Khóa luận: Thực trạng tài chính của Công ty Vipco

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tài chính của Công ty Vipco hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích tình hình tài chính và một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Vận tải Xăng dầu VIPCO dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.2. Phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Vận tải Xăng dầu VIPCO giai đoạn 2017-2019

2.2.1. Phân tích tình hình tài chính của công ty thông qua sự biến động về tài sản

Bảng 2.1: Tình hình tài sản qua ba năm 2017-2019

Qua bảng số liệu phân tích ta thấy tổng tài sản của công ty tăng biến động qua 3 năm. Năm 2018 tổng tài sản là 317.099 triệu đồng tăng hơn 15.716 triệu đồng so với năm 2017 với tốc độ tăng là 5,21%. Năm 2019 tổng tài sản của công ty là hơn 337.102 triệu đồng tăng 20.003 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 6,31%. Nguyên nhân tổng tài sản tăng là do sự biến động của các khoản tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Đi sâu vào phân tích từng chỉ tiêu ta thấy:

Trong tổng số vốn của doanh nghiệp thì tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn tài sản dài hạn, cụ thể năm 2017 tài sản ngắn hạn là 197.275 triệu đồng chiếm 65,46% tổng tài sản, năm 2018 tổng tài sản ngắn hạn là 209.634 triệu đồng 66,11% tổng vốn kinh doanh tăng 12.359 triệu đồng so với năm 2017 tương ứng tăng 6,26%. Năm 2019 tài sản ngắn hạn tăng lên 227.546 triệu đồng chiếm 67,50% trong tổng số vốn tăng 17.912 triệu đồng tương ứng với 8,54% so với năm 2018. Nguyên nhân làm tài sản ngắn hạn biến động trong 3 năm là do sự tác động của các khoản mục sau:

Tiền và các khoản tương đương tiền có xu hướng giảm dần trong giai đoạn 2017-2019. Năm 2017 tiền và các khoản tương đương tiền của công ty là 80.654 triệu đồng chiếm 40,88% trong tổng tài sản ngắn hạn. Năm 2018 vốn bằng tiền giảm xuống còn 58.999 triệu đồng chiếm 28,14% tổng tài sản ngắn hạn. Năm 2019 tiền và các khoản tương đương tiền tiếp tục giảm xuống còn 50.877 triệu đồng chiếm 22,36%. Lý giải cho điều này là do trong năm 2017, Công ty đã có các khoản tương đương tiền có giá trị 46 tỷ đồng đến từ các khoản đầu tư ngắn hạn, nhưng trong năm 2018-2019 do công ty đã ký hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn 1 năm với Ngân hàng nên mục tiền và các khoản tương đương tiền giảm mạnh. Có thể thấy, do đầu tư vào các khoản đầu tư ngắn hạn có hiệu quả thấp hơn so với việc ký hợp đồng với ngân hàng nên công ty đã ký hợp đồng tiền gửi này. Việc công ty duy trì lượng tiền mặt lớn có ưu điểm là khả năng thanh toán của công ty luôn được đảm bảo. Công ty luôn có một lượng tài sản có tính thanh khoản cao là tiền và các khoản tương đương tiền để đảm bảo cho các khoản nợ đến hạn. Tuy nhiên việc dự trữ nhiều tiền mặt như vậy cũng khiến cho công ty mất đi những cơ hội kinh doanh khi luôn duy trì lượng lớn tiền mặt tại quỹ. Khóa luận: Thực trạng tài chính của Công ty Vipco

Các khoản phải thu ngắn hạn của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp luôn chiếm trên 80% trong tổng tài sản ngắn hạn. Các khoản phải thu ngắn hạn có xu hướng tăng trong ba năm. Năm 2017 trị giá các khoản phải thu là 28.484 triệu đồng chiếm 14,44% tổng tài sản ngắn hạn. Năm 2018 trị giá các khoản phải thu tăng lên là 35.175 triệu đồng tỷ trọng cũng tăng lên 16,78% tổng tài sản ngắn hạn. So với năm 2017 ta thấy trị giá các khoản phải thu năm 2018 tăng 6.691 triệu đồng tương ứng với 23,49%. Năm 2019 trị giá các khoản phải thu là 52.811 triệu đồng chiếm 23,21%. Như vậy giá trị các khoản phải thu ngắn hạn của năm 2019 đã tăng rất nhiều so với năm 2018 tăng 17.636 triệu đồng tương ứng tăng 50,14%. Ta thấy, việc tăng nói trên là do chính sách kinh doanh của công ty trong nội bộ cũng như là công ty chấp nhận cho khách hàng nợ tiền. Điều này cho thấy công tác thu hồi nợ của công ty chưa thực sự có hiệu quả (nếu chưa đến hạn thanh toán là bình thường).

