Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại ngân hàng BIDV dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

I. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ BIDV

1. Quá trình hình thành và phát triển

Sáu năm sau ngày Ngân hàng Quốc gia của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa non trẻ được thành lập, ngày 26/04/1957, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định khai sinh Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (tiền thân của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)), một thành viên của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Suốt chặng đường 49 năm qua, dù với tên gọi nào, hoạt động với mô hình nào Ngân hàng BIDV vẫn luôn là người lính xung kích trên mặt trận tài chính tiền tệ, phục vụ đầu tư phát triển đất nước. Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

Thời kỳ 1957 – 1980:

Ngày 26/4/1957, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam tiền thân của BIDV, được thành lập trực thuộc Bộ Tài Chính với quy mô ban đầu nhỏ bé gồm 8 chi nhánh và 200 cán bộ. Nhiệm vụ cơ bản là thực hiện cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ vốn ngân sách cho tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội.

Thời kỳ 1981 – 1989:

Ngày 26/4/1981, đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng trực thuộc ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Nhiệm vụ cơ bản là thực hiện cấp phát, cho vay quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách cho tất cả các lĩnh vực kinh tế thuộc kế hoạch của Nhà Nước.

Thời kỳ từ năm 1990 – 1994:

Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Đây là thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, chuyển đổi từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Do vậy nhiệm vụ của BIDV được thay đổi cơ bản: tiếp tục vay vốn để cho vay dài hạn thuộc chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng…

Từ năm 1995 – nay:

Ngày 1/1/1995, BIDV được phép kinh doanh đa năng như một ngân hàng thương mại, phục vụ chủ yếu cho việc đầu tư phát triển của đất nước. Từ năm 1996 đến nay, BIDV đã có những bước chuyển mình tạo đà phát triển cho những năm tiếp theo.

Tính cho đến 31/03/2006, mô hình tổ chức của BIDVgồm 4 khối lớn: khối liên doanh (4 liên doanh), khối ngân hàng (3 Sở giao dịch, 79 chi nhánh cấp I, 62 chi nhánh cấp II), khối đơn vị sự nghiệp (2 khối), khối công ty (4 công ty).

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2. Phương châm và chiến lược kinh doanh của BIDV Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

BIDV là một trong bốn ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam hiện nay, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức theo mô hình Tổng công ty. Mục tiêu dài hạn của BIDV đến năm 2010 trở thành một ngân hàng đa năng hiện đại, kinh doanh đa lĩnh vực, chất lượng hoạt động ngang tầm với các ngân hàng trong khu vực Đông Nam Á. Để đạt được mục tiêu đó, BIDV đã đề ra phương châm kinh doanh từ nay đến năm 2010 như sau:”Chất lượng – Tăng trưởng bền vững – Hiệu quả – An toàn”. Cụ thể:

  • Chất lượng: Nâng cao chất lượng hoạt động thông qua việc thực hiện phân loại nợ xấu, phấn đấu trích đủ dự phòng rủi ro đối với dư nợ tín dụng thương mại; tăng cường kiểm soát và hạn chế nợ xấu phát sinh. Nâng cao chất lượng sản phẩm cung ứng cho khách hàng.
  • Tăng trưởng bền vững: Mở rộng và tăng thị phần hoạt động dịch vụ, huy động vốn; đảm bảo tăng trưởng quy mô phù hợp với năng lực tài chính và khả năng kiểm soát rủi ro. Đẩy mạnh hoạt động dịch vụ, tập trung vào các

Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại Ngân hàng BIDV dịch vụ phi tín dụng, dịch vụ tài chính, đưa vào khai thác các sản phẩm dịch vụ mới: Gắn tăng trưởng dịch vụ với ứng dụng công nghệ hiện đại. Tiếp tục mở rộng và phát triển mạng lưới và các kênh phân phối ở các thành phố lớn, các tỉnh, vùng kinh tế động lực; có kế hoạch nâng cấp hệ thống các điểm đặt ATM, POS… để chuyển sang bán lẻ phục vụ dân cư, phục vụ tiêu dùng.

Hiệu quả: Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thông qua việc điều chỉnh cơ cấu tài sản nợ-có theo hướng: tăng hoạt động dịch vụ, hoạt động đầu tư, tăng tín dụng ngắn hạn trong đó tập trung vào tăng tín dụng tài trợ xuất khẩu… tập trung cho các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn có khả năng sinh lời và nguồn thu tín dụng lớn đảm bảo tăng trưởng nhưng an toàn và hiệu quả cao.

