Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Đặt vấn đề
Hoạt động điện ảnh thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần nâng cao đời sống kinh tế xã hội, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước. Trên cơ sở đó, điện ảnh không đơn thuần chỉ được sử dụng để giải trí mà còn là một trong những công cụ đắc lực được các nước đưa vào khi xây dựng chiến lược quảng bá hình ảnh văn hóa quốc gia mình.
Đặc biệt ở thời đại công nghệ như hiện nay, vấn đề bảo vệ tài sản trí tuệ liên quan đến TPĐA đã trở thành vấn đề được quan tâm của các hãng sản xuất phim, các rạp chiếu phim, kể các đơn vị kinh doanh phim,… Không những thế việc sở hữu QTG đối với TPĐA cũng là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước đã chú trọng quan tâm.
Điều này được thể hiện bằng sự ra đợi của Luật SHTT, Luật Điện ảnh năm 2006 và một số hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành của Chính Phủ với nội dung cụ thể hóa những quy định liên quan đến lĩnh vực điện ảnh và QTG. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng các văn bản pháp luật đưa vào thực tiễn vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa quy định PL và thực tiễn áp dụng, vẫn còn những khó khăn trong việc thực thi những quy định PL này.
1.2. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tế đã chứng minh điện ảnh càng phát triển thì đi đôi với nó là các HVVP QTG ngày càng nhiều và phổ biến. Và trong tất cả các lĩnh vực bị xâm phạm bản quyền thì xâm phạm bản quyền điện ảnh luôn ở mức độ cao, càng ngày càng tăng theo cấp số nhân. Hành vi này không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế, uy tín của chủ sở hữu mà còn xâm phạm nghiêm trọng QTG được pháp luật bảo vệ. Bên cạnh những bộ phim được công chiếu chính thức, thì có hàng loạt các bản tóm tắt nội dung phim và các bộ phim được đăng tải lên trên mạng trực tuyến, và thử hỏi trong số đó có bao nhiêu phim đã xin phép và có sự đồng ý của tác giả? Đây chỉ là một trường hợp nhỏ trong vô vàn các trường hợp bị xâm phạm về QTG và các quyền liên quan đến QTG.
Đó là thực tế khách quan mà pháp luật nước ta cần phải quan tâm hơn nữa nhằm bảo vệ QTG cũng như ngăn chặn những hành vi tiêu cực, xâm phạm đến quyền và lợi ích của tác giả. Vì vậy cần phải có sự thay đổi về pháp luật SHTT, ban hành các quy định quản lý rõ ràng và cần có biện pháp xử lý mạnh đối với các HVVP. Việc Quốc hội thông qua và ban hành Luật SHTT ra đời đã phần nào hoàn thiện và giúp cho hoạt động nghệ thuật trong nước có nhiều thay đổi tích cực, tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc nhằm bảo hộ hoạt động điện ảnh nói riêng và các đối tượng khác trong Luật SHTT nói chung. Nhưng hiện nay tình trạng này không hề giảm đi, mà còn gia tăng khó kiểm soát. Nhận thức được thực trạng xâm phạm QTG đối với TPĐA ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng này là vô cùng cần thiết. Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
Xuất phát từ những lí do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh” để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về Bảo hộ QTG đối với TPĐA, Phân tích, đánh giá, tìm hiểu các quy định của pháp luật về Bảo hộ QTG đối với TPĐA. Trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật bảo hộ QTG đối với TPĐA trong thực tiễn để rút ra được những mặt còn tồn tại và bất cập của pháp luật. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc bảo hộ QTG đối với TPĐA.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Để đạt được những mục tiêu tổng quát nêu trên. Thì cần phải xác định được những mục tiêu cụ thể sau:
Phân tích và tìm hiểu về các cơ sở lý luận trong việc bảo hộ QTG đối với TPĐA như: Khái niệm, đặc điểm của bảo hộ QTG đối với TPĐA, vai trò và các nguyên tắc cơ bản liên quan đến việc thực hiện pháp luật về bảo hộ QTG đối với TPĐA.
Phân tích và làm rõ nội dung về các quy định của PL Việt Nam hiện hành về bảo hộ QTG đối với TPĐA. Đưa ra những dẫn chứng, ví dụ cụ thể để làm rõ tình trạng thực tiễn thi hành pháp luật về bảo hộ QTG đối với TPĐA để có cơ sở đánh giá những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế về quy định pháp luật về bảo hộ QTG đối với TPĐA.
Đưa ra các kiến nghị, giải pháp để sửa đổi và bổ sung một số quy định của Luật SHTT hiện hành để Luật SHTT hoàn thiện và xóa bỏ được những khó khăn, bất cập.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra ra nghiên cứu đề tài, luận văn cần trả lời các câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Pháp luật về bảo hộ QTG trong lĩnh vực điện ảnh phải sửa đổi, bổ sung như thế nào nhằm đảm bảo quyền giữa các bên tham gia?
Câu hỏi 2: Sự phát triển của điện ảnh đặt ra những vấn đề gì đối với bảo hộ QTG. Một trong những vấn đề đó chính là sự đảm bảo cân bằng lợi ích của tác giả hoặc chủ sở hữu TP với quyền tiếp cận tri thức, thụ hưởng văn hóa, nghệ thuật của người dân?
Câu hỏi 3: Thực tiễn thi hành pháp luật về việc bảo hộ QTG đối với TPĐA. Theo đó cần phải chỉnh sửa như thế nào để nhằm đảm bảo được sự cân bằng lợi ích của người sáng tạo và lợi ích công cộng?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các lý thuyết về bảo hộ QTG, quy định của pháp luật SHTT Việt Nam và các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên về bảo hộ QTG và thực tiễn bảo vệ QTG thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật và các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo hộ QTG.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Phạm vi về nội dung
Tác giả nghiên cứu Luận văn một cách toàn diện, khái quát nhất về những quy định của hệ thống văn bản PL Việt Nam trong các lĩnh vực nghệ thuật, khoa học, giáo dục….. và bảo hộ QTG trong các lĩnh vực này. Và trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ chuyên ngành về luật kinh tế, luận văn tập trung vào nghiên cứu vấn đề bảo hộ QTG đối với TPĐA. Cụ thể là nghiên cứu về bảo hộ QTG nhằm đảm bảo bảo vệ các quyền của người sáng tạo TP. Từ đó đưa ra các phân tích cũng như đánh giá khách quan về vấn đề bảo hộ QTG về TPĐA. Nêu lên được các kiến nghị và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện hơn đối với hệ thống quy định của PL hiện nay.
