hỗ trợ cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ đào tạo kỹ năng nghề du lịch, cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, …
Chính quyền địa phương các cấp phối hợp với các doanh nghiệp du lịch tổ chức để đại diện cộng đồng nơi đã và đang dự kiến phát triển du lịch cộng đồng được tham quan, học tập kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng tại những nơi có du lịch cộng đồng phát triển.
Tăng cường phổ biến, giải thích các quy định hiện hành về du lịch về bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch đến cộng đồng; tổ chức thường xuyên các hoạt động cụ thể trong cộng đồng, đặc biệt là trong giới trẻ. Kinh phí dành cho những hoạt động này cần được h trợ từ ngân sách nhà nước hoặc một phần kinh phí từ thu nhập du lịch của khu, điểm du lịch trên lãnh thổ đó.
Nâng cao nhận thức xã hội, đặc biệt là các nhà quản lý, hoạch định chính sách nhằm có được những chính sách phù hợp khuyến khích phát triển du lịch cộng đồng. Hệ thống chính sách này không chỉ xác định rõ vai trò của nhà nước trong việc h trợ quy hoạch du lịch, phát hạ tầng du lịch, hoạt động xúc tiến quảng bá điểm đến du lịch cộng đồng mà còn tạo động lực gắn kết cộng đồng với doanh nghiệp du lịch; nâng cao năng lực của cộng đồng không chỉ đối với việc tham gia mà còn chủ động tổ chức quản lý cung cấp các dịch vụ du lịch.
Nâng cao nhận thức của cộng đồng về lợi ích của du lịch và trách nhiệm cộng đồng khi tham gia hoặc tự tổ chức hoạt động dịch vụ du lịch; bảo vệ môi trường và các giá trị tự nhiên để đảm bảo cuộc sống của họ với những thu nhập họ có được qua việc tham gia vào hoạt động phát triển du lịch trên cơ sở những giá trị về môi trường và tự nhiên do chính họ bảo vệ. Trước hết nhận thức này cần được nâng lên ở những người “già làng, trưởng bản”, những người có ảnh hưởng rộng rãi trong cộng đồng.
Tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng có thể tham gia vào quá trình quy hoạch và giám sát thực hiện quy hoạch phát triển du lịch tại những nơi mà cuộc sống của cộng đồng gắn liền. Điều này không chỉ góp phần đảm bảo cho quy hoạch du lịch đi vào cuộc sống với những ý kiến tham gia của cộng đồng trên cơ sở những hiểu biết phong phú và cụ thể của cộng đồng đối với mảnh đất mà họ gắn bó, mà còn để cộng đồng hiểu được những gì sẽ biến đổi trên mảnh đất của họ; những gì họ có thể tham gia vào hoạt động phát triển du lịch để có được cuộc sống tốt hơn và để cộng đồng có được sự chuẩn bị tốt hơn cho những công việc mới cùng với trách nhiệm bảo vệ các giá trị tự nhiên thay vì khai thác tự nhiên như trước đây cũng như bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa.
Sản phẩm của du lịch cộng đồng, dù là vật thể hay phi vật thể cần luôn được chú trọng tính khác biệt, cần đề cao những câu chuyện đằng sau sản phẩm và cần truyền thông về các giá trị của sản phẩm đến với khách. Việc phát triển DLCĐ cần có sự phối hợp đồng bộ của các ban ngành từ Trung Ương đến địa phương nhằm hoàn thiện các chính sách, cơ chế và hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vật chất. Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Về công tác quản lý cần vận dụng có hiệu quả thông qua sự phối hợp của nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia chia sẽ lợi ích (Win – Win model). Trong đó cộng đồng địa phương là nhân tố cơ bản tham gia với nhiều vai trò, từ việc xây dựng thể chế phù hợp với địa phương, giám sát thực hiện đến việc phân chia lợi nhuận hướng đến mục tiêu bảo tồn các giá trị cảnh quan, nhân văn và môi trường cho sự phát triển bền vững.
Vấn đề về bảo vệ môi trường tự nhiên và nhân văn cần phải được quan tâm hàng đầu với những chiến lược phù hợp nhằm tạo cân bằng cảnh quan sinh thái, duy trì và phát huy văn hóa bản địa.