Hàng tồn kho của công ty, năm 2017 là 86.312 triệu đồng chiếm 43,75%.

Sang đến năm 2018, hàng tồn kho giảm 2.441 triệu đồng tương ứng với giảm 2,83% so với 2017. Năm 2019 hàng tồn kho giảm 1.813 triệu đồng tương ứng 2,16% so với năm 2018. Điều này cho thấy công ty chưa làm tốt trong việc giải phóng hàng tồn kho qua các năm, đây là một tín hiệu không tốt công ty cần phải có giải pháp khắc phục. Giá trị hàng tồn kho chủ yếu là là xăng, dầu, và khí gas, lượng tồn kho cũng nhằm đảm bảo cho nhu cầu dự trữ tiêu thụ trong kế hoạch của công ty.

Tài sản ngắn hạn khác luôn chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng tài sản ngắn hạn của công ty. Năm 2018 giảm 236 triệu đồng tương ứng giảm 12,93% so với năm 2017, năm 2019 tăng từ 1.589 triệu đồng lên 1.800 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 13,28% so với năm 2018.

Sau khi phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn của công ty trong 3 năm ta thấy hàng tồn kho, tiền và các khoản tương đương tiền, phải thu của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tuy nhiên, các khoản phải thu khách hàng có dấu hiệu tăng và năm 2019 chiếm tỷ trọng lớn chỉ sau hàng tồn kho. Mặc dù có lượng tài sản có tính thanh khoản cao là tiền và các khoản tương đương tiền để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục. Nhưng nếu trong tương lai công ty không có những chính sách nhằm giảm bớt phải thu khách hàng thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty.

Qua bảng số liệu trên ta thấy tài sản dài hạn của công ty chiếm tỷ trọng thấp hơn tài sản ngắn hạn. Điều này là chưa hợp lý vì công ty hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải nên cần đầu tư giá trị dài hạn cao. Mặc dù vậy nhưng tài sản dài hạn của doanh nghiệp đang có xu hướng tăng dần qua các năm làm cho tỷ trọng cũng dần cao hơn.

Tài sản dài hạn của công ty có xu hướng tăng dần trong ba năm. Năm 2018 đã tăng lên từ 104.108 triệu đồng (năm 2017) lên 107.465 triệu đồng (năm 2018), tăng 3.357 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 3,22%. Năm 2019 tăng lên, từ 107.465 triệu đồng năm 2018 lên 109.556 triệu đồng vào năm 2019, tăng 2.091 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 1,95%. Tài sản dài hạn tăng là do sự biến đổi của tài sản cố định và tài sản dài hạn khác. Tài sản cố định năm 2018 tăng so với năm 2017 là 6.177 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ 14,64%; năm 2019 tăng so với năm 2018 là 3.789 triệu đồng chiếm 7,83%, việc tăng nói trên thể hiện trong năm cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty được tăng cường đổi mới. Tài sản dài hạn khác năm 2018 giảm so với năm 2017 là 2.830 triệu đồng tương ứng 4,57%; năm 2019 giảm so với năm 2018 là 1.698 triệu đồng tương ứng với 2,87%. Điều này cho thấy công ty luôn quan tâm cho đầu tư tài sản cố định trong việc mua sắm mới và bảo dưỡng máy móc thiết bị. Việc tăng tổng tài sản của công ty thể hiện quy mô sản xuất của doanh nghiệp được mở rộng đồng thời giúp công ty tăng năng suất, tăng năng lực sản xuất kinh doanh và giảm các loại tài sản không cần thiết nhằm sử dụng tài sản có hiệu quả.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.2.2. Phân tích tình hình tài chính công ty thông qua sự biến động về nguồn vốn Khóa luận: Thực trạng tài chính của Công ty Vipco

Bảng 2.2: Tình hình nguồn vốn qua ba năm 2017-2019

Qua bảng số liệu phân tích trên ta thấy tổng nguồn của công ty tăng biến động qua 3 năm cho thấy quy mô hoạt động của công ty không ổn định. Năm 2018 tổng nguồn vốn là 317.099 triệu đồng tăng hơn 15.716 triệu đồng so với năm 2017 với tốc độ tăng là 5,21%. Năm 2019 tổng nguồn vốn của công ty là hơn 337.102 triệu đồng tăng 20.003 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 6,31%. Nguyên nhân tổng nguồn vốn tăng là do sự biến động của các khoản nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu biến động. Xét riêng từng khoản mục ta thấy:

