Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh và các kiến nghị hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả
Theo Khoản 1 Điều 6 Luật SHTT quy định: “QTG phát sinh kể từ khi TP được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký”.
Dựa theo quy định trên thì đối tượng muốn được bảo hộ QTG trước tiên phải là TP. Theo quy định hiện nay, “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”.
Mọi sản phẩm sáng tạo trí tuệ đều bắt đầu từ ý tưởng sáng tạo. Ý tưởng sáng tạo được hình thành trong tư duy, là sản phẩm vô hình không ai có thể nhìn thấy cảm nhận hay biết được ngoại trừ người tạo ra ý tưởng đó, do vậy rất khó có thể xác định được thời điểm TP được sáng tạo nên, mà thời điểm TP hình thành lại là yếu tố cốt yếu trong việc xác định QTG để từ đó có thể bảo hộ các quyền cho tác giả thực sự của TP đó. Xuất phát từ đặc tính đặc thù là “vô hình” này mà pháp luật của ta hiện nay có quy định cụ thể TP sẽ chỉ được bảo hộ kể từ thời điểm nó được sáng tạo ra dưới một hình thức vật chất nhất định. Có nghĩa là sản phẩm đó được lưu lại dưới bất kỳ hình thức, ngôn ngữ hay phương tiện nào, dù đã được đăng ký hay chưa đăng ký, công bố hay chưa công bố thì đều phát sinh QTG. Như vậy, sự xuất hiện của TP chính là một trong những căn cứ phát sinh QTG và quyền này cần được tôn trọng, bảo vệ.
Ví dụ: TP thơ, truyện thể hiện dưới dạng những trang viết, TPĐA dưới dạng những thước phim, TP tạo hình thể hiện dưới dạng hình khối, đường nét với các dạng vật chất như gỗ, đá,…
Trước đây Luật SHTT chưa có quy định nào cụ thể và trực tiếp về điều kiện bảo hộ đối với TP, một sản phẩm sáng tạo có thể xác định đủ điều kiện là TP được bảo hộ phải thông qua nhiều quy định khác nhau của Luật SHTT, cụ thể: TP phải thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học; TP là kết quả của hoạt động sáng tạo; TP phải được ấn định trên một hình thức vật chất nhất định.
- Đề xuất, kiến nghị
Từ đó có thể thấy rằng, một sản phẩm được bảo hộ là TP thì phải đáp ứng đủ ba điều kiện nêu trên mới có đủ căn cứ xác định được một sản phẩm sáng tạo được bảo hộ là TP. Do đó việc áp dụng trong thực tiễn gây ra không ít khó khăn, nên việc ban hành một quy định trực tiếp về điều kiện bảo hộ đối với TP là thật sự cần thiết. Bên cạnh đó tại Khoản 1 Điều 14 Luật SHTT liệt kê ra các TP được bảo hộ QTG chưa đảm bảo tính bao quát hết tất cả các TP. Đặc biệt là trong thời đại nhiều loại hình TP mới được ra đời. Để không bỏ sót các loại hình TP mới đủ điều kiện được bảo hộ thì tại Điều 14 Luật SHTT nên được bổ sung thêm điều khoản mang tính bao quát như “Các TP khác đủ điều kiện bảo hộ đối với TP”.
2.2 Chủ thể quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Chủ thể QTG được hiểu là cá nhân, tổ chức có các quyền nhất định đối với một TP, bao gồm tác giả của TP và chủ sở hữu QTG. Về QTG, tác giả hoặc chủ sở hữu QTG được Luật SHTT quy định tại Chương III về chủ sở hữu QTG, quyền liên quan. Ta có thể thấy cơ bản có hai trường hợp. Nếu tác giả đồng thời là chủ sở hữu QTG thì vừa có quyền nhân thân vừa có quyền tài sản. Còn nếu tác giả không đồng thời là chủ sở hữu QTG thì tác giả có quyền nhân thân còn chủ sở hữu có quyền tài sản.
2.2.1. Tác giả, đồng tác giả
Theo Khoản 1 Điều 6 Nghị định 22/2018/NĐ-CP ghi nhận: “Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ TP văn học, nghệ thuật, khoa học”. Có thể hiểu tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phần TP văn học nghệ thuật, và khoa học, luôn song hành với tác giả là TP. TPĐA chính là sản phẩm được nhào nặn từ bàn tay tuyệt tác cùng sự sáng tạo của tác giả.
Với khái niệm trên, có thể hiểu là chỉ những người trực tiếp làm ra TPĐA thông qua hoạt động của tư duy sáng tạo mới được coi là tác giả của TPĐA đó. Điều kiện để được công nhận là tác giả TPĐA và được pháp luật bảo hộ thì chủ thể phải đáp ứng đầy đủ tiêu chí sau: Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Một là, chủ thể phải là người trực tiếp sáng tạo ra TPĐA và cũng là chủ sở hữu TPĐA. Các TPĐA phải được thể hiện dưới dạng hình thức nhất định.Trong trường hợp có từ hai người trở lên cùng tham gia sáng tạo, hoàn thành TPĐA từ nguồn tài chính, điều kiện vật chất và thời gian của mình, thì họ được xem là các đồng tác giả. Họ có quyền nhân thân và quyền tài sản như nhau đối với TP và có độc quyền quyết định về nội dung mà mình đã sáng tạo có thể tách rời mà làm ảnh hưởng đến phần của các đồng tác giả khác. Khi chuyển giao QTG, cần phải có sự đồng ý của tất cả các đồng tác giả của TP.
Bởi tính chất đặc biệt để tạo nên loại hình TP này, các QTG đối với TPĐA cũng được PL hướng dẫn tương ứng cho các tác giả góp sức sáng tạo, cũng như chủ sở hữu TP. Việc hình thành nên một TPĐA là hoạt động sáng tạo tổng hợp nhiều công đoạn, quá trình khác nhau kết hợp các hiệu ứng âm thanh, ánh sáng khác nhau để tạo nên một TP. Ngoài ra, TPĐA còn là sản phẩm của hoạt động tư duy sáng tạo của nhiều chủ thể hợp thành. Khoản 1 Điều 21 Luật SHTT quy định các chủ thể được bảo hộ QTG đối với TPĐA bao gồm như: đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim,…Tuy nhiên, việc một tập thể, nhóm người tạo ra TPĐA chỉ được hưởng quyền nhân thân theo quy định chỉ khi có “thỏa thuận”. Do đó sẽ dể xảy ra tranh chấp giữa các chủ thể cùng tạo ra TP nếu như trong quá trình sáng tạo ra TP không có sự thỏa thuận, thống nhất.
Hai là, chủ thể phải ghi tên thật hoặc bút danh của mình trên TPĐA đã công bố. Theo quy định tại Khoản 1, 2, 3 Điều 19 Luật SHTT về Quyền nhân thân thì tác giả được quyền: Đặt tên cho TP; Đứng tên thật hoặc bút danh trên TP; được nêu tên thật hoặc bút danh khi TP được công bố, sử dụng; Công bố TP hoặc cho phép người khác công bố TP. Đây là những quyền nhân thân mà tác giả TPĐA được pháp luật bảo vệ. Việc đặt tên cho TP đánh dấu sự sở hữu của tác giả lên TP do mình sáng tạo nên. Việc đặt tên cho TP do tác giả toàn quyền quyết định. Tuy nhiên, việc đặt tên cho các TP cần phải rõ ràng, rành mạch. Không gây khó khăn, hiểu lầm cho các đối tượng khác khi tiếp cận TPĐA để tránh những trường hợp tranh chấp, vi phạm có thể xảy ra.
Ba là, đối tượng chỉ được bảo hộ QTG đối với TPĐA khi thuộc phạm vi đối tượng quy định tại Khoản 1, 2 Điều 13 Luật SHTT, quy định: Chủ thể là cá nhân, tổ chức có quốc tịch Việt Nam hay có quốc tịch nước ngoài (kể cả có quốc tịch nước khác hoặc không có quốc tịch nước nào) có TP lần đầu tiên được xuất bản tại Việt Nam. Trong trường hợp này, chủ thể phải đảm bảo thời gian công bố TP.
Căn cứ theo Khoản 3 Điều 6 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP quy định: “Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra TP không được công nhận là tác giả hoặc đồng tác giả”. Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, “Đồng tác giả là những tác giả cùng trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ TP văn học, nghệ thuật, khoa học”. Đây là lần đầu tiên có quy định về khái niệm đồng tác giả. Tuy nhiên, định nghĩa kể trên vẫn chưa làm rõ được như thế nào là đồng tác giả, và có thể dẫn đến những cách hiểu khác nhau. Chẳng hạn một bộ phim điện ảnh được tạo ra phải có nhiều khâu cùng kết hợp để thực hiện như: tác giả biên kịch, tác giả phim, đạo diễn, âm thanh, ánh sáng, quay phim,…vậy liệu rằng tất cả những cá nhân đó có phải là đồng tác giả của TPĐA? Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Việc xác định như thế nào là đồng tác giả có ý nghĩa quan trọng. Nếu là đồng tác giả thì những người đó sẽ cùng nhau được hưởng quyền nhân thân và quyền tài sản đối với TP đó. Chính vì thế nếu quy định về đồng tác giả không rõ ràng sẽ dể dẫn đến xảy ra tranh chấp về QTG nếu giữa các tác giả.
- Đề xuất, kiến nghị:
Luật SHTT cần phải có những sửa đổi quy định về tác giả, đồng tác giả để phù hợp trong thực tiễn. Chỉ trường hợp các tác giả có sự bàn bạc, thỏa thuận, thống nhất để cùng sáng tạo ra một TP thì mới được xem là đồng tác giả. Còn việc tạo ra từng phần độc lập, không có sự bàn bạc thống nhất trong quá sáng tạo ra TP thì không được xem là đồng tác giả. Như vậy sự thống nhất trong việc sáng tạo ra TP là yếu tố xác định đồng tác giả.
Thấy được những bất cập đó, Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022) đã có những chỉnh sửa, bổ sung và cách nhìn nhận về tác giả, đồng tác giả hợp lý hơn so với Nghị định 22/2018/NĐ-CP. Nhằm tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc có thể khắc phục được những bất cập trước đây. Cụ thể tại Khoản 1 Điều 12a Luật SHTT sửa đổi bổ sung năm 2022 quy định “Tác giả là người trực tiếp sáng tạo TP. Trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp sáng tạo TP với chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành một tổng thể hoàn chỉnh thì những người đó là các đồng tác giả”. So với Nghị định 22/2028/NĐ-CP quy định không còn quy định tác giả là người tạo ra một phần hoặc toàn bộ TP; không còn quy định theo kiểu liệt kê danh sách đóng về TP. Và không công nhận tư cách tác giả, đồng tác giả với trường hợp hỗ trợ, góp ý hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra TP.
2.2.2 Chủ sở hữu quyền tác giả tác đối với tác phẩm điện ảnh Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Theo Điều 36 Luật SHTT, chủ sở hữu QTG là: “tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này”. Trên cơ sở đó, chủ thể là chủ sở hữu QTG đối với TPĐA sẽ thuộc các trường hợp quy định từ Điều 36 đến Điều 42 Luật SHTT, cụ thể:
Chủ sở hữu QTG là tác giả: theo hướng dẫn tại Điều 37 Luật SHTT tác giả là chủ sở hữu QTG chỉ khỉ tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để sáng tạo ra TPĐA. Lúc này chủ sở hữu QTG có toàn bộ quyền nhân thân và quyền tài sản. Hay có thể nói theo cách khác chủ thể vừa là người trực tiếp sáng tạo ra TPĐA, vừa là người có sự đóng góp về tài chính, cơ sở vật chất khác trong suốt quá trình hoàn thành TPĐA. Ví dụ: J.K Rowling vừa là tác giả vừa là chủ sở hữu TP “Harry Potter”.
Chủ sở hữu QTG là các đồng tác giả: tại Điều 38 Luật SHTT quy định cá nhân hay tổ chức sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra TPĐA thì chủ sở hữu QTG là các đồng tác giả. Chủ sở hữu là các đồng tác giả có chung các quyền nhân thân và quyền tài sản theo quy định của PL đối với TP đó. Nếu TPĐA có phần riêng biệt có thể tách rời để sử dụng một cách độc lập mà không làm ảnh hưởng đến các phần còn lại của các đồng tác giả khác thì sẽ được hưởng các quyền nhân thân và tài sản đối với phần riêng biệt đó. Ví dụ: Bộ phim điện ảnh “ Sống trong sợ hãi” đồng tác giả cùng viết là Bùi Thạc Chuyên và Nguyễn Thị Minh Ngọc và được đạo diễn Bùi Thạc Chuyên thực hiện và công chiếu vào năm 2005.
Chủ sở hữu QTG là cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng hoặc giao nhiệm vụ cho tác giả TPĐA: ta có thể hiểu chủ sở hữu QTG được quy định tại Điều 39 Luật SHTT là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ sáng tạo TP cho tác giả là người thuộc tổ chức mình hoặc giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra TP là chủ sở hữu các quyền tài sản và quyền công bố TP hoặc cho phép người khác công bố TP. Ví dụ: Doanh nghiệp thuê dịch vụ làm video quảng cáo cho một bộ phim điện ảnh.
Chủ sở hữu QTG là người thừa kế: dựa theo quy định tại Điều 40 Luật SHTT. Ta có thể thấy, căn cứ để phát sinh quyền sở hữu của chủ sở hữu QTG đối với TPĐA là các chủ thể này thuộc đối tượng được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trường hợp tác giả TPĐA đồng thời là chủ sở hữu QTG TPĐA thì sau khi tác giả chết, người thừa kế trở thành chủ sở hữu QTG TPĐA và được hưởng các QTG của TPĐA được quy định tại khoản 3 Điều 19 và Điều 20 Luật SHTT.
Chủ thể là cá nhân, tổ chức được chuyển nhượng quyền: thông qua Điều 42 Luật SHTT quy định “Tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và Điều 20 của Luật này theo thỏa thuận trong hợp đồng là chủ sở hữu QTG; tổ chức, cá nhân đang quản lý TP khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả, được xác định”. Mà cụ thể quyền mà cá nhân, tổ chức được chuyển giao là quyền tài sản và quyền công bố TP hoặc cho phép người khác công bố TP Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Chủ sở hữu QTG là Nhà nước: căn cứ phát sinh quyền sở hữu QTG của Nhà nước là dựa trên các cơ sở pháp luật đối với TPĐA khi TPĐA đó là TP khuyết danh; TPĐA còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu QTG TPĐA chết mà không có người thừa kế thì người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được hưởng di sản; TPĐA được chủ sở hữu QTG chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước.
Như vậy, chủ sở hữu QTG TPĐA theo quy định tại Điều 36 của Luật SHTT có thể là các tổ chức, cá nhân năm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản theo quy định tại điều 20 của Luật SHTT. Theo đó chủ sở hữu QTG được bảo hộ và được các độc quyền khai thác TP theo ý muốn của mình. Chủ sở hữu quyền TPĐA có thể là tác giả hoặc không đồng thời là tác giả đối với TPĐA đó.