An toàn: Tiếp tục nâng cao năng lực tài chính, phấn đấu chỉ số an toàn vốn (8%) theo đúng lộ trình quy định của Ngân hàng Nhà nước tại QĐ 457 và hướng dần theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế.

II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CHỦ YẾU TẠI BIDV

1. Cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế để thu phí Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

Cung ứng các dịch vụ ngày càng được coi là tâm điểm hoạt động của BIDV. Với sự quyết tâm của toàn hệ thống, dịch vụ trong các năm qua đã có nhiều khởi sắc, phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đánh dấu sự phát triển mới của Ngân hàng trên lĩnh vực hoạt động dịch vụ. Bên cạnh những sản phẩm, dịch vụ truyền thống như thanh toán, bảo lãnh,… BIDV đã chú trọng phát triển những sản phẩm như: dịch vụ thẻ, BIDV- Home Banking…

Chỉ tiêu thu dịch vụ ròng của BIDV tăng mạnh qua các năm, nhiều sản phẩm mới ra đời với chất lượng cao hơn và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Kết quả của việc cung ứng các dịch vụ không chỉ thể hiện bằng con số mà nó còn thể hiện rõ nét qua các chuyển biến về nhận thức trong chỉ đạo, điều hành các hoạt động của các đơn vị thành viên, ở phong cách, thái độ giao dịch với khách hàng chuyên nghiệp hơn, văn minh hơn.

Bảng 1: Tổng thu dịch vụ ròng 2002 – 2005

Sau đây là một số kết quả các hoạt động dịch vụ quốc tế chính của BIDV:

1.1 Nghiệp vụ ngân hàng đại lý

Thời điểm hai Pháp lệnh về Ngân hàng ra đời, trao quyền tự chủ trong kinh doanh đối ngoại cho các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam cũng là thời điểm Ngân hàng BIDV bắt đầu tìm kiếm, thiết lập những ngân hàng đại lý của mình. Tính đến hết 31/12/2005, Ngân hàng BIDV đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 820 ngân hàng nước ngoài và có quan hệ tài khoản với hơn 40 ngân hàng trên thế giới. Mạng lưới ngân hàng đại lý của Ngân hàng BIDV được đánh giá là khá rộng đủ để phục vụ cho khách hàng.

Bảng 2 : Số lượng ngân hàng đại lý ở các châu lục

Có thể thấy được qua số liệu trên là Ngân hàng BIDV có quan hệ đại lý nhiều nhất với các ngân hàng ở Châu Á còn Châu Úc và Châu Phi số lượng không nhiều. Điều này phản ánh phần nào những thị trường mục tiêu mà Ngân hàng BIDV đang hướng tới và tăng cường quan hệ hợp tác kinh doanh. Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

Ngân hàng BIDV cũng đã có chính sách ngân hàng đại lý, đã biết lựa chọn một số ngân hàng chủ chốt để phân phối các giao dịch qua các ngân hàng này, đảm bảo các hoạt động kinh doanh quốc tế của Ngân hàng được an toàn, hiệu quả; đồng thời tận dụng được các ưu đãi mà các ngân hàng đại lý dành cho Ngân hàng như: chia phí, lãi suất cho vay thấp, lãi tiền gửi cao, đào tạo cán bộ. Cho đến nay, nhiều ngân hàng quốc tế đã cung cấp cho Ngân hàng BIDV hạn ngạch giao dịch ngoại tệ, hạn ngạch xác nhận L/C, trong đó nhiều ngân hàng cam kết tài trợ với hạn ngạch không hạn chế. Nhiều ngân hàng đại lý cho phép Ngân hàng BIDV được thấu chi đến một hạn mức tiền nhất định. Chúng ta sẽ xét những kết quả Ngân hàng BIDV trên một số mặt cụ thể:

Về nghiệp vụ tài khoản:

Do đồng nội tệ VND không phải là loại tiền tệ mạnh để quy đổi ra ngoại tệ nên việc cung cấp tài khoản thanh toán cho ngân hàng nước ngoài rất khó phát triển. Vì vậy, BIDV mới duy trì tài khoản với 40 ngân hàng trên thế giới như: Korea Exchange bank, Lao Viet bank…. Tất nhiên, không nhất thiết

Ngân hàng BIDV phải mở tài khoản tại mọi ngân hàng đại lý bởi vì làm như vậy sẽ rất tốn kém và không cần thiết và nếu quản lý tốt, Ngân hàng BIDVsẽ thực hiện tốt các hoạt động nghiệp vụ quốc tế khác.