Kinh nghiệm của các quốc gia như Indonesia, Malaysia là hợp tác rộng rãi với các tổ chức quốc tế như: UNWTO, WTTC, UNDP, PATA, WWF, IUCN thông qua các dự án hợp tác tài trợ quốc tế để chuyển giao những kinh nghiệm về tổ chức quản lý cũng như việc áp dụng các mô hình cho phát triển du lịch tại địa phương.
Những vấn đề về quy hoạch phát triển luôn cần được chú trọng và lồng ghép với quy hoạch tổng thể chung của quốc gia với tầm nhìn dài hạn để tránh sự chồng chéo và thiếu nhất quán ở các cấp quản lý địa phương.
Cuối cùng là cần hạn chế ở mức thấp nhất những mâu thuẫn cục bộ giữa các thành phần tham gia trong hoạch định chính sách phát triển và chú trọng việc đẩy mạnh công tác quảng bá, mạnh dạn đầu tư xúc tiến du lịch tại các thị trường trọng điểm ở trong và ngoài nước.
Tóm lại, phát triển du lịch dựa vào cộng đồng hiện là một phương thức phát triển du lịch mang tính thời đại khi mà các nguồn lợi từ tự nhiên và nền văn hoá bản địa đang dần bị biến đổi. Việc phát triển loại hình du lịch với sự đề cao lợi ích cho cộng đồng đã tranh thủ sự h trợ, tham gia của các bên nhất là các tổ chức chính phủ, phi chính phủ sẽ giúp xoá đói giảm nghèo tại các cộng đồng khó khăn, là chất xúc tác cho phát triển bền vững. (Chu Đức Tùng, 2016)
1.4. Tổng quan các nghiên cứu liên quan trong nước và ngoài nước
Hiện nay, loại hình du lịch cộng đồng đang được nhiều du khách và các nhà hoạch định chính sách về phát triển du lịch quan tâm. Các công trình nghiên cứu về du lịch bền vững dựa vào cộng đồng là đề tài thu hút các chuyên gia về du lịch trên thế giới và ở Việt Nam.
- Trên thế giới Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Thuật ngữ du lịch dựa vào cộng đồng xuất phát từ hình thức du lịch làng bản từ những năm 1970. Trên thực tế, du lịch dựa vào cộng đồng đã được hình thành, lan rộng và tạo ra sự phong phú, đa dạng cho các loại sản phẩm du lịch vào thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ trước tại các nước trong khu vực châu Phi, châu Úc, châu Mỹ La Tinh. Hiện nay DLCĐ được các Tổ chức phi chính phủ, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế giới quan tâm đầu tư và bắt đầu phát triển mạnh ở các nước châu Á, trong đó có các nước trong khu vực ASEAN như: Indonesia, Philipin, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Nepal, …
Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas (2000) đã nhấn mạnh đến vai trò chính của người dân địa phương trong vấn đề phát triển du lịch ngay trên địa bàn họ quản lý với khái niệm: “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”.
Năm 2002, Ủy ban Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc họp Hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững tại Johannesburg, đã kêu gọi “Phát triển bền vững để mang lại nhiều lợi ích hơn cho cộng đồng dân cư tại các điểm du lịch, đồng thời đảm bảo duy trì sự phát triển bền vững của các yếu tố văn hóa và môi trường nơi họ sinh sống”. Bên cạnh đó, hội nghị cũng đưa ra sáng kiến phát triển bền vững gắn với xóa đói giảm nghèo hay gọi là sáng kiến STEP nhằm tài trợ cho một số dự án phát triển du lịch giảm nghèo tại một số quốc gia.
Trong cuốn “Community Development Through Tourism”, tác giả Sue Beeton (2006) đã tiếp cận “Từ lý thuyết đến thực hành trong đó có đưa ra các trường hợp minh họa cụ thể giúp người đọc có điều kiện so sánh và áp dụng”. Cuốn sách cũng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về DLCĐ, lập kế hoạch chiến lược cho DLCĐ, cách tiếp thị DLCĐ cũng như đối phó với khủng hoảng DLCĐ.
Và bên cạnh những công trình liên quan đến loại hình du lịch cộng đồng từ các nhà nghiên cứu du lịch trên thế giới thì Việt Nam cũng đã có sự quan tâm cần thiết và đạt những thành tựu khả quan.