Ví dụ: Họa sĩ Lê Linh chỉ có tư cách là tác giả đối với bộ truyện tranh “Thần đồng đất Việt” vì tư cách chủ sở hữu QTG đã mặc định chuyển giao cho Công ty TNHH Phan Thị theo hợp đồng lao động.
Tuy nhiên, quy định tại Điều 37 và Điều 39 Luật SHTT vẫn còn mâu thuẫn về chủ sở hữu QTG và khó khăn khi áp dụng trong thực tiễn. Gây ra hiểu lầm trong việc xác định chủ sở hữu QTG. Trong một tình huống giả định ông A làm việc tại một cơ quan với công việc là văn thư, trong thời gian không làm việc ông A đã tranh thủ sáng tác kịch bản điện ảnh. Vậy trong trường hợp này ông A có được xem là chủ sở hữu QTG? Nếu như xét theo quy định tại Điều 37 Luật SHTT ông A không là chủ sở hữu QTG vì kịch bản điện ảnh ông sáng tác trong thời gian làm việc, ngay tại nơi ông làm và sử dụng bút, giấy được cơ quan trang bị tại nơi làm việc để sáng tạo TP. Nhưng nếu xét theo quy định tại Điều 39 thì ông A lại là chủ sở hữu QTG vì nhiệm vụ cơ quan giao cho ông là nhân viên văn thư chứ không phải là sáng tác kịch bản điện ảnh.
Như vậy mấu chốt để xác định chủ sở hữu QTG của cơ quan, tổ chức nằm ở việc giao nhiệm vụ cho tác giả sáng tạo ra TP, chứ không nằm ở việc xác định các yếu tố không gian, thời gian, cơ sở vật chất – kỹ thuật. Vì vậy quy định tại Điều 37 cần phải được sửa đổi để thống nhất hơn với Điều 39 Luật SHTT cũng như không gây ra hiểu lầm và khó khăn trong thực tiễn.
Tương tự tại Khoản 2 Điều 38 quy định vẫn còn chưa rõ ràng cụ thể: “Các đồng tác giả sáng tạo ra TP quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì có các quyền quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này đối với phần riêng biệt đó”. Quy định tại khoản này chỉ tập trung nhấn mạnh vào quyền lợi của các đồng tác giả đối với các phần TP do mình sáng tạo, nhưng nếu trường hợp không xác định được các phần sáng tạo của từng tác giả trong một TP thì quyền lợi của các tác giả sẽ được quy định như thế nào? Do đó Luật SHTT ngoài quy định về trường hợp xác định được phần sáng tạo của các tác giả thì phải bổ sung thêm quy định về quyền và nghĩa vụ của đồng tác giả là như nhau trong trường hợp không xác định được phần sáng tạo của từng người trong TP chung.
- Đề xuất, kiến nghị:
Pháp luật SHTT cần quy định cụ thể trường hợp tác phẩm được sáng tạo bởi các đồng tác giả cũng có hai trường hợp: (i) Nếu xác định được phần sáng tạo độc lập của mỗi tác giả đối với tác phẩm chung, mỗi tác giả có quyền đối với tác phẩm mà họ sáng tạo ra; (ii) Nếu không xác định được phần sáng tạo của từng người, các đồng tác giả có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với toàn bộ tác phẩm
2.3 Nội dung về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
QTG là quyền của tác giả, chủ sở hữu QTG đối với một loại tài sản đặc biệt mang tính tư duy, sáng tạo. “Theo Công ước Bern và Luật QTG của tất cả các quốc gia trên thế giới, tác giả có hai nhóm quyền gồm quyền tinh thần và quyền kinh tế; theo PL Việt Nam là quyền nhân thân và quyền tài sản. Các QTG tự động phát sinh ngay sau khi TP được hình thành”.
2.3.1 Quyền nhân thân
Quyền nhân thân đối với TP là các quyền mang yếu tố tinh thần của chủ thể đối với TP. Như tên gọi của nó, quyền nhân thân về bản chất là các quyền gắn liền với chủ thể nhất định mà không thể chuyển dịch được. Đăc trưng của quyền nhân thân bao gồm:
- Thứ nhất, luôn gắn với một cá nhân xác định, không được phép chuyển giao cho người khác (trừ quyền công bố TP).
- Thứ hai, không xác định được bằng tiền. Về cơ bản, chủ thể của quyền nhân thân chỉ được hưởng lợi ích tinh thần mà không được hưởng lợi ích vật chất. Những lợi ích vật chất mà chủ thể được hưởng là do giá trị tinh thần mang lại.
- Thứ ba, được xác lập không phải dựa trên các sự kiện pháp lý mà chúng được xác lập trực tiếp trên cơ sở những quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
- Thứ tư, là một loại quyền mang tính tuyệt đối. Các chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng giá trị nhân thân được bảo vệ.
Quyền nhân thân có thể được chia thành quyền nhân thân không thể chuyển giao được quy định tại các Khoản 1, 2, 4 Điều 19 của Luật SHTT và quyền có thể chuyển giao quy định tại Khoản 3 Điều 19 của Luật SHTT. Bao gồm các quyền sau đây:
Quyền đặt tên cho tác phẩm điện ảnh: các nhà phê bình thường nói, mỗi cái tên TP nghệ thuật có vai trò quan trọng, tựa như là “chìa khóa” giúp kết nối công chúng và TP. Do đó, trong quá trình sáng tác, nhiều văn nghệ sỹ rất dụng công tìm tòi để đặt tên phù hợp, giàu biểu cảm cho TP của mình. “Trong một Trại sáng tác ký và truyện ngắn Tuyên Quang, nhà văn Sương Nguyệt Minh từng ví nhan đề như gương mặt của một con người, là cái nổi bật nhất để phân biệt TP này với TP khác. Để đặt được một nhan đề sao cho đúng, cho hay, cho độc đáo không phải dễ. Bởi nhan đề vừa phải khái quát ở mức cao về nội dung tư tưởng, vừa phải nói cô động được cái “thần”, cái “hồn” của TP”.
Nếu Luật SHTT quy định tại Khoản 1 Điều 19 chỉ là đặt tên cho TP thì tại Khoản 1 Điều 19 của Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022) đã thêm một nội dung mới về quy định đặt tên cho TP. Theo đó tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên TP cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật SHTT. Như vậy, ngoài các quyền tài sản, bên nhận chuyển giao còn có thể sử dụng có quyền đặt tên TP, tùy theo thỏa thuận với tác giả. Trước khi có quy định trên, chủ sở hữu trong quá trình sử dụng, khai thác TP, nếu có nhu cầu thay đổi tên TP phải có văn bản xác nhận đổi tên TP của tác giả. Việc này làm phức tạp, khó khăn cho chủ sở hữu QTG. Quy định mới không chỉ đảm bảo các quyền nhân thân vốn có của tác giả, mà còn tạo điều kiện thuận lợi và nhanh chóng hơn cho chủ sở hữu khi cần đổi tên TP.
Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên TPĐA, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng: trong xã hội hiện đại và phát triển như hiện nay. Quyền đứng tên tác giả là quyền giúp tác giả được tùy ý lựa chọn đứng tên như thế nào đối với TP. Tác giả có thể đứng tên thật của mình hoặc chỉ để bút danh,….Thậm chí không đứng tên TP. Dù trong trường hợp nào đi nữa thì QTG đối với TP vẫn được bảo vệ, miễn là sau khi TP được công bố, phổ biến, sử dụng tác giả vẫn chứng minh được TP do chính mình sáng tạo ra và có quyền yêu cầu người sử dụng TP thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với quyền của mình. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Quyền công bố tác phẩm hoặc cho người khác công bố TPĐA: theo quy định của Khoản 2 Điều 22 của Nghị định 100/2006/NĐ-CP về QTG và quyền liên quan công bố TP được hiểu là việc phát hành TP đến công chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng tuỳ theo bản chất của TP, do tác giả, chủ sở hữu QTG thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu QTG. Đây là cơ sở pháp lý để tác giả bảo vệ hình ảnh của mình khi bị xâm phạm do việc công bố TP trái kiểm soát của tác giả gây ra.
Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của TPĐA, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả: trong các quyền nhân thân không thể chuyển giao thì quyền này được coi là quan trọng nhất và trong thực tiễn nó cũng hay bị xâm phạm nhất. Khoản 5 Điều 28 Luật SHTT cũng có quy định việc “Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc TP dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả” được xem là xâm phạm QTG.
TPĐA là kết quả lao động sáng tạo đầu tư tâm huyết của tác giả, bất cứ hành vi hủy hoại hay cắt xén, làm thay đổi căn bản nội dung TP đều xâm hại đến TP hoàn chỉnh của tác giả. Vì thế, chỉ có tác giả mới có quyền sửa đổi, bổ sung nội dung TP của chính mình cũng chỉ có tác giả mới có quyền cho phép người khác sửa đổi bổ sung nội dung TP. Vì vậy bất cứ người nào với bất cứ hành vi nào sửa đổi TP mà không có sự cho phép của tác giả đều bị coi là hành vi xâm phạm QTG và phải chịu những hậu quả pháp lý nhất định theo pháp luật.
Quy định này giúp tác giả bảo vệ được nội dung TP cũng như uy tín, danh dự của mình. Tuy nhiên trên thực tế nếu xảy ra tranh chấp việc tác giả thu thập chứng cứ có thể chứng minh được HVVP gây “phương hại đến danh dự và uy tín” là một điều vô cùng khó khăn. Vì việc đánh giá một TP phần lớn xuất phát từ quan điểm cá nhân chứ không có quy chuẩn cụ thể. Có người sẽ cho rằng sữa chữa, cắt xén sản phẩm sai lệch làm ảnh hưởng uy tín, danh dự của tác giả, ngược lại thì có người sẽ cho rằng việc sửa chữa TP làm cho TP hay hơn. Để khắc phục vấn đề tác giả phải chứng minh việc “Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc TP dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả”. Tại Khoản 3 Điều 20 Nghị định 22/2018/NĐ-CP cũng giái thích như sau: “Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của TP, không cho người khác sửa chữa, cắt xén TP quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật SHTT là việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén TP hoặc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính trừ trường hợp có thoả thuận của tác giả”. Theo quy định này, tác giả không cần chứng minh việc sửa chữa, cắt xén TP gây phương hại đến danh dự, uy tín của mình mà chỉ cần chứng minh việc sửa chữa, cắt xén không được sự đồng ý của tác giả đã bị coi là xâm phạm. Tuy nhiên như thế thì lại không đúng với tinh thần được thể hiện tại Khoản 4 Điều 19 và Khoản 5 Điều 28 Luật SHTT dẫn đến mâu thuẫn. Mặt khác quyền bảo vệ sự toàn vẹn TP là một trong những quyền tinh thần thuộc về tác giả, trong khi đó quyền làm TP phái sinh là một trong những quyền tài sản thuộc về chủ sở hữu QTG và có thể chuyển giao cho người khác. Tranh chấp có thể phát sinh khi người có quyền làm TP phái sinh sửa chữa, thay đổi TP gốc mà không được sự cho phép của tác giả, làm ảnh hưởng đến TP gốc của tác giả, khiến cho tác giả cảm thấy danh dự bị xâm phạm. Như vậy đã có sự mâu thuẫn xuất hiện trong quy định Luật SHTT khi quyền bảo vệ sự toàn vẹn của TP là một trong những quyền nhân thân, còn quyền cho làm TP phái sinh lại thuộc nhóm quyền tài sản. Điều này gây ra những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Để minh họa cho sự mâu thuẫn giữa quyền bảo vệ sự toàn vẹn của TP và quyền làm TP phát sinh ta có thể xem xét vụ việc tranh chấp liên quan đến bộ truyện tranh “Thần đồng Đất Việt”. Cụ thể:
Nguyên đơn ông Lê Phong Linh (bút danh Lê Linh) và bị đơn là Công ty Phan Thị do bà Phan Thị Mỹ Hạnh làm Giám đốc. Theo đơn của họa sĩ Lê Linh, tập truyện “Thần đồng Đất Việt” ban đầu do họa sĩ Lê Linh và Công ty TNHH TM DV KT & Phát triển tin học Phan Thị (Công ty Phan Thị) thực hiện. Tập đầu tiên ra mắt năm 2002. Ông Linh sáng tạo ra 78 tập truyện này từ năm 2002-2005. Tranh chấp QTG xảy ra khi đến tập 78. Lê Linh chấm dứt cộng tác với Phan Thị do đến năm 2006 phát hiện bà Hạnh tự ý ghi tên bà vào giấy đăng ký bản QTG nên họa sĩ Lê Linh đã hợp tác với Công ty Phan thị, nhưng sau đó Phan Thị vẫn thuê họ sĩ làm tiếp và xuất bản từ tập 79 trở đi mà không có sự đồng ý của Lê Linh. Tháng 4/2007, họ sĩ Lê Linh gửi đơn kiện Công ty Phan Thị, yêu cầu Công ty này công nhận ông là tác giả duy nhất với các hình vẽ các nhân vật truyện tranh trong “Thần đồng Đất Việt” chứ không phải là đồng tác giả với bà Phan Thị Mỹ Hạnh như trong hồ sơ đăng ký bản quyền mà đơn vị này đưa ra.
Trong cả Bản án sơ thẩm số 35/2019/DSST ngày 18/02/2019 và Bản án phúc thẩm số 774/2019/DSPT ngày 03/09/2019. Tòa án đều tuyên công nhận Lê Linh là tác giả duy nhất đối với hình tượng nhân vật trong “Thần đồng Đất Việt”. Theo quan điểm của Hội đồng xét xử vụ việc trên, ý tưởng không được bảo hộ QTG. Họa sĩ Lê Linh là người trực tiếp sáng tạo ra hình tượng 4 nhân vật chính trong “Thần đồng Đất Việt” nên có quyền nhân thân của tác giả là quyền bảo vệ sự toàn vẹn của TP. Việc Công ty Phan Thị tiếp tục sáng tác phần tiếp theo của “Thần đồng Đất Việt” với những biến thể khác là xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn đối với TP của tác giả Lê Linh. Vậy Công ty Phan Thị chỉ là người đưa ra ý tưởng chứ không trực tiếp tham gia và việc sáng tạo nhân vật trong “Thần đồng đất Việt” nên không được xem là đồng tác giả mà chỉ là chủ sở hữu QTG, nên việc cho họa sĩ khác tiếp tục viết truyện mà không có sự đồng ý của tác giả Lê Linh là hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả. Vậy vấn đề được đặt ra là Công ty Phan Thị là chủ sở hữu QTG việc viết tiếp các tập truyện “Thần đồng Đất Việt” có được cho là làm TP phái sinh? Một trong những độc quyền của chủ sở hữu QTG. Tuy nhiên tòa đã không công nhận việc làm này của Công ty Phan Thị là việc làm TP phái sinh khi không chỉ ra được hình thức làm TP phái sinh: dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải như quy định tại Khoản 8 Điều 4 Luật SHTT.