Nghiệp vụ cung cấp và kiểm tra mã tài khoản (Testkey):

Thiết lập quan hệ đại lý giữa các ngân hàng cũng là thiết lập hệ thống mã khoá nhằm đảm bảo tính bảo mật giữa các ngân hàng. Mỗi ngày, BIDV cung cấp 5-10 mã khoá theo yêu cầu của các ngân hàng đại lý và thu phí. Mục đích chính của ciệc cung cấp này là xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa các ngân hàng với nhau.

Nghiệp vụ đại lý uỷ thác:

Đây là một trong những nghiệp vụ ngân hàng quốc tế truyền thống, góp phần đa dạng hoá hoạt động của BIDV làm tăng tiền gửi khách hàng. Năm 2005, BIDV đã nhận thêm 16 dự án mới từ WB, NIB… với tổng trị giá đạt 436,64 triệu USD. Tổng số dự án ủy thác lên tới 242, doanh số cho vay 1344 tỷ VND, dư nợ đạt 3210 tỷ VND, lãi và phí thu được đạt 3,05 tỷ VND. (Nguồn: Báo cáo nghiệp vụ ngân hàng đại lý của BIDV năm 2005).

Bảng 3 : Một số chỉ tiêu kết quả dịch vụ ngân hàng đại lý uỷ thác của BIDV giai đoạn 2002 – 2005

Ngoài ra, các tổ chức tài chính thế giới như WB, ADB… rất tín nhiệm BIDV do đó phần lớn các nguồn vốn viện trợ chính thức đều chuyển đến BIDV làm đại lý uỷ thác. Từ chỗ thuần tuý cho vay lại các dự án song phương và làm dịch vụ giải ngân cho một số ít các dịch vụ đa phương đến nay, BIDV đã thực hiện giải ngân phần lớn các dự án đa phương có nguồn tài trợ từ các nước và tổ chức quốc tế:

Bảng 4: Thị phần hoạt động của BIDV trong hoạt động dịch vụ đại lý uỷ thác nguồn vốn ODA

Lợi ích hoạt động nghiệp vụ này mang lại cho BIDV rất to lớn: phí dịch vụ từ hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu lãi thuần từ dịch vụ:

Bảng 5: Tổng thu nhập ròng từ phí nghiệp vụ ngân hàng đại lý từ năm 2002 – 2005

Ngoài ra, nghiệp vụ này còn mang một nguồn thu nhập ngoại tệ lớn cho BIDV, góp phần đáng kể giải quyết các nhu cầu ngoại tệ của khách hàng và mở rộng dịch vụ khác phục vụ dự án cho vay tín dụng, cho vay ngắn hạn…

1.2 Nghiệp vụ thanh toán quốc tế Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

Hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện tại BIDV từ tháng 3/1993. Hiện nay, BIDV cung cấp các dịch vụ thanh toán quốc tế thông qua phương thức chủ yếu như thanh toán chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ. Các ngoại tệ được sử dụng chủ yếu như USD, EURO, SGD…

Những năm qua, doanh số nghiệp vụ thanh toán quốc tế của BIDV có tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 25% trong giai đoạn 2000 – 2005, thị phần hoạt động thanh toán quốc tế trên cả nước ngày càng mở rộng từ 7,5% năm 2000 đã lên tới 11% năm 2005. Về mạng lưới thanh toán quốc tế, BIDV đã có những tiến bộ rất nhanh qua các năm, không ngừng được mở rộng từ 19 chi nhánh thanh toán quốc tế trực tiếp năm 1999 lên tới hơn 70 chi nhánh đến hết năm 2005. Chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế được nâng lên, về tốc độ xử lý giao dịch, độ chính xác, trình độ chuyên môn và độ an toàn, đã góp phần nâng cao uy tín quốc tế của BIDV. Tổ chức thanh toán được hình thành và không ngừng được mở rộng, nâng cấp gồm Phòng thanh toán quốc tế và Trung tâm tài trợ thương mại Trung ương, các phòng hoặc tổ chức thanh toán quốc tế ở các chi nhánh địa phương. Quy trình thanh toán đã được chuẩn mực hoá và thực thi có hiệu quả. Liên tục trong các năm 1999 – 2005, BIDV đã được Ngân hàng Bank of New York, Citibank công nhận là ngân hàng có chất lượng thanh toán tốt nhất theo tiêu chuẩn Mỹ.

Bảng 6: Một số kết quả hoạt động kinh doanh nghiệp vụ thanh toán quốc tế của BIDV giai đoạn 2002 – 2005

1.2.1 Phương thức tín dụng chứng từ

Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức được sử dụng chủ yếu trong thanh toán hàng nhập khẩu cũng như thanh toán hàng xuất khẩu tại Ngân hàng BIDV.

