Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại ngân hàng MB-BANK

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại ngân hàng MB-BANK hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội – Chi nhánh Bắc Hải dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Bắc Hải

2.2.1. Các chỉ tiêu định tính

Trong 3 năm vừa qua, ngân hàng MB Bắc Hải đã có những cố gắng trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Điều này được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:

Quy trình tín dụng Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại ngân hàng MB-BANK

Cán bộ tín dụng của chi nhánh đã thực hiện đúng các thủ tục và điều kiện cho vay theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam một cách linh hoạt, đảm bảo được tính pháp lý và an toàn cho ngân hàng. Quy trình thẩm định hồ sơ vay vốn chặt chẽ hơn giúp cho chi nhánh giảm được rủi ro về tín dụng.

Thời gian xét duyệt

Đối với các dự án trong quyền phán quyết: Trong thời gian không quá 5 ngày làm việc đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ khi ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Bắc Hải nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng theo đúng yêu cầu và sau đó ngân hàng sẽ quyết định và thông báo cho vay hoặc không cho vay đối với khách hàng.

Đối với các dự án vượt quyền phán quyết:

Trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ khi ngân hàng

TMCP Quân đội chi nhánh Bắc Hải nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và

thông tin cần thiết của khách hàng, ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Bắc Hải phải làm đầy đủ thủ tục trình lên ngân hàng TMCP Quân đội cấp trên.

Tron thời hạn không quá 5 ngày làm việc đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ khi ngân hàng

TMCP Quân đội cấp trên nhận đủ hồ sơ trình sẽ quyết định và thông báo cho vay hoặc không cho vay.

Thái độ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng

Thái độ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng của ngân hàng TMCP Quân đội tốt, nhiệt tình hướng dẫn khách hàng thực hiện các thủ tục, quy định một cách chính xác, nhanh gọn. Thái độ chuyên nghiệp kết hợp với trình độ chuyên môn cao, giúp cho khách hàng thực hiện các thủ tục nhanh chóng, giúp ngân hàng thẩm định các hồ sơ vay vốn một cách cẩn thận, hiệu quả. Nhờ vậy mà đem lại hình ảnh đẹp, uy tín cho ngân hàng.

Tuy nhiên những chỉ tiêu định tính này chỉ phản ánh được một cách tương đối về chất lượng tín dụng của ngân hàng. Để đánh giá được chính xác hơn cần sử dụng những chỉ tiêu định lượng sau đây.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại ngân hàng MB-BANK

Nhóm chỉ tiêu về quy mô tín dụng

Doanh số cho vay

 Theo bảng số liệu có thể nhận thấy ngân hàng chủ yếu thiên về cho vay với kỳ hạn ngắn. Do kinh tế có nhiều biến động nên ngân hàng tập trung vào cho vay ngắn hạn để hạn chế rủi ro tín dụng, thuận lợi hơn trong công tác thu hồi nợ, bên cạnh đó khách hàng cũng muốn vay trong thời gian ngắn để hưởng lãi suất thấp hơn. Doanh số cho vay ngắn hạn năm 2012 đạt 408.743 triệu đồng chiếm 81,35% tổng doanh số cho vay, năm 2013 doanh số cho vay tăng so với năm 2012 đạt 501.341 triệu đồng tăng92.598 triệu đồng và chiếm 77,17% doanh số cho vay, đến cuối năm 2014 doanh số tiếp tục tăng lên 125.717 triệu đồng đạt 627.058 triệu đồng chiếm 81,69% doanh số cho vay. Có thể thấy, ngân hàng vẫn tập trung vào cho vay với kỳ hạn ngắn.

Bên cạnh hoạt động cho vay ngắn hạn, ngân hàng còn đầu tư, hỗ trợ vào các nhu cầu vay có kỳ hạn dài hơn, các khoản vay trung và dài hạn thường có rủi ro tín dụng lớn hơn nhưng nó lại mang đến cho ngân hàng khoản lợi nhuận cao hơn. Tuy nhiên với tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay, khoản cho vay này cũng chịu ảnh hưởng lớn và có nhiều biến động.

Năm 2012, doanh số cho vay trung hạn đạt 77.031 triệu đồng chiếm 15,33% tổng doanh số. Năm 2013, khoản vay này giảm xuống chiếm 11,71% tổng doanh số, đạt 76.047 triệu đồng (giảm984 triệu đồng so với năm trước).