4.2.2. Phạm vi về thời gian
Tác giả tập trung chủ yếu tìm hiểu và phân tích, làm rõ các nội dung về bảo hộ QTG đối với TPĐA từ năm 2005 đến nay.
Đối với các văn bản quy phạm pháp luật trong nước BLDS; Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Luật SHTT; Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2020; BLHS và các văn bản hướng dẫn luật; Luật điện ảnh năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2009) của bảo hộ QTG đối với TPĐA.
4.2.3. Phạm vi về không gian Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
Luận văn tập trung trình bày về thực tiễn áp dụng pháp luật và các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đang diễn ra trong phạm vi cả nước từ đó nghiên cứu đưa ra giải pháp giải quyết các vấn đề còn tồn tại liên quan đến lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu dựa trên sự kết hợp giữa các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua đó cũng tạo tiềm lực vững mạnh để xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Đồng thời tác giả cũng nghiên cứu các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền SHTT của nước ta. Đây được xem như là phương pháp luận khoa học. Được tác giả sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận văn nhằm xem xét, đánh giá khách quan về thực tiễn thi hành pháp luật trong vấn đề bảo hộ QTG đối với TPĐA nói riêng và các TP văn học, khoa học, nghệ thuật nói chung.
Xét trên khía cạnh đề tài là một công trình nghiên cứu khoa học pháp lý. Thì luận văn cũng được nghiên cứu bằng các phương pháp khoa học như: Phân tích, tổng hợp, so sánh luật học,… Nhưng trong đó tác giả sử dụng chủ yếu hai phương pháp đó là:
- Phương pháp tổng hợp: được tác giả dùng khi xem xét đánh giá một vấn đề nhằm rút ra những kết luận chung nhất, để đưa ra các kiến nghị cũng như biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp lý đối với quyền bảo hộ tác giả trong TPĐA. Và phương pháp này sẽ được sử dụng xuyên suốt của Luận văn
- Phương pháp phân tích – so sánh: được sử dụng chủ yếu tại Chương II của Luận văn. Việc sử dụng phương pháp này nhằm đánh giá bình luận và làm sáng tỏ các quan điểm cũng như những nội dung, vấn đề nghiên cứu của luận văn. Đồng thời cũng nêu lên được sự tương đồng hoặc ưu, hạn chế của hệ thống PL Việt Nam so với các nước khác.
6. Nội dung nghiên cứu
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu hai chương:
- Chương I: Khái quát về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
- Chương II: Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh và các kiến nghị hoàn thiện.
7. Đóng góp của đề tài Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
Một là, đề tài cung cấp cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn của hệ thống quy định pháp luật về bảo hộ QTG không chỉ trong PL Việt Nam mà còn trong pháp luật quốc tế.
Hai là, kết quả nghiên cứu luận văn cũng đã đánh giá về thực trạng thi hành pháp luật hiện nay trong việc bảo hộ QTG đối với TPĐA. Tác giả hy vọng những kiến nghị được đề xuất sẽ có giá trị thiết thực, hữu ích đối với việc hoàn thiện nâng cao hệ thống pháp lý trong bảo hộ QTG nói chung.
Ngoài ra, khóa luận này có thể cung cấp thông tin, sử dụng làm tài liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đại học, làm tài liệu bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ luật sư, kiểm soát viên…..Làm tài liệu tham khảo để sửa đổi, bổ sung Luật SHTT.
8. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Hiện nay, xuất hiện khá nhiều luận văn, đề tài nghiên cứu về vấn đề bảo hộ QTG đối với TPĐA. Các đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo đăng tạp chí, luận văn gần đây mới đề cập đến xâm phạm QTG đối với TPĐA, cụ thể là:
Công trình: Sáng tạo văn học, nghệ thuật và quyền tác giả ở Việt Nam năm 2005 của tác giả Vũ Mạnh Chu, NXB Chính trị quốc gia. Giới thiệu khái quát chung về hệ thống PL của Việt Nam và thực trạng vi phạm QTG chủ yếu qua ba khía cạnh chính: một là pháp lý, hai là thực thi và cuối cùng là du khảo văn hóa.
Công trình: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet theo quy định của Điều ước Quốc tế và Pháp luật của Việt Nam năm 2016 của tác giả Nguyễn Thu Hương, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn này đi sâu nghiên cứu về vai trò cũng như làm nổi bật ý nghĩa quan trọng của việc bảo hộ QTG đối với TPĐA Việt Nam nói riêng và quốc tế nói chung. Luận văn nghiên cứu các văn kiện quốc tế, điều ước quốc tế, pháp luật của một số quốc gia nhằm so sánh sự tương đồng khác biệt đối với hệ thống quy định PLVN. Bên cạnh đó TP này cũng làm nổi bật những ưu điểm cũng như hạn chế các quy định trong hệ thống văn bản PL Việt Nam so với quốc tế và một số quốc gia trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giá đối vơí TPĐA.
Công trình: Thực trạng giải quyết tranh chấp về quyền tác giả tại Việt Nam giai đoạn 2006-2012 và một số đề xuất tiếp tục hoàn thiện pháp luật và thực thi về sở hữu trí tuệ năm 2012 của nhóm tác giả: Nguyễn Hợp Toàn, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Trần Văn Nam, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Nội dung nghiên cứu về việc khai thác, sử dụng QTG, quyền liên quan thông qua hoạt động chuyển giao quyền, ủy thác quyền cho tổ chức đại diện, tổ chức quản lý tập thể; một cách cụ thể. Đồng thời tác giả còn tập trung phân tích về một số vụ tranh chấp về QTG. Nhằm làm rõ các nguyên nhân để rồi từ đó đề xuất giải pháp cũng như kiến nghị góp phần làm hoàn thiện hệ thống PL Việt Nam. Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
Công trình: Copyright Protection of Formats in the European Single Market của tác giả Maximilian von Grafenstein. Công trình tập trung nghiên cứu trong khuôn khổ Chương trình nghiên cứu tin học pháp lý Châu Âu năm 2012.