1.2.1.1 Nghiệp vụ thanh toán hàng nhập bằng L/C

Phát hành thư tín dụng nhập khẩu – đó là dịch vụ cung cấp cam kết thanh toán, nên việc thanh toán hàng nhập khẩu bằng phương thức L/C được Ngân hàng xem xét rất kỹ điều khoản ngay từ khi mở L/C. Ngoài các điều khoản về hồ sơ pháp lý, hồ sơ chứng từ liên quan đến giao dịch của khách hàng, BIDV còn phải xem xét nguồn vốn thanh toán L/C:

  • Nếu khách hàng mở L/C bằng vốn vay BIDV hoặc tài trợ uỷ thác, khách hàng không phải ký quỹ. Những giao dịch này an toàn về nguồn vốn thanh toán, chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch bằng L/C tại BIDV.
  • Nếu khách hàng mở L/C bằng nguồn vốn tự có hoặc của bên thứ ba, khách hàng phải ký quỹ tối thiểu 5%.

Hiện nay, đối với giao dịch L/C trong hạn mức được duyệt, các chi nhánh đã được Hội sở chính cho phép thực hiện thanh toán quốc tế trực tiếp, tự chịu trách nhiệm xem xét hồ sơ của khách hàng, nguồn vốn thanh toán và mở L/C khi đủ điều kiện. Hội sở chính chỉ làm nhiệm vụ chuyển tiếp và xem xét lại các điều khoản L/C đối với L/C có hạn mức lớn trên mức tự động của chi nhánh. Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu thanh toán qua BIDV thay đổi qua các năm theo xu hướng đa dạng hoá khách hàng trong hoạt động. Trước đây, mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị thì nay, cơ cấu mặt hàng đã phong phú như hàng điện tử, vật liệu, máy móc… Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

Bảng 7: Tình hình thanh toán L/C nhập khẩu tại BIDV

Nghiệp vụ thông báo thư tín dụng:

Nghiệp vụ này ngày càng tăng tại BIDV do số lượng hàng xuất của Việt Nam và chất lượng thanh toán của BIDV ngày càng nâng cao. Ngân hàng nước ngoài sử dụng nghiệp vụ này của BIDV để thông báo cho người thụ hưởng hoặc chuyển tiếp cho các ngân hàng khác ở Việt Nam.

Bảng 8: Số liệu giao dịch thông báo L/C hàng xuất tại BIDV

Nghiệp vụ gửi chứng từ hàng xuất đòi tiền theo L/C:

Đây là loại hình nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh số hoạt động thanh toán hàng xuất tại BIDV và có sự tăng trưởng qua các năm. Những khách hàng giao dịch với BIDV được mở rộng ra với những đối tượng: từ những người có quan hệ tín dụng vay vốn và thanh toán tại BIDV tới những doanh nghiệp chỉ sử dụng nghiệp vụ thanh toán tại BIDV. Trong phương thức thanh toán này, vấn đề quan trọng nhất cần được xem xét về điều khoản, về khả năng đòi tiền từ ngân hàng phát hành thư tín dụng và mức độ hoàn hảo của bộ chứng từ do khách hàng lập. Vì vậy, từ khâu thông báo thư tín dụng BIDV đã tư vấn cho khách hàng để tu chỉnh những điều khoản bất lợi, đảm bảo khả năng lập được bộ chứng từ thanh toán hoàn hảo nhất.

Nghiệp vụ chiết khấu chứng từ hàng xuất:

Đây là hình thức BIDV ứng trước một phần trị giá bộ chứng từ hàng xuất trước khi ngân hàng phát hành thư tín dụng tiến hành thanh toán. Hiện nay, BIDV thực hiện chiết khấu tối đa 95% trị giá bộ chứng từ thanh toán đối với L/C trả ngay, 85% trị giá bộ chứng từ đối với L/C trả chậm.

Nghiệp vụ L/C xuất khẩu thực hiện tại tất cả các chi nhánh đã thực hiện thanh toán quốc tế trực tiếp. Cơ cấu hàng hàng xuất ngày càng đa dạng, trước đây chủ yếu là hàng gia công may mặc, giầy dép… thì nay hàng xuất đã thay đổi theo cơ cấu đầu tư của Ngân hàng như hàng thuỷ sản, cà phê, cao su…

Bảng 9: Tình hình thanh toán L/C xuất khẩu tại BIDV

Qua bảng số liệu trên, ta thấy với nghiệp vụ thanh toán quốc tế L/C, doanh số hàng nhập khẩu cao hơn hơn hàng xuất khẩu. Trong những năm gần đây, sự chênh lệch ngày càng giảm thể hiện sự nỗ lực của BIDV trong việc cân đối hàng xuất và nhập trong hoạt động thanh toán quốc tế.