Năm 2014 tình hình cho vay trung hạn có khởi sắc tăng lên 3.086 triệu đồng đạt 79.133 triệu đồng tương ứng với 10,31% tổng doanh số cho vay. Doanh số cho vay dài năm 2012 đạt 16.682 triệu đồng chiếm 3,32% trong tỷ trọng doanh số cho vay, khoản vay dài hạn tăng mạnh trong năm 2013 với 55.550 triệu đồng đạt 72.232 triệu đồng và chiếm đến 11,12% doanh số cho vay, nhưng đến năm 2014 doanh số cho vay các khoản vay dài hạn lại giảm xuống10.825 triệu đồng, chiếm 8% doanh số cho vay và đạt 61.407 triệu đồng.

Cơ cấu doanh số cho vay theo đối tượng

Biểu đồ 4: Doanh số cho vay theo đối tượng

Hiện nay, các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, các công ty TNHH càng ngày càng đông đảo, phát triển và mở rộng trong nước, đồng thời nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này cũng tăng lên, mà nơi có thể đáp ứng vốn cho họ chính là các ngân hàng thương mại. Đối tượng cho vay chủ yếu của ngân hàng MB Bắc Hải cũng là các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế ngoài Nhà nước, thể hiện qua bảng số liệu với tỷ trọng cao nhất trong tổng doanh số cho vay. Doanh số cho vay đối với các doanh nghiệp và các TCKT ngoài Nhà nước năm 2012 đạt 390.926 triệu đồng chiếm đến 77,8% tổng doanh số cho vay. Năm 2013 các khoản vay đối với các doanh nghiệp này tăng 119.793 triệu đồng đạt 510.719 triệu đồng tương ứng 78,62%. Năm 2014 tăng thêm 100.533 triệu đồng so với năm trước và đạt 611.252 triệu đồng chiếm 79,63% tổng doanh số.

Doanh số cho vay đối với doanh nghiệp Nhà nước cũng tăng đều trong 3 năm nghiên cứu, tuy nhiên tỷ trọng của nhóm doanh nghiệp này trong tổng doanh số cho vay lại có xu hướng giảm xuống. Năm 2012, khoản vay của các doanh nghiệp Nhà nước đạt 70.911 triệu đồng chiếm 14,11% doanh số cho vay. Khoản vay này tăng lên 10.387 triệu đồng ở năm 2013 đạt 81.298 triệu đồng tương ứng với tỷ trọng 12,51% trong tổng doanh số. Cuối năm 2014 tiếp tục tăng thêm 5.862 triệu đồng đạt 87.160 triệu đồng nhưng chỉ còn chiếm 11,35% trong tổng doanh số cho vay.

Đối với các cá nhân và các thành phần kinh tế khác, ngân hàng cũng tạo điều kiện cho các cá nhân và các tổ chức kinh tế khác có thể vay vốn để phục vụ nhu cầu riêng như tiêu dùng, xây dựng nhà cửa,.. Năm 2012, khoản vay đối với cá nhân và các thành phần kinh tế khác chiếm 8,08% doanh số cho vay, đạt 40.619 triệu đồng. Năm 2013 tăng lên 16.984 triệu đồng đạt 57.603 triệu đồng tương đương với tỷ trọng 8,87% doanh số cho vay. Năm 2014 doanh số cho vay đối với cá nhân và các thành phần kinh tế khác đạt 69.186 triệu đồng chiếm 9,01%, tăng 11.583 triệu đồng so với năm 2013.

Cơ cấu doanh số cho vay theo loại tiền

Biểu đồ 5: Doanh số cho vay theo loại tiền

Doanh số cho vay nội tệ có xu hướng tăng đều, doanh số cho vay nội tệ chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng doanh số cho vay, năm 2013 doanh số cho vay nội tệ đạt 642.712 triệu đồng tăng 148.196 triệu đồng so với năm trước, năm 2014 lại tăng lên 114.644 triệu đồng và chiếm tỷ trọng 98,67% tổng doanh số cho vay. Doanh số cho vay ngoại tệ tăng trưởng không ổn định, vào cuối năm 2013 đạt 6.908 triệu đồng giảm1.032 triệu đồng so với năm trước, năm 2014 tăng lên3.334 triệu đồng và đạt 10.242 triệu đồng.

Doanh số thu nợ

Bảng 5: Doanh số thu nợ, tổng số và tỷ trọng của từng loại

Theo bảng số liệu, doanh số thu nợ theo kỳ hạn ngắn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu doanh số thu nợ. Trong 3 năm 2012 – 2014, doanh số thu nợ ngắn hạn có xu hướng tăng dần. Năm 2013 doanh số thu nợ ngắn hạn đạt 361.562 triệu đồng, tăng 59.352 triệu đồng so với năm 2012 là 302.210 triệu đồng và chiếm 74,38% doanh số thu nợ. Năm 2014, doanh số thu nợ ngắn hạn tăng 54.964 triệu đồng đạt 416.526 triệu đồng chiếm 76,96% doanh số thu nợ.