Qua vụ việc trên ta có thế thấy những bất cập của Luật SHTT trong thực tiễn khi không giải quyết được mối quan hệ giữa tác giả và chủ sở hữu QTG. Dẫn đến việc xảy ra mâu thuẫn trong bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của tác giả và chủ sở hữu QTG.
Thực trạng hiện nay, vấn đề xâm phạm QTG tại Việt Nam đặc biệt là xâm phạm quyền nhân thân của tác giả, vẫn xảy ra khá nhiều, gây bức xúc không nhỏ cho những người sáng tạo ra TP, chủ sở hữu TP, cũng như những người thưởng thức TP. Những người làm công tác sáng tạo ra TP sẽ ngần ngại thực hiện những ý đồ sáng tạo của mình, và điều này sẽ tác động không tốt đến đời sống văn hóa tinh thần của cả cộng đồng. Ngoài ra vấn đề QTG bị xâm phạm cũng gây thiệt hại lớn đến nền kinh tế quốc dân. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Trong lĩnh vực điện ảnh lại một lần nữa, Wed phim lậu lớn nhất Việt Nam “Phimmoi.” được nhắc tên. Nguyên nhân được xác định là phim lậu xâm phạm QTG, quyền liên quan. “Ngày 19 tháng 8 Công an TP HCM khởi tố vụ án hình sự liên quan website phimmoi. Các cá nhân đã sao chép, sử dụng TPĐA để phát trên website: www.phimmoi.. Web phim lậu này đã liên tục xâm phạm QTG quyền liên quan để chiếu phim trực tuyến miễn phí trên mạng internet”27. Kể từ đầu năm nay trang chiếu phim lậu này đã rất nhiều lần bị cảnh cáo. Tuy nhiên, vì lợi nhuận khủng nên bất chấp các quy định pháp luật mà thực hiện.
- Đề xuất, kiến nghị:
Từ những thực trạng nêu trên có thể thấy rằng tình trạng xâm phạm các quyền xảy ra rất phổ biến và bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Vì vậy, hệ thống pháp luật cần phải có những biện pháp khắc phục triệt để tình trạng này ngày một diễn ra ít hơn.
Một là, cần phải hoàn thiện hơn nữa các quy định chung về QTG. Quyền nhân thân được xem là một trong những quyền quan trọng nhất, nhưng thường hay bị xâm phạm nhất trong thực tế. Do đó, mọi hành vi sửa chữa, cắt xén hay xuyên tạc TP đều phải bị xem là hành vi xâm phạm QTG mà không phụ thuộc vào việc hành vi đó có gây phương hại đến danh dự uy tín của tác giả hay không. Điều này cũng giúp tác giả bớt đi nghĩa vụ chứng minh.
Hai là, Cần tiếp tục nâng cao sự nhận thức vai trò PL, sự hiểu biết PL của người dân bằng cách tuyên truyền phổ biến kiến thức PL về QTG qua các phương tiện truyền thông, phương tiện thông tin đại chúng.
Ba là, Nên có một số quy định về việc kiểm duyệt nội dung để ngăn chặn những nội dung được đăng tải trên không gian mạng, trên trực tuyến của mình khỏi hành vi sao chép, cắt xén và nên đưa ra giải pháp về việc quản lý máy chủ lưu trữ dữ liệu, để có thể tang cường hiệu quả trong hoạt động kiểm duyệt nội dung khi đăng tải lên các trang mạng trực tuyến.
Để giải quyết được xung đột giữa quyền nhân thân của tác giả và quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả, Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022) đã bổ sung quy định tại Khoản 1 Điều 19 “Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này” và Khoản 2 Điều 20 “….Trường hợp làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng đến quyền nhân thân quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật này còn phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.”. Qua đó đã giải quyết được phần nào mâu thuẫn giữa quyền bảo vệ sự toàn vẹn của TP và quyền cho làm TP phái sinh cũng như là cân bằng được giữa việc khuyến khích sáng tạo và lợi ích giữa các bên chủ thể. Đây cũng được xem là điểm sáng trong việc sửa đổi, bổ sung Luật SHTT năm 2022.
2.3.2 Quyền tài sản Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Nếu quyền nhân thân giúp bảo vệ lợi ích tinh thần cho tác giả thì quyền tài sản bù đắp cho tác giả các lợi ích vật chất. Các quyền tài sản mà tác giả, chủ sở hữu QTG được hưởng đối với TP là các lợi ích vật chất mà họ xứng đáng có được từ việc khai thác TP, bao gồm: nhuận bút, thù lao khi TP được sử dụng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng TP, nhận giải thưởng khi TP đoạt giải.
- Điều 20 Luật SHTT quy định về quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu QTG bao gồm các quyền sau:
Quyền làm TP phái sinh: theo Khoản 8 Điều 4 Luật SHTT: “TP phái sinh là TP dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, TP phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn”. Làm TPĐA phái sinh bằng cách dịch, chuyển thể, tuyển tập,….Như vậy, khi khán giả thưởng thức TP phái sinh sẽ liên tưởng đến TP gốc bởi TP phái sinh thừa hưởng những nền tảng nhất định của TP gốc như nội dung, giai điệu,…Quyền này là một trong những độc quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu TP. Về nguyên tắc, khi tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng quyền làm TP phái sinh thì phải xin phép chủ sở hữu QTG dù cho việc làm TP phái sinh không nhằm mục đích thương mại.
Trên thực tế, ý tưởng của việc hình thành nên các TPĐA đôi khi xuất phát từ một, hoặc nhiều TPĐA khác. Pháp luật về QTG không cấm việc sáng tạo một TP dựa theo TP khác, miễn sao không làm phương hại đến quyền bảo vệ sự toàn vẹn TP gốc. Tuy nhiên TP phái sinh là loại hình TP mà Luật SHTT quy định vẫn còn chưa mang tính cụ thể về những đặc điểm nhận dạng của TP phái sinh. Việc định nghĩa TP phái sinh theo Khoản 8 Điều 4 Luật SHTT như thế vẫn chưa làm rõ được những đặc điểm của TP phái sinh dẫn đến việc khó khăn trong việc nhận biết TP phái sinh và khó khăn khi áp dụng trong thực tiễn. Chẳng hạn như việc thu hình một TP sân khấu thì sản phẩm mới được tạo ra có thể được gọi là TP phái sinh hay chỉ là một hình thức sao chép TP. Bởi lẽ đó, Luật SHTT cần phải có sự chỉnh sửa quy định về TP phái sinh một cách khái quát hơn và không dừng lại ở việc là liệt kê những hình thức thực hiện TP phái sinh. Để khắc phục những hạn chế đó thì Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022) đã có những thay đổi về định nghĩa TP phái sinh tại Khoản 8 Điều 4 quy định: “TP phái sinh là TP được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều TP đã có thông qua việc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên, chuyển thể nhạc và các chuyển thể khác”. Từ đó thấy được định nghĩa của TP phái sinh đã được cụ thể hóa hơn về đặc điểm nhận dạng. Tuy nhiên tại Khoản 8 Điều 4 Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022) không quy định rõ ràng về sự sáng tạo về mặt nội dung của TP phái sinh, chỉ dừng ở mức thay đổi hình thức diễn đạt, loại hình biểu diễn, hoặc chọn ngữ trình bày nội dung TP, vẫn chưa có đòi hỏi nhiều về sự sáng tạo về mặt nội dung đối với TP phái sinh, điều này dễ làm cho các cá nhân tổ chức lợi dụng “khe hở” trong quy định để thực hiện những hành vi quy phạm QTG, chủ sở hữu của TP gốc. Do đó Luật SHTT cần phải bổ sung thêm yếu tố sáng tạo về nội dung đối với TP phái sinh một phần để thể hiện nét đặc trưng của tác giả và sự tôn trọng đối với tác giả của TP gốc, một phần để trách xảy ra những tranh chấp, mâu thuẫn khi áp dụng trong thực tiễn.
Quyền biểu diễn TPĐA trước công chúng: biểu diễn TP được hiểu là việc trình bày TP thông qua hình thức, phương tiện nhất định để truyền tải TP đến người tiếp cận. Như vậy, quyền này thường được xác định đối với các TP như diễn xuất, hát, múa… Việc biểu diễn TP được thực hiện một cách trực tiếp như thông qua diễn viên để biểu diễn vở diễn trên sân khấu, thông qua giọng hát của ca sĩ để biểu diễn bài hát, thông qua giọng ngâm của nghệ sĩ ngâm thơ để biểu diễn bài thơ trước công chúng để công chúng trực tiếp tiếp cận TP nhưng cũng có thể được thực hiện thông qua các chương trình ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kĩ thuật nào mà qua đó công chúng có thể tiếp cận được TP. Biểu diễn TP là một trong những độc quyền quan trọng của tác giả và chủ sở hữu QTG. Tuy nhiên có một số trường hợp có thể biểu diễn TP mà không cần sự đồng ý của tác giả trong trường hợp TP đã được công bố, phải có nêu tên tác giả và trả tiền thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu TP nếu việc biểu diễn đó có yếu tố thương mại. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Ví dụ: Biểu diễn TPĐA tại nhà hát kịch Thành phố Hồ Chí Minh theo hình thức bán vé cho khán giả vào xem trực tiếp hoặc biểu diễn TPĐA trong phòng thu hình để truyền hình trực tiếp cho khán giả đều được coi là biểu diễn TP trước công chúng.
Quyền sao chép TPĐA: là quyền của chủ sở hữu QTG độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao TP bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử.
Đối với TP chưa được công bố thì sao chép TP là độc quyền thuộc về chủ sở hữu QTG. Trong trường hợp này chỉ có chủ sở hữu QTG hoặc người được chủ sở hữu QTG cho phép mới được sao chép TP.
Đối với TP đã được công bố, các tổ chức, cá nhân khác muốn sao chép thì phải xin phép và được sự đồng ý của chủ sở hữu QTG.
Ví dụ: các cửa hàng photocopy có hành vi sao chép giáo trình, tài liệu thành rất nhiều bản để bán là hành vi xâm phạm QTG. Cửa hàng photocopy đã sao chép TP với mục đích thương mại, mà không xin phép hay trả tiền thù lao cho tác giả, gây phương hại đến các QTG, chủ sở hữu QTG.
Tuy nhiên theo quy định tại Khoản 10 Điều 4 Luật SHTT quy định “Sao chép” là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của TP hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử”. Qua đó ta có thể thấy được quy định đã không đề cập đến việc sao chép một phần TP. Lợi dụng “khe hở” này trong quy định các cá nhân, tổ chức tiến hành thực hiện các hành vi xâm phạm QTG trong việc khai thác, sử dụng TP khi họ chỉ cần sao chép một phần của TP. Điều này còn gây ra nhiều khó khăn xử lý vi phạm. Nhìn nhận vấn đề Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022) đã có những thay đổi trong quy định về “sao chép”. Tại Khoản 10 Điều 1 Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022) quy định “Sao chép là việc tạo ra bản sao của toàn bộ hoặc một phần TP hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”. Theo quy định sao chép không còn chỉ là việc tạo ra bản sao của toàn bộ TP gốc mà còn quy định về việc tạo ra bản sao của một phần TP gốc. Việc sửa đổi này là phù hợp không những với thực tiễn xã hội khi có đầy đủ căn cứ pháp lý để có thể xác định được các HVVP, hạn chế được cá nhân, tổ chức lợi dụng “khe hở” trong quy định của Luật SHTT để tiến hành các hành vi xâm phạm QTG mà còn phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cụ thể tại Điều 18.58 Hiệp định CPTPP quy định về quyền sao chép: “Mỗi bên phải quy định rằng tác giả, người biểu diễn, và nhà sản xuất bản ghi âm được độc quyền cho phép hoặc cấm tất cả việc sao chép TP, cuộc biểu diễn hoặc bản ghi âm của mình theo bất kỳ cách thức hoặc hình thức nào, bao gồm cả hình thức điện tử”. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao TPĐA: “là quyền của chủ sở hữu QTG thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện bằng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao TP”.
Trên thực tế hành lang pháp lý nước ta vẫn chưa có quy định nào mang tính bao quát, cụ thể về quyền này nên có rất nhiều hành vi xâm phạm QTG đặc biệt là trên môi trường không gian mạng. Chẳng hạn như trường hợp wedsite Phimmoi. là một trang trang mạng phim không bản quyền lớn và tồn tại lâu đời nhất ở Việt Nam. Trang web này chuyên cung cấp đến người xem những bộ phim của nhiều nước trên thế giới, có phụ đề tiếng Việt và hoàn toàn miễn phí. “Theo website thống kê lượng truy cập Alexa, Phimmoi có thứ hạng 15 tại Việt Nam và 2.182 trên toàn cầu tính đến 27.7.2018 với khoảng 50 – 90 triệu khách truy cập hàng tháng”. Với quy quy mô và mức độ xâm phạm mang tầm cỡ quốc tế của Phimmoi đã gây ra cho tất cả các chủ thể quyền bị Phimmoi xâm phạm là vô cùng lớn. Vì vậy việc Luật SHTT cần có quy định cụ thể về ngăn chặn các HVVP QTG đặc biệt là môi trường mạng.
Quyền truyền đạt TPĐA đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác: tại Điểm đ Khoản 1 Điều 20 của Luật SHTT quy định chủ sở hữu QTG độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc đưa TP hoặc bản sao TP đến công chúng mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn”. Như vậy truyền đạt TP đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà không được phép của chủ sở hữu QTG thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: Nhà sản xuất phim sẽ lựa chọn công bố các TP của mình đến với công chúng bằng nhiều hình thức khác nhau như: rạp chiếu phim, truyền hình,… Trong những năm qua tuy việc bảo hộ đã phát huy tác dụng tích cực và tiến bộ trong thực thi bảo hộ QTG. Tuy nhiên, hiện nay việc các HVVP QTG trong môi trường không gian mạng ngày càng phổ biến và khó khăn trong việc quản lý và xử lý. Chẳng hạn như tình trạng phát trực tuyến (livestream) đang diễn ra rất phổ biến tại nhiều cụm rạp chiếu phim. Nhiều vụ việc đã được phát hiện và bị xử lý, tuy nhiên việc livestream vẫn đang là vấn đề nan giải. Cụ thể, “cuối năm 2017 khi Ngô Thanh Vân đã xử lý trường hợp một đối tượng livestream bộ phim Cô Ba Sài Gòn do chính cô sản xuất, diễn ra tại cụm rạp thành phố Vũng Tàu. Đối tượng vi phạm ngay sau đó bị bắt và xử phạt hành chính với số tiền 15 triệu đồng”, tuy nhiên vấn nạn này không có dấu hiệu dừng lại mà vẫn tiếp tục diễn ra ở nhiều bộ phim chiếu rạp khác. Có thể thấy là những khán giả này đều có ý thức rất kém, bởi nếu ai đi xem phim tại rạp cũng biết là tất cả các cụm rạp hiện nay đều quy định rõ người xem không được quay phim, chụp ảnh trong phòng chiếu. Thông báo này được phát đi phát lại nhiều lần trước khi trình chiếu bộ phim. Còn xét về mặt pháp lý, rõ ràng đây là hành động vi xâm phạm nghiêm trọng QTG. Qua đó ta có thể thấy rằng quy định về QTG và HVVP QTG vẫn còn thiếu tính răn đe chỉ dừng lại ở việc mời ra khỏi rạp, xóa đoạn livestream, nặng hơn thì chỉ xử phạt hành chính, chưa thực sự đầy đủ và còn chồng chéo trong nhiều văn bản dẫn đến tổn thất cho tác giả, chủ sở hữu QTG là rất lớn. Bên cạnh đó, các biện pháp và chế tài xử lý vi phạm mới chủ yếu dừng lại ở hình thức xử lý hành chính. Điều này chưa phù hợp với tình hình thực tế, chưa đủ sức răn đe các đối tượng có HVVP. Đồng thời, cần nâng cao vai trò của việc giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT bằng biện pháp dân sự, vì quyền sở hữu trí tuệ là chế định pháp luật dân sự, thuộc quan hệ pháp luật dân sự.
Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao TPĐA, chương trình máy tính: “việc sử dụng có thời hạn, do chủ sở hữu QTG và bên sử dụng thỏa thuận theo hợp đồng”. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Đây được xem là độc quyền của chủ sở hữu QTG để khai thác tối đa tính năng kinh tế đối TP do mình sở hữu thông qua việc cho thuê. Theo đó cá nhân, tổ chức thuê TP phải trả tiền thuê cho chủ sở hữu QTG đối với TP theo thỏa thuận. Tác giả, chủ sở hữu QTG được hưởng tiền nhuận bút, thù lao từ việc cho thuê.
Thực tế cho thấy, vấn đề bảo hộ quyền tài sản của chủ sở hữu QTG vẫn còn nhiều hạn chế xong việc bổ sung quy định tại điểm a khoản 3 Điều 20 luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022) giới hạn quyền của chủ sở hữu trong việc ngăn cấm người khác, vẫn chưa giải quyết triệt để khúc mắc này. Như chúng ta đã biết hiện nay có rất nhiều các hoạt động nghề nghiệp có liên quan đến QTG đều cần phải có sự tham gia của các tổ chức cung cấp dịch vụ trung gian như: Facebook, Tiktok,…Tuy nhiên, cần lưu ý rằng quy định bổ sung này chỉ cho phép sử dụng để truyền phát thông qua trung gian và không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao tự động xóa bỏ và không có khả năng hồi phục lại. Vậy quy định này đã thực sự phù hợp? Thực tế cho thấy vấn nạn đăng tải phim “lậu” như trường hợp của trang wed “Phimmoi.” hay các trang mạng tương tự khác thu lợi nhuận từ việc đăng tải trái phép hàng nghìn bộ phim, quảng cáo trực tuyến và hoàn toàn có hệ thống máy chủ lưu trữ các dữ liệu không có bản quyền cung cấp trên trang wed của họ mà các dữ liệu này không phải là bản sao tự động xóa bỏ.
- Đề xuất, kiến nghị:
Hệ thống pháp luật về vấn đề bảo hộ quyền tài sản của chủ sở hữu QTG cần được nhìn nhận một cách khái quát hơn để có phương hướng quản lý và xử HVVP QTG nhất là trên không gian mạng. Cần đưa ra giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định trong Luật SHTT về việc quản lý máy chủ lưu trữ dữ liệu, để có thể giải quyết các vấn nạn xâm phạm QTG trên không gian mạng một cách triệt để.
2.4 Giới hạn quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Giới hạn QTG được hiểu một cách chung nhất, đó là những hạn chế về QTG, chủ sở hữu QTG hay còn được hiểu như là các ngoại lệ của QTG. Luật SHTT quy định về các trường hợp giới hạn QTG như sau:
2.4.1 Sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền thù lao
Theo quy định tại Điều 25 Luật SHTT trường hợp này bao gồm: Việc sử dụng TP hoàn toàn vào mục đích phi thương mại (như nghiên cứu khoa học, giảng dạy, sử dụng riêng); Việc sử dụng không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường TP, không gây phương hại đến QTG.
- Khi sử dụng phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả. Cụ thể bao gồm các trường hợp:
Sao chép tác phẩm: nếu cá nhân hay tổ chức sao chép TP nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy hoặc sao chép để lưu trữ trong thư viện và không nhằm mục đích thương mại (phi lợi nhuận) thì sẽ không vi phạm về QTG. Đồng thời quy định về việc sao chép này là sao chép không quá một bản và không áp dụng đối với TP kiến trúc, TP tạo hình và chương trình máy tính. Nhưng hiện nay việc xác định thế nào là mục đích thương mại thì không rõ ràng và còn rất mơ hồ. Tại sao lại nói như vậy? Bởi định nghĩa sao chép TP không quy định rõ ràng. Nếu đặt giả thiết cá nhân tự sao chép hoặc sao chụp để bán với giá thấp hơn so với giá quy định thì bị xử phạt ra sao vẫn chưa có quy định cụ thể. Hoặc trường hợp lợi nhuận gián tiếp như các đơn vị kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, trong một khóa học sẽ thu tiền toàn bộ tiền của người học trong đó bao gồm cung cấp tài liệu cho người học. Nhưng theo thực tế cho thấy thì hằng năm các đơn vị này đã không thực hiện nghĩa vụ trả tiền QTG hoặc tài liệu xuất bản. Mà lại sao chụp sách cho người học hoặc đánh máy lại in để sao chụp cho người học sử dụng nhằm giảm chi phí. Và quy định tại Khoản 10 Điều 4 Luật SHTT cũng không đề cập đến trường hợp cá nhân, tổ chức chỉ sao chép một phần TP gốc. Nếu đặt giả thiết các trường hợp trên xảy ra thì có được coi là HVVP QTG hay không? Điều này đã thực sự gây ra khó khăn trong quá xác định và xứ lý hành vi xâm phạm QTG. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Như trong trường hợp sau đây được không được xem là sao chép phục vụ nghiên cứu khoa học, giảng dạy: như chúng ta đã biết thì Công ty TNHH Văn hóa sáng tạo Trí Việt đã mua bản quyền nội dung của hai bộ giáo trình Tiếng anh từ Công ty Compass về. Nhưng trong qua trình lưu hành thì đã có dấu hiệu bị hai trường ngoại ngữ Đ và A copy, sao chụp làm nội dung giảng dạy trực tiếp cho học viên khi đăng ký học tại hai cơ sở này. “Theo phản ánh của học viên thì họ đã phải mua sách ở hai cơ sở này, với giá mắc hơn giá gốc do Nhà xuất bản Trẻ và Công ty TNHH Văn hóa sáng tạo Trí Việt phát hành. Qua quá trình khám xét điều tra thì các cơ quan đã phát hiện hai cơ sở này sao chụp, nhân bản nội dung sách với số lượng trên 350 cuốn”.36 Thực tế cho thấy, hiện nay xảy ra vô vàn các hành vi sao chụp bán hoặc phát miễn phí cho người học. Tình trạng này được xem như là một vấn nạn xâm phạm QTG đáng báo động, cần có những quy định cụ thể hơn để tránh tình trạng khó khăn trong xử lý vi phạm.
Mặt khác, quy định về quyền sao chép vẫn còn tồn tại bất cập về mục đích khi sao chép TP. Khi quy định Luật SHTT chỉ cho phép cá nhân sao chép TP để phục nghiên cứu khoa học, giảng dạy mà không đề cập đến việc việc sao chép để phục vụ cho việc học tập. Như thế Luật SHTT của Việt Nam đã không phù hợp với các điều ước tế mà Việt Nam là thành viên khi không đảm bảo hài hòa lợi ích chủ thể QTG và lợi ích xã hội. Như vậy việc bổ sung thêm quy định về cá nhân sao chép phục vụ cho việc học tập là cần thiết, nhầm góp phần tăng cường hiệu quả trong việc giáo dục và chủ động trong việc học tập.
Từ những phân tích trên cũng như những tồn tại về đối tượng bị sao chép chúng ta có thể thấy được những bất cập về hành lang pháp lý trong thực tiễn thi hành PLVN. Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022) cũng đã cũng thay đổi tích cực cần quy định rõ ràng đối tượng được sao chép không chỉ là “toàn bộ TP”, mà còn có thể là “một phần TP”. Định nghĩa về “Sao chép” tại Khoản 10 Điều 4 Luật SHTT sửa đổi, bổ sung năm 2022) đã được điều chỉnh theo hướng:“Sao chép là việc tạo ra bản sao của toàn bộ hoặc một phần TP hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”. Quy định này là hợp lý, vừa thể hiện tính tương thích với quy định tại Điều 18.58 Hiệp định CPTPP, vừa là căn cứ pháp lý quan trọng để xử lý hành vi sao chép “một phần TP” khi không phù hợp với quy định của pháp luật, khắc phục được thiếu xót trong quy định của Luật SHTT.
Tại điểm a, Khoản 1 Điều 25 Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022) quy định: “Tự sao chép một bản để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại”. Điều luật sửa đổi lần này cụm từ “…để giảng dạy của cá nhân” được thay bằng cụm từ “…để học tập của cá nhân…”. Việc bổ sung thêm quy định sao chép để phục vụ cho việc “học tập” đã phần nào giúp cân bằng giữa lợi ích chủ sở hữu QTG và lợi ích xã hội mà Luật SHTT trước đã không đề cập đến. Và một điểm mới nữa tại Điểm a Khoản 1 Điều 25 Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung nằm 2022) là quy định “không áp dụng trong trường hợp sao chép bằng thiết bị sao chép”. Chúng ta có thể hiểu rằng thiết bị sao chép ở đây là: máy photocopy, máy scan. Tuy nhiên việc sửa đổi lần này vẫn chưa làm rõ được vấn đề sau: bằng cách nào để nhận biết được rằng bản sao chép để dùng nghiên cứu khoa học và học tập của cá nhân có được sao chép từ thiết bị sao chép hay không? Hơn nữa, khi sao chép một cuốn sách để học tập hay nghiên cứu, cá nhân có thể sao chép bằng cách nào nếu không phải là photocopy hay scan lại cuốn sách đó? Nếu những vấn đề trên không được làm rõ thì quy định này vô hình chung có thể gây khó khăn trong việc học tập, nghiên cứu khoa học của cá nhân và trong việc thực thi QTG. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Ngoài ra, cùng với việc sửa đổi bổ sung điều khoản này thì cũng cần có quy định về các biện pháp nhằm quản lý chặt chẽ, cũng như góp phần hoàn thiện nâng cao trách nhiệm, nhận thức của công chúng về QTG nhằm tạo điều kiện cho việc thực thi quy định về các ngoại lệ QTG này.
Trích dẫn tác phẩm: là việc “trích dẫn hợp lý TP mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong TP của mình”. Việc trích dẫn TP phải đáp ứng điều kiện: mang tính giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề trong TP của mình và phần trích dẫn từ TP được sử dụng để trích dẫn không gây phương hại đến QTG đối với TP được sử dụng để trích dẫn; phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình TP được sử dụng để trích dẫn.
Trích dẫn TP mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu”.
“Trích dẫn TP để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại”.
Về cơ bản, việc trích dẫn TP phải thỏa mãn hai điều kiện sau: phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập; số lượng của phần trích dẫn từ TP được sử dụng để trích dẫn không gây phương hại đến QTG của TP được sử dụng để trích dẫn, phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình TP được sử dụng để trích dẫn.
Vì hiện nay, chưa có những hướng dẫn cụ thể về việc giải quyết tranh chấp QTG về trích dẫn TP, nên khi xảy ra vấn đề thì vẫn còn tồn tại một số quan điểm khác nhau. Điển hình như: Vụ tranh chấp QTG xảy ra giữa năm 2001 và 2003 giữa hai nhà nghiên cứu Kiều học nổi tiếng là ông NQT và ông ĐTT, theo đó ông NQT– nguyên đơn khởi kiện vụ án dân sự kiện ông ĐTT – bị đơn vì đã sử dụng (sao chép) nguyên văn 4 bài phê bình văn học Truyện Kiều của nguyên đơn mà không xin phép và cũng không trả thù lao. Năm 2001 bốn bài phê bình văn học của nguyên đơn được đăng trên Tạp chí Văn học, Báo Văn Nghệ và Tạp chí Văn nghệ nhưng được nguyên đơn phát hiện là đã bị sử dụng nguyên văn không xin phép để in trong cuốn sách của bị đơn có tên “Văn bản Truyện Kiều – Nghiên cứu và Thảo luận” do Nhà xuất bản Hội nhà văn phát hành năm 2001. Đến năm 2003 hai bên xảy ra tranh chấp và hệ quả là nguyên đơn khởi kiện vụ án xâm phạm QTG. Cuốn sách của bị đơn có 2 phần, phần 1 là phân tích và bình luận của bị đơn về Truyện Kiều và phần 2 tổng hợp 10 bài viết của các tác giả khác về cùng chủ đề phê bình Truyện Kiều mà trong số 10 bài viết này có 4 bài viết của nguyên đơn. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Theo bản án dân sự sơ thẩm số 68/2006/DSST của TAND thành phố Hà Nội, tòa án đã phê duyện đơn khởi kiện của nguyên đơn, tuyên rằng hành vi in nguyên văn 4 bài báo của nguyên đơn mà không có sự cho phép của nguyên đơn cấu thành hành vi xâm phạm QTG theo đó lệnh buộc TT phải xin lỗi QT và bồi thường thiệt hại 26.040.000 VND. Theo đó ông TT đã kháng cáo vì ông cho rằng việc trích dẫn nhằm “bình chú, phê phán, thảo luận” như tiêu đề của TP chứ không lấy TP vì mục đích thương mại. Nên ông hoàn toàn không vi phạm về QTG. Tiếp đó phiên tòa phúc thẩm ngày 14/6/2007 ông ĐTT lại tiếp tực đưa ra dân chứng là khi đưa 4 TP của ông NQT vào sách thì những TP đó đã được “trích dẫn”, có để tên tác giả, không nhằm mục đích kinh doanh. Cuốn sách là một TP sáng tạo toàn diện của ông NQT. Việc trích dẫn bốn bài viết trong quyển sách của mình là không xâm phạm QTG của ông NQT. Theo quan điểm của tác giả thì việc ông Tôn nếu muốn bình luận những ý kiến của ông Tuân khi nghiên cứu về truyện Kiều thì không nhất thiết phải nêu toàn văn bài viết của ông. Căn cứ theo Theo Điều 760, Điều 761 Bộ luật Dân sự năm 1995 hành vi sử dụng TP của người khác mà không cần xin phép, trả thù lao cho tác giả là hành vi “trích dẫn TP mà không làm sai lạc ý của tác giả để bình luận hoặc minh hoạ trong TP của mình” và Điều 12 Nghị định số 76/CP quy định: “Phần trích dẫn TP đã công bố của người khác theo quy định tại điểm b, c, d khoản 1 Điều 761 của Bộ luật không trở thành phần chính của TP mới; phần trích dẫn này chỉ giới hạn trong phạm vi giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề trong TP của mình và phải ghi rõ tên tác giả và nguồn gốc TP được trích dẫn”. Qua quy định như trên ta có thể thấy được việc ông Tôn không được gọi là “Trích dẫn” khi đã sử toàn bộ bốn TP của ông Tuân vào TP của mình. Vì để bình luận những quan điểm của ông Tuân thì chỉ cần “Trích dẫn” đoạn văn cụ thể để thể hiện quan điểm đó chứ không cần phải “Trích dẫn” toàn bộ TP.