1.2.2 Phương thức chuyển tiền Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

Trong phương thức này, BIDV đóng vai trò trung gian thanh toán, thực hiện theo lệnh/chỉ dẫn thanh toán của người nhập khẩu. Trong trường hợp người chuyển tiền đưa ra các chỉ dẫn sai, ngân hàng chuyển tiền sẽ không chịu trách nhiệm.

1.2.2.1 Nghiệp vụ chuyển tiền đi

Hầu hết các khoản chuyển tiền của Ngân hàng BIDV đều được thực hiện qua SWIFT. Mọi khoản chuyển tiền ra nước ngoài tại Ngân hàng BIDV đều tuân thủ chế độ quản lý ngoại tệ ngoại hối do Nhà nước ban hành trong từng thời kỳ. Tại Ngân hàng BIDV, nghiệp vụ này gồm thanh toán cho việc thanh toán phi mậu dịch, thanh toán hàng nhập khẩu, chuyển tiền đặt cọc…

Nếu chuyển tiền ra nước ngoài để thanh toán hàng hoá nhập khẩu cần thiết phải có hợp đồng nhập khẩu, hoá đơn thương mại… Trường hợp chuyển tiền phi mậu dịch cần có các giấy tờ hợp pháp chứng minh về việc chuyển tiền ra nước ngoài tuân thủ các qui định của chế độ quản lý ngoại hối. Tuy nhiên do đối tượng khách hàng trong lĩnh vực thanh toán quốc tế của Ngân hàng BIDV chủ yếu là các doanh nghiệp nên số lượng khách hàng vãng lai ít dẫn đến doanh số chuyển tiền phi mậu dịch của Ngân hàng BIDV chiếm tỷ lệ thấp.

1.2.2.2 Nghiệp vụ chuyển tiền đến

Nghiệp vụ này gồm: chuyển tiền thanh toán hàng xuất, chuyển tiền phi mậu dịch và chuyển tiền mục đích khác. Mọi khoản ngoại hối thanh toán qua BIDV đều được Ngân hàng chuyển vào tài khoản cá nhân/công ty tại Việt Nam theo đúng chỉ dẫn thanh toán.

Chuyển tiền thanh toán hàng xuất là hình thức phát triển khá mạnh tại Ngân hàng BIDV, khách hàng phần lớn là nhà xuất khẩu cà phê ca cao. Cùng với sự khuyến khích của Chính phủ Việt Nam trong việc thu hút kiều hối từ nước ngoài về, Ngân hàng BIDVđã thực hiện chính sách khuyến khích khách hàng chuyển kiều hối qua hệ thống của Ngân hàng. Bên cạnh việc hướng dẫn tận tình, cụ thể và rõ ràng khách hàng ở Việt Nam để người nhà của họ tại nước ngoài chuyển tiền về qua hệ thống ngân hàng, đến việc đi khảo sát, tìm kiếm đối tác là các tổ chức kiều hối ở nước ngoài, kí kết hợp đồng chuyển tiền nhanh về Việt Nam. Chính nhờ các biện pháp tích cực nên doanh số chuyển tiền kiều hối của Ngân hàng qua các năm ngày một cao. Chỉ riêng hai quý đầu năm 2006, BIDV đã ký thêm 2 hợp đồng với các đối tác đưa tổng số lên 18 hợp đồng hợp tác dịch vụ kiều hối giữa BIDV và đối tác nước ngoài.

Nhận thức được phương thức chuyển tiền đến là hình thức quan trọng trong việc thu hút ngoại tệ nhằm đảm bảo cân đối với cơ cấu ngoại tệ trong thanh toán xuất nhập khẩu, Ngân hàng BIDV đã rất quan tâm để phát triển dịch vụ này. Doanh số chuyển tiền đến của Ngân hàng BIDV tăng mạnh qua các năm và chiếm một tỷ trọng cao trong doanh số hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng.

Bảng 10: Tình hình thanh toán bằng phương thức chuyển tiền tại BIDV Chuyển tiền đi:

1.2.3 Phương thức nhờ thu Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

1.2.3.1 Nghiệp vụ thanh toán hàng nhập khẩu

Khi thực hiện nghiệp vụ này, BIDV nhận thu kèm chứng từ từ ngân hàng nước ngoài hoặc từ người xuất khẩu, BIDV tiến hành thông báo cho khách hàng theo đúng chỉ dẫn.