Nợ phải trả: Tỷ trọng nợ phải trả trong tổng nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao, cho thấy nguồn vốn của doanh nghiệp chủ yếu là các khoản chiếm dụng. Nợ phải trả có xu hướng tăng dần trong ba năm. Cụ thể là nợ phải trả tăng từ 116.537 triệu đồng năm 2017 lên 120.584 triệu đồng năm 2018 và sang đến năm 2019 lại tăng đột biến lên 127.718 triệu đồng. So sánh giữa năm 2018 và năm 2017 nợ phải trả tăng 4.047 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 3,47%. Năm 2019 thì tăng 7.134 triệu đồng tương ứng tăng 5,92% so với năm 2018. Nợ phải trả biến động qua các năm là do chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:

Nợ ngắn hạn: Là nguồn tài trợ nhanh nhất cho doanh nghiệp khi nguồn vốn không xoay vòng kịp tuy nhiên khi sử dụng nợ ngắn hạn nhiều sẽ dẫn đến mất an toàn cho hoạt động của đơn vị khi các khoản nợ này đến hạn mà đơn vị không thanh toán được. Trong ba năm qua nợ ngắn hạn có xu hướng tăng. Nợ ngắn hạn năm 2017 là 116.245 triệu đồng tăng 120.291 triệu đồng năm 2018 và tăng 127.302 triệu đồng vào năm 2019. So sánh giữa năm 2018 với năm 2017 thì nợ ngắn hạn tăng 4.046 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 3,47%. Năm 2019 thì tăng 7.011 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ 5,83% so với năm 2018. Mục đích của các khoản vay này nhằm đảm bảo các chỉ tiêu về khả năng thanh toán ngắn hạn, nhằm tăng mức đảm bảo của nợ ngắn hạn dẫn đến giảm mức rủi ro trong thanh toán và thu hút được nhà đầu tư và nhà cung cấp. Để thấy rõ hơn ta đi vào phân tích từng khoản mục trong nợ ngắn hạn:

Phải trả cho người bán tăng đều qua các năm từ 63.183 triệu đồng năm 2017 chiếm 54,35% trong nợ ngắn hạn tăng lên 71.229 triệu đồng chiếm 59,26% vào năm 2018. Năm 2018 với tốc độ tăng là 12,73% so với năm 2017 cho thấy năm 2018 công ty chưa giải quyết được một phần nợ của mình. Đến năm 2019 thì khoản mục phải trả cho người bán vẫn tiếp tục tăng 2.091 triệu đồng so với năm 2018 tương ứng với tốc độ tăng 2,93%.

Người mua trả tiền trước có xu hướng tăng giảm thất thường trong giai đoạn 2017-2019. Năm 2017 là 1.076 triệu đồng chiếm 0,93%, năm 2018 tăng 1.624 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 150,93%, nhưng có xu hướng giảm xuống còn 720 triệu đồng chiếm 0,57% trong năm 2019. Nguyên nhân là do khả năng chiếm dụng vốn khách hàng của công ty còn hạn chế. Thay vì nhận được khoản tiền thanh toán ngay của khách hàng thì phải chờ một khoảng thời gian để đến ngày khách hàng thanh toán. Điều đó cho thấy công ty chưa chiếm dụng được nguồn vốn này của khách hàng. Khóa luận: Thực trạng tài chính của Công ty Vipco

Bên cạnh các chỉ tiêu có số dư tăng thì các khoản phải trả người lao động, thuế và các khoản phải nộp nhà nước giảm. Thuế và các khoản phải nộp nhà nước năm 2018 giảm so với năm 2017 là 1.364 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 14,95%; đến năm 2019 tiếp tục giảm xuống còn 441 triệu đồng tương ứng 5,69%. Phải trả người lao động năm 2018 so với năm 2017 giảm 567 triệu đồng tương ứng tỷ lệ 2,79% nhưng đến năm 2019 so với năm 2018 tăng 6.009 triệu đồng tương ứng tỷ lệ 30,40%. Nếu không có khoản nào quá thời hạn thanh toán chứng tỏ công ty đã chấp hành tốt kỷ luật nộp thuế.

Nợ dài hạn tăng là do vay và nợ dài hạn tăng và công ty đã trích lập quỹ dự phòng, trợ cấp mất việc làm, vay và nợ dài hạn tăng là do giá trị tài sản của công ty tăng.