Doanh số thu nợ trung hạn cũng có cùng xu hướng tăng lên qua các năm với doanh số thu nợ ngắn hạn, biểu hiện năm 2013 doanh số thu nợ trung hạn tăng 14.422 triệu đồng so với năm trước và đạt 83.546 triệu đồng chiếm 17,19% doanh số thu nợ. Năm 2014 doanh số lại tăng mạnh lên 2.720 triệu đồng so với đầu năm đạt 86.266 triệu đồng tương đương với tỷ trọng 15,94% doanh số thu nợ.

Doanh số thu nợ dài hạn lại có chuyển biến giảm. Năm 2013, doanh số thu nợ dài hạn đạt 41.025 triệu đồng giảm xuống794 triệu đồng so với năm 2012 và chiếm tỷ trọng 8,44% tỷ trọng doanh số thu nợ, đến năm 2014, doanh số thu nợ lại tiếp tục giảm xuống 2.583 triệu đồng đạt 38.442 triệu đồng tương đương với tỷ trọng 7,1% doanh số thu nợ. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại ngân hàng MB-BANK

Biểu đồ 7: Doanh số thu nợ theo đối tượng

Doanh nghiệp và các TCKT ngoài Nhà nước là đối tượng mà ngân hàng tập trung cho vay nhiều nhất. Doanh số thu nợ của doanh nghiệp và các TCKT ngoài Nhà nước cũng chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng doanh số thu nợ. Năm 2012 doanh số thu nợ của nhóm doanh nghiệp ngoài Nhà nước đạt 298.455 triệu đồng chiếm 72,24% doanh số thu nợ, năm 2013, khoản thu nợ này tăng lên 63.213 triệu đồng đạt 361.668 triệu đồng chiếm 74,4% doanh số thu nợ. Năm 2014, tiếp tục tăng lên 42.855 triệu đồng đạt 404.523 triệu đồng tương đương với 74,74% trong tỷ trọng doanh số thu nợ.

Doanh số thu nợ của doanh nghiệp Nhà nước năm 2013 giảm3.654 triệu đồng so với năm 2012, đạt 74.798 triệu đồng chiếm 15,39% doanh số thu nợ. Năm 2014, doanh số thu nợ của doanh nghiệp Nhà nướctăng7.658 triệu đồng và đạt 82.456 triệu đồng, chiếm 15,23% doanh số thu nợ.

Doanh số thu nợ của cá nhân và các thành phần kinh tế khác chiếm tỷ trọng ít nhất trong 3 đối tượng nhưng cũng tăng qua các năm. Năm 2012 khoản thu nợ của cá nhân và các TPKT khác là 36.246 triệu đồng, chiếm 8,77% doanh số thu nợ. Năm 2013 khoản thu tăng lên 13.421 triệu đồng, đạt 49.667 triệu đồng chiếm 10,22% tổng doanh số. Năm 2014 tiếp tục tăng lên 4.588 triệu đồng đạt 54.255 triệu đồng và chiếm tỷ trọng 10,02% trong tổng doanh số thu nợ.

Cơ cấu doanh số thu nợ theo loại tiền

Biểu đồ 8: Doanh số thu nợ theo loại tiền

Cũng như cơ cấu doanh số cho vay theo loại tiền, doanh số thu nợ nội tệ chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng doanh số thu nợ (chiếm khoảng trên 97% tổng doanh số thu nợ) và có xu hướng tăng qua các năm, năm 2013 doanh số thu nợ nội tệ đạt 478.454 triệu đồng tăng trưởng mạnh lên77.190 triệu đồng so với năm 2012, năm 2014 doanh số thu nợ nội tệ đạt 533.456 triệu đồng tăng 55.002 triệu đồng. Doanh số thu nợ ngoại tệ tăng trưởng không ổn định, năm 2013 đạt 7.679 triệu đồng giảm 4.210 triệu đồng nhưng sang cuối năm 2014 doanh số thu nợ lại tănglên99 triệu đồng và đạt 7.778 triệu đồng.

Tổng dư nợ

Như đã phân tích ở bảng 2 ở trên, tổng dư nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tổng dư nợ theo kỳ hạn. Trong các năm 2012 – 2014, tổng dư nợ theo kỳ hạn ngắn tăng trưởng đều nhưng tổng dư nợ trung và dài hạn lại tăng không ổn định qua các năm. Về cơ cấu tổng dư nợ theo loại tiền, ngân hàng có dư nợ chủ yếu theo đồng nội tệ, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dư nợ theo loại tiền và tỷ trọng dao động chiếm khoảng 98%tổng dư nợ.