Nghiệp vụ này trước đây không phổ biến tại BIDV vì nó phụ thuộc hoàn toàn vào quan hệ đối tác trong quan hệ buôn bán, chủ yếu được sử dụng đối với khách hàng nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu có uy tín và có mối quan hệ mật thiết với đối tác xuất khẩu. Tuy nhiên, theo xu thế thương mại quốc tế hiện nay, phương thức này ngày càng tăng dần trong khi phương thức thanh toán bằng L/C giảm dần. Bên cạnh đó, uy tín của ngân hàng cũng là yếu tố quan trọng để các ngân hàng phục vụ người xuất khẩu lựa chọn gửi chứng từ nhờ thu. Từ khi thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế đến nay, uy tín của BIDV ngày càng được nâng cao nên số lượng các bộ chứng từ nhờ thu gửi về qua BIDV ngày càng tăng lên qua các năm.

Bảng 11: Tình hình thanh toán nhập khẩu tại BIDV bằng phương thức nhờ thu

1.2.3.2 Nghiệp vụ thanh toán hàng xuất khẩu Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

Đây là hình thức thanh toán được thực hiện với doanh số thấp tại BIDV vì hình thức thanh toán này không an toàn cho khách hàng nên BIDV luôn tư vấn khách hàng sử dụng nghiệp vụ thanh toán bằng L/C. Tuy nhiên, phương thức này hay áp dụng cho đối với khách hàng xuất khẩu là công ty liên doanh hay công ty con của các công ty nước ngoài. Vai trò của BIDV trong phương thức này là kinh nghiệm trong giao dịch để tư vấn khách hàng lập bộ chứng từ có khả năng đòi tiền một cách nhanh nhất.

Bảng 12 : Tình hình thanh toán xuất khẩu tại BIDV bằng phương thức nhờ thu

1.3 Nghiệp vụ thẻ tín dụng quốc tế

Thẻ quốc tế là dịch vụ mới, tiềm năng có tốc độ phát triển nhanh, đang được các ngân hàng quan tâm, đầu tư và mở rộng. Chỉ tính đến cuối tháng 6/2006, trong cả nước có 5 triệu thẻ thanh toán các loại trong đó có 90% là thẻ nội địa còn 0,5 triệu thẻ (10%) là thẻ thanh toán quốc tế.

Nhận biết đây là thị trường tiềm năng mà BIDV đã bỏ ngỏ trong thời gian qua, ngày 12/9/2006, BIDV chính thức hoàn thành việc kết nối thanh toán thẻ Visa. Dự kiến vào cuối năm 2006 đầu năm 2007, BIDV sẽ xem xét khả năng chuyển đổi thẻ ATM từ công nghệ thẻ từ sang công nghệ chíp để phục vụ tốt nhất các dịch vụ tiện ích cho khách hàng của mình. Đặc biệt, vào ngày 15/6/2006, Trung tâm Thẻ của BIDV ra đời là bước đi cụ thể về chiến lược đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ nhằm tiến tới gần khách hàng hơn và đẩy mạnh hoạt động của ngân hàng bán lẻ trong tổng thu của Ngân hàng.

Song song với việc phát triển các sản phẩm thẻ, BIDV còn chú trọng phát triển mạng lưới chấp nhận thẻ thanh toán trong cả nước với hệ thống ATM và

POS (điểm chấp nhận thẻ), là cơ sở hạ tầng để phục vụ dịch vụ thanh toán thẻ.

Mạng lưới ATM lên tới 400 máy ATM và 1000 điểm chấp nhận thanh toán.

2. Hoạt động kinh doanh các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

Nghiệp vụ này ngày càng được chú trọng tại BIDV nhưng tập trung chủ yếu nhất vẫn là hoạt động bảo lãnh tín dụng và kinh doanh ngoại tệ, chiếm tỷ trọng chủ yếu. Còn các nghiệp vụ khác như bao thanh toán, tài trợ tín dụng xuất nhập khẩu… vẫn còn khá mờ nhạt. Ở đây chúng ta đi xem xét nghiệp vụ bảo lãnh quốc tế và kinh doanh ngoại tệ.