Vốn chủ sở hữu của công ty tăng dần trong ba năm. Năm 2018 tăng so với năm 2017 là 11.699 triệu đồng tương ứng 6,31%; năm 2019 tăng so với năm 2018 là 12.870 triệu đồng tương ứng 6,55%. Vốn chủ sở hữu của công ty tăng là do lợi nhuận sau thuế chưa phân phối của công ty tăng, điều này cho thấy công ty làm ăn có lãi hiệu quả kinh doanh cao, công ty có nhiều lợi nhuận trong việc huy động vốn chủ sở hữu.

Phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn

Bảng 2.3: Bảng cân đối tài sản và nguồn vốn năm 2017

Nhận xét:

Có thể thấy trong 3 năm 2017-2019 chỉ tiêu vốn lưu động ròng có xu hướng tăng và có giá trị dương. Điều này phản ánh Công ty đã sử dụng nguồn vốn ngắn hạn và một phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Điều này làm giảm rủi ro thanh toán và có thể thấy điều này có lợi cho công ty. Tuy nhiên, công ty cũng cần phải chú ý vì vốn lưu động ròng quá cao sẽ làm giảm khả năng sinh lời vì chi phí tài chính mà công ty bỏ ra cao. Trong tương lai công ty cần phải có những biện pháp để giảm chỉ tiêu vốn lưu động ròng này xuống nhưng vẫn phải giữ chỉ tiêu này dương.

2.2.3. Phân tích tình hình tài chính của công ty thông qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Bảng 2.6: Kết quả hoạt động kinh doanh qua ba năm 2017-2019

Qua bảng phân tích trên ta thấy doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2018 so với năm 2017 tăng 61.207 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 8,98%, đến năm 2019 tăng lên 38.029 triệu đồng tương ứng 5,12% so với năm 2018. Điều này cho ta thấy trong các năm vừa qua công ty kinh doanh đạt hiệu quả. Nó phản ánh được sự thành công và phát triển của công ty trong những năm vừa qua.

Doanh thu thuần có biến động tương ứng với doanh thu. Vì công ty đã phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu (giảm trừ doanh thu năm 2018 tăng 430 triệu đồng tương ứng 9,71% so với năm 2017 và năm 2019 tăng 357 triệu đồng tương ứng 7,35% so với năm 2018) theo đó mà doanh thu thuần của công ty cũng biến động giống với doanh thu bán hàng. Khoản giảm trừ doanh thu này đến từ những khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại do lỗi kỹ thuật,… Khóa luận: Thực trạng tài chính của Công ty Vipco

Giá vốn hàng bán năm 2018 tăng 28.080 triệu đồng tương ứng với 5,07% so với năm 2017, năm 2019 giá vốn hàng bán tăng 39.098 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 6,49% so với năm 2018. %. Giá vốn hàng bán tăng lên là do giá vốn dịch vụ đã cung cấp tăng, điều này cho thấy hoạt động kinh doanh của công ty có hiệu quả và tiến hành mở rộng thị trường hơn và thu hút nhiều khách hàng hơn.

Doanh thu hoạt động tài chính của công ty giảm từ năm 2017-2018 và tăng vào năm 2018-2019. Năm 2018 giảm 770 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 25,93% so với năm 2017, đến năm 2019 tăng 133,33% so với năm 2018. Chi phí hoạt động tài chính của công ty giảm từ năm 2017-2018 và tăng vào năm 2018-2019. Cụ thể là vào năm 2018 giảm 770 triệu đồng tương ứng giảm 17,11% so với năm 2017, đến năm 2019 tăng 36,77% so với năm 2018.. Đến năm 2019 công ty đã chủ động thực hiện các chính sách chiết khấu thanh toán cho khách hàng nhằm tăng lượng hàng bán ra khiến chi phí này tăng trong năm 2019.

Chi phí bán hàng và Chi phí quản lý doanh nghiệp có xu hướng tăng qua 3 năm. Cụ thể, chi phí bán hàng năm 2018 tăng 18.325 triệu đồng tương ứng 39,47% so với năm 2017 năm 2019 chi phí bán hàng giảm 6.976 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 10,77% so với năm 2018. Bên cạnh đó, chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2018 tăng 6.611 triệu đồng tương ứng với 17,68% so với năm 2017 và đến năm 2019 chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 11,14% so với năm 2018.