Cơ cấu tổng dư nợ theo đối tượng

Qua biểu đồ có thể thấy, dư nợ của doanh nghiệp và các TCKT ngoài Nhà nước, cá nhân và các TPKT khác đều tăng lên trong 3 năm, nhưng dư nợ của doanh nghiệp Nhà nước lại không ổn định. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, dư nợ cho vay năm 2012 đạt 99.655 triệu đồng chiếm 20,22% tổng dư nợ, năm 2013 giảmxuống7.541 triệu đồng, đạt 92.114 triệu đồng tương đương với tỷ trọng 15,83% tổng dư nợ. Năm 2014 dư nợ cho vay của doanh nghiệp Nhà nước đạt 98.614 triệu đồng chiếm 13,23% tổng dư nợ. Tuy dư nợ cho vay trong năm này tăng nhưng tỷ trọng lại có xu hướng giảm cho thấy ngân hàng đang tập trung đầu tư chủ yếu cho các đối tượng khác.

Dư nợ cho vay của doanh nghiệp và các TCKT ngoài Nhà nước có sự tăng trưởng mạnh, năm 2013 đạt 417.121 triệu đồng tăng 92.471 triệu đồng so với năm 2012 chiếm 71,66%. Đến năm 2014, dư nợ cho vay tăng lên 149.051 triệu đồng đạt 566.172 triệu đồng chiếm 75,94% tổng dư nợ. Dư nợ cho vay của cá nhân và các TPKT khác năm 2013 đạt 72.818 triệu đồng tương đương với 12,51% tỷ trọng tổng dư nợ tăng 4.373 triệu đồng so với năm 2012, năm 2014 đạt 80.754 triệu đồng tăng lên 7.936 triệu đồng so với năm trước và chiếm 10,83% tổng dư nợ.

Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động tín dụng

Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn

Bảng 7: Hiệu suất sử dụng vốn

Hiệu suất sử dụng vốn là một trong các chỉ tiêu đánh giá trình độ quản lý của ngân hàng, nó phản ánh ngân hàng sử dụng được bao nhiêu vốn trên tổng số vốn huy động được.

Qua bảng số liệu, ta thấy hiệu suất sử dụng vốn của chi nhánh Bắc Hải dao động trong khoảng từ 0.62 đến 0.74 nhỏ hơn 1 cho thấy chi nhánh hoạt động sử dụng vốn vẫn còn thấp, cụ thể hiệu suất sử dụng vốn năm 2012 là 62,77%, năm 2013 là 63,23% và năm 2014 là 73,67%, kết quả này thể hiện tình hình sử dụng vốn của ngân hàng vẫn chưa được hiệu quả, tổng vốn huy động được của chi nhánh cao trong khi nhu cầu sử dụng vốn thấp làm phát sinh hiện tượng thừa vốn, ứ đọng vốn. Do tình hình kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp hàng loạt phá sản làm ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn ngân hàng. Ngân hàng cần có biện pháp để xử lý hiệu quả nguồn vốn này để có thể tạo ra lợi nhuận, tránh lãng phí nguồn vốn huy động.

Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

Để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng, ngân hàng sử dụng chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng để thể hiện tốc độ luân chuyển các khoản vay mà ngân hàng cấp cho nền kinh tế, chỉ tiêu này cho biết ngân hàng thu được bao nhiêu nợ khách hàng để cho vay mới. Chỉ tiêu này còn được dùng để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng, vòng quay vốn tín dụng càng cao cho thấy nguồn vốn ngân hàng vay luân chuyển nhanh, vòng quay vốn càng nhanh thì ngân hàng có xu hướng thiên về cho vay ngắn hạn, nếu vòng quay càng chậm thì ngân hàng thiên về cho vay dài hạn. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại ngân hàng MB-BANK

Vòng quay vốn tín dụng năm 2012 của chi nhánh đạt 0,9 vòng là do doanh số thu nợ đạt 413.153 triệu đồng, dư nợ bình quân trong kỳ đạt 458.745 triệu đồng. Năm 2013, tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của chi nhánh vẫn không đổi là do doanh số thu nợ tăng lên 72.980 triệu đồng đồng thời dư nợ bình quân cũng tăng lên 78.657 triệu đồng, phần chênh lệch tăng lên khá đều nhau nên vòng quay vốn tín dụng không thay đổi đáng kể. Tuy nhiên, trong năm 2014, tốc độ luân chuyển vốn tín dụng lại có chuyển biến giảm xuống 0.08 vòng. Như vậy, vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng vẫn còn biến động không ổn định cho thấy hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng vẫn còn nhiều hạn chế. Ngân hàng vẫn tập trung chủ yếu cho các khoản vay ngắn hạn, tuy nhiên đến năm 2014, cơ cấu cho vay của ngân hàng đã có sự chuyển dịch sang khoản vay trung và dài hạn. Ngân hàng cần phải chú ý đảm bảo tốc độ luân chuyển vốn tín dụng ổn định và phù hợp với cơ cấu cho vay của ngân hàng nâng cao hiệu quả tín dụng và chất lượng tín dụng.