Qua những trường hợp nêu trên, thì chúng ta có thể thấy sự bất cập, hạn chế của pháp luật trong giải quyết các vấn đề liên quan đến quy định trích dẫn TP. Theo đó, thì Điều 28 Luật SHTT là điều luật chính quy định một cách có hệ thống các hành vi được xác định là HVVP QTG, nhưng không có khoản nào quy định một cách cụ thể hành vi trích dẫn không hợp pháp là HVVP QTG, mà chỉ có các điều khoản mang tính chất chung chung. Và quy định tại Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 1 Điều 25 Luật SHTT cũng không đồng nhất khi tại Điểm b quy định “Trích dẫn hợp lý” còn Điểm c và Điểm d thì lại chỉ quy định “Trích dẫn TP”. Điều này dể gây ra sự hiểu lầm và khó xác định được việc trích dẫn như thế nào là “hợp lý” và đúng quy định đảm bảo “không làm sai ý tác giả”. Bên cạnh đó, việc có quy định về dung lượng khi “Trích dẫn” vẫn chưa được đề cập, gây ra nhiều khó khăn trong áp dụng thực tiễn và sẽ có thể xảy ra những trường hợp như vụ việc của ông NQT và ông ĐTT, mặc dù đã xảy ra từ năm 2006 nhưng đến nay vẫn chưa có quy định cụ thể về vấn đề này.
- Đề xuất, kiến nghị: Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Cần có quy định thống nhất về việc trích dẫn TP hạn chế gây ra sự hiễu lầm và đảm bảo được sự “hợp lý” trong quá trình trích dẫn TP. Bên cạnh đó, cần phải có quy định về dung lượng khi “Trích dẫn”. Để bình luận, giới thiệu, minh họa về một Tp chỉ nên trích dẫn một phần TP gốc. Điều này là cần thiết cho việc đảm bảo lợi ích giữa người trích dẫn và chủ sở hữu QTG của TP gốc cũng như dể dàng áp dụng trong thực tiễn.
Tại Điểm đ Khoản 1 Điều 25 Luật SHTT (Sửa đổi, bô sung năm 2022) nội dung này đã được khắc phục trong quy định về trích dẫn TP, theo đó “Trích dẫn hợp lý TP mà không làm sai ý tác giả để bình luận, giới thiệu hoặc minh họa trong TP của mình; để viết báo, sử dụng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát sóng, phim tài liệu”. Tác giả đồng tình với điểm mới này trong Luật SHTT (Sửa đổi, bổ sung năm 2022) khi đã đồng nhất quy định về việc trích dẫn TP. Từ đó việc áp dụng trong thực tiễn đảm bảo hơn, góp phần bảo vệ tốt nhất cho tác giả, chủ sở hữu QTG khi bị xâm phạm.
Bên cạnh những trường hợp nổi bật đã được phân tích như trên, tại các Điểm đ, e, g, h, i, k Khoản 1 Điều 25 Luật SHTT còn quy định về các trường hợp khác như: (i) Biểu diễn TP sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào; (ii) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy; (iii) Chụp ảnh, truyền hình TP tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của TP đó; (iv) Chuyển TP sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị; (v) Nhập khẩu một bản sao TP của người khác để sử dụng riêng.
2.4.2. Sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả
Điều 26 Luật SHTT quy định về các trường hợp sử dụng TP không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao. “Đây là khai thác, sử dụng TP đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền”. Theo quy định tại Điều 26 Luật SHTT thì việc tổ chức, phát sóng sử dụng TP đã công bố để phát sóng dù chương trình đó có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền hay không thì không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu QTG kể từ khi sử dụng. Mức nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác và phương thức thanh toán có thể do các bên thỏa thuận hoặc thực hiện theo quy định của Chính phủ. Cần phân biệt hai trường hợp: (a) Nếu tổ chức phát sóng sử dụng TP cho các chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo, thu tiền thì tổ chức này và chủ sở hữu QTG có quyền thỏa thuận về mức thù lao, nhuận bút, các lợi ích vật chất khác và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận. (b) Nếu tổ chức phát sóng sử dụng TP cho các chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo, không thu tiền thì phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu QTG kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính Phủ.
Ví dụ: Công ty B hoạt động trong lĩnh vực truyền thông, quảng cáo tổ chức phát sóng sử dụng TPĐA của đạo diễn X (đã công bố), có thu vé vào cửa nhằm lấy tiền thu được để quyên góp đồng bào lũ lụt miền Trung (dù có thu vé hay không thu vé theo quy định trên vẫn phải trả tiền. nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu QTG kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ hoặc do các bên tự thoả thuận). Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Việc sử dụng các TP phải theo quy định của pháp luật, không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường TP, không gây phương hại đến QTG, chủ sở hữu QTG. Tuy nhiên quy định tại Điều 26 Luật SHTT lại bỏ sót trường hợp không xác định được chủ sở hữu QTG. Trường hợp tổ chức, cá nhân cần sử dụng đúng một TP đó mà không thể tìm và liên hệ được với chủ sở hữu QTG hay đó là một TP khuyết danh thì phải làm như thế nào? Việc quy định không rõ ràng đã gây ra khó khăn về mặt pháp lý cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng TP. Nếu sử dụng TP mà không xác định chủ sở hữu QTG để trả tiền nhuận bút, thù lao thì lại vi phạm QTG.
- Đề xuất, kiến nghị:
Để tạo hành lang pháp lý hữu hiệu hơn trong việc xác lập về bảo hộ QTG nên có quy định về trường hợp trả tiền thù lao, nhuận bút đối việc sử dụng TP khuyết danh hay không tìm thấy chủ sở hữu TP. Điều này sẽ dể dàng hơn cho các chủ thể có nhu cầu sử dụng TP mà không lo về việc vi phạm QTG.
Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022) đã bổ sung thêm khoản 5 Điều 26 như sau: “Tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác, sử dụng TP đã công bố của tổ chức, cá nhân Việt Nam nhưng không thể tìm kiếm được hoặc không xác định được chủ sở hữu QTG thì thực hiện theo quy định của Chính phủ”. Việc bổ sung này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn thực thi pháp luật về QTG hiện nay. Thực tế cho thấy có nhiều trường hợp mặc dù rất muốn biết về nguồn gốc TP mình dự định sử dụng để xin phép và trả tiền bản quyền để sử dụng TP đó nhưng không có cách nào để tìm ra chủ sở hữu QTG TP đó. Với quy định mới này thì các bất cập trên đã có thể khắc phục được khó khăn trong thực thi pháp luật trong thực tiễn. Tuy nhiên, trong trường hợp này, Nhà nước cần quy định rõ về mức thu phí làm sao để hài hòa giữa quyền lợi của tác giả, chủ sở hữu, bên sử dụng TP và lợi ích chung của cộng đồng.
2.5. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
Giới hạn về thời gian bảo hộ là việc quy định thời hạn bảo hộ, với quan điểm QTG không thể là vô hạn. Luật SHTT đưa ra thời gian bảo hộ nhất định đối với từng loại hình TP cụ thể, với mục đích chính là nhằm bảo vệ toàn vẹn nhất cho quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu QTG, đồng thời khuyến khích sự phát triển văn hóa, tạo nguồn cảm hứng sáng tạo”. Trong khoảng thời gian đó các quyền của chủ sở hữu QTG đều được bảo đảm. Tuy nhiên khi kết thúc thời gian bảo hộ cá nhân, tổ chức sử dụng TP vẫn phải đảm bảo sự toàn vẹn của TP, tôn trọng quyền đứng tên, quyền đặt tên vì đây là các quyền được bảo hộ vô hạn. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
- Theo quy định tại Điều 27 Luật SHTT có hai cách tính thời hạn bảo hộ QTG:
Đối với TPĐA, sân khấu, mĩ thuật ứng dụng, TP khuyết danh là những TP có thời hạn bảo hộ không tính theo nguyên tắc đời người.
Đối với TP di cảo thời hạn bảo hộ là 50 năm kể tính từ ngày đầu tiên TP được công bố.
TP mỹ thuật ứng dụng, TP nhiếp ảnh, điện ảnh, TP khuyết danh thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi TP được công bố lần đầu. Đối với trường hợp TP chưa được công bố trong thời hạn là 25 năm kể từ khi TP được hình thành thì thời hạn bảo hộ trong trường hợp này là 100 năm.
Các loại hình TP còn lại (văn học – nghệ thuật) thì thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời. Tại một số quốc gia Châu Âu thì thời hạn này là 70 năm sau khi tác giả qua đời.
Năm tính trong thời hạn bảo hộ QTG được tính như sau thời hạn bảo hộ sẽ chấm dứt vào 24g00 ngày 31 tháng 12 năm cuối cùng của thời hạn bảo hộ QTG theo quy định.
Với mỗi loại hình TP sẽ có thời hạn bảo hộ QTG khác nhau tùy theo bản chất và từng trường hợp cụ thể. TPĐA cũng vậy, bản chất của TP này cũng sẽ có những nét đặc trưng riêng biệt. Vì thế mà thời hạn QTG bảo hộ đối với loại hình này cũng sẽ khác biệt. Việc quy định này vừa giúp tác giả, chủ sở hữu công bố TP phục vụ xã hội, vừa đảm bảo cân bằng lợi ích giữa loại hình TP tính thời hạn bảo hộ theo nguyên tắc đời người và loại hình TP tính thời hạn bảo hộ theo nguyên tắc định hình hoặc công bố; đồng thời để bảo đảm sự công bằng cho người Việt Nam với người nước ngoài khi áp dụng thời hạn bảo hộ này.
Như vậy, thời hạn bảo hộ quyền công bố TPĐA được quy định như sau: Quyền công bố TPĐA có thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi TP này được công bố lần đầu tiên; Nếu TPĐA chưa được công bố trong thời hạn 25 năm kể từ khi được định hình thì thời hạn bảo hộ quyền công bố là 100 năm kể từ khi TP được định hình.
2.6. Hành vi xâm phạm quyền tác giả đối tác phẩm điện ảnh Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Xâm phạm QTG cũng như quyền SHTT hiện nay diễn ra khá phổ biến, đặc biệt với sự phát triển của công nghệ thông tin những HVVP QTG ngày càng trở nên phức tạp. Thực trạng này này diễn ra ngày càng nhiều và rộng rãi bởi tốc độ của công nghệ thông tin trên Internet với độ phủ sóng làm cho những hành vi xâm phạm QTG ngày càng trở nên phổ biến. Để khắc phục tình trạng này, thời gian qua Việt Nam đã gia nhập vào các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền SHTT nói chung và quyền tác giả nói riêng.
2.6.1. Quy định của Điều ước quốc tế
Một là, Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật được ký tại Bern (Thụy Sĩ) năm 1886. Việt Nam chính thức trở thành viên của Công ước Berne ngày 26 tháng 10 năm 2004.
Theo Điều 2 Công ước này quy định bảo hộ các TP được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không có sự phân biệt về nội dung, phương tiện, ngôn ngữ, hình thức, chất lượng…, thì đều được công ước bảo hộ dưới bất kì hình thức nào và nếu vi phạm thì đều bị xử lý theo chế tài của pháp luật. Ngoài ra thì các TP có xuất xứ từ bất kỳ một nước thành viên nào của Công ước, thì đều được bảo hộ ở các nước thành viên khác.
Ví dụ: khi đăng kí bảo hộ QTG đối với một bộ phim ở Việt Nam. Thì qua nước Pháp bộ phim đó cũng sẽ được bảo hộ. Vì Pháp cũng là một trong những những thành viên của Công ước Berne. Theo Công ước thì QTG đối với TPĐA là tự động, có nghĩa là việc bảo hộ TPĐA không phụ thuộc vào thủ tục đăng kí, nộp lưu chuyển hay các thủ tục tương tự. Công ước Berne cho phép tác giả được hưởng tác quyền suốt đời cộng thêm tối thiểu 50 năm sau đó. Điều này cũng được Luật SHTT Việt Nam thể hiện tại Điều 27 về thời hạn bảo hộ QTG.
Công ước quy định việc bảo hộ được tiến hành là vì lợi ích của bản thân tác giả và những người thừa kế của họ. Riêng đối với TPĐA, các nước thành viên có thể quy định đối tượng đầu tiên có quyền đối với TPĐA là nhà sản xuất, tiếp đó mới là đạo diễn, người viết kịch bản hay những người khác liên quan.
Công ước dành cho tác giả các quyền kinh tế như độc quyền biên dịch, điều chỉnh và sắp xếp lại TP; biểu diễn kịch; nhạc kịch; thông tin cho công chúng về việc trình diễn các TP; truyền thanh; sao chép lại dưới bất kỳ hình thức hay phương pháp nào; sử dụng TP làm cơ sở cho một TP nghe, nhìn; sản xuất, phân phối, trình diễn trước công chúng và thông tin cho công chúng biết về TP nghe nhìn. Đồng thời Công ước cũng thừa nhận sự bảo hộ đối với các quyền tinh thần của tác giả như quyền về danh nghĩa tác giả, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của TP. Những hành vi cắt xén, làm sai lệch hoặc các HVVP đến nội dung TP thì sẽ đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Để đảm bảo sự cân bằng thích hợp giữa người nắm QTG và người sử dụng TP. Tại Khoản 2 Điều 9 Công ước này quy định rằng: “Luật pháp quốc gia thành viên Liên hiệp, trong vài trường hợp đặc biệt, có quyền cho phép sao in những TP nói trên, miễn là sự sao in đó không phương hại đến việc khai thác bình thường TP hoặc không gây thiệt thòi bất hợp lý đến những quyền lợi hợp pháp của tác giả” và Điều 10 quy định “Được coi là hợp pháp những trích dẫn rút từ một TP đã được phổ cập tới công chúng một cách hợp pháp, miễn là sự trích dẫn đó phù hợp với những thông lệ đúng đắn và không vượt quá mục đích trích dẫn, kể cả những trích dẫn các bài báo và tập san định kỳ dưới hình thức điểm báo”. Như vậy hai điều của công ước này quy định một số trường hợp ngoại lệ được quyền sao chép trích dẫn các tác phẩm miễn là thực thực hiện hợp pháp và không ảnh hưởng đến quyền lợi của tác giả.