Bên cạnh đó thì lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh vẫn tăng ổn định. Cụ thể là vào năm 2018 tăng lên 31.696 triệu đồng tương ứng 30,70% so với năm 2017, việc tăng nói trên là do tốc độ tăng của doanh thu thuần lớn hơn tốc độ tăng của giá vốn hàng bán. Năm 2019 giảm nhẹ xuống còn 1.426 triệu đồng tương ứng 1,06% so với năm 2018, nguyên nhân là do chi phí giá vốn hàng bán tăng do chi phí nguyên vật liệu tăng.

Lợi nhuận trước thuế tăng đều qua các năm. Trong năm 2018 lợi nhuận trước thuế tăng so với năm 2017 là 2.549 triệu đồng tương ứng 8,73% và trong năm 2019 lợi nhuận trước thuế tăng so với năm 2018 là 2.239 triệu đồng tương ứng 7,23%. Đây là một tín hiệu tốt cho hoạt động kinh doanh của công ty.

Sau khi trừ các khoản chi phí phát sinh và thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước đầy đủ thì lợi nhuận sau thuế của công ty trong 3 năm khá ổn định. Cụ thể năm 2018 là 25.385 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 8,73% so với năm 2017, năm 2019 là 27.219 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 7,22% so với năm 2018. Có thể thấy tốc độ tăng trưởng qua 3 năm đều ổn định ở mức lớn hơn 5% trên 1 năm.

Kết luận:

Như vậy, trong giai đoạn 2017-2019 kết quả kinh doanh của công ty đạt được rất khả quan. Kết quả kinh doanh của công ty cho thấy khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh, tận dụng các nguồn tài nguyên và chính sách lãnh đạo tốt đã mang lại một năm tài chính thành công. Những kết quả về doanh thu và lợi nhuận cho thấy tốc độ tăng trưởng của công ty là tốt, đáp ứng được kỳ vọng của ban lãnh đạo và cần tiếp tục cố gắng hơn nữa trong tương lai.

2.2.4. Phân tích tình hình tài chính của công ty thông qua các chỉ số tài chính Khóa luận: Thực trạng tài chính của Công ty Vipco

2.2.4.1. Các tỷ số về khả năng thanh toán

Bảng 2.7: Bảng tính các chỉ số khả năng thanh toán

Hê số nợ

Hệ số nợ của công ty năm 2017 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,39 đồng vay nợ, năm 2018 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,38 đồng vay nợ, năm 2019 cũng như năm 2018. Điều này cho thấy các khoản nợ phải trả tập trung ở các khoản phải trả người bán. Hệ số này luôn duy trì ở mức thấp cho thấy công ty được tài trợ bởi các khoản nợ ngày càng có xu hướng giảm.

Hệ số thanh toán tổng quát

Khả năng thanh toán tổng quát của công ty 3 năm đều lớn hơn 1. Chứng tỏ tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp đủ để thanh toán các khoản nợ hiện tại của doanh nghiệp và tất cả các khoản huy động bên ngoài đều có tài sản đảm bảo. Cụ thể, năm 2017 cứ vay 1 đồng thì có 2,59 đồng tài sản đảm bảo; năm 2018 cứ vay 1 đồng thì có 2,63 đồng tài sản đảm bảo; năm 2019 cứ vay 1 đồng thì có 2,64 đồng tài sản đảm bảo. Ta thấy tốc độ khả năng thanh toán tổng quát của công ty qua ba năm rất cao, thể hiện khả năng thanh toán của công ty là rất tốt nhưng đồng thời nó cũng cho thấy công ty chưa tận dụng được hết cơ hội chiếm dụng vốn.

Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn

Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty tăng dần qua các năm. Cụ thể, năm 2017 cứ vay 1 đồng thì có 1,70 đồng tài sản đảm bảo; năm 2018 cứ vay 1 đồng thì có 1,74 đồng tài sản đảm bảo; năm 2019 cứ vay 1 đồng thì có 1,79 đồng tài sản đảm bảo. Như vậy khả năng thanh toán nợ ngắn hạn năm 2018 tăng 0,04 lần so với năm 2017; năm 2019 tăng 0,05 lần so với năm 2018. Có thể thấy, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty ở mức ổn định, công ty hoàn toàn có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn. Khóa luận: Thực trạng tài chính của Công ty Vipco