Công trình: “The Lifespan for Copyright of Audiovisual Works” Năm 2012, báo cáo của IRIS plus. Công trình đề cập chủ yếu đến việc xác định thời hạn bảo hộ các TPĐA, thời điểm TPĐA thuộc về công chúng ở theo pháp luật các quốc gia ở Châu Âu nhìn nhận dưới góc độ luật Bản quyền của Anh.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên, chỉ mang tính khái quát, gợi mở về các quy định của pháp luật về bảo hộ QTG đối với TPĐA, cũng như là có những so sánh các quy định pháp luật về bảo hộ QTG đối TPĐA tại Việt Nam so với các quy định của pháp luật quốc tế. Chỉ có một số công trình tập trung vào việc phân tích thực trạng pháp luật về bào hộ QTG đối với TPĐA, để chỉ ra được những hạn chế, bất cập còn tồn tại. Từ đó, có thể đề xuất các giải pháp khắc phục và hoàn thiện pháp luật về bảo hộ QTG đối với TPĐA.
Tuy nhiên, nghiên cứu, phân tích, đánh giá pháp luật về bảo hộ QTG đối với TPĐA và việc áp dụng các quy định này một cách có hệ thống toàn diện thì dường như vẫn còn thiếu một công trình như vậy. Các công trình nghiên cứu nêu trên sẽ là cơ sở, tiền đề để tác giả thực hiện đề tài, góp phần đưa ra những giải pháp thực tiễn, phù hợp với tình hình thực tế trong xã hội hiện nay. Luận văn của tác giả sẽ tiếp tục triển khai và nghiên cứu những nội dung sau:
Một là, phân tích cơ sở lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện khái niệm về bảo hộ QTG đối với TPĐA, tổng kết và phân tích sự phát triển của các quy định về bảo hộ QTG đối với TPĐA.
Hai là, bình luận, đánh giá, phân tích về các quy định của pháp luật về bảo hộ QTG đối với TPĐA và nêu ra các thực trạng về bảo hộ QTG đối với TPĐA. Từ đó, chỉ ra được những tồn tại hạn chế tồn tại của pháp luật hiện hành.
Ba là, dựa trên cơ sở thực thi các quy định về bảo hộ QTG đối với TPĐA, luận văn sẽ phân tích, chỉ ra được những hạn chế, bất cấp trong quá trình thực hiện các quy định về bảo hộ QTG đối với TPĐA trong thực tiễn. Từ đó đưa ra đề xuất, giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về bảo hộ QTG đối với TPĐA trong thực tiễn.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH
1.1. Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả
1.1.1. Khái niệm quyền tác giả Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
Theo dòng phát triển pháp luật của các quốc gia trên thế giới về quyền sở hữu trí tuệ nói chung, thuật ngữ quyền tác giả ngày càng được nhìn nhận dưới góc độ rộng hơn về bản chất và giới hạn bảo hộ, đồng thời xác định rõ và cụ thể hơn hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền tác giả và ghi nhận ngày càng nhiều những biện pháp hữu hiệu hơn để bảo hộ sản phẩm trí tuệ của tác giả khỏi hành vi xâm phạm này. Mặc dù hệ thống pháp luật giữa các quốc gia là khác nhau dẫn đến việc mỗi nơi có cách định nghĩa riêng về quyền tác giả, tuy nhiên, về ghi nhận chung thì quyền tác giả được biết đến như một loại quyền chính đáng của những người sáng tạo, những người tham gia vào hoạt động văn hóa, nghệ thuật, khoa học.
Theo từ điển Tiếng Việt, Tác giả là người sáng tác một TP văn học, nghệ thuật, hoặc khoa học. Như vậy tác giả là người sáng tạo ra các TP viết như sách, kịch, thơ,…Nói chính xác hơn, tác giả là người đã tạo ra hoặc ban sự sống cho một thứ gì đó và có trách nhiệm đối với thứ đó hay nói cách khác đó là QTG.
Trong pháp luật quốc tế, khái niệm về QTG đã quy định những trường hợp đồng ý hoặc không đồng ý cho phép người khác sử dụng TP, phổ biến TP của tác giả. Hệ thống pháp luật dân sự đã bảo vệ các quyền vốn có của tác giả. Theo dòng lịch sử nước ta, khái niệm về QTG cũng được biết đến từ đầu thập niên 40 của TK XX, QTG được xem là quyền quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhằm tạo nên những TP mang giá trị tinh thần cũng như phục vụ cho sự nghiệp dựng và giữ nước ngày càng phát triển trong mọi lĩnh vực.
Pháp luật Việt Nam cũng đã xây dựng và dần hoàn thiện để quy định đầy đủ hơn về lĩnh vực quyền tác giả. Chế định quyền tác giả được ghi nhận trong các văn bản thuộc hệ thống pháp luật như hiến pháp, bộ luật dân sự, luật sở hữu trí tuệ và các văn bản dưới luật có liên quan khác.
Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT định nghĩa “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra”.
Căn cứ theo các quy định của pháp luật về QTG thì QTG có thể được hiểu theo hai phương diện:
- Phương diện khách quan: QTG là tổng hợp các quy phạm PL về QTG nhằm xác định và bảo vệ quyền của tác giả, cùa chủ sở hữu QTG, xác định các nghĩa vụ của các chủ thể trong việc sáng tạo và sử dụng các TP văn học, nghệ thuật, khoa học. Quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm phạm;
- Phương diện chủ quan: QTG là quyền dân sự cụ thể (quyền tài sản và quyền nhân thân) của chủ thể với tư cách là tác giả hoặc chủ sở hữu QTG đối với TP văn học, nghệ thuật, công trình khoa học và quyền khởi kiện hay không khởi kiện khi quyền của mình bị xâm phạm. Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
Hay nói cách khác QTG còn được hiểu là quyền tinh thần và quyền độc quyền về kinh tế được pháp luật trao cho người sáng tạo ra TP và những tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động sáng tạo với sự hỗ trợ của kỹ thuật và công nghệ, để truyền tải TP thuộc QTG đến công chúng. QTG là quyền riêng tư và thiêng liêng của tổ chức, cá nhân bằng sức lực của mình để tạo các ra TP có giá trị và được pháp luật bảo hộ. Những tổ chức, cá nhân có QTG, quyền liên quan phải tự quản lý quyền của mình, khai thác nó để thu lại các khoản tài chính đã đầu tư, đồng thời đầu tư sáng tạo tiếp. Như vậy QTG, quyền liên quan là các quy định pháp luật liên quan đến sáng tạo, đến các quyền và thực thi QTG, các quyền liên quan.