2.1 Nghiệp vụ bảo lãnh quốc tế

Trong những năm qua, hoạt động bảo lãnh của BIDV có sự tăng trưởng cả về doanh số hoạt động và phí thu từ hoạt động bảo lãnh, cụ thể BIDV cung cấp các nghiệp vụ bảo lãnh sau:

  • Thông báo bảo lãnh, thông báo tu chỉnh bảo lãnh: Sau khi phát hành thư bảo lãnh/các bản tu chỉnh bảo lãnh, ngân hàng thông báo sẽ tiến hành xác thực chữ ký uỷ quyền, tính hiệu lực của thư bảo lãnh. Để nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của nghiệp vụ này, BIDV còn thực hiện tư vấn miễn phí cho khách hàng khi có yêu cầu hoặc khi có giao dịch của khách hàng liên quan tới các dự án do BIDV tài trợ. Nội dung tư vấn bao gồm: điều kiện đòi tiền, thời gian bảo lãnh… Trong nghiệp vụ này, BIDV đóng vai trò là ngân hàng phục vụ người hưởng lợi trong nước, tiến hành thông báo hoặc tu chỉnh thư bảo lãnh mà không chịu trách nhiệm đối với điều khoản bảo lãnh.

Bảng 13 : Số liệu giao dịch thông báo thư bảo lãnh tại BIDV

Dịch vụ phát hành bảo lãnh: BIDV có thể phát hành bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng (ngân hàng nước ngoài hoặc khách hàng trong nước). Khi nhận được đơn yêu cầu bảo lãnh từ khách hàng, BIDV tiến hành xem xét hồ sơ trên khía cạnh như: năng lực tài chính và khả năng thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh của khách hàng, các bảo đảm của bảo lãnh, các điều khoản của thư bảo lãnh… Thư bảo lãnh do BIDV phát hành phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế không có điều khoản bất lợi cho khách hàng

Trong năm 2005, tổng số dư bảo lãnh đạt 22443 tỷ USD tăng 19,5% so với năm 2004 (16100 tỷ USD) trong đó bảo lãnh mở L/C là 10100 tỷ VND (chiếm 45%), bảo lãnh thực hiện hợp đồng là 5835,18 tỷ VND (chiếm 26%), bảo lãnh thanh toán 897 tỷ USD (chiếm 4%)… Ngoài ra trong năm 2005, BIDV đã bảo lãnh ứng trước cho Vinashin vay 71,75 triệu USD để đóng 6 tàu biển ra nước ngoài.

Doanh số thu phí nghiệp vụ bảo lãnh trong năm 2005 đạt 111,529 tỷ VND chiếm khoảng 21% tổng thu dịch vụ, trong đó phí hoạt động bảo lãnh nước ngoài đạt 12,41 tỷ VND.

Bảng 14 : Số liệu giao dịch phát hành thư bảo lãnh nước ngoài tại BIDV

2.2 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

Kể từ năm 1998, Ngân hàng BIDV đẩy mạnh hoạt động kinh doanh tiền tệ đến 34 chi nhánh trong hệ thống được phép kinh doanh ngoại tệ. Bộ phận mua bán trực tiếp hoặc với nước ngoài thông qua hệ thống Dealing rom, fax, telex và được trang bị màn hình Reuters, Telerate 24/24 để theo sát tình hình biến động thế giới. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ tiếp tục chú trọng vào các hoạt động mang tính thương mại trên cơ sở nhu cầu khách hàng. BIDV thực hiện giao dịch với trên 15 ngoại tệ khác nhau, trong đó bao gồm những đồng tiền chủ đạo như USD, EUR, GBP.. Hoạt động mua bán ngoại tệ được tập trung tại Hội sở chính theo đó các giao dịch bán buôn trên liên ngân hàng chỉ được thực hiện tại Hội sở chính. Hoạt động mua bán ngoại tệ bán lẻ phục vụ doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, cá nhân được thực hiện tại tất cả các chi nhánh trên phạm vi toàn quốc với giao dịch như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn

Bảng 15: Giao dịch ngoại tệ

BIDV là ngân hàng thương mại Nhà nước đầu tiên được phép triển khai thí điểm quyền chọn tiền tệ (Currency options) – VND từ năm 2004. Trong năm 2005, BIDV đã giới thiệu thêm tới khách hàng các sản phẩm phái sinh như quyền chọn lãi suất (Interest rate option), hoán đổi lãi suất (Interest rate swap), quản lý tài sản (Asset management). Trong thời gian tới, BIDV cũng đang xúc tiến triển khai thực hiện thêm các sản phẩm phái sinh khác như: giao dịch hàng hoá tương lai (Comodity futures), các sản phẩm cơ cấu (structure products), hoán đổi lãi suất (Interest rate swap) nhằm giúp khách hàng linh hoạt trong hoạt động quản lý rủi ro tỷ giá lãi suất đồng thời có những lựa chọn đem lại hiệu quả tối đa. Mặt khác, trong thời gian qua, hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Hội sở chính đã từng bước được chuyên nghiệp hoá với việc áp dụng hệ thống công nghệ phần mềm có tính năng xử lý trực tuyến và theo đó các giao dịch được tự động cập nhập từ chương trình Reuters Dealing vào chương trình quản lý kiểm soát hạn mức trên máy, phê duyệt trên máy và chuyển tự động trực tuyến tới bộ phận kinh doanh.