Bảng 9: Tỷ lệ sinh lời của tín dụng

Qua bảng số liệu, ta thấy tình hình kinh doanh của chi nhánh khá kém khi tổng lợi nhuận của 2 năm 2012 và 2013 đều lỗ trên 1 tỷ đồng do chi phí bỏ ra vượt quá doanh thu nhận được, năm 2014, tình hình kinh doanh có khả quan hơn khi chi nhánh thu được lợi nhuận là 2.780 triệu đồng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị lỗ chủ yếu là do kinh doanh từ hoạt động tín dụng bị lỗ. Có thể thấy trong tổng lợi nhuận, lãi từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn, năm 2012 và 2013 đều chiếm trên 68%, năm 2014 chiếm đến 70,68% tổng lợi nhuận.

Theo số liệu nhận được từ ngân hàng, năm 2012 lợi nhuận từ hoạt động tín dụng lỗ1.302 triệu đồng, tổng lợi nhuận lỗ 1.894 triệu đồng. Năm 2013, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng lại tiếp tục lỗ 971 triệu đồng, tổng lợi nhuận lỗ 1.408 triệu đồng. Trong 2 năm này, hoạt động tín dụng không đem lại lợi nhuận nào cho ngân hàng. Năm 2014, hoạt động kinh doanh của ngân hàng có chuyển biến tốt hơn, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đạt 1.965, tổng lợi nhuận đạt 2.780 triệu đồng làm cho tỷ lệ sinh lời từ hoạt động tín dụng đạt 0,26%. Điều này cho thấy chi nhánh đã có sự cố gắng trong hoạt động tín dụng trong tình hình kinh tế suy thoái.

Như vậy, tỷ trọng đóng góp của hoạt động tín dụng là cao, bởi vậy nếu hoạt động tín dụng tốt sẽ làm cho kết quả hoạt động kinh doanh tốt và ngược lại nếu hoạt động tín dụng xấu sẽ làm cho kết quả hoạt động kinh doanh xấu.

Nhóm chỉ tiêu về chất lượng hoạt động tín dụng

Chỉ tiêu nợ quá hạn

Biểu đồ 11: Nợ quá hạn

Nợ quá hạn của chi nhánh năm 2012 đạt 38.284 triệu đồng, sang năm 2013, các khoản nợ quá hạn tăng lên 8.009 triệu đồng đạt 46.293 triệu đồng. Khoản nợ quá hạn còn tăng thêm 7.098 triệu đồng và đạt 53.391 triệu đồng trong năm 2014. Cụ thể các khoản nợ quá hạn theo cơ cấu như sau:

Nợ cần chú ý hay có thể gọi là nợ nhóm 2 là các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày. Nợ cần chú ý có xu hướng tăng trong 3 năm nghiên cứu, trong đó năm 2012 đạt 23.091 triệu đồng. Sang năm 2013, nợ cần chú ý tăng lên 5.596 triệu đồng đạt 28.687 triệu. Năm 2014 tiếp tục tăng lên2.271 triệu đồng đạt 30.958 triệu đồng.

Nợ dưới tiêu chuẩn được xếp vào nợ nhóm 3 là các khoản nợ quá hạn từ đến 180 ngày. Các khoản nợ dưới tiêu chuẩn có xu hướng giảm trong 3 năm nghiên cứu. Trong năm 2012, khoản nợ này đạt 9.064 triệu đồng. Đến cuối năm 2013, khoản nợ dưới tiêu chuẩn tăng lên501 triệu đồng đạt 9.565 triệu đồng. Con số này còn tăng lên2.332 triệu đồng ở năm 2014 đạt 11.897 triệu đồng.

Nợ nghi ngờ xếp vào nợ nhóm 4 là các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày. Năm 2012 nợ nghi ngờ đạt 4.626 triệu. Năm 2013, khoản nợ nghi ngờ tăng1.759 triệu đồng đạt 6.385 triệu đồng. Trong năm 2014, nợ nghi ngờ tăng lên 2.584 triệu đồng.

Các khoản nợ trên 360 ngày sẽ được xếp vào nợ nhóm 5 hay còn gọi là nợ có khả năng mất vốn. Theo bảng số liệu, năm 2012 nợ có khả năng mất vốn đạt 1.503 triệu đồng. Khoản nợ này tăng lên 153 triệu đồng trong năm 2013 đạt 1.656 triệu đồng. Năm 2014, nợ có khả năng mất vốn giảm 89 triệu đồng đạt 1.567 triệu đồng.

Chỉ tiêu nợ quá hạn được sử dụng để đánh giá khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong việc thu hồi nợ của các khoản vay. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém, ngược lại nếu tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp thì chất lượng tín dụng của ngân hàng lại càng cao.