Có thể thấy rằng bên cạnh những lợi ích mà công ước Berne mang lại đối với Việt Nam nói riêng và các quốc gia khác nói chung đều là rất lớn. Nhưng bên cạnh đó khi tham gia vào Công ước này thì Việt Nam còn gặp phải một số vướng mắc còn tồn tại. Điển hình là QTG nói chung và đặc biệt là tác giả nước ngoài bị xâm phạm ở mức độ cao. “Xuất phát từ đặc thù của Việt Nam là Nhà nước độc quyền xuất bản”.43 Vì vậy, có hiện tượng các cơ quan, tổ chức kinh doanh Nhà nước có thẩm quyền trên lĩnh vực này xâm phạm QTG của các tổ chức, cá nhân nước ngoài, sao chép và phổ biến các bản sao TP nước ngoài để sử dụng trong nước. Tiếp đó, một số cá nhân, tổ chức kinh doanh văn hóa phẩm tư nhân lại tiến hành nhân bản những bản sao của các cơ quan, tổ chức kinh doanh nói trên để bán hoặc sử dụng chúng vào mục đích thương mại. Ngoài ra còn phải kể đến tình trạng nhiều TP nước ngoài được nhập lậu vào Việt Nam để rồi lại được các cá nhân, tổ chức kinh doanh tư nhân nhân bản và phổ biến trên quy mô thương mại với giá rất thấp, cạnh tranh với các tổ chức kinh doanh văn hóa phẩm của Nhà nước và lấn át các TP của tác giả trong nước. Đây chỉ là phần nhỏ trong vô vàn những thực trạng mà Việt Nam đang đối mặt khi tham gia Công ước này. Qua phân tích chúng ta có thể thấy rằng để phù hợp với Công ước Berne thì các cơ quan nhà nước cần có một kế hoạch sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật hiện hành về QTG cho phù hợp với thực tiễn để thi hành công ước một cách có hiệu quả.
Hai là, Công ước Rome bảo hộ người biểu diễn, người sản xuất chương trình ghi âm, tổ chức phát sóng được kí kết vào ngày 26 tháng 10 năm 1961 tại Rome.
Nội dung của Công ước Rome nhằm bảo hộ các chương trình biểu diễn nghệ thuật, âm nhạc của người sản xuất các chương trình này. Các nghệ sĩ trong các loại hình biểu diễn như diễn viên điện ảnh, ca sĩ, nhạc sĩ, nghệ sĩ múa được ngăn chặn các hành vi mà họ không muốn như truyền thanh, thông tin cho công chúng về buổi biểu diễn của họ, thu âm, ghi hình chương trình biểu diễn của mình. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Người biểu diễn được bảo hộ chương trình biểu diễn, chống lại các hành vi không được sự đồng ý của họ. Nhà sản xuất bản ghi âm được hưởng quyền cho phép hoặc cấm sao chép trực tiếp (hoặc gián tiếp) các bản ghi âm của họ. “Tổ chức phát sóng được hưởng quyền cho phép hoặc cấm các hành vi tái phát sóng chương trình phát sóng, sao chép các bản định hình chương trình phát sóng”.
Kể từ ngày công ước Rome có hiệu lực tại Việt Nam, các cơ quan, tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp, Đài phát thanh, Đài truyền hình có nhu cầu sử dụng các chương trình biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng của các nước thành viên Công ước Rome phải liên hệ với các đối tác để xin phép, thỏa thuận việc sử dụng, tránh những tranh chấp không đáng có.
Ba là, Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
- Tuy không nêu cụ thể hành vi nào được xem là HVVP quyền SHTT.
Nhưng tại các điều khoản của Hiệp định lại phân tích rõ bản chất của các HVVP mà các bên tham gia đã đồng ý thống nhất.
Điều 18.58 Hiệp định CPTPP quy đinh về quyền sao chép: “Mỗi bên phải quy định rằng tác giả, người biểu diễn, và nhà sản xuất bản ghi âm được độc quyền cho phép hoặc cấm tất cả việc sao chép TP, cuộc biểu diễn hoặc bản ghi âm của mình theo bất kỳ cách thức hoặc hình thức nào, bao gồm cả hình thức điện tử”. Theo đó, các nước thành viên phải tự quy định hoặc bằng các hình thức khác ghi nhận trong pháp luật của mình để đảm bảo người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có quyền độc quyền cho phép sự sao chép TP, cuộc biểu diễn và bản ghi âm của họ với bất kỳ hình thức nào bao gồm cả dưới dạng điện tử, cũng như được cấm sự sao chép các đối tượng quyền liên quan dưới bất kỳ hình thức nào. Luật SHTT vẫn chưa có quy định rõ ràng cụ thể chỉ mang tính chất chung chung về khái niệm cũng như các hành vi sao chép TP so với Hiệp định CPTPP. Đây được xem như là một lỗ hổng trong hệ thống pháp luật mà Việt Nam cần phải khắc phục nhanh chóng để giảm thiểu được số lượng HVVP về QTG.
Theo quy định trong Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022), sao chép không chỉ tạo ra bản sao của toàn bộ mà còn tạo ra bản sao một phần của TP. Theo đó luật này đã định nghĩa lại khái niệm về sao chép, việc sửa đổi này theo tác giả là phù hợp với thực tiễn của xã hội, thể hiện nội dung một cách bao quát, rõ ràng và đầy đủ hơn. Đồng thời đây cũng là căn cứ pháp lý để pháp luật xử lý những hành vi sao chép một phần TP khi không có sự đồng ý của chủ sở hữu QTG hay quy định của PL, khắc phục được thiếu sót trong quy định của luật SHTT. Việc sửa đổi này hoàn toàn phù hợp với Điều 18.58 Hiệp định quy định về quyền sao chép. Điều này thể hiện Việt Nam đang dần hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý, giúp các quy định được thống nhất hơn, khi đi vào thực tiễn sẽ dễ dàng thi hành hơn.
Điều 18.59 CPTPP quy định “mỗi bên phải quy định cho tác giả độc quyền cho phép hoặc cấm truyền đạt tới công chúng TP của mình, bằng phương tiện vô tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả việc phổ biến đến công chúng TP của mình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận các TP này từ địa điểm và tại thời điểm do chính họ lựa chọn”. Theo tinh thần của Điều 18.61 Hiệp định CPTPP hành vi sử dụng QTG mà không được sự cho phép của chủ thể có quyền thì được xem là HVVP QTG.
- Đề xuất, kiến nghị: Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Việc gia nhập CPTPP là một bước tiến lớn trong quá trình hoàn thiện pháp luật về SHTT, bởi nó chứa đựng các tiêu chuẩn bảo hộ cao hơn và chi tiết. Vì vậy, để hoàn thiện pháp luật nhằm đáp ứng các cam kết của Hiệp định CPTPP, Việt Nam cần thực hiện những công việc trọng tâm dưới đây.
Một là, các quy định về bảo hộ QTG, quyền liên quan đến QTG trong môi trường internet cần được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện. Hiệp định CPTPP đã quy định rất rõ về các quy định bảo hộ QTG, quyền liên quan và trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian trong ISP. Trong khi đó, PL Việt Nam quy định còn sơ sài khi vấn đề này chỉ được điều chỉnh tại Thông tư số 07/2012/TTLT- BTTTT-BVHTTDL. Về nguyên tắc, việc quy định trách nhiệm của các ISP phải bảo đảm cân bằng giữa 2 lợi ích: (i) thúc đẩy sự phát triển các dịch vụ trung gian trực tuyến; (ii) cho phép các chủ thể quyền đối phó một cách hiệu quả với hành vi xâm phạm bản quyền xảy ra trong môi trường internet. Chính vì vậy, các nước thành viên của CPTPP phải xây dựng pháp luật chặt chẽ, “quy định rõ trách nhiệm của ISP đối với HVVP QTG, quyền liên quan của người sử dụng dịch vụ trung gian do mình cung cấp, mặt khác phải quy định rõ những “giới hạn an toàn” cho phép ISP được miễn trừ trách nhiệm”.
Hai là, các HVVP QTG được quy định tại Điều 28 Luật SHTT chỉ mang tính chất liệt kê mà chưa có sự giải thích cụ thể. Do đó, việc áp dụng các quy định này để xác định hành vi xâm phạm QTG trên thực tế trở nên khó khăn, chủ yếu định nghĩa các hành vi theo nghĩa thông thường….
Vì vậy, pháp luật cần có những quy định cụ thể giải thích về HVVP QTG. Một trong những cơ chế rất hiệu quả hiện nay mà chúng ta đang xây dựng là hệ thống án lệ. Có thể từng HVVP QTG nếu được quy định quá chi tiết trong luật hay các văn bản hướng dẫn thì việc áp dụng chưa thực sự tốt, nhưng nếu có hệ thống án lệ về QTG thì có thể giải quyết hữu hiệu vấn đề này. Đây cũng chính là cơ chế bảo hộ được xây dựng bởi nhiều quốc gia phát triển hiện nay.
2.6.2. Quy định của Pháp luật Việt Nam Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Hoạt động bảo hộ quyền SHTT ở nước ta được bắt đầu triển khai từ những năm 80, nhưng chỉ từ khi Quốc hội ban hành bộ Luật Dân sự năm 1995 thì hoạt động này mới bắt đầu tiến triển. Đặc biệt, từ khi Quốc hội ban hành Luật SHTT và Việt Nam là thành viên chính thức của WTO thì hoạt động này trở nên sôi động với tất cả các dạng tài sản trí tuệ được bảo hộ. Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng các văn bản pháp luật về SHTT nhưng vấn đề thực thi là một điểm yếu cần phải khắc phục.
Tại Điều 28 Luật SHTT, quy định các hành vi như chiếm đoạt QTG tại Khoản 1 Điều 28; mạo danh tác giả Khoản 2 Điều 28. Ngoài ra điều luật còn đề cập tới các hành vi xâm phạm quyền nhân thân khác như: Công bố tác phẩm mà không được phép của tác giả tại Khoản 3 Điều 28; công bố tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó tại Khoản 4 Điều 28; sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả tại Khoản 5 Điêu 28 thì đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên chúng ta có thể thấy rằng, pháp luật SHTT cũng chưa phân biệt rõ hành vi chiếm đoạt QTG với trường hợp mạo danh tác giả. Ở đây cho thấy một điều khá rõ ràng, hành vi mạo danh tác giả là hành vi đưa tên người không phải là tác giả lên bản sao tác phẩm,làm cho công chúng hiểu nhầm người đó là tác giả thực hiện một phần hay toàn bộ tác phẩm. Hành vi này thường do những chủ thể không phải là tác giả thực hiện như lấy toàn bộ hay một phần tác phẩm của người khác rồi đề tên mình vào vị trí của tác giả.
Ngoài việc mạo danh đối với toàn bộ nội dung tác phẩm, trường hợp khá phổ biến trên thực tế là việc trích dẫn một đoạn tác phẩm mà không nêu rõ nguồn gốc trích dẫn, người thực hiện hành vi xâm phạm này đã tự nhận “đoạn tác phẩm” đó là của mình. Hành vi này cũng là mạo danh tác giả. Còn với hành vi chiếm đoạt QTG là lấy toàn bộ nội dung tác phẩm của người khác. Tuy nhiên khác với hành vi mạo danh chỉ xâm phạm đến quyền nhân thân của tác giả và có thể mạo danh đối với toàn bộ hoặc một phần tác phẩm, hành vi chiếm đoạt QTG được hiểu là việc biến tác phẩm của người khác thành tác phẩm của mình để được hưởng các lợi ích từ QTG. Theo cách hiểu này thì hành vi “chiếm đoạt QTG” là hành vi khai thác các QTG đối với tác phẩm mà không được phép.
Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả: Đây là hành vi vi phạm diễn ra khá phổ biến trong các hoạt động sử dụng tác phẩm như: xuất bản, biểu diễn, sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Theo quy định tại khoản 5 Điều 28 Luật SHTT, hành vi chỉ coi là hành vi xâm phạm nếu việc “sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm”, “gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả”. Theo quy định này thì việc sửa chữa,cắt xén không gây phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả, thậm chí làm cho tác phẩm hay hơn thì không bị coi là xâm phạm QTG, quyền SHTT. Hướng dẫn tại khoản 3 Điều 20 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP cũng không thống nhất với Luật SHTT, theo đó, quyền bảo vệ sự toàn vẹn đối với tác phẩm quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật SHTT là việc không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm hoặc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính trừ trường hợp có thoả thuận của tác giả. Theo tinh thần của quy định này, bất cứ việc sửa chữa, cắt xén tác phẩm nào mà không có sự đồng ý của tác giả thì đều bị coi là xâm phạm QTG. Việc sửa chữa, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào có thể làm ảnh hưởng đến giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm, làm sai lệch, thậm chí bóp méo tư tưởng, chủ đề mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm của họ. Vì vậy, không có chủ thể nào khác ngoài tác giả có quyền thay đổi nội dung của tác phẩm kể cả trong trường hợp việc thay đổi nhằm làm tăng giá trị nghệ thuật, giá trị thực tiễn của tác phẩm, trừ trường hợp được tác giả cho phép.
Khoản 7 Điều 28 Luật SHTT quy định: “Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu QTG đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phải sinh, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 của Luật này” là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Theo quy định của Điều 20 Luật SHTT, quyền làm tác phẩm phái sinh thuộc độc quyền của chủ sở hữu QTG. Do đó, khi người khác tạo ra tác phẩm phái sinh trên cơ sở tác phẩm gốc như: dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải,tuyển chọn… tác phẩm thì phải xin phép (nếu tác phẩm chưa được công bố), trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu tác phẩm gốc. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Nghị định 105/2006/NĐ-CP chỉ đề cập đến hai hành vi xâm phạm QTG kể trên. Trong khi đó, Điều 28 Luật SHTT còn quy định về các hành vi xâm phạm quyền tài sản của tác giả, bao gồm các hành vi: Phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả tại Khoản 3, và phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó tại Khoản 4; Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu QTG, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác tại Khoản 8; Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu QTG tại Khoản 9; Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu QTG tại Khoản 10; Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu QTG tại Khoản 11; Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu QTG tại Khoản 16. Hành vi phân phối tác phẩm được hiểu là việc thực hiện bằng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao tác phẩm. Tương tự như quyền sao chép, khái niệm quyền phân phối cũng được mở rộng để phù hợp với sự phát triển của môi trường kỹ thuật số. Phân phối tác phẩm có thể thực hiện bằng bất kỳ hình thức hay phương tiện kỹ thuật nào, ví dụ việc bán bản sao tác phẩm có thể được thực hiện trên internet. Theo khoản 3 Điều 21 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, quyền phân phối bản gốc hoặc bản sao tác phẩm quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 của Luật SHTT là quyền của chủ sở hữu QTG độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện bằng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao tác phẩm.