Bảng 16: Doanh số kinh doanh ngoại tệ

3. Hợp tác kinh doanh ngân hàng quốc tế

Tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động kinh doanh là một định hướng phát triển nhất quán của Ngân hàng BIDV trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Đặc biệt những năm qua đã ghi nhận những biến động phức tạp về chính trị trên thế giới kèm theo là cơn bão của SARS và cúm gia cầm H5N1 với những tác động nhất định đến tình hình kinh doanh của các ngân hàng trong khu vực, tuy nhiên trên cơ sở phát huy nền tảng hợp tác với bạn hàng trong thời gian qua, các hoạt động ngân hàng quốc tế vẫn đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ. Các hoạt động liên doanh, liên kết tiếp tục hoạt động hiệu quả và tăng trưởng cả ở trong nước và ở nước ngoài minh chứng cho chính sách cùng hợp tác phát triển của BIDV. Đồng thời, Ngân hàng cũng đang chuẩn bị những điều kiện cần thiết để được cấp phép và có thể sớm khai trương hoạt động đại diện văn phòng tại Mỹ. Cụ thể:

3.1 Tham gia ngân hàng liên doanh Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

Trong những năm qua, BIDV đã tham gia với các ngân hàng bạn để liên doanh, liên kết nhằm mở rộng thị trường và khai thác những nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, tài chính… Điển hình, Ngân hàng liên doanh Lào – Việt giữa BIDV và Ngân hàng Ngoại thương Lào (LVB) thành lập vào tháng 6/1999, trụ sở chính tại Viêng Chăn, Lào. Tính đến cuối tháng 12/2005, vốn điều lệ của toàn hệ thống LVB được tăng từ 10 triệu USD lên tới 15 triệu USD. Việc tăng vốn này thể hiện nỗ lực to lớn của hai bên trong việc tăng cường năng lực tài chính, phát huy vai trò chủ lực trong hoạt động kinh doanh, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ kinh tế chính trị do Đảng và Chính phủ hai nước giao cho.

Bảng 17 : Kết quả kinh doanh của Ngân hàng liên doanh Lào – Việt trong hai năm 2004 – 2005

Ngoài ra, BIDV còn liên kết với một số ngân hàng trong việc thành lập một số ngân hàng liên doanh hoạt động có hiệu quả tại Việt Nam như Ngân hàng liên doanh VID-Public Bank (hợp tác với Ngân hàng Public Bank Behard – Malaysia), công ty liên doanh tháp BIDV (hợp tác với Singapore)…

Tỷ trọng đầu tư góp vốn liên doanh tuy đã được cải thiện nhưng còn nhỏ so với tổng tài sản và so với mức đầu tư tối đa cho phép của Ngân hàng Nhà nước là 30%.

Bảng 18: Tỷ trọng góp vốn liên doanh qua các năm 2002 – 2005

Với hình thức này, BIDV chưa thực sự phát triển, chủ yếu vẫn là sự hợp tác với các ngân hàng nước ngoài mở trụ sở tại Việt Nam như công ty cho thuê tài chính I và II (BLC) hoặc công ty bảo hiểm Việt – Úc nhưng đến tháng 1- 2006, quan hệ này đã tan vỡ và công ty này hoàn toàn 100% vốn của BIDV.

3.3 Tham gia vào các định chế tài chính phi ngân hàng

BIDV ngày càng tham gia nhiều vào các định chế tài chính, hiệp hội ngân hàng. BIDV là thành viên của hội đồng quản trị của định chế tài chính phát triển Châu Á – Thái Bình Dương (ADFIAP) vào năm 2001, đặc biệt vào ngày 11/5/2005, tại Fiji, BIDV được hiệp hội trao tặng hai giải thưởng “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ” và ”Phát triển kinh tế địa phương”. Ngoài ra, BIDV còn là thành viên của Hiệp hội ngân hàng Châu Á (ABA), ASEAN. Khóa luận: Tổng quan chiến lược pháp triển của BIDV

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Thực trạng nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế BIDV

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464