Hệ số thanh toán nhanh

Khả năng thanh toán nhanh tăng qua các năm như vậy công ty có đủ khả năng thanh toán nhanh được toàn bộ nợ ngắn hạn. Mặc dù vậy đến năm 2017 khả năng thanh toán tức thời của công ty là 0,69 lần; năm 2018 là 0,49 lần và năm 2019 là 0,40 lần. Năm 2018 khả năng thanh toán tức thời của công ty giảm 0,2 lần so với năm 2017, năm 2019 khả năng thanh toán tức thời của công ty giảm 009 lần so với năm 2018, nhưng công ty vẫn đủ khả năng thanh toán được các khoản nợ khi đến hạn. Công ty vẫn tồn tại các khoản nợ quá hạn chứng tỏ công ty chưa chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật đối với các đơn vị tín dụng do đó ảnh hưởng đến uy tín của công ty trên thị trường

Qua các hệ số trên ta thấy rằng khả năng thanh toán của công ty là khá tốt qua các năm, công ty vẫn có khả năng thanh toán được các khoản nợ ngắn hạn nhất là đến hạn, khả năng thanh toán của công ty đảm bảo. Tuy nhiên khả năng thanh toán hiện thời của công ty chưa tốt do các khoản phải thu chiếm nhiều trong tài sản ngắn hạn, vì vậy công ty cần xem xét lại chính sách nợ của mình.

2.2.4.2. Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư

Bảng 2.8: Bảng tính chỉ số cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư

Qua bảng phân tích số liệu trên ta thấy:

  • Tỷ suất tự tài trợ năm 2017 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,61 đồng là vốn chủ sở hữu, năm 2018 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,62 đồng là vốn chủ sở hữu, năm 2019 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,62 đồng là vốn chủ sở hữu.
  • Tỷ suất đầu tư tài sản ngắn hạn có xu hướng tăng, năm 2017 trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,65 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn, năm 2018 trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,66 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn, năm 2019 trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,67 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn.

Như vậy mức độ quan trọng của tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản mà công ty đang sử dụng ngày càng tăng. Khi tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn tăng thì tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn giảm. Việc giảm tỷ suất đầu tư dài hạn là do năm vừa qua công ty không mua sắm thêm tài sản cố định mới mà chỉ bảo dưỡng và sửa chữa máy móc, trang thiết bị và phương tiện vận tải cũ để phục vụ cho sản xuất kinh doanh.

Tỷ suất tự tài trợ dài hạn của công ty có xu hướng tăng, tỷ xuất này cho biết năm 2017 cứ 1 đồng vốn đầu tư cho tài sản dài hạn thì có 1,77 đồng là vốn chủ sở hữu, năm 2018 cứ 1 đồng vốn đầu tư cho tài sản dài hạn thì có 1,83 đồng là vốn chủ sở hữu, năm 2019 cứ 1 đồng vốn đầu tư cho tài sản dài hạn thì có 1,91 đồng là vốn chủ sở hữu. Điều đó cho thấy phần lớn tài sản của công ty đều được đầu tư từ vốn tự có của công ty

Nhìn chung cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty là hợp lý vì công ty đang hoạt động trong lĩnh vực vận tải. Vì vậy tài sản dài hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản và được đầu tư phần lớn từ vốn chủ sở hữu. Còn tài sản ngắn hạn để phục vụ trong quá trình giao dịch với khách hàng.

2.2.4.3. Nhóm các chỉ số hoạt động Khóa luận: Thực trạng tài chính của Công ty Vipco

Bảng 2.9: Bảng các chỉ số về hoạt động

Qua bảng phân tích về các chỉ số hoạt động ta thấy:

Vòng quay các khoản phải thu giảm dần qua các năm, việc giảm vòng quay các khoản phải thu nói trên là do tốc độ tăng doanh thu thuần chậm hơn tốc độ tăng của khoản phải thu khách hàng. Việc vòng quay các khoản phải thu có xu hướng giảm dần cho thấy khách hàng đang chiếm dụng vốn của công ty với thời gian dài, điều này gây ảnh hưởng xấu tới khả năng quay vòng vốn trong kinh doanh của công ty.

Kỳ thu tiền bình quân tăng qua các năm nhưng cũng không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Công ty luôn dự trữ một số tài sản có tính thanh khoản cao nên hoàn toàn có thể đảm bảo cho việc khách hàng thanh toán chậm ở thời điểm hiện tại.

Vòng quay hàng tồn kho các năm 2018,2019 số vòng có dấu hiệu tăng lên. Cụ thể năm 2019 chỉ tiêu này tăng 0,67 vòng so với năm 2018. Có thể thấy chỉ tiêu này tăng là do giá vốn hàng bán có xu hướng tăng, còn hàng tồn kho của công ty có xu hướng giảm điều này dẫn đến vòng quay hàng tồn kho tăng. Đây là việc khách hàng của công ty có thể chiếm dụng vốn lâu hơn qua đó thu hút thêm các khách hàng mới khiến lượng hàng hóa tiêu thụ của công ty tăng.