Như đã phân tích trên, QTG là quyền của chủ thể đối với các tác phẩm sáng tạo trí tuệ của mình. Cũng như các quan hệ pháp luật dân sự khác, lĩnh vực này cũng hay diễn ra những tranh chấp, vậy nên, việc phát sinh nhu cầu bảo hộ quyền hợp pháp của các chủ thể là điều tất yếu và có thể được khái quát rằng bảo hộ QTG là toàn bộ các quy định của pháp luật nhằm công nhận quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan và từ đó đặt ra các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật thừa nhận. Việc xử lý hành vi xâm phạm QTG sẽ được thực hiện tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm.
Nói theo cách khác QTG cho phép tác giả, chủ sở hữu QTG độc quyền khai thác, sử dụng TP văn học, nghệ thuật, khoa học do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Về bản chất, QTG là quyền chỉ dành riêng cho người sáng tạo TP. Nghĩa là, QTG được xác định trong một phạm vi và thời hạn nhất định. Đó là quyền ngăn cấm người thứ ba khai thác, sử dụng TP được bảo hộ.
Từ khái niệm QTG, ta có thấy rằng QTG được xem như một quan hệ pháp luật dân sự, và được bảo hộ theo các quy định của Pháp luật Dân sự. Như vậy Nhà nước không bảo hộ những TP có nội dung trái PL, đạo đức xã hội, đi ngược lại với lợi ích của Nhà nước và lợi ích công cộng.
1.1.2. Đặc điểm của quyền tác giả
Quyền tác giả được hiểu là quyền sở hữu đối với các kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ của con người trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật hoặc khoa học được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Là một bộ phận của quyền SHTT, QTG được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật. Những đặc điểm của QTG được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Về đối tượng: Quyền SHTT là một lĩnh vực sở hữu đặc thù có đối tượng là các tài sản vô hình (tài sản phi vật thể) hình thành từ hoạt động sáng tạo của con Sự khác biệt lớn nhất giữa hai loại sở hữu nói trên thể hiện ở chính đối tượng sở hữu. Nếu như đối tượng của sở hữu tài sản thông thường là các tài sản vật chất, hữu hình có thể tiếp cận về cơ học được, thì đối tượng của SHTT là các tài sản vô hình, phi vật thể. Pháp Luật chỉ bảo hộ QTG khi các ý tưởng, sáng được thể hiện qua một hình thức nhất định như: Tác phẩm viết, tác phẩm hội họa, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh…Bên cạnh đó tài sản trí tuệ lại có khả năng bị xâm phạm hơn những tài sản hữu hình khác, có khả năng lan truyền rộng lớn đặc biệt là trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay. Môi trường kỹ thuật số đã thay đổi phương thức thể hiện tác phẩm dưới dạng số hóa, với những ưu điểm vượt trội so với các hình thức thể hiện tác phẩm thông thường. Tuy nhiên đây cụng là một trường tiềm tang nhiều khả năng xảy ra hành vi xâm phạm QTG vì đây là một phương tiện thuận tiện cho việc sao chép, phân phối bất hợp pháp tác phẩm.
Về phạm vi quyền: Mặc dù quyền sở hữu nói chung mang bản chất là quyền tài sản, nhưng đối với quyền SHTT, trong đó có QTG, bên cạnh việc bảo vệ các quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu QTG, pháp luật cũng ghi nhận cả các quyền nhân thân cho chủ thể sáng tạo. Tác phẩm khác với các tài sản thông thường, nó là một sáng tạo tinh thần thể hiện nhân cách và kết quả lao động sáng tạo tinh thần của tác giả. Vì vậy, trước hết, tác giả có quyền đối với đứa con tinh thần của mình như đặt tên tác phẩm; quyền được công nhận tên tuổi (quyền về nhân thân) hay công bố tác phẩm ở đâu, như thế nào, cùng với việc được hưởng các lợi ích kinh tế khi tác phẩm được khai thác.
Về nội dung quyền: Do bản chất đối tượng SHTT là tài sản vô hình, nên việc nắm giữ, quản lý nó không thể thực hiện được như các tài sản thông thường. Vì vậy, QTG cũng giống như quyền SHTT nói chung, về bản chất chỉ tập trung vào độc quyền sử dụng, khai thác tác phẩm là chủ yếu.
Về giới hạn quyền: Khác với quyền sở hữu tài sản thông thường, quyền SHTT, trong đó có QTG là loại quyền được bảo hộ có tính “giới hạn”. Bảo hộ QTG có mục đích khuyến khích hoạt động sáng tạo, tạo động lực thúc đẩy phát triển văn hóa, nghệ thuật bằng cách dành cho tác giả, chủ sở hữu chủ sở hữu độc quyền sử dụng, khai thác tác phẩm trong một thời hạn. Tuy nhiên, QTG không được cản trở hay gây ảnh hưởng đến lợi ích công cộng và sự phát triển của xã hội. Nguyên tắc cân bằng lợi ích là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong các quy định về bảo hộ quyền SHTT cũng như QTG nhằm dung hòa lợi ích của chủ thể của QTG với lợi ích chung của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác.
1.2. Khái niệm và đặc điểm của bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
1.2.1. Khái niệm Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
Tính đến nay, điện ảnh đã có hơn 100 năm tuổi. Sự ra đời của điện ảnh đã làm cho nghệ thuật biến động và khởi sắc, nó tác động to lớn đến đời sống nhân loại. Người ta không khỏi bất ngờ trước nó, nhưng điện ảnh là gì thì chưa có một khái niệm chính thức nào.
Theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “điện ảnh” được hiểu là việc “nghệ thuật thể hiện hiện thực bằng hình ảnh, được thu hình và phát lên màn ảnh”. Từ đó ta có thể thấy được điện ảnh là một khái niệm lớn là một loạt hình nghệ thuật tổng hợp thể hiện bằng hình ảnh kết hợp âm thanh, đôi khi là một số hình thức kích thích giác quan khác; được lưu trữ trên một số dạng thiết bị ghi hình để phổ biến tới mọi người qua các hình thức khác nhau: chiếu rạp, truyền hình, web/stream, video, băng, đĩa, máy chiếu. Theo Hegel nhà triết học người Đức điện ảnh là một trong bảy loại hình nghệ thuật cơ bản và được gọi là nghệ thuật thứ bảy. Sáu nghệ thuật trước đó theo phân loại của Hegel là kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, thi ca và nhảy múa.