Qua bảng số liệu có thể thấy tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng MB Bắc Hải dao động trong khoảng 7% đến 8%. Năm 2012, nợ quá hạn của chi nhánh chiếm đến7,77% tổng dư nợtrong đó nợ cần chú ý chiếm 4,69%, nợ dưới tiêu chuẩn chiếm 1,84%, nợ nghi ngờ chiếm 0,94% và nợ có khả năng mất vốn chiếm 0,31% trong tổng dư nợ.

Năm 2013 tỷ lệ nợ quá hạn lại tăng thêm 0.18% so với năm 2012 đạt 7,95%. Cụ thể là nợ cần chú ý chiếm 4,93% tổng dư nợ (chênh lệch tăng 0,24% so với năm 2012), nợ dưới tiêu chuẩn có chênh lệch giảm 0,2% và chiếm 1,64% tổng dư nợ tuy nhiên nợ nghi ngờ tăng lên 0,16% trong cơ cấu dư nợ chiếm 1,1% tổng dư nợ, nợ có khả năng mất vốn trong kỳ này giảm 0,03% giảm tỷ trọng của nó xuống 0,28%. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại ngân hàng MB-BANK

Sang năm 2014, tỷ lệ nợ quá hạn giảm xuống 0,79% đạt 7,16%. Các nhóm nợ quá hạn cũng giảm tỷ trọng trong cơ cấu cho vay. Cụ thể là nợ cần chú ý giảm 0,78% chiếm 4,15% tổng dư nợ, nợ dưới tiêu chuẩn chiếm 1,61% giảm 0,03% so với năm trước, nợ có khả năng mất vốn cũng giảm 0,07% và chiếm 0,21% tổng dư nợ, ngược lại nợ nghi ngờ tăng lên 0,1% nâng tỷ trọng của nó lên thành 1,2%.

Tỷ lệ nợ quá hạn của chi nhánh là khá cao và không ổn định có thể gây ra rủi ro trong hoạt động tín dụng. Công tác quản lý và thu hồi nợ của ngân hàng vẫn chưa tốt, bên cạnh đó còn do ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế làm giảm khả năng thu hồi nợ. Tuy năm 2014, tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng có vẻ khả quan hơn nhưng vẫn còn cao, ngân hàng cần phải có biện pháp khắc phục để làm giảm tỷ lệ nợ quá hạn.

Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu

Bảng 10: Tỷ lệ nợ xấu

Nợ xấu bao gồm dư nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 trong tổng dư nợ quá hạn. Theo bảng số liệu, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng MB Bắc Hải giảm qua các năm. Năm 2012 nợ xấu của chi nhánh đạt 14.993 chiếm 3,04% tổng dư nợ. Năm 2013, tuy nợ xấu tăng lên2.613 triệu đồng đạt 17.606 triệu đồng nhưng tổng dư nợcũng đồng thời tăng lên 89.303 triệu đồng làm cho tỷ lệ nợ xấu giảm xuống 0,02% và chiếm 3,02% tổng dư nợ. Năm 2014, tỷ lệ nợ xấu tiếp tục giảm xuống 0,01% so với năm trước do nợ xấu tăng4.827 triệu đồng đạt 22.433và tổng dư nợ lại tăng mạnh lên 163.487 triệu đồng làm cho nợ xấu giảm và chiếm 3,01% tổng dư nợ.

Tình hình nợ xấu là do ảnh hưởng của tình hình kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khó khăn không đủ khả năng để trả nợ đúng hạn, bên cạnh đó, công tác thẩm định tài sản đảm bảo của ngân hàng còn thấp, tài sản đảm bảo không thể phát mại để bù đắp các khoản nợ, tuy ngân hàng đã tăng cường giải quyết nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu đang có dấu hiệu giảm dần nhưng tỷ lệ này vẫn còn cao, tiềm ẩn khả năng mất vốn. Ngân hàng cần có giải pháp để duy trì nợ xấu ở mức thấp nhất như kiểm tra lại các khoản nợ quá hạn, tìm hiểu nguyên nhân để có hướng giải quyết phù hợp.