Có thể thấy thời gian vòng quay hàng tồn kho giảm, điều này cho thấy tình hình bán hàng của công ty nhanh hơn những năm trước đó là kết quả của chính sách nới rộng thanh toán, chấp nhận để khách hàng trả tiền lâu hơn, qua đó thời gian vòng quay hàng tồn kho giảm xuống qua ba năm, tránh tình trạng ứ đọng hàng hóa.

Bảng 2.10: Bảng hiệu suất sử dụng tài sản

Qua bảng phân tích trên ta thấy:

  • Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn giai đoạn 2017 – 2019 có xu hướng tăng giảm không đều. Năm 2017 là 3,43 vòng; năm 2018 là 1,78 vòng; năm 2019 là 3,41 vòng. Cụ thể là vào năm 2018 hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn giảm 1,65 vòng so với năm 2017 nhưng đến năm 2019 thì hiệu suất này tăng 1,63 vòng so với năm 2018. Điều này cho thấy năm 2019 công ty đã quản lý tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả.
  • Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn năm 2017 là 6,50 vòng; năm 2018 là 3,48 vòng; năm 2019 là 7,08 vòng. Đến năm 2019 hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn tăng 3,6 vòng so với năm 2018. Cho ta thấy được công ty đang quản lý tài sản dài hạn có hiệu quả vào năm 2019.
  • Ta thấy hiệu suất sử dụng tổng tài sản của công ty năm 2017 là 2,25 vòng và năm 2018 là 1,18 vòng giảm 1,07 vòng so với năm 2017. Nhưng đến năm 2019 thì hiệu suất sử dụng tổng tài sản là 2,30 vòng tăng 1,12 vòng so với năm 2018. Điều này cho thấy công ty đang từng bước sử dụng hiệu quả tài sản.

Qua phân tích các chỉ số hoạt động cho thấy công ty sử dụng vốn vào hoạt động kinh doanh năm sau tốt hơn năm trước. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản liên tục tăng cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của công ty ngày càng cao. Tuy vậy, công ty vẫn cần phải luôn luôn cải thiện các chỉ số hoạt động, tìm kiếm nhiều khách hàng hơn nữa, tăng cường đẩy mạnh hoạt động kinh doanh nhằm tăng doanh thu… có như thế mới tạo cơ sở vững chắc cho công ty thực hiện các chủ trương đường lối về mở rộng thị trường.

2.2.4.4. Phân tích nhóm các chỉ số sinh lời Khóa luận: Thực trạng tài chính của Công ty Vipco

Bảng 2.11: Bảng các chỉ số sinh lời

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu: Năm 2017 cứ 1 đồng doanh thu thuần thì tạo ra 3,45 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2018 cứ 1 đồng doanh thu thuần thì tạo ra 3,41 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2019 cứ 1 đồng doanh thu thuần thì tạo ra 3,51 đồng lợi nhuận sau thuế. Có thể thấy trong ba năm tỷ suất sinh sinh lời rên doanh thu đều có xu hướng tăng. Tuy nhiên tỷ lệ tạo ra lợi nhuận sau thuế từ doanh thu thuần vẫn còn chưa cao, do giá vốn hàng bán và các loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn, khiến lợi nhuận sau thuế chiếm tỷ trọng nhỏ trong doanh thu thuần.

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản: Năm 2018 cứ 100 đồng tài sản tài sản tạo ra 8,01 đồng lợi nhuận ròng, tỷ trọng này tăng 0,26 % so với năm 2017. Nhìn vào bảng cân đối kế toán ta thấy Tổng tài sản của công ty tăng với tỷ trọng là 5,21% trong khi đó lợi nhuận sau thuế tăng với tỷ lệ là 15,04%, điều này dẫn đến việc tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản năm 2018 tăng mạnh so với năm 2017. Đến năm 2019 cứ 100 đồng tài sản tạo ra 8,07 đồng lợi nhuận ròng, tỷ trọng này tăng 0,06% so với năm 2018. Có thể thấy năm 2019 hiệu suất sử dụng tài sản của công ty ở mức cao cho thấy công ty đã sử dụng tài sản để một cách hợp lý.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu: Năm 2017 cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra 12,63 đồng lợi nhuận, năm 2018 cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra 12,92 đồng lợi nhuận, năm 2019 cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu thì tạo ra 12,01 đồng lợi nhuận. Năm 2018 tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tăng 0,29% so với năm 2017, nguyên nhân của sự tăng này là do trong năm 2018 tỷ lệ tăng trưởng của vốn chủ sở hữu thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng của lợi nhuận sau thuế. Đến năm 2019 tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu so với năm 2018 giảm 0,91%. Mặc dù có giảm nhẹ nhưng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của công ty vẫn ở mức cao cho thấy hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của công ty đang ở mức tốt.