- Tại Việt Nam
Các công trình về du lịch bền vững trong đó có du lịch cộng đồng của các nhà nghiên cứu đầu ngành về du lịch đã đóng góp to lớn về mặt lý luận cho đề tài, tiêu biểu như: Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
Trong 2 tài liệu có liên quan là “Xây dựng mô hình bảo vệ môi trường du lịch với sự tham gia của cộng đồng, góp phần phát triển du lịch bền vững trên đảo Cát Bà – Hải Phòng” và “Du lịch sinh thái những vấn đề về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” của PGS.TS Phạm Trung Lương (2002) đã khẳng định cần thu hút cộng đồng địa phương (CĐĐP) vào các hoạt động du lịch và chia sẻ những lợi ích từ hoạt động du lịch với CĐĐP trong một số nguyên tắc phát triển du lịch bền vững nói chung.
- Võ Quế (2006) trong cuốn “Du lịch cộng đồng lý thuyết và vận dụng”, đã hệ thống cơ sở lý luận cho DLCĐ và nghiên cứu các mô hình phát triển DLCĐ một số quốc gia trên thế giới.
Tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012) – chủ biên trong cuốn “Du lịch cộng đồng” đã hệ thống cơ sở lý luận DLCĐ, đưa ra các mô hình kinh nghiệm về phát triển DLCĐ tại các quốc gia trên thế giới và Việt Nam, bên cạnh đó tác giả cũng đã hoàn thiện cơ sở lý thuyết cho việc lập kế hoạch phát triển DLCĐ.
Vấn đề phát triển du lịch dựa vào cộng đồng lần đầu tiên được đưa ra tại hội thảo chia sẻ bài học kinh nghiệm phát triển DLCĐ Việt Nam (2003) tổ chức tại Hà Nội. Sau đó đã được nhiều tỉnh thành nghiên cứu áp dụng thành công như: loại hình du lịch ở nhà dân (homestay) ở bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình), Sapa (Lào Cai), du lịch cộng đồng ở đảo Cát Bà (Hải Phòng). Ở miền Trung, đã có Thừa Thiên Huế với loại hình “homestay” ở làng cổ Phước Tích; du lịch Làng bản tại thôn Dõi – huyện Nam Đông.
Hiện nay đã có rất nhiều nghiên cứu ở cả trong nước và trên thế giới đã chứng minh được rằng cộng đồng dân cư đóng góp một phần không nhỏ vào phát triển các dịch vụ cung cấp cho khách du lịch, góp phần bảo vệ tài nguyên môi trường và là chủ thể để phát triển du lịch. Tuy vậy, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về mô hình DLCĐ tại KBTB Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Tóm tắt chương 1.
Trong chương một tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về du lịch cộng đồng. Bên cạnh đó, những tiền đề cho phát triển DLCĐ đã được làm rõ thông qua các vấn đề về nguyên tắc, điều kiện, các thành phần quan trọng tham gia vào hoạt động DLCĐ và các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch cộng đồng. Về mặt thực tiễn, tác giả đã nghiên cứu các mô hình phát triển DLCĐ trên thế giới và tại Việt Nam để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm phát triển mô hình DLCĐ phù hợp nhất để áp dụng cho KBTB Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Tóm lại, phát triển DLCĐ đang được quan tâm và trở thành xu hướng cho các địa phương nhằm phát triển du lịch bền vững. Trong bối cảnh hiện nay khi các địa phương ven biển đều coi du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thì sự phát triển DLCĐ sẽ là sự lựa chọn nhằm giải quyết những mâu thuẫn nội tại giữa du lịch đại chúng và việc bảo vệ tài nguyên và môi trường. Phát triển DLCĐ được xem là một hình thức kinh doanh có trách nhiệm không chỉ đảm bảo các lợi ích hiện tại cho các tầng lớp cư dân trong xã hội mà nó còn cho các thế hệ mai sau. Đặc biệt với những người dân vùng biển đảo, còn nhiều khó khăn thì việc tiếp cận với những kiến thức, thêm ngành nghề mới sẽ là một hình thức giảm nghèo có hiệu quả và mang tính nhân văn sâu sắc. Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở Bảo tồn biển Phú Quốc.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng tại bảo tồn biển Phú Quốc

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp du lịch cộng đồng ở bảo tồn biển Phú Quốc