Theo định nghĩ trong Từ điển Luật học “Tác phẩm” được hiểu là “sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới hình thức và bằng phương tiện nào đó, không phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào” còn theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “Tác phẩm” được hiểu là việc “công trình nghệ thuật khoa học được sáng tạo ra”.
Theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “bảo hộ” được hiểu là việc “giữ gìn và bênh vực”. Như vậy, bảo hộ QTG là những hành động mang tính giữ gìn và đảm bảo QTG nhằm mục đích không để xuất hiện những tổn thất về mặt vật chất và tinh thần. QTG với tư cách là một bộ phận của quyền SHTT, đã và đang đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Không ai có thể phủ nhận được giá trị thương mại cũng như những giá trị văn hóa – xã hội mà các sáng tạo trí tuệ là đối tượng của QTG mang lại. Mục tiêu chính của bảo hộ QTG là khuyến khích hoạt động sáng tạo. Công nhận và bảo hộ QTG một cách hiệu quả sẽ có tác dụng khích lệ các chủ thể sáng tạo và phổ biến kết quả sáng tạo của họ, phục vụ cho lợi ích chung của xã hội.
Tại Chú thích 3 Hiệp định TRIPS, thuật ngữ “bảo hộ quyền SHTT” được giải thích như sau: “bảo hộ phải bao gồm các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng đạt được, việc đạt được, phạm vi, việc duy trì hiệu lực và việc thực thi các quyền SHTT, cũng như các vấn đề ảnh hưởng đến việc sử dụng các quyền SHTT”. Theo cách tiếp cận này, bảo hộ quyền SHTT bao gồm tất cả các hoạt động mà Nhà nước thực hiện nhằm công nhận, bảo vệ và quản lý nhà nước đối với quyền SHTT: Từ xây dựng chính sách, pháp luật về quyền SHTT; thực hiện việc xác lập, công nhận quyền SHTT; bảo đảm thực hiện, khai thác quyền SHTT trên thực tế và bảo vệ quyền SHTT chống lại các hành vi xâm phạm. Chủ thể thực hiện hành vi bảo hộ quyền SHTT chỉ là Nhà nước.
Hiểu một cách chung nhất: Bảo hộ QTG là việc các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành hệ thống các quy định về việc công nhận QTG đối với TP và bảo vệ cho tác giả các quyền pháp lý cụ thể đối với TP với mục đích là làm cho tác giả thực sự thụ hưởng được các lợi ích về mặt vật chất và tinh thần có được từ QTG nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm.
Như vậy bảo hộ QTG đem lại sự đảm bảo những giá trị vật chất cho người sáng tạo nhằm thúc đẩy cho hoạt động sáng tạo phát triển. Tri thức và nghệ sĩ được tự do bộc lộ tài năng sáng tạo cùa mình trong môi trường pháp lý an toàn. Các công trình nghiên cứu khoa học, TP văn học, nghệ thuật được ra đời với sự “đỡ đầu”, từ cam kết pháp lý cao nhất tại Hiến pháp. Bảo hộ QTG còn đảm bảo khả năng khai thác độc quyền lợi ích vật chất từ TP sẽ gián tiếp thúc đẩy và tiếp thêm động lực cho tác giả đưa sản phẩm do mình sáng tạo lưu hành trong công chúng. Vì vậy, bảo hộ QTG còn tạo điều kiện cho mọi người được tiếp cận TP một cách phù hợp nhất. Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
Nếu tác giả cần khán giả thưởng thức TP thì khán giả cũng cần được tiếp cận tri thức, thụ hưởng văn hóa, nghệ thuật. Tác giả yêu cầu TP do mình sáng tạo phải được bảo vệ, ngăn chặn hành vi sử dụng TP mà chưa được sự cho phép của tác giả. Trong khi công chúng yêu cầu quyền được khai thác TP với lý do tiếp cận tri thức, tận hưởng văn hóa, nghệ thuật. Do đó, bảo hộ QTG ra đời để đảm bảo sự được sự cân bằng giữa lợi ích của người sáng tạo và lợi ích công cộng nhằm khuyến khích cho các nỗ lực sáng tạo thông qua việc dành sự công nhận chính thức đối với người sáng tạo, tạo ra nơi cung cấp những thông tin, dữ liệu quan trọng cho xã hội.
Căn cứ theo quy định của Điều ước quốc tế nói chung và PLVN nói riêng, chủ thể sáng tạo ra TPĐA cũng là đối tượng nhận sự bảo hộ QTG. QTG đối với TPĐA là quyền của các tổ chức, cá nhân là tác giả, chủ sở hữu của TPĐA bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Quyền nhân thân, là quyền cơ bản của công dân, trong đó có công dân là tác giả được quy định trong BLDS. Tuy nhiên tác giả còn là người sáng tạo ra TP văn học, nghệ thuật và khoa học nói chung và điện ảnh nói riêng. Vì vậy quyền nhân thân là quyền gắn liền với nhân thân của người sáng tạo ra TP.
Trong quá trình sáng tạo ra TPĐA những người làm các công việc đạo diễn biên kịch, quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật trường quay, thiết kế đạo cụ, kỹ xảo và các công việc khác có tính sáng tạo đối với TPĐA được hưởng các quyền nhân thân theo quy định tại Điều 19 Luật SHTT đối với TP đó bao gồm: quyền đặt cho tác phẩm; Đứng tên thật hoặc bút danh trên TP; Công bố hoặc cho người khác công bố; Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.
Quyền tài sản, là các quyền độc quyền do chủ sở hữu QTG thực hiện hoặc cho phép người khác khai thác, sử dụng hoặc chuyển giao, để lại thừa kế, bao gồm: Quyền làm TP phái sinh; Quyền sao chép TP; Quyền biểu diễn TP; Quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc, bản sao TP; Quyền truyền đạt TP; Quyền cho thuê TPĐA, chương trình máy tính.
Nếu tác giả đồng thời cũng là chủ sở hữu QTG hoặc các tổ chức, cá nhân có sự đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để sản xuất TPĐA sẽ được hưởng các quyền tài sản nêu trên. Đây được xem là một trong những quyền giúp cho tác giả và chủ sở hữu tác phẩm thu lại lợi nhuận thông qua việc khai thác tác phẩm điện ảnh hoặc cho người khác khai thác và nhận lại các khoản chi phí nhuận bút thù lao phù hợp.
Để hiểu rõ ràng và chi tiết hơn về QTG đối với TPĐA, thì Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022), đã bổ sung một số nội dung tại Điểm d Khoản 1 Điều 21 như: Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ sở vật chất – kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh có thể thỏa thuận với những người quy định tại điểm a khoản này về việc đặt tên, sửa đổi tác phẩm. Ngoài ra kịch bản, tác phẩm âm nhạc trong tác phẩm điện ảnh nếu được sử dụng một cách độc lập, thì chủ sở hữu hoặc tác giả được hưởng QTG một cách độc lập trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản.
Việc bổ sung này giúp cho các quy định liên quan đến QTG được rõ ràng và cụ thể hơn, Luật cũng quy định rõ về tư cách hưởng quyền nhân thân đầy đủ (trừ quyền công bố) đối với TPĐA chỉ được trao cho biên kịch và đạo diễn. Còn tổ chức đầu tư tài chính có thể thỏa thuận với biên kịch, đạo diễn về việc đặt tên, sửa đổi TP.
1.2.2 Đặc điểm của bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
Theo quy định của Điều ước quốc tế nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng, chủ thể sáng tạo ra tác phẩm điện ảnh cũng là đối tượng nhận được sự bảo hộ quyền tác giả. Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh cũng được bảo hộ đầy đủ như quyền tác giả đối với tác phẩm văn học và tác phẩm nghệ thuật khác. Bao gồm những đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất, tác phẩm điện ảnh cũng mang tính sáng tạo, nó thể hiện qua việc được nhìn thấy từ ngay trong cách sắp xếp, bố trí, trình bày, thể hiện các tình tiết trong từng phân cảnh và trong cách truyền đạt nội dung tác phẩm với các hiệu ứng kĩ thuật, từ đó tạo cảm hứng đến khán giả, giúp học thoả mãn những nhu cầu giải trí. Ngoài ra, còn đem lại cho chủ sở hữu những giá trị kinh tế – thương mại nhất định nên tác phẩm này được đánh giá rất cần thiết để có được sự bảo hộ.
Thứ hai, tác phẩm điện ảnh là sản phẩm trí tuệ mang tính nguyên gốc, mang đặc trưng riêng biệt vốn có của người sáng tạo. Theo quy định pháp luật, tác phẩm bảo hộ phải là tác phẩm gốc, tác phẩm gốc được ghi nhận là tác phẩm được hình thành một cách trực tiếp từ quá trình lao động của tác giả mà không phải là sự sao chép từ các tác phẩm khác đã có. Việc xác định tác phẩm gốc trong từng lĩnh vực dựa trên các căn cứ liên quan đến quá trình lao động sáng tạo của tác giả, kết quả của tác phẩm sẽ có dấu ấn riêng biệt.
Thứ ba, tác phẩm mang đặc tính vô hình, nên việc chiếm hữu tác phẩm cũng không thể là một trong các yếu tố xác nhận quyền sở hữu của người chiếm hữu tác phẩm. Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
Tuy nhiên, do là một loại hình tác phẩm nghệ thuật đặc biệt nên tác phẩm điện ảnh đương nhiên có những đặc điểm riêng biệt so với các tác phẩm văn học, nghệ thuật thông thưởng khác. Cụ thể:
Thứ nhất, việc hình thành nên một tác phẩm điện ảnh là hoạt động sáng tạo tổng hợp nhiều công đoạn khác nhau kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật từ mĩ thuật, âm thanh ánh sáng âm nhạc, tạo hình… Không chỉ vậy, tác phẩm điện ảnh là sản phẩm của hoạt động tư duy sáng tạo của nhiều chủ thể hợp thành Khoản 1 điều 21 Luật SHTT năm 2005 ghi nhận các chủ thể được bảo hộ quyền tác giả đối với điện ảnh như đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế âm thanh, ánh sáng… Do vậy, các tác phẩm này có thể được khai thác dưới góc độ là một khối tác phẩm điện ảnh thống nhất hoặc khai thác độc lập đối với kết quả của từng hoạt động sáng tạo nếu có thể tách riêng. Nói cách khác, tác phẩm điện ảnh được tạo ra do một tập thể nên mỗi cá nhân sáng tạo của loại hình này có vị trí, vai trò và đóng góp riêng trong tác phẩm điện ảnh. Giá trị lao động sáng tạo của các tác giả được pháp luật và nhà nước bảo hộ thông qua hệ thống quy phạm pháp luật và hoạt động của hệ thống thực thi pháp luật. Luật SHTT Việt Nam đã ghi nhận bảo hộ quyền tác giả tác phẩm điện ảnh cho tập thể tác giả về quyền nhân thân và quyền tài sản. Trong trường hợp có cá nhân, tổ chức muốn khai thác tác phẩm điện ảnh sẽ phải tuân thủ các quy định của Luật SHTT, cụ thể trước khi khai thác tác phẩm cần có sự đồng ý, cho phép của của tập thể tác giả nói trên và trả thù lao, nhuận bút cho tác giả để đảm bảo họ được tôn trọng quyền đối với tác phẩm của mình cũng như ghi nhận thành quả công sức của họ và từ đó tạo ra nguồn động lực để họ tiếp tục sáng tạo.
Thứ hai, tác phẩm điện ảnh có thể là tác phẩm phái sinh từ một tác phẩm khác, là sáng tạo mới dựa trên các tác phẩm gốc đã có theo phương thức chuyển thể, cải biên từ các nguồn tư liệu khác nhau đang được bảo hộ quyền tác giả hoặc đã hết thời hạn bảo hộ. Theo Luật SHTT quy định tại Điều 20, quyền làm tác phẩm phái sinh là một độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả nên để tạo ra một tác phẩm điện ảnh là tác phẩm phái sinh mới đòi hỏi người sáng tạo phải thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về việc xin phép và trả phí Mọi TP khi tạo ra được xem như là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của công dân. Thành quả lao động của người sáng tạo là chất xám về giá trị tư tưởng văn học, nghệ thuật và khoa học kết tinh trong TP. Lao động đó được pháp luật khuyến khích và sản phẩm do lao động đó tạo nên thuộc loại tài sản trí tuệ của công dân cũng được pháp luật bảo hộ. Tương tự các loại hình nghệ thuật khác điện ảnh cũng là sản phẩm đòi hỏi phải có sự sáng tạo vì thế nó luôn mang một dấu ấn riêng của từng tác giả sáng tạo nên. Để TPĐA được bảo hộ QTG phải đáp ứng các yêu cầu sau:
TP phải mang tính nguyên gốc. Tức là TP phải được tạo ra một cách độc lập và không có dấu hiệu sao chép, vay mượn từ bất kì một TP nào khác. Việc bảo hộ QTG chỉ được áp dụng đối với những đóng góp mang tính nguyên gốc cho TP và không được áp dụng đối với bất kỳ nội dung nào sao chép từ TP khác.
TP phải phải thể hiện được đây là kết quả của quá trình lao động trí óc mang tính chất sáng tạo. Chất lượng về nội dung của TP là một vấn đề quan trọng đối với chính TP đó và cả tác giả của nó. Những TP mang những nội dung phong phú và chất lượng cao (bài thơ, cuốn tiểu thuyết, bộ phim hai, bức tranh ấn tượng…) sẽ được nhiều người đón nhận, ủng hộ và sẽ có giá trị theo thời gian. Để TP đạt được điều đó, tác giả của nó phải là người thực sự có tài năng trong việc sáng tạo. Tuy nhiên, việc thừa nhận TP hoàn toàn không chỉ phụ thuộc vào chất lượng của TP. TP đã được tạo ra có nội dung với chất lượng như thế nào cũng đều được thừa nhận, miễn là TP đó có tính sáng tạo.
TP phải được định hình dưới dạng vật chất nhất định. Nghĩa là sau khi hoạt động sáng tạo của tác giả kết thúc bằng việc cho ra đời một TP thì QTG cũng được hình thành. Vì thế TP không được bảo hộ dưới dạng ý tưởng khi chỉ xuất hiện trong suy nghĩ của tác giả mà chỉ khi ý tưởng đó được thể bằng hình thức cụ thể thì QTG mới được hình thành. Ví dụ: bài thơ được viết trên giấy, phim ảnh lưu trữ trong đĩa hoặc băng. Theo đó QTG tự động phát sinh ngay sau khi TP được hình thành dưới dạng vật chất nhất định. Điều này có nghĩa ngay sau khi hoạt động sáng tạo của tác giả kết thúc bằng việc cho ra đời TP, thì QTG cũng được hình thành đối với tài sản trí tuệ của mình.
Các loại hình TP được bảo hộ QTG bao gồm: TP văn học, âm nhạc, sân khấu, nghệ thuật, TPĐA, sản phẩm đa phương tiện, TP nghệ thuật ứng dụng, chương trình phần mềm máy tính, bản đồ, biểu đồ,….
1.3. Vai trò của việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
Tình trạng xâm phạm quyền tác giả gây ra một số hệ lụy khiến các tác giả, nhà sản xuất, nhà xuất bản và những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật nói chung phải chịu thiệt thòi vì không được đền đáp xứng đáng. Nền công nghiệp văn hóa, giải trí của chúng ta theo đó cũng bị kìm hãm. Ví dụ như “vụ việc “xoilac.” phát sóng trực tiếp các trận bóng đá nam tại ASIAD 18 trong khi đài truyền hình VTV lại không mua được bản quyền phát sóng. Đây chỉ là một trong rất nhiều vụ vi phạm bản quyền tại nước ta” . Mặt khác, những vi phạm này sẽ khiến Việt Nam mất đi nhiều cơ hội hợp tác với các đối tác nước ngoài để mang đến những sản phẩm tinh thần giá trị cho người dân. Việc này sẽ làm mất động lực đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam, ảnh hưởng đến việc đẩy mạnh xây dựng nền công nghiệp 4.0.
Hiệp định CPTPP đã được quốc hội thông qua cũng đưa ra nhiều yêu cầu thay đổi, cập nhật đối với hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có QTG của Việt Nam. Việc đảm bảo bảo hộ quyền tác giả cho tác phẩm điện ảnh có vai trò nổi bật như sau:
Thứ nhất, việc tiến hành bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh sẽ trực tiếp tạo ra hành lang pháp lý ngăn chặn các hành vi xâm phạm đến quyền lợi chính đáng mà tác giả tác phẩm điện ảnh có quyền được hưởng như quyền công bố tác phẩm, truyền đạt tác phẩm, quyền sao chép tác phẩm… bởi đặc quyền của tác giả đối với tác phẩm sẽ trở nên vô ích nếu thị trường ngăn trở việc thực thi quyền của tác giả. Việc bảo hộ giúp lấy lại công bằng và có cơ chế bảo hộ cho quyền tác giả, khẳng định chắc chắn hơn nữa quyền là chủ và làm chủ thành quả sáng tạo của tác giả.
Thứ hai, hoạt động bảo hộ quyền tác giả nhằm mục đích khuyến khích sáng tạo, thu hút và bảo hộ đầu tư, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Từ đó, công chúng được hưởng thụ tác phẩm điện ảnh có giá trị, đưa nền văn hóa và bình ổn xã hội đi lên.
Thứ ba, việc tiến hành bảo hộ quyền tác giả giúp mọi người có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc nhất thiết phải tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. Có hiểu biết và nhận thức đúng đắn vấn đề, từ mỗi cá nhân sẽ biết họ cần phải làm gì khi muốn sử dụng quyền sở hữu trí tuệ sao cho phù hợp nhất đặc biệt là khi xã hội ngày càng phát triển việc sử dụng tác phẩm của người khác được tiến hành đơn giãn và dễ dàng.
1.4 Nguyên tắc bảo hộ Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
1.4.1. Đối tượng của quyền tác giả được bảo hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
Mọi cá nhân đều có quyền sáng tạo văn học nghệ thuật, khoa học và khi cả nhân tạo ra tác phẩm trí tuệ, không phụ thuộc vào giá trị nội dung và nghệ thuật, người sáng tác đều có quyền tác giả đối với tác phẩm. Mặt khác, quyền tác giả cũng được bảo hộ theo nguyên tắc chung của Luật Dân sự. Những nội dung thể hiện trong tác phẩm đi ngược với lợi ích của dân tộc, bôi nhọ vĩ nhân, vi phạm đạo đức xã hội… sẽ không được bảo hộ. Bản thân sản phẩm lao động trí tuệ mang tính tích lũy khá cao, không bị hao mòn, cạn kiệt như tài sản hữu hình. TP sẽ được biết đến rộng rãi nếu nó có nội dung phong phú kết hợp với hình thức thể hiện sáng tạo, nội dung tác phẩm có tính nghệ thuật, có giá trị khoa học và được đúc kết từ những kinh nghiệm nghề nghiệp thực tiễn của tác giả. Đây là đặc trưng dễ nhận biết nhất của QTG.