2.2.4.5. Phân tích các tỷ số tài chính qua sơ đồ Dupont Khóa luận: Thực trạng tài chính của Công ty Vipco

Phân tích ROA

ROA năm 2017 = 3,45% ´ 2,25 = 7,76%

ROA năm 2018 = 3,41% ´ 1,18 = 7,94%

ROA năm 2019 = 3,51% ´ 2,30 = 8,07%

Doanh lợi tài sản tăng lên, cụ thể: cứ 1 đồng vốn đầu tư vào tổng tài sản sẽ tạo ra lợi nhuận sau thuế của năm 2017 là 0,0776 đồng; năm 2018 là 0,0794 đồng và đến năm 2019 là 0,0807 đồng. Như vậy công ty đã sử dụng hiệu quả tổng tài sản hiện có của mình vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

Năn 2017 cứ 1 đồng vốn đầu tư vào tài sản công ty sẽ thu được 0,0776 đồng lợi nhuận sau thuế do hai nhân tố ảnh hưởng:

  • 1 đồng doanh thu thuần thì tạo ra 3,45 đồng lợi nhuận sau thuế. 52
  • 1 đồng vốn kinh doanh đưa vào sản xuất kinh doanh tạo ra 2,25 đồng doanh thu thuần.

Năm 2018 cứ 1 đồng vốn đầu tư vào tài sản công ty sẽ thu được 0,0794 đồng lợi nhuận sau thuế, do hai nhân tố ảnh hưởng:

  • 1 đồng doanh thu thuần thì tạo ra 3,41 đồng lợi nhuận sau thuế.
  • 1 đồng vốn kinh doanh đưa vào sản xuất kinh doanh tạo ra 1,18 đồng doanh thu thuần.

Năm 2019 cứ 1 đồng vốn đầu tư vào tài sản công ty sẽ thu được 0,0787 đồng lợi nhuận sau thuế, do hai nhân tố ảnh hưởng:

  • 1 đồng doanh thu thuần tạo ra 3,51 đồng lợi nhuận sau thuế.
  • 1 đồng vốn kinh doanh đưa vào sản xuất kinh doanh tạo ra 2,30 đồng doanh thu thuần.

Như vậy, có hai hướng để tăng ROA là tăng tỷ suất LNST trên doanh thu thuần (ROS) hoặc tăng vòng quay vốn kinh doanh.

Tăng ROS bằng cách tiết kiệm chi phí

Tăng vòng quay vốn kinh doanh bằng cách tăng doanh thu và giảm giá bán và tăng cường hoạt động xúc tiến bán hàng

Phân tích ROE

Tổng tài sản

ROE = ROA ´ Vốn chủ sở hữu

ROE năm 2017 = 7,76% ´ 1,63 = 12,65%

ROE năm 2018 = 7,94% ´ 1,61 = 12,81%

ROE năm 2019 = 8,07% ´ 1,61 = 12,99%

Ta thấy năm 2017 cứ 1 đồng vốn chủ đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra 0,1265 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2018 là 0,1281 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2019 là 0,1299 đồng lợi nhuận sau thuế. Như vậy, doanh lợi vốn chủ tăng qua các năm, do ảnh hưởng bởi hai yếu tố là tỷ suất sinh lời trên doanh thu và hệ số sử dụng vốn chủ sở hữu.

Có hai hướng để tăng ROE: tăng ROA hoặc tăng tỷ số tổng tài sản/vốn chủ sở hữu.

Tăng ROA làm như phân tích trên.

Tăng tỷ số tổng tài sản/ vốn chủ sở hữu bằng cách giảm vốn chủ sở hữu và tăng nợ. Ta thấy tỷ số nợ càng cao thì lợi nhuận của vốn chủ sở hữu càng cao. Tuy nhiên, khi tỷ số nợ tăng thì rủi ro sẽ càng tăng lên, do đó do nghiệp sẽ phải hết sức thận trọng khi sử dụng nợ. Khóa luận: Thực trạng tài chính của Công ty Vipco

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Cty Vipco

One thought on “Khóa luận: Thực trạng tài chính của Công ty Vipco

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan chung về Công ty CPVTXD Vipco

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464