Chỉ tiêu tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

Tháng 9/2008, theo Quyết định số 8738/NHNN-CNH ngày 25/9/2008 của Thống đốc NHNN, MB là ngân hàng TMCP đầu tiên được NHNN chấp thuận thực hiện chính sách dự phòng rủi ro theo Điều 7 – Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN một cách hoàn chỉnh hơn, đánh giá dựa trên các yếu tố định tính và định lượng có ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng và tiến gần tới chuẩn mực quốc tế (Basel II). Năm 2012 – 2014, Ngân hàng TMCP Quân đội đã thực hiện trích lập dự phòng rủi ro như sau:

Để hạn chế rủi ro tín dụng, ngân hàng đã thực hiện trích lập các khoản dự phòng rủi ro cụ thể cho từng khoản nợ và khoản dự phòng rủi ro chung theo đúng quy định do NHNN ban hành. Qua bảng số liệu ta thấy khoản trích lập dự phòng rủi ro tăng lên theo từng năm. Cụ thể:

Trích lập dự phòng cụ thể của ngân hàng năm 2012 là 6.783 triệu đồng, năm 2013 tăng lên 1.413 triệu đồng đạt 8.196 triệu đồng, năm 2014 lại tăng lên 1.783 triệu đồng đạt 9.979 triệu đồng. Khoản trích lập dự phòng chung của ngân hàng năm 2012 là 2.193 triệu đồng, đến năm 2013 đạt 2.709 tăng 517 triệu đồng và tăng tiếp 1.315 triệu đồng vào năm 2014 đạt 4.025 triệu đồng.

Từ bảng trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng ở trên, ta có thể tính được tỷ trọng của khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong tổng dư nợ như sau:

Qua bảng số liệu ta thấy tỷ lệ trích lập dự phỏng rủi ro tín dụng của chi nhánh cũng tăng dần qua các năm. Năm 2012, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của chi nhánh là 1,82%, sang năm 2013, tỷ lệ trích lập dự phòng tăng lên 0,05% và đạt 1,87%. Năm 2014, tỷ lệ trích lập dự phòng lại tiếp tục tăng 0,01% nâng tỷ trọng dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ lên 1,88%. Điều này cho thấy Ngân hàng càng ngày càng gặp nhiều rủi ro về tín dụng làm cho chất lượng tín dụng bị suy giảm. Vì vậy, ngân hàng cần phải có giải pháp để giảm thiểu rủi ro tín dụng.

2.3. Đánh giá về thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP Quân đội Chi nhánh Bắc Hải Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại ngân hàng MB-BANK

2.3.1. Những kết quả đạt được

Với những số liệu đã phân tích ở trên có thể thấy được trong 3 năm qua ngân hàng Quân đội chi nhánh Bắc Hải đã đạt được những kết quả như sau:

  • Hoạt động tín dụng của chi nhánh liên tục được mở rộng qua các năm thể hiện ở dư nợ tín dụng và doanh số cho vay tăng lên trong 3 năm nghiên cứu. Hoạt động cho vay của ngân hàng đã làm thúc đẩy, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh, kiếm được nhiều lợi nhuận và góp phần làm tăng trưởng, phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, đây cũng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng, phần lớn lợi nhuận mà ngân hàng kiếm được là từ hoạt động tín dụng. Dư nợ tín dụng và doanh số cho vay tăng cho thấy ngân hàng đã và đang mở rộng về quy mô tín dụng.
  • Trong tình hình kinh tế đang suy thoái, các doanh nghiệp phá sản hàng loạt gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay vốn từ ngân hàng và làm khó khăn cho các cán bộ tín dụng trong công tác thu hồi nợ. Tuy nhiên, nhờ có những biện pháp phòng ngừa rủi ro cùng với sự linh hoạt của cán bộ ngân hàng từ bước thẩm định khách hàng vay vốn cho đến giám sát quá trình sử dụng vốn vay, ngân hàng đã kiểm soát được các khoản nợ để giảm thiểu rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng, nhờ vậy mà doanh số thu nợ có xu hướng tăng qua các năm. Ngân hàng đang từng bước mở rộng được thị phần cho vay của mình đối với các chi nhánh ngân hàng khác trong khu vực.
  • Thái độ làm việc tin cậy và công tác chăm sóc khách hàng chu đáo của các cán bộ nhân viên tín dụng đã lấy được sự tin tưởng của khách hàng, giữ vững được các khách hàng truyền thống và mở rộng tìm kiếm được nhiều khách hàng mới khác.
  • Cán bộ ngân hàng còn thường xuyên trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản vay theo thông tư của Ngân hàng Nhà nước làm hạn chế được rủi ro tín dụng.

2.3.2. Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại ngân hàng MB-BANK

Tuy ngân hàng đã đạt được khá nhiều thành tích trong những năm qua nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế sau:

Do ngân hàng chủ yếu tập trung vào các khách hàng truyền thống, tuy ngân hàng tập trung bỏ vốn vào các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế ngoài nhà nướcnhưng số lượng vẫn còn hạn chế, ngân hàng chưa đa dạng được đối tượng khách hàng. Trong thời buổi hội nhập kinh tế thế giới, xuất hiện rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh. Đây cũng là những doanh nghiệp đang cần vốn để mở rộng hoạt động trong nước. Vậy nên, ngân hàng nên chủ động tìm kiếm nhiều loại đối tượng để cho vay kiếm lời và mở rộng thị phần của mình.