Khoản 3 Điều 28 Luật SHTT bao gồm hai hành vi: công bố và phân phối tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu QTG. Quy định như vậy chưa thực sự hợp lý, bởi lẽ hai hành vi trên xâm phạm đến các quyền khác nhau thuộc QTG, cụ thể là: hành vi công bố tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu QTG là hành vi xâm phạm quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm- quyền nhân thân của tác giả tại Khoản 3 Điều 19 Luật SHTT; trong khi đó hành vi phân phối tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu QTG là hành vi xâm phạm quyền phân phối tác phẩm – quyền tài sản của tác giả tại Điểm d Khoản 1 Điều 20 Luật SHTT. Vì vậy, sẽ là hợp lý hơn nếu Điều 28 Luật SHTT quy định theo hướng tách riêng hai hành vi trên.
Với sự thay đổi nhanh chóng trong cách thức thể hiện tác phẩm trong thời đại hiện nay, các phương tiện truyền tải tác phẩm cũng ngày càng phong phú, đa dạng hơn,cho phép việc chuyển tải tác phẩm đến công chúng với phạm vi không bị hạn chế trong thời gian nhanh chất, chất lượng tốt nhất. Điều 20 Luật SHTT ghi nhận “Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác” là một trong các độc quyền thuộc QTG. Chủ sở hữu QTG có độc quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng bất kỳ phương tiện nào mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn. Đây cũng là quy định thể hiện sự tiếp cận mới của pháp luật Việt Nam đối với việc bảo hộ QTG trong kỷ nguyên kỹ thuật số, khi mà internet trở thành một phương tiện truyển tải tác phẩm phổ biến với những đặc thù: truyền đạt tác phẩm không bị hạn chế về phạm vi lãnh thổ; công chúng có thể tiếp cận tại bất kỳ đâu, bất kỳ thời điểm nào do họ lựa chọn. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Liên quan đến hành vi xâm phạm các biện pháp bảo vệ QTG, Điểm đ Khoản 1 Điều 7 Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét là: “Sản phẩm có gắn thiết bị kỹ thuật bảo vệ QTG bị vô hiệu hóa trái phép”. Hành vi xâm phạm quyền ở đây là hành vi làm vô hiệu hóa các thiết bị kỹ thuật để bảo vệ QTG. Tuy nhiên, khoản 14 Điều 28 Luật SHTT khi quy định về các hành vi xâm phạm còn quy định việc “Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu QTG thực hiện để bảo vệ QTG đối với tác phẩm của mình” cũng là hành vi xâm phạm.
Theo quy định này thì hành vi xâm phạm QTG không chỉ là những hành vi tác động trực tiếp để làm vô hiệu hóa các thiết bị bảo vệ QTG, mà còn bao gồm những hành vi làm tiền đề cho hành vi xâm phạm kể trên như sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê những thiết bị này cũng là hành vi xâm phạm.
Khoản 13 Điều 28 quy định hành vi “cố ý xoá, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm” là hành vi xâm phạm QTG. Các chủ thể quyền có thể áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm QTG bằng cách đưa các thông tin quản lý quyền gắn với bản gốc, bản sao tác phẩm; hoặc đưa thông tin quản lý quyền xuất hiện cùng với việc truyền đạt tác phẩm tới công chúng nhằm xác định tác phẩm, tác giả của tác phẩm, chủ sở hữu quyền, thông tin về thời hạn, điều kiện sử dụng tác phẩm và mọi số liệu hoặc mã, ký hiệu thể hiện thông tin đó để bảo vệ QTG. Đồng thời các chủ thể quyền có thể áp dụng các biện pháp công nghệ để bảo vệ các thông tin quản lý quyền, ngăn chặn các hành vi tiếp cận tác phẩm, khai thác bất hợp pháp quyền sở hữu của mình theo quy định của pháp luật. Các thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm có thể là: mã nguồn của các chương trình, các mã chống sao chép, các mã cho phép số lần sử dụng hay thời hạn sử dụng đĩa CD, VCD chứa tác phẩm… Điều 18.69 CPTPP quy định hành vi gỡ bỏ hoặc làm thay đổi thông tin quản lý quyền… trên tác phẩm hành vi xâm phạm QTG. Như vậy, việc bảo hộ QTG đã được mở rộng, không chỉ giới hạn ở hành vi xâm phạm quyền mà thậm chí đối với những hành vi xâm phạm công nghệ bảo vệ tác phẩm, hoặc xâm phạm vào các thông tin quản lý quyền. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Theo những phân tích trên, về mặt lý luận và pháp lý, có thể thấy rằng chỉ khi có hành vi được quy định liệt kê tại Điều 28 Luật SHTT thì mới được xem là HVVP và phải chịu chế tài pháp lý, trường hợp khác, chẳng hạn có hành vi không tuân thủ theo quy định tại Điều 25 Luật SHTT về trích dẫn hợp lý, nhưng vì Điều 28 không quy định rõ ràng là HVVP, do vậy không thể áp dụng quy định này để xử lý, thậm chí nếu áp dụng sẽ dẫn đến sự khiên cưỡng, thiếu thống nhất. Mặc dù luật SHTT và các văn bản PL liên quan của Việt Nam đã tạo được khung pháp lý tương đối đầy đủ cho việc bảo hộ đối với QTG. Nhưng trong thực tiễn, tình trạng xâm phạm QTG nhiều nhất là trong lĩnh vực điện ảnh hiện nay vẫn còn ở mức độ rất phổ biến, phức tạp và đa dạng bằng nhiều hình thức khác nhau.
HVVP này xảy ra ngày càng nhiều, và khó kiểm soát không những về mặt số lượng mà còn về mức độ đa dạng và các lĩnh vực xâm phạm như: điện ảnh, tạo hình, báo chí, phát thanh sân khấu, chương trình máy tính…. Hằng năm, các cơ quan chức năng của nước ta đã xử phạt hàng tỷ đồng với HVVP bản quyền, xâm phạm quyền riêng tư… “Ðơn cử như theo thống kê của VTVcab – một đơn vị cung cấp nội dung nhiều chương trình lớn, trong năm 2020, phải xử lý hơn 30 nghìn video lậu trên facebook, hơn 8 nghìn video lậu trên youtube và các nền tảng mạng xã hội; thiệt hại hơn 40 tỷ đồng tiền bản quyền, hàng trăm tỷ đồng từ nguồn thu quảng cáo và doanh thu thuê bao. Không chỉ gây thiệt hại lớn về kinh tế, việc chiếm đoạt trái phép TP có bản quyền còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của người sáng tạo. Công chúng thì không được thưởng thức TP đúng nghĩa, bởi các sản phẩm sao chép, miễn phí khó có thể bảo đảm chất lượng như TP gốc”.
Tuy nhiên các hành vi xâm phạm QTG được quy định tại Điều 28 Luật SHTT hiện nay chỉ mang tính chất liệt kê mà không có sự giải thích cụ thể dẫn đến việc áp dụng để xác định hành vi xâm phạm QTG trở nên khó khăn. Chẳng hạn, những hành vi như “chiếm đoạt QTG”,“mạo danh tác giả” không được giải thích cụ thể mà chủ yếu được hiểu theo nghĩa thông thường nên việc áp dụng trên thực tế chưa thuyết phục. Hành vi “sao chép” tác phẩm mặc dù có quy định giải thích nhưng dường như cũng chưa rõ ràng bởi đây là hành vi cực kỳ phức tạp, đặc biệt là liên quan đến việc sao chép một phần tác phẩm. Việc Điều 28 Luật SHTT liệt kê mười sáu nhóm hành vi xâm phạm dưới dạng một quy định đóng, tức là giới hạn về các hành vi bị xem là xâm phạm QTG, dẫn đến sự lỗi thời trong trường hợp phát sinh những dạng hành vi xâm phạm mới mà pháp luật chưa điều chỉnh kịp. Đây có thể xem là hạn chế lớn nhất trong quy định của Điều 28 Luật SHTT cần được sửa đổi.
- Đề xuất, kiến nghị:
Xuất phát từ phạm vi bảo hộ của QTG là bao gồm các quyền nhân thân và tài sản nên các hành vi xâm phạm cũng nên phân chia theo nguyên tắc dựa trên cơ sở bảo hộ QTG gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Hành vi nào xâm phạm hai nhóm quyền này và không thuộc các trường hợp ngoại lệ sẽ bị xem là hành vi xâm phạm QTG. Theo đó, thay vì liệt kê các hành vi xâm phạm QTG, Điều 28 Luật SHTT nên có những quy định mang tính nguyên tắc để xác định hành vi xâm phạm quyền nhân thân và hành vi xâm phạm quyền tài sản. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, đảm bảo tính kịp thời, chính xác, thường xuyên. Ngoài ra việc phối hợp thực hiện giải quyết giữa các cơ quan, ban, ngành trong bộ máy thực thi bảo hộ QTG, quyền liên quan còn hạn chế; các hoạt động cũng như xử lý chưa mang tính răn đe, ngăn chặn tình trạng xâm phạm QTG, quyền liên quan. Các chủ sở hữu đối tượng bị vi phạm cũng không chủ động bảo vệ quyền lợi cho TP của mình dù rất bức xúc khi thấy chúng bị sử dụng tràn lan với mục đích thương mại. Mặt khác là do ý thức của người dân, một bộ phận thì không hiểu PL cũng như tầm quan trọng của QTG, còn bộ phận còn lại biết nhưng lại cố tình vi phạm và thái độ không tôn trọng PL.
Vừa qua Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022) đã sửa đổi bổ sung một số điều khoản tại Điều 28. Tác giả đồng quan điểm với việc sửa đổi lần này, thay vì liệt kê mười sáu hành vi xâm phạm QTG như trước đây, thì Luật SHTT mới đã thể hiện rõ các quy định mang tính bao quát hơn, minh bạch hơn. Dựa trên nền tảng quy định tại các Điều 19, 20, 25, 26 của Luật này và các hành vi xâm phạm khác liên quan tới biện pháp công nghệ bảo vệ quyền, thông tin quản lý quyền, trách nhiệm của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian.Việc sửa đổi hoàn thiện tạo ra sự đồng bộ, thống nhất. Đồng thời Luật mới cũng khắc phục được những bất cập về quy định mang tính gò bó trước đây. Nếu Luật SHTT trước đây dễ bỏ xót các HVVP, thì Luật SHTT (sửa đổi, bổ sung năm 2022) giúp chủ thể QTG dễ dàng nhận diện HVVP và thu thập chứng cứ chứng minh thích hợp từ đó tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2.7. Các biện pháp bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
Tại Điều 199 Luật SHTT quy định: “Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác thì tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự.”
2.7.1 Biện pháp dân sự
Biện pháp dân sự là biện pháp dùng để xử lí HVVP, theo yêu cầu của chủ thể quyền bị thiệt hại do hành vi xâm phạm QTG gây ra. Nếu một HVVP QTG đã và đang được xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc hình sự thì vẫn có thể áp dụng biện pháp dân sự để xứ lý. Và các cơ quan có thẩm quyền sẽ giải quyết yêu cầu đó theo thủ tục tố tụng dân sự…….
Theo biện pháp dân sự, tòa án buộc cá nhân, tổ chức xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ phải bồi thường thiệt hại về vật chất cũng như tinh thần cho các chủ thể QTG, quyền sở hữu công nghiệp và quyền sở hữu đối với giống cây trồng. Tuy nhiên, khoản bù đắp tổn thất tinh thần chỉ dành cho tác giả các TP văn học, nghệ thuật, khoa học, người biểu diễn, tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng mà không dành cho chủ sở hữu các đối tượng này. Mức bồi thường thiệt hại được xác định theo quy định tại Điều 205 Luật SHTT. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Theo Điểm d Khoản 1 Điều 205 Luật SHTT quy định trong trường hợp không xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất thì toà án có thẩm quyền ấn định mức bồi thường tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại nhưng không quá 500.000.000. đồng. Bên cạnh đó nếu tác giả chứng minh được thiệt hại về mặt tinh thần thì theo Khoản 2 Điều 205 Luật SHTT mức bồi thường về tinh thần trong giới hạn sẽ từ năm triệu đồng (5.000.000 đồng) đến năm mươi triệu đồng (50.000.000 đồng). Để bảo vệ quyền lợi các chủ thể quyền SHTT, PL quy định cho những chủ thể quyền SHTT được quyền yêu cầu toà án thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Các quy định này đã hỗ trợ rất nhiều trong việc răn đe, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể QTG. Đặc biệt đối với việc áp dụng bồi thường thiệt hại đã phần nào tạo thêm niềm tin để những người có công sức sáng tạo TP yên tâm truyền tải TP của mình trước công chúng. Tuy nhiên, việc chứng minh được thiệt hại về mặt vật chất và tinh thần đối với loại hình TP trong môi trường kỹ thuật số là khó khăn đối với tác giả và chủ sở hữu QTG.
Ở các nước, giải quyết tranh chấp về SHTT thường sử dụng cơ chế này. Nhưng ở Việt Nam, cơ chế này ít được quan tâm, lựa chọn do có nhiều bất cập: mất thời gian; trình tự, thủ tục giải quyết phức tạp. Vì vậy, pháp luật về SHTT cần tiếp tục hoàn thiện cũng như bổ sung, khắc phục những tồn tại các quy định về QTG đối với TPĐA, đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện cho các tác giả, chủ sở hữu QTG TPĐA tham gia bảo hộ quyền của mình đối với TP, đặc biệt là cụ thể hóa hơn các quy định bảo đảm quyền tự bảo vệ của tác giả, chủ sở hữu QTG đối với TP khi phát hiện HVVP đối với quyền của mình.
Ưu điểm:
- Chủ thể QTG chủ động, linh hoạt trong cách xử lý, giải quyết.
- Được bảo mật thông tin liên quan đến quá trình giải quyết.
- Quá trình giải quyết nhanh chóng, ít tốn kém về thời gian và chi phí.
Nhược điểm:
- Biện pháp này chỉ mang tính cảnh cáo, không mang tính chất răn đe cao nên hiệu quả giải quyết thấp.
- Kết quả giải quyết hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên liên quan, không mang tính chất ép buộc thi hành
2.7.2 Biện pháp hành chính Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Biện pháp hành chính được áp dụng để xử lý các hành vi xâm phạm QTG. Việc áp dụng hình thức xử phạt này đối với các HVVP QTG hiện nay khá phổ biến, nhất là trong môi trường mạng thì biện pháp này càng được sử dụng nhiều hơn các biện pháp khác. Chúng ta rất dễ dàng bắt gặp các thông tin về việc phạt tiền khi có hành vi xâm phạm QTG, và trong quan điểm chung của công chúng thì cứ vi phạm là đóng phạt. Điều này dẫn đến một tình trạng chung là làm mờ nhạt đi các biện pháp xử lý khác cũng như tâm lý ỷ lại và thiếu tính răn đe. Theo Điều 211 Luật SHTT, biện pháp hành chính áp dụng để xử lí những hành vi xâm phạm quyền SHTT gây thiệt hại cho con người và xã hội.