1.4.2. Quyền tác giả thiên về bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm
Luật sở hữu trí tuệ chỉ bảo hộ hình thức của tác phẩm khi nó được ra đời và thể hiện dưới một hình thức nhất định hay nói cách khác tác phẩm phải được định hình trong một “phương tiện thể hiện” cụ thể chứ luật không bảo hộ nội dung sáng tạo TP
Dạng vật chất nhất định mà tác phẩm định hình được hiểu là phương thức mà thông qua đó công chúng biết đến sự tồn tại của tác phẩm như âm thanh hình ảnh chữ viết, ký hiệu, màu sắc… được thể hiện trên giấy hoặc chất liệu khác. Việc công chúng nhận biết sự tồn tại của tác phẩm được hiểu là trực tiếp nhận biết và gián tiếp nhận biết. Trực tiếp nhận biết thông qua các giác quan đọc bài thơ, nhìn bức tranh, nghe bản nhạc/bài thơ, sở bức tượng.
Nói như vậy có nghĩa, giới hạn quyền tác giả đối với tác phẩm không bao gồm ý tưởng của tác giả thể hiện trong tác phẩm vì không có căn cứ nào để ghi nhận một nội dung đang hiển hiện trong suy nghĩ của người khác. Những ý tưởng kể cả cách sắp xếp, trình bày đã có trong suy nghĩ tác giả nhưng chưa được thể hiện ra bên ngoài thì không thể công nhân và bảo hộ được.
Khi quy định như vậy sẽ có căn cứ cho tác giả được công nhận quyền cũng như có bằng chứng để họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đặc biệt là trong trường hợp phải chống lại sự sao chép, tự ý sửa chữa tác phẩm từ người khác.
Pháp luật về quyền tác giả không quy định điều kiện về nội dung đối với tác phẩm được bảo hộ, trong khi quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ nội dung của đối tượng. Đây là một đặc điểm có thể phân biệt hai lĩnh vực. Pháp luật bảo hộ QTG quy định như vậy là bởi trên thực tế nhiều tác phẩm có nội dung giống nhau dù cùng nghiên cứu một vấn đề, cùng một góc độ tiếp cận nhưng chắc chắn phải có điểm khác biệt ít nhất về ngôn từ, cách tư duy vấn đề, cách sắp xếp kết cấu nội dung tác phẩm… những điểm khác biệt đó sẽ làm nên đặc điểm riêng của tác giả. Vì vậy, tác giả tác phẩm trong trường hợp này vẫn được ghi nhận quyền của mình. Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
1.4.3. Hình thức xác lập quyền theo cơ chế bảo hộ tự động
Đây là nguyên tắc cơ bản của hoạt động bảo hộ QTG. Theo đó, QTG được ghi nhận chính từ hành vi tạo ra tác phẩm của tác giả, không phụ thuộc vào bất cứ thủ tục nào. Ngay từ khi tác phẩm được ra đời với một hình thức nhất định, tác giả được công nhận các quyền của người sáng tạo về mặt pháp lý. Từ đây có thể nói, quyền tác giả phát sinh một cách tự nhiên và khách quan.
Luật bảo hộ QTG của các nước đều quy định về việc bảo hộ tự động (bảo hộ không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký). Như vậy, pháp luật về QTG không quy định bắt buộc đối với tác giả nghĩa vụ đăng ký và nộp đơn yêu cầu bảo hộ quyền tác giả, bởi quyền này là một loại quyền tự động phát sinh khi ý tưởng của tác giả đã được thể hiện dưới hình thức nhất định – tác phẩm. Tuy vậy, việc đăng ký quyền tác giả có giá trị vô cùng lớn khi đó là chứng cứ chúng minh của đương sự khi có tranh chấp về QTG.
1.4.4. Quyền tác giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối
Đối với các tác phẩm đã được công bố, phổ biến và không bị cấm sao chụp thì cá nhân tổ chức được phép sử dụng tác phẩm của người khác miễn là đáp ứng đủ một số điều kiện cơ bản như sử dụng không nhằm mục đích sinh lợi, không gây ảnh hưởng đến hoạt động khai thác bình thường của tác phẩm, không xâm hại đến các quyền, lợi ích hợp pháp khác của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.
Theo lẽ thông thường tác phẩm được bảo hộ chỉ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà công dân đó mang quốc tịch. “Trong trường hợp để bảo hộ ở phạm vi nước ngoài, tác phẩm đó phải được sáng tác bởi công dân của một quốc gia là thành viên của công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật hoặc là thành viên của tổ chức WTO tạo ra, như vậy tác phẩm đó sẽ được bảo hộ tự động ở tất cả các quốc gia thành viên khác của công ước Berne hay tổ chức WTO.
Như đã phân tích trên, thời điểm bắt đầu ghi nhận việc bảo hộ quyền tác giả là giống nhau giữa các quốc gia, tuy nhiên về thời hạn bảo hộ sẽ có giới hạn và được xác định khác nhau tùy theo pháp luật từng nước.
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Tác phẩm điện ảnh là một trong những loại hình tác phẩm cần được bảo hộ quyền tác giả. Với những đặc điểm riêng của mình tác phẩm điện ảnh khi lưu thông và được khai thác dưới bất kỳ hình thức nào, trong bất cứ môi trường nào cũng dễ dàng bị xâm phạm bản quyền và hành vi xâm phạm đó sẽ gây ra thiệt hại dù là lớn hay nhỏ, dù là vật chất hay về tinh thần cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Đây là vấn đề quan trọng nhưng thường xuyên bị xem nhẹ và vi phạm trên thực tế.
Để có thể bảo hộ và khắc phục tình trạng xâm phạm này, chương 2 của Luận văn sẽ tìm hiểu cụ thể quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam về bão bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, từ đó xác định được những bất cập trong quy định liên quan đến bảo hộ quyền tác giả, đồng thời chỉ ra những biện pháp khắc phục để pháp luật về bảo hộ QTG đối với tác phẩm điện ảnh ngày càng hoàn thiện, hạn chế được các hành vi xâm phạm. Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