Tuy cán bộ tín dụng luôn thực hiện đúng quy trình tín dụng theo quy định, tuy nhiên, công tác giám sát sau khi vay còn nhiều hạn chế. Cán bộ tín dụng còn chủ quan, không giám sát kỹ lưỡng và thường xuyên quá trình sử dụng vốn của khách hàng nên không phát hiện được rủi ro kịp thời để sớm có phương án giải quyết.

Quy mô tín dụng

Hoạt động huy động vốn của chi nhánh tăng trưởng rất tốt, luôn đạt mức kế hoạch đặt ra, hoạt động tín dụng cũng có xu hướng tăng. Tuy nhiên, mức tăng trưởng của hoạt động tín dụng vẫn còn quá thấp so với mức tăng của hoạt động huy động vốn. Điều này cho thấy ngân hàng chưa sử dụng được hết vốn huy động được, có hiện tượng lãng phí vốn, thừa vốn.

Đây là do ngân hàng chưa mở rộng được quy mô tín dụng, chưa đa dạng được các sản phẩm, dịch vụ cho vay để thu hút các nhu cầu vay vốn, năng lực cạnh tranh với các ngân hàng khác trong hoạt động tín dụng vẫn còn thấp. Ngoài ra, còn do tình hình kinh tế trong và ngoài nước chưa ổn định làm cho khả năng kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn cũng hạn chế nhu cầu vay thêm vốn để hoạt động kinh doanh.

Hiệu quả tín dụng

Hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng vẫn còn thấp. Tuy trong năm 2014, hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng đã được cải thiện nhưng tỷ lệ sử dụng vốn vẫn chưa cao. Ngân hàng cần phải đẩy mạnh hơn nữa cho hoạt động tín dụng, tích cực tìm kiếm tạo cơ hội cho các khách hàng có uy tín tiếp cận vốn của ngân hàng để thu lại lợi nhuận, tránh để thừa vốn dẫn đến lãng phí. Mặc dù công tác thu nợ của ngân hàng khá tốt nhưng vẫn cần chú ý nâng cao khả năng thu nợ để cải thiện tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, giảm chi phí cho ngân hàng.

Chất lượng tín dụng

Hoạt động tín dụng vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nợ quá hạn và nợ xấu của ngân hàng vẫn ở mức khá cao so với các chi nhánh khác trong khu vực, nợ quá hạn chiếm trên 7% tổng dư nợ, nợ xấu chiếm trên 3% tổng dư nợ, chưa đạt được mức kế hoạch ngân hàng đề rakiểm soát nợ xấu dưới 3%.

Nguyên nhân khách quan là do ảnh hưởng của tình hình kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khó khăn không đủ khả năng để trả nợ đúng hạn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp còn thấp. Nguyên nhân chủ quan về phía ngân hàng là do công tác kiểm tra kiểm soát quá trình khách hàng sử dụng vốn vay của ngân hàng vẫn chưa được sát sao, không kịp thời phát hiện được các sai phạm để xử lý; công tác thẩm định tài sản đảm bảo của ngân hàng còn thấp, tài sản đảm bảo không thể phát mại để bù đắp các khoản nợ và ngân hàng đã không giám sát chặc chẽ tính tuân thủ các bên vay trong suốt thời gian sử dụng vốn.

TÓM LẠI: Bên cạnh những thành tựu đạt được, chi nhánh còn những vấn đề cần phải có biện pháp để giải quyết như:

Một là:Hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng thấp, dao động trong khoảng 60% – 70%, cho thấy ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng, còn hiện tượng ứ đọng vốn. Ngân hàng nên sử dụng vốn hiệu quả mở rộng quy mô tín dụng.

Hai là:Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu của chi nhánh đang ở mức khá cao, đặc biệt là nợ xấu ở mức trên 3%. Tuy năm 2014, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu của ngân hàng có vẻ khả quan hơn nhưng vẫn còn cao, ngân hàng cần phải có biện pháp khắc phục để làm giảm tỷ lệ nợ quá hạn và duy trì nợ xấu ở mức thấp nhất.

Ba là: Tỷ lệ trích lập dự phòng của ngân hàng ngày càng cao đồng nghĩa với việc ngân hàng đang gặp phải nhiều rủi ro về tín dụng hơn làm cho chất lượng tín dụng bị suy giảm. Vì vậy, ngân hàng cần phải có giải pháp để giảm thiểu rủi ro tín dụng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại ngân hàng MB-BANK

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Khóa luận: Biện pháp NC chất lượng tín dụng tại MB-BANK

One thought on “Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại ngân hàng MB-BANK

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát sự phát triển của Ngân hàng MB-BANK

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464