Biện pháp xử phạt này ghi nhận trực tiếp tại Điều 214 Luật SHTT có thể bằng hình thức phạt tiền hoặc cảnh cáo và tùy tính chất, mức độ mà có những biện pháp hỗ trợ khác như tịch thu, buộc tiêu hủy,…Tuy nhiên, xã hội không ngừng phát triển kéo theo các HVVP ngày càng tinh vi và đa dạng đặc biệt là trong môi trường không gian mạng. Đây có thể xem là một môi trường mới rất khó quản lý hiệu quả cũng như xử lý các HVVP. Để phù hợp với thực tiễn việc quy định hình phạt hành chính cũng đã trãi qua nhiều lần thay đổi mức phạt tiền cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội và hơn nữa thích ứng với các HVVP QTG ngày càng đa dạng. Cụ thể Khoản 1 Điều 2 c quy định xử phạt vi phạm hành chính về QTG, quyền liên quan. Theo đó, mức phạt tiền tối đa đối với các hành vi xâm phạm QTG đối với cá nhân là 250.000.000 đồng và tổ chức là 500.000.000 đồng tùy theo từng mức độ vi phạm.
Bên cạnh đó, tại Điều 3 Nghị định 131/2013/NĐ-CP đối với đặc trưng ở môi trường: internet và kỹ thuật số thì đã được bổ sung thêm các biện pháp khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong việc xác định cơ quan nào có thể xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT theo thủ tục hành chính khi tổ chức, cá nhân bị xâm phạm quyền SHTT cũng là một vấn đề lớn cần phải xem xét để hoàn thiện. Hiện nay, PL quy định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính cho rất nhiều cơ quan. “Trong thực tế, các cơ quan này hoạt động chồng chéo, đôi khi lại không cơ quan nào xử lý HVVP. Chính vì vậy để việc xử lý đạt hiệu quả cao, đòi hỏi các cơ quan này phải độc lập với nhau nhưng đồng thời phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình hoạt động”. Đây được xem là một nhược điểm lớn trong quản lý nhà nước về SHTT cần phải khắc phục ngay.
“Trên thực tế, theo quy định của pháp luật thì các HVVP về quyền SHTT đều được giải quyết bằng cách thức hành chính là chủ yếu. Vì thế đã xảy ra tình trạng “hành chính hoá” các mối quan hệ dân sự. Không thể phủ nhận, lợi ích mà biện pháp này mang lại giúp tiết kiệm thời gian, giải quyết xử lý nhanh chóng các vấn đề vi phạm, song lại không triệt để. Hơn nữa, quan hệ hành chính mang tính chất quyền lực nhà nước, giữa một bên là Nhà nước, một bên là chủ thể vi phạm, do vậy việc xử lý HVVP quyền SHTT bằng biện pháp này không tạo ra vị thế cân bằng giữa các bên trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả như trong thủ tục tố tụng dân sự, không đảm bảo cơ chế thực thi quyền được bảo vệ đối tượng SHTT của chủ thể quyền, đặc biệt là QTG”. Tác giả đồng ý với nhận định của Nguyễn Thị Thu Sương và Ngô Khánh Tùng khi thấy những ưu điểm mà các biện pháp xử lý hành chính mang lại và sự phổ biến của các biện pháp xử lý hành chính tại Việt Nam. Tuy nhiên các biện pháp xử lý hành chính chỉ mang tính chất tạm thời về bồi thường thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu QTG về mặt vật chất nhưng lại thiếu đi sự bồi thường về mặt tinh thần, và nó cũng thiếu đi tính răn đe để hạn chế những hành vi xâm phạm QTG hình thành trong tương lai. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Bên cạnh những hạn chế nêu trên, thì các cơ quan đơn vị có thẩm quyền cần rà soát, đánh giá hiệu lực, hiệu quả và sự phù hợp của hệ thống tổ chức và cơ cấu bộ máy bảo vệ quyền SHTT hiện có để làm căn cứ xây dựng và thực hiện phương án sắp xếp, phân công lại trong bộ máy. Việc sắp xếp, phân công lại bộ máy các cơ quan có thẩm quyền xử lý xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp hành chính cần đảm bảo theo hướng thu gọn đầu mối, phù hợp với tính chất dân sự của quyền SHTT, xóa bỏ tình trạng hành chính hóa các quan hệ dân sự về SHTT. Việc thu gọn cần được thực hiện đồng thời với việc phân định rõ thẩm quyền của mỗi cơ quan.
Ưu điểm:
- Thủ tục giải quyết khá đơn giản, tốn ít thời gian, chi phí
- Giải quyết triệt để các HVVP về quyền SHTT
- Đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng, ổn định trật tự xã hội.
Nhược điểm:
- Khả năng bảo mật các thông tin còn thấp.
- Chủ thể bị xâm phạm không được bồi thường thiệt hại nếu HVVP không gây ra thiệt hại.
- Có tác dụng giáo dục, răn đe quy mô nhỏ.
- Hệ thống các cơ quan, đơn vị giải quyết xử lý chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất.
2.7.3. Truy cứu trách nhiệm hình sự
Bên cạnh việc xử lý các HVVP bằng các biện pháp nêu trên. Thì HVVP QTG, quyền liên quan tuỳ theo mức độ còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Khi các cá nhân, tổ chức có HVVP đến QTG mà gây ra hậu quả đặc biệt nguy hiểm và có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu. Việc áp dụng biện pháp này thuộc thẩm quyền của tòa án. Nếu HVVP có đủ dấu hiệu vi phạm thị sẽ bị các cơ quan có thẩm quyền xử lý thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm QTG và các quyền liên quan theo quy định Điều 225 BLHS quy định về quyền tác giả và các quyền liên quan.
Nếu chủ sở hữu TP phát hiện HVVP hoặc có cơ sở xác định các cá nhân, tổ chức khác xâm phạm đến QTG thì có thể thực hiện quyền của người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Trên thực tế, tại Việt Nam có rất ít trường hợp nào về xâm phạm QTG bị áp dụng xử lý theo biện pháp này, hầu như chỉ dừng lại bằng việc xử phạt hành chính hoặc khởi kiện ra tòa yêu cầu bồi thường thiệt hại, tuy nhiên việc khởi kiện ra tòa thông qua các hình thức tranh chấp dân sự cũng không nhiều. Đây cũng là thách thức cho Việt Nam khi chưa có kinh nghiệm trong việc áp dụng biện pháp hình sự để xử lý. Với tình hình hội nhập quốc tế, đặc biệt là thành viên chính thức trong mười một quốc gia của Hiệp định CPTPP, việc tuân thủ những yêu cầu hiện nay trong việc xử lý hình sự là hoàn toàn áp lực lớn đối với không những Việt Nam mà cả các quốc gia thành viên khác. Theo đó tại Điều 18.71 của Hiệp định CPTPP ghi nhận rõ nghĩa vụ mỗi bên phải có các thủ tục thực thi và chế tài hình sự đối với HVVP QTG trong môi trường kỹ thuật số, các thủ tục này phải đảm bảo công bằng, hợp lý. Cụ thể tại Điều 18.77 của Hiệp định CPTPP các thủ tục và hình phạt được quy định khá khắt khe. Với các quan điểm quốc tế thì việc tập trung tăng cường các biện pháp hình sự đối với lĩnh vực SHTT được lặp lại liên tục thông qua các cuộc đàm phán trong quá khứ và đang diễn ra của một số hiệp định thương mại đa phương hoặc song phương là hết sức cần thiết. Cho nên, PL Việt Nam cần chú trọng thực hiện nghiêm khắc các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp hình sự nhằm mục đích răn đe hiệu quả các hành vi xâm phạm.
Ưu điểm: Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
- Mang tính giáo dục, răn đe mạnh nhất, xử lý triệt để hành vi xâm phạm.
Nhược điểm:
- Không bảo mật được thông tin về hàng hóa, sản phẩm, thương hiệu.
- Quy trình, thủ tục giải quyết phức tạp vì có sự can thiệp của cơ quan nhà nước, thời gian giải quyết kéo dài.
Đề xuất, kiến nghị:
Trong khuôn khổ bài luận này, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hộ QTG và hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, cũng như là nâng cao tính khả thi khi áp dụng các quy định về bảo vệ QTG trong tất cả các lĩnh vực nói chung và trong lĩnh vực điện ảnh nói riêng trong thực tiễn, tác giả đưa một số kiến nghị, như sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về QTG đối với TPĐA. Hiện nay, các quy định về tội xâm phạm QTG đối với loại hình TPĐA đã được đề cập, tuy nhiên các quy định trên còn mang tính khái quát, chưa nêu cụ thể đối với loại hình TP này. TPĐA có những đặc trưng riêng, những hành vi xâm phạm QTG đối với TPĐA cũng mang tính chất khác biệt so với những TP khác. Trước tiên, cần phải làm rõ khái niệm TPĐA, giải thích những từ ngữ mang tính chuyên môn hoặc trừu tượng trong định nghĩa để người đọc có thể hình dung được chính xác nhất về loại hình TPĐA. Việc bổ sung những quy định về TP phái sinh của TPĐA cũng là hết sức cần thiết. Việc xác định chính xác TP phái sinh của TPĐA sẽ giúp cho việc bảo vệ QTG đối với TP phái sinh được hiệu quả hơn, tránh gây nhầm lẫn TP phái sinh với những TP sao chép, đạo nhái.
Ngoài ra, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ QTG đối với TPĐA cũng cần phải đáp ứng yêu cầu là phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, để việc bảo vệ QTG đối với TPĐA không chỉ hiệu quả trong nước mà còn phù hợp với pháp luật quốc tế, nhất là trong quá trình hội nhập kinh tế mạnh mẽ như ngày nay.
Hai là, tiếp tục đấy mạnh hoạt động quản lý nhà nước về QTG. Trước hết phải đào tạo chuyên sâu về pháp luật QTG cho đội ngũ cán bộ thông qua các lớp đào tạo trong nước và quốc tế. Thành lập một cơ quan nhà nước thống nhất về SHTT, cơ quan này sẽ đảm nhận nhiệm vụ thực hiện việc giám sát và bảo vệ các QTG nói chung và QTG đối với TPĐA nói riêng như: khuyến khích việc chuyển nhượng QTG TPĐA phù hợp với các quy định của pháp luật; giám sát việc sử dụng hợp pháp và bất hợp pháp TPĐA; bảo vệ các TPĐA. Điều tiết và giám sát các biện pháp kỹ thuật nhằm thực hiện việc bảo vệ và xác định các TPĐA được bảo vệ. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Ba là, bản thân tác giả, chủ sở hữu QTG TPĐA cần đầu tư áp dụng các cách thức bảo hộ TP của mình. Trong cả môi trường truyền thống và môi trường không gian mạng internet. Tuy nhiên, hai môi trường này có tính chất khác nhau nên tùy vào mỗi môi trường, tác giả hay chủ sở hữu QTG cần có những biện pháp cụ thể phù hợp với từng môi trường. Tác giả cần đặc biệt chú ý tới việc bảo hộ TP trên môi trường Internet bởi đặc tính vô hình của phương tiện chứa đựng và truyền dẫn là mạng không gian ảo. Tác giả cần tự áp dụng các biện pháp tự bảo hộ cho TP của mình như đăng ký tạo tài khoản cá nhân online. Tài khoản này sẽ nhận dạng kỹ thuật số của tác giả và nó có mức độ bảo mật cao hoàn thiện hệ thống quản lý và thực thi QTG.
Bốn là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đi đôi với xử lý nghiêm các HVVP QTG. Trong khuôn khổ PL về QTG, chủ sở hữu QTG, về công tác tuyên truyền phải tập trung vào ba đối tượng chủ yếu đó là tác giả, chủ sở hữu QTG và người sử dụng TP, làm cho các đối tượng nắm rõ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ngoài ra cần có mức xử phạt đủ nặng về mặt kinh tế và kết hợp pháp lý đối với các HVVP, xâm phạm QTG để tăng tính nghiêm minh và thực thi có hiệu quả các quy định của Luật SHTT.
KẾT LUẬN CHƯƠNG II
Chương II, luận văn đã phân tích được một cách tổng quan các quy định của PLVN về bảo hộ QTG đối với TPĐA, cũng như các chế tài xử lý đối với hành vi xâm phạm QTG. Trên thực tế, luận văn đã nêu ra được thực trạng về những bất cập, mâu thuẫn trong các quy định văn bản của pháp luật, và thực tiễn áp dụng Luật SHTT về bảo hộ QTG hiện nay có thực sự đảm bảo hiệu quả hay không? Đồng thời, luận văn cũng có đối chiếu, so sánh, đánh giá các quy định trong Luật SHTT so với Luật SHTT mới (sửa đổi, bổ sung năm 2022), và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Từ đó tác giả đưa ra những kiến nghị, cũng như giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ QTG đối với TPĐA.
KẾT LUẬN Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
Mặc dù xuất hiện và phát triển từ khá sớm TPĐA chỉ thực sự phát triển trong những năm gần đây. Dù vậy sự đóng góp của nó ngày càng quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao các hoạt động điện ảnh cũng như nâng cao các giá trị tinh thần của mọi người, tạo ra khả năng cạnh tranh cho nước nhà so với các quốc gia đang phát triển, thúc đẩy sự đầu tư của các nguồn lực từ bên ngoài vào nền công nghiệp điện ảnh ở Việt Nam. Qua đó tạo ra những cơ hội phát triển cho các ngành nghề có liên quan, thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Bảo hộ QTG đối với TPĐA theo PL Việt Nam mặc dù không còn là vấn đề mới mẻ nhưng vẫn chưa dành được sự quan tâm của xã hội và Nhà nước đúng như tầm quan trọng vốn có của nó. Do đó việc tạo thành hành lang pháp lý an toàn khuyến khích các hoạt động sáng tạo của tác giả và bảo hộ thành quả lao động của chủ thể sáng tạo là cần thiết. Tuy nhiên, việc xâm phạm QTG đối với TPĐA hiện nay vẫn đang diễn ra phổ biến và ngày càng tinh vi bởi sự hỗ trợ và phát triển của công nghệ đặc biệt là môi trường trực tuyến đã ảnh hưởng đến hoạt động sáng tạo, đầu tư, kinh doanh, gây ra nhiều bức xúc, quan ngại cho các đối tác, nhà đầu tư. Song song với đó là công tác quản lý, thực thi bảo hộ QTG đối với TPĐA còn nhiều khó khăn, hạn chế.
Do vậy, nội dung trong bài luận văn này không chỉ đi nghiên cứu về QTG và thực trạng QTG đối với TPĐA, mà còn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện và hiệu quả hơn các vấn đề quản lý, xử lý các vi phạm, tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc để mọi cá thể sáng tạo có thể đảm bảo được quyền lợi của mình cũng như các TPĐA mà mình dày công sáng tạo ra cũng được bảo vệ. Luận văn: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm điện ảnh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh