Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích báo cáo tài chính công ty Trách nhiệm hữu hạn Hanesbrands Việt Nam Huế giai đoạn 2016 – 2018 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2. Phân tích báo cáo tài chính
2.2.1. Phân tích bảng cân đối kế toán
2.2.1.1. Cơ cấu và biến động tài sản
Tài sản của công ty là kết quả của quá trình phân bổ nguồn vốn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Quá trình phân bổ đó sẽ tạo cơ cấu tài sản thích hợp với đặc thù của ngành mà cụ thể đó là chủ yếu tập trung chi tiền cho việc mua sắm các TSNH, hơn là đầu tư vào TSDH bởi vì ngành may mặc, thời trang là một lĩnh vực thay đổi nhanh chóng, luôn biến đổi trong ngắn hạn đồng thời chủ yếu vẫn dựa vào tay nghề của công nhân chứ chưa thật sự dựa vào máy móc, thiết bị hiện đại. Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Bảng 2.3. Bảng cân đối kế toán công ty HbI giai đoạn 2016 – 2018 (chỉ tiêu Tài sản)
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu tài sản của công ty HbI giai đoạn 2016-2018
Từ Bảng 2.1 và Biểu đồ 2.1 có thể dễ dàng nhận thấy rằng tại công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam Huế, chỉ tiêu Tài sản có sự tăng trưởng mạnh trong năm 2016 – 2017 và trở nên ổn định trong gi i đoạn 2017 – 2018. Bên cạnh đó, một đặc điểm đáng chú ý khác chính là TSNH chiếm một tỉ trọng lớn hơn rất nhiều so với TSDH trong cơ cấu Tổng tài sản.
Thứ nhất, về sự thay đổi cơ cấu tài sản của công ty:
Nhìn chu g TSNH chiếm đại bộ phận trong cơ cấu Tổng tài sản của công ty HbI và đa số là trên 80% trong suốt cả 3 năm. Tuy trong 2 năm cuối của giai đoạn, TSDH có cho thấy sự tăng nhẹ trong cơ cấu, nhưng nhìn chung, chỉ tiêu TSDH chiếm một phần không đáng kể, cụ thể:
Tài sản ngắn hạn:
Trong suốt cả 3 năm, chỉ tiêu này luôn chiếm một tỉ trọng lớn là trên 80% trong cơ cấu Tổng tài sản, hơn nữa còn rất ổn định. Vào năm 2016, TSNH chiếm 84.61% và 2 năm tiếp theo, con số này khá xấp xỉ nhau là 83.76% và 83.92%. Trong đó, những nhân tố gây tác động mạnh nhất đến TSNH cũng như Tổng tài sản chính là Tiền và các khoản tương đương tiền, Các khoản phải thu ngắn hạn và HTK.
Vào năm 2016, Tiền và các khoản tương đương tiền là nhân tố chiếm tỉ trọng lớn nhất trong Tổng tài sản của công ty, đạt hơn 32.14%. Tuy nhiên đến năm 2017, tỉ rọng của nhân tố này lại giảm mạnh xuống còn 18.09%. Mặc dù việc giảm các khoản Tiền và tương đương tiền có mặt tại DN sẽ giúp giảm bớt chi phí quản lí, tuy nhiê ó cũ g đồng nghĩa với việc DN đang đánh mất khả năng thanh khoản so với khi duy trì một mức Tiền và khoản tương đương tiền cao hơn. Sau đó, vào năm 2018, công ty lại duy trì một mức Tiền và khoản tương đương tiền vốn có, xấp xỉ với năm 2016 là 32.71%.
Đối với Các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng, vào năm 2016 và 2018, tỉ trọng của nhân tố này là khá xấp xỉ nhau, lần lượt là 27.01% và 29.41% trên Tổng tài sản. Tuy nhiên năm 2017 lại đánh dấu sự tăng đột biến tr ng nhân tố Các khoản phải thu ngắn hạn, chiếm đến 32.85% trong Tổng tài sản, vượt Tiền và các khoản tương đương tiền và trở thành nhân tố chiếm tỉ trọng cao nhất. Nguyên nhân là vào năm này, vì công ty mở rộng quy mô sản xuất cũng như trích một lượng Tiền và khoản tương đương tiền đầu tư vào việc sản xuất một lượng hàng hóa lớn hơn, đáp ứng được một lượng lớn khách hàng. Chính vì vậy mà số lượng các khoản phải thu theo đó cũng tăng lên tương ứng với số khách hàng tiềm năng mới. Qua đó ta thấy rằng, công ty đã có chính sách trả chậm, ưu đãi cho người mua hà , từ đó duy trì được mối quan hệ tốt hơn với khách hàng, tạo tiền đề cho việc bán được hiều hàng hóa hơn. Tuy nhiên điều này cũng có nghĩa là một phần vốn của DN đang bị chiếm dụng bởi khách hàng và công ty có thể đang đánh mất nhiều chi phí c hội.
Đối với HTK, tương tự nhân tố Các khoản phải thu ngắn hạn thì nhân tố này không có sự khác biệt quá rõ rệt vào 2 năm 2016 và 2018, mà lần lượt chiếm 24.5% và 21% trong Tổng tài sản của DN. Tuy nhiên, năm 2017 cũng lại ghi nhân sự tăng lên đột ngột của HTK, từ 24.5% của năm 2016 lên đến 31.48%. Với việc gia tăng quy mô sản xuất thì việc gia tăng của HTK là hợp lí vì nó có thể sẽ giúp DN đáp ứng được nhu cầu của khách hàng tốt hơn, tuy nhiên nó cũng đồng nghĩa với việc DN sẽ phải tiêu tốn khá nhiều chi phí quản lí, chi phí nhân công, chi phí không gian cũng như chi phí cơ hội để duy trì lượng HTK khá lớn này. Bên cạnh đó việc gia tăng về HTK của DN tại thời điểm này cũng được xác định là bởi vì chi nhánh của tổng công ty tại Nam Kinh – Trung Quốc đóng cửa, dẫn đến việc 90% nguyên liệu tại nhà máy này gồm vải và bán thành phẩm đã được chuyển về HbI Huế, dẫn đến việc gia tăng đột ngột trong HTK.
Tài sản dài hạn
Chỉ tiêu này chiếm một tỉ trọng nhỏ trong Tổng tài sản khi so sánh với TSNH. Vào năm 2016, TSDH chiếm 15.39% và trở nên khá ổn định tại mố 16.24 – 16.08% vào năm 2017 – 2018. Mặc dù có sự tăng nhẹ trong cơ cấu của TSDH vào năm 2016 – 2017, tuy nhiên TSDH vẫn chỉ chiếm một phần rất nhỏ tr ng Tổng tài sản. Nguyên nhân là bởi vì phần lớn mặt hàng được sản xuất tại HbI Huế đều không hề đòi hỏi sự phức tạp trong kĩ thuật mà chỉ đơn thuần là việc lắp ráp các bán thàn phẩm để tạo nên sản phẩm hoàn chỉnh. Do đó, hình thức sản xuất tại công ty chưa cần thiết cũng như chưa phù hợp phải đầu tư quá nhiều về trang thiết bị dài hạn hiện đại. Bên cạnh đó, phần lớn số tiền chi cho TSDH được dùng để đầu tư vào Tài sản cố định, mà cụ thể hơn là tài sản cố định hữu hình khi nhân tố này gần như chiếm 100% trên TSDH. Đây là một điều dễ hiểu bởi vì HbI là một DN sản xuất, chính vì vậy việc đầu tư vào máy móc, thiết bị hữu hình, cụ thể là máy may và máy cắt là rất cần thiết để có thể duy trì hoạt động thường ngày từ đó tạo ra thành phẩm.
Thứ hai, về biến động tài sản:
Vào năm 2016, Tổng tài sản của công ty đạt hơn 93 triệu USD. Trong năm tiếp theo,chỉ tiêu này có sự tăng đột biến khi đạt đến hơn 114 triệu USD (tăng hơn 22%). Điều này cho thấy rằng trong khoảng thời gian này, công ty đang tích cực đầu tư vào tài sản để mở rộng quy mô sản xuất, tăng cường hoạt động. Đến năm 2018, chính vì chiến dịch mở rộng quy mô sản xuất đã dần ổn định và đi vào quỹ đạo nên chỉ tiêu Tổng tài sản hầu như không thay đổi quá nhiều mà chỉ giảm nhẹ 913 nghìn USD (tức giảm 0.8%) so với năm trước. Để biết sự biến động này là tốt hay xấu ta cần đi vào xem xét cụ thể từng nhân tố đã tác động lên Tổng tài sản. Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Tài sản ngắn hạn:
Bởi vì TSNH chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu Tổng tài sản, chính vì vậy mà xu hướng biến động của Tổng tài sản chịu tác động rất lớn bởi TSNH. Qua đó, ta cũ g biết rằng tương tự Tổng tài sản, TSNH của HbI tăng đột ngột vào năm 2017, từ 79 triệu USD đến 96 triệu USD (tức tăng 20.8%). Sau năm 2017, thì TSNH của năm 2018 không thay đổi quá nhiều mà chỉ giảm nhẹ 0.61%.
Trong TSNH 3 chỉ tiêu chiếm tỉ trọng cao nhất chính là Tiền và các khoản tương đương tiền, Các khoản phải thu ngắn hạn và HTK. Tr ng giai đoạn phân tích, nếu như chỉ tiêu Tiền và các khoản tương đương tiền có xu ướng giảm mạnh vào năm 2017 (giảm hơn 31% so với 2016) và tăng trở lại vào 2018 (tăng gần 80%), 2 chỉ tiêu còn lại là Các khoản phải thu ngắn hạn và HTK thì cho thấy xu hướng ngược lại là tăng lần lượt 48% và 56% vào năm 2017 rồi giảm s u đó khoảng 11% và 34%.
Nguyên nhân sự giảm mạnh của khoản Tiền và tương đương tiền trong năm 2017 từ 30 triệu USD xuống còn 20 triệu USD (giảm hơn 31%) được xác định là do việc mở rộng quy mô sản xuất cũng như tỉ lệ các đơn đặt hàng của DN đột ngột tăng mạnh, do đó công ty phải bỏ ra một khoản tiền lớn chi trả cho việc mua sắm nguyên vật liệu đưa vào sản xuất để dự trữ một lượng hàng tồn kho phù hợp, đáp ứng nhu cầu tăng đột biến của khách hàng cũng như duy trì một số lượng lớn chính sách trả chậm ưu đãi cho nhiều khách hàng. Bên cạnh đó, do phải chịu trách nhiệm với một lượng lớn HTK đến từ chi nhánh tại Nam Kinh, công ty cũng phải tiêu tốn một lượng tiền nhất định để bảo quản, thuê thêm kho bãi,…để quản lí lượng HTK này. Đến năm 2018, khi đã có một dự trù chính xác hơn về nhu cầu khách hàng, thắt chặt hơn trong việc thu tiền đồng thời áp dụng chính sách xử lí HTK, để đảm bảo tính thanh khoản, chỉ tiêu này lại tăng trở lại và thậm chí vượt con số của năm 2016, đạt 37 triệu USD (tăng 79%).
Tuy Tiền và khoản tương đương tiền đã tác động làm giảm chỉ tiêu TSNH, uy nhiên sự tăng mạnh của 2 chỉ tiêu Các khoản phải thu ngắn hạn từ 25 triệu USD lên đến 37 triệu USD và HTK, từ 23 triệu USD lên 36 triệu USD vào năm 2017 là nguyên nhân chính khiến cho TSNH của công ty vào năm này tăng đột biến. Việc tăng 2 chỉ tiêu này sẽ giúp DN thực hiện được chính sách trả chậm ưu đãi cho khách hàng, từ đó có một mối quan hệ lâu bền hơn cũng như đảm bảo khả năng bán hàng, đồng thời duy trì một lượng HTK để đáp ứng các đơn đặt hàng đến từ khách hàng. Tuy nhiên nếu không có sự tính toán hợp lí thì sẽ dẫn đến việc bị chiếm dụng vốn cũng như gia tăng chi phí quản lí, chi phí cơ hội cũng như rủi ro hư hỏng, thất lạc, giảm giá trị đối với HTK.
Đến năm 2018, nếu như chỉ tiêu Các khoản phải thu ngắn hạn không thay đổi gì nhiều mà chỉ giảm xuống chạm mốc 33 triệu USD (tức giảm 11%) so với năm trước thì HTK lại ghi nhận sự giảm mạnh còn 24 triệu USD (tức 34%). Điều này có nghĩa rằng công ty trong năm này vẫn tiếp tục duy trì chính sách trả chậm cho khách hàng nhưng đồng thời lại có sự thắt chặt lại trong việc quản lí HTK, khiến cho HTK có giảm hơn tuy nhiên vẫn chiếm tỉ trọng cao thứ 3 trong Tổng tài sản.
Tài sản dài hạn:
Tài sản dài hạ có sự tăng mạnh từ 14 triệu USD lên 18.5 triệu USD (tức tăng 30.5%) sau đó giảm nhẹ xuống 18 triệu USD (tức 3.2%) vào năm 2018.
Trong TSDH, hầu như toàn bộ nguồn tiền đều chi cho Tài sản cố định, mà cụ thể hơn là Tài sản cố định hữu hình. Trong năm 2017, Tài sản cố định hữu hình có sự tăng đột biến gần 30% so với năm trước, tức tăng từ 13.7 triệu USD lên đến 18 triệu USD. Tuy nhiên đến năm 2018, chỉ tiêu này không cho thấy sự thay đổi nhiều mà chỉ giảm nhẹ khoảng 3%. Nguyên nhân là bởi vì chiến dịch mở rộng quy mô của công ty cũng như vì sự tăng lên đột ngột trong nhu cầu, trang thiết bị của công ty không thể đủ năng suất để làm ra sản phẩm cung ứng kịp thời nên đã quyết định mua sắm thêm một số thiết bị, máy móc phục vụ quá trình sản xuất vào năm 2017. Bên cạnh đó, trong năm này công ty cũng đã quyết định xây dựng thêm nhà máy thứ 3 là nhà máy Cắt, chính vì vậy mà đã tiến hành mua một số thiết bị phục vụ cho việc cắt bán thành phẩm sao cho ít hao phí nhất và có ỉ lệ chính xác nhất. Sau đó, khi công ty đã xây dựng được cho mình một mức năng lực sản xuất phù hợp với chính sách mở rộng quy mô cũng như nhu cầu khách hà g thì việc mua sắm máy móc không còn cần phải thay đổi quá nhiều.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.2.1.2. Cơ cấu và biến động nguồn vốn Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Nguồn vốn được hiểu là những quan hệ tài chính mà thông qua đó, DN có thể khai thác hay huy động một số tiền nhất định để đầu tư tài sản. Nói cách khác, nguồn vốn cho biết tài sản của DN là do đâu mà có, từ đó có những trách nhiệm kinh tế, pháp lí đối với những loại tài sản đó.
Thông qua biểu đồ 2.2 và bảng 2.4 thể hiện chỉ tiêu Nguồn vốn của công ty HbI giai đoạn 2016 – 2018 dưới đây, ta nhận thấy rằng:
Biểu đồ 2.2. Cơ cấu nguồn vốn của công ty HbI giai đoạn 2016-2018
Bảng 2.4. Bảng cân đối kế toán công ty HbI giai đoạn 2016-2018 (chỉ tiêu Nguồn vốn)
Thứ nhất, về tình hình cơ cấu Nguồn vốn của công ty:
Khác với khoảng cách chênh lệch quá lớn giữa TSNH và TSDH, chỉ tiêu NPT luôn được giữ ở mức 40% – 48% và 52% – 55% cho vốn CSH trên tổng Nguồn vốn – mộ ỉ lệ được xem là khá đồng đều. Điều này có nghĩa rằng Nguồn vốn của doanh nghiệp đều đến từ cả 2 nguồn là vốn góp của CSH và đi vay.
Đối với NPT:
Nhìn chung, chỉ tiêu NPT có xu hướng tăng về tỉ trọng qua cả 3 năm phân tích, từ 40% vào năm 2016 đến 45% vào năm 2017 và cuối cùng là gần 48% vào năm 2018 trên Tổng nguồn vốn. Trong đó có một sự chênh lệch khá lớn giữa Nợ ngắn hạn và Nợ dài hạn khi mà hầu như toàn bộ NPT của công ty đều đến từ Nợ ngắn hạn, cụ thể Nợ ngắn luôn chiếm trên 98%. Nợ dài hạn chỉ chiếm một phần rất nhỏ, hầu như không đáng kể. Nguyên nhân chính mà đa số NPT của công ty đều là Nợ ngắn hạn là bởi vì các đơn hàng do HbI Huế sản xuất ra đều được đảm bảo thanh toán bởi tổng công ty tại Mỹ trong thời hạn 90 ngày. Nghĩa là trong ngắn hạn, công ty hoàn toàn có thể thu hồi lại được vốn để bắt đầu một chu kì kinh doanh mới do đó nhu cầu vay nợ trong dài hạn là rất ít. Chính vì vậy có thể nói rằng, Nợ ngắn hạn đã quyết định xu thế của chỉ tiêu NPT tại công ty HbI giai đoạn này.
Trong chỉ tiêu Nợ ngắn hạn, Phải trả người bán ngắn hạn chiếm tỉ trọng cao nhất nguyên nhân là bởi vì HbI là một doanh nghiệp sản xuất, chuyên lắp ráp các bán thành phẩm và hoàn thiện thành sản phẩm sau đó gửi về cho tổng công ty tại Mỹ. Do đó, nhu cầu mua sắm nguyên vật liệu là rất quan trọng và là một công việc thường xuyên phải thực hiện tại công ty, khiến cho công ty trở thành bạn hàng quen thuộc đối với một số nhà cung cấp nguyên vật liệu. Qua đó, chỉ tiêu Phải trả người bán chiếm một tỉ trọng cao trong Nợ ngắn hạn cũng cho thấy rằng DN đang tận dụng tốt mối quan hệ của mình và chiếm dụng được một lượng vốn của nhà cung cấp. Tuy nhiên nếu như không có những phương án đầu tư đem lại lợi nhuận đúng lúc thì việc chiếm dụng vốn này sẽ chỉ là nguyên nhân gây nên chi phí quản lí cho DN.
Biểu đồ 2.3. Tỉ trọng nợ ngắn hạn và nợ dài ạn so với NPT tại công ty HbI giai đoạn 2016 – 2018
Đối với vốn CSH
Không giống NPT, chỉ tiêu vốn CSH chiếm một tỉ trọng có phần nhỉnh hơn trong Tổng nguồn vốn và luôn ở mức trên 50%, cao nhất là vào năm 2016 khi chếm 59% và thấp nhất là vào năm 2018 chiếm 52.2%.
Nhân tố chiếm tỉ trọng cao nhất trong vốn CSH là LNST chưa phân phối, thậm chí trong 2 năm 2016 và 2017, nhân tố này chiếm lần lượt 52% và 49% trong Tổng nguồn vốn, vượt qua cả chỉ tiêu NPT. Điều này cho thấy rằng phần lớn tiền chi cho hoạt động mua sắm tài sản, phục vụ kinh doanh của công ty đến từ Lợi nhuận giữ lại của CSH, nghĩa là công ty có sự độc lập rất cao trong tài chính.
Thứ hai, về biến động Nguồn vốn:
Tương tự Tài sản, chỉ tiêu Nguồn vốn của công ty HbI tăng mạnh từ năm 2016 – 2017 và gần như không thay đổi nhiều trong năm 2018.
Đối với NPT: Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
NPT có xu hướng tăng qua 3 năm, từ 38 triệu USD vào năm 2016 tăng lên 51 triệu USD (tức tăng 35%) vào năm 2017 và tăng chậm lại chạm 54 triệu USD (tức 5%) vào năm 2018. Nguyên nhân là bởi vì kể từ năm 2017 trở đi, công ty bắt đầu mở rộng quy mô sản xuất, hướng đến đáp ứng một lượng lớn hơn trong nhu cầu của khách hàng, chính vì vậy bên cạnh vốn CSH, công ty cũng nghĩ đến việc tận dụng một số nguồ tiề để tài trợ cho việc mua sắm nguyên vật liệu, máy móc phục vụ sản xuất. Việc tăng lên trong NPT qua từng năm cũng chưa hẳn sẽ mang đến thêm rủi ro cho DN nếu DN biết sử dụng nó và tận dụng đòn bẩy tài chính.
Trong NPT, đáng chú ý hơn cả là Nợ ngắn hạn bởi vì nhân tố này chiếm hầu như toàn bộ cơ cấu của NPT. Chính vì vậy có thể nói rằng phân tích xu hướng biến động của Nợ ngắn hạn thông qua một số khoản mục chính là phân tích xu hướng của NPT.
Trong giai đoạn 2016 – 2017, ta lạ một lần nữa ghi nhận sự tăng lên đột biến của nhiều nhân tố. Nhân tố Phải trả người bán ngắn hạn là nhân tố chiếm phần lớn tỉ trọng trong Nợ ngắn hạn cũng như NPT và nó tăng mạnh hơn 35% từ 36 triệu USD lên 48 triệu USD. Tương tự, nhân tố Phải trả người lao động cho thấy sự tăng lên khoảng 12% từ 1 triệu USD lên 1.3 triệu USD. Mặc dù chiếm tỉ trọng cực nhỏ trong Nợ ngắn hạn, tuy nhiên Thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước cũng như Chi phí phải trả ngắn hạn lại tăng đột biế lầ lượt 308% và 116% trong giai đoạn này. Tất cả những yếu tố trên đều cho thấy công ty đang chiếm dụng vốn của các nhà cung cấp, của Nhà nước cũng như người lao động trong một thời gian ngắn để tài trợ cho chiến dịch mở rộng quy mô của mình. Mặc dù đây cũng là một hình thức huy động vốn tuy nhiên có khả năng nó sẽ ảnh hưởng xấu đến hình ảnh và uy tín của DN trong tương lai.
Đến năm 2018, công ty tiếp tục chiếm dụng vốn của các nhà cung cấp và người lao động để tài trợ cho hoạt động của mình khi 2 chỉ tiêu này đều tiếp tục tăng. Nếu như Phải trả người bán ngắn hạn chỉ tăng nhẹ 5% lên 54 triệu USD thì Phải trả người lao động tăng đến 30% đạt 1.6 triệu USD. Tuy nhiên vào năm này, công ty đã tiến hành thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình khiến cho chỉ tiêu Thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước giảm mạnh 90%.
Đối với vốn CSH:
Nếu như NPT có xu hướng tăng lên, chỉ tiêu vốn CSH lại có sự biế độ g tăng giảm liên tục. Năm 2016, vốn CSH đạt 55 triệu USD và tăng lên 62 triệu USD (tức 13%) vào năm 2017, tuy nhiên đến năm 2018 lại giảm nhẹ xuống 59 triệu USD (tức 5%). Trong đó, nếu như 2 chỉ tiêu Vốn góp của CSH và Chênh lệch đánh giá lại tài sản không hề có sự thay đổi nào trong 3 năm thì chỉ tiêu LNST chưa phân phối lại góp phần quyết định xu hướng biến động của vốn CSH.
Chỉ tiêu này tăng từ 49 triệu USD lên 56 triệu USD (tức 14%) vào năm 2017 và giảm nhẹ xuống còn 52 triệu USD (tức giảm 6.5%) vào năm 2018. Trong đó, vào năm 2017 số tiền LNST chưa phân phối của năm tăng đột biến hơn 203% so với năm trước, chứng tỏ các CSH đã quyết định tăng thêm phần lợi nhuận giữ lại để tiếp tục đầu tư cho những dự án mở rộng quy mô có triển vọng cho năm sau. Vào năm 2018, khi công ty bắt đầu quyết định sử dụng Nợ để tài trợ cho việc duy trì chiến lược mở rộng quy mô sản xuất của mình thì chỉ tiêu LNST chưa phân phối này đã giảm nhẹ.
Sau khi tiến hành phân tích bảng CĐKT của HBI trong giai đoạn 2016 – 2018 ta thấy rằng, công ty có mức tự chủ tài chính khá cao, giữa TSNH và Nợ ngắn hạn có sự cân đối hợp lí khi TSNH luôn cao hơn Nợ ngắn hạn, bên cạnh đó TSNH cũng như Nợ ngắn hạn lại chiếm một tỉ trọng cao hơn TSDH và Nợ dài hạn. Chính những điều này đã khiến cho HBI trở thành một công ty có khá ít rủi ro về mặt tài chính.
2.2.2. Phân tích kết quả kinh doanh Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Không giống như bảng CĐKT là BCTC chỉ mang tính chất thời điểm, bảng báo cáo kết quả HĐKD lại phản ánh tình hình kinh doanh của DN trong một thời kì chính vì vậy mà bên cạnh bảng CĐKT, bảng báo cáo kết quả HĐKD cũng là một BCTC quan trọng để có thể đánh giá chính xác hơn tình hình tài chính của một DN bất kì.
Biểu đồ 2.4. Tỉ trọng GVHB và lợi nhuận gộp về bán hàng so với Doanh thu thuần của công ty HbI giai đoạn 2016 – 2018
Từ bảng 2.5 thể hiện tình hình kinh doanh của công ty trong giai đoạn 2016 – 2018, ta có nhận xét sau:
Về Doanh thu thuần, GVHB và Lợi nhuận gộp về bán hàng:
Doanh thu thuần về bán hàng của công ty HbI tăng đều đặn qua 3 năm từ 207.8 triệu USD vào năm 2016 tăng lên 240.8 triệu USD (tức tăng 15.8%) và sau đó tăng nhẹ khoảng 6.5% lê 255 triệu USD vào cuối giai đoạn. Điều này chứng tỏ rằng chiến dịch mở rộng quy mô sả xuất, đáp ứng một lượng lớn khách hàng của DN đã có hiệu quả khi mà DN đã bán được nhiều hàng hóa hơn, thu về được doanh thu lớn hơn so với quy mô trước đây.
Tuy nhiên, mặc dù Doanh thu thuần có sự tăng trưởng tốt thế nhưng trừ 2 năm 2016 và 2017, chỉ tiêu Lợi nhuận gộp về bán hàng có cho thấy sự tăng trưởng mạnh hơn 110% từ 17 triệu USD (chiếm 8.31% Doanh thu thuần) lên 36 triệu USD (chiếm 15.13% Doanh thu thuần) thì năm 2018 chỉ tiêu này lại sụt giảm một khoản là 5 triệu USD (tức 14%) và chỉ chiếm 12.15% Doanh thu thuần. Nguyên nhân chủ yếu cho việc sụt giảm Lợi nhuận gộp về bán hàng trong khi Doanh thu thuần tăng là do GVHB của công ty trong giai đoạn này cũng tăng lên đáng kể, từ 190.5 triệu USD tăng đến 204 triệu USD (tức 7%) và tiếp tục tăng mạnh hơn chạm 224 triệu USD (tức 9.7%). GVHB cũng chiếm tỉ trọng lớn trong Doanh thu thuần, lần lượt đạt 91.69%, 84.87% và 87.85% qua ba năm. Mặc dù việc tăng GVHB khả năng cao là bởi vì doanh nghiệp phải tốn nhiều chi phí để mua n iều nguyên vật liệu hơn, phục vụ cho việc sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn hư g qua đó ta cũng thấy rằng, DN nên có những biện pháp tốt hơn để quản lí lại GVHB, hạn chế việc làm giảm đi Lợi nhuận gộp về bán hàng.
Về chi phí bán hàng, chi phí quản lí doanh nghiệp, hi phí tài chính và chi phí khác:
Bên cạnh khả năng GVHB tăng do chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng thì chi phí bán hàng cũng có đóng góp vào sự dịch chuyển này. Chi phí bán hàng của công ty mặc dù luôn giữ ở mức quanh 2 triệu USD, tuy nhiên cũng có sự tăng mạnh 9% kể từ 2.1 triệu vào năm 2016 sau đó tiếp tục tăng nhẹ 2.4%. Nguyên nhân là bởi vì trong thời gian này công ty đang thực hiện việc sản xuất nhiều hàng hóa hơn, đồng thời nhắm đến phục vụ một lượng lớn khách hàng mục tiêu hơn chính vì vậy phải tốn nhiều chi phí để thuê thêm nhiều nhân viên bán hàng để có thể tiếp cận được đến với khách hàng.
Chi phí tài chính Chi phí bán hàng Chi phí quản lý doanh nghiệp Chi phí khác
Biểu đồ 2.5. Sự biến động của một số loại chi phí tại công ty HbI giai đoạn 2016 – 2018 (Nguồn: Phòng Kế toán – Tài chính)
Mặc dù chiếm một số tiền rất nhỏ trong 2 năm đầu tuy nhiên sự biến động của Chi phí tài chính cũng khá đáng chú ý khi giảm một khoản 79% xuống còn 109 triệu USD vào năm 2017 trước khi tăng lên đến 1.3 triệu USD (tức hơn 1129%) vào năm 2018. Phần lớn sự biến động của chi phí tài chính tại công ty được xác định là bởi chênh lệch do tỉ giá hối đoái. Cụ thể phần chi phí tăng lên này là các khoản lỗ đến từ việc đánh giá lại cuối năm tài chính các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ.
Tương tự Chi phí tài chính, Chi phí khác của DN là rất nhỏ khi chỉ tính bằng đơn vị nghìn USD. Tuy hiê , năm 2017 chỉ tiêu này tăng mạnh lên đến 118 nghìn USD (tức tăng 331%) và tiếp tục tăng mạnh hơn nữa lên 554 nghìn USD (tức 367%) vào năm 2018. Nguyên nhân của việc gia tăng Chi phí khác trong giai đoạn này đó chính là vì nhà máy Cắt mới thành lập và đang trong quá trình hoạt động ở những giai đoạn đầu tiên, công nhân tại nhà máy vẫn chưa quen thuộc với việc sử dụng những máy móc cỡ lớn để cắt vải, đồng thời máy móc cũng không phải được thiết kế phù hợp hoàn toàn với những khổ vải đang có sẵn tại công ty. Chính vì vậy mà việc cắt vải tạo nên các bán thành phẩm vẫn còn gây nên nhiều hao phí, cũng như phế phẩm khiến cho DN phải tốn một lượng lớn chi phí cho việc tiêu hủy.
Chi phí quản lí DN tiêu tốn nhiều nguồn lực của công ty hơn so với những chi phí khác và nó có sự biến động thất thường qua cả 3 năm là giảm 10% từ 5.6 triệu USD của năm 2016 và sau đó lại tăng 19% chạm 6 triệu USD vào năm 2018. Nguyên nhân c o việc tăng lên đáng kể trong chi phí quản lí DN năm 2018 là bởi vì việc thành lập hà máy Cắt Phú Bài 3 vào cuối năm 2017 đòi hỏi tiêu tốn nhiều chi phí như: trích khấu hao TSCĐ là nhà xưởng, máy móc, đồng thời phải chi tiền lương cho nhân viên quản lý, mua nguyên vật liệu sửa chữa máy móc,…để giúp nhà máy có thể đi vào hoạt động một cách ổn định. Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Việc tăng một số chi phí của công ty HbI trong giai đoạn này là dễ hiểu vì để thực hiện việc mở rộng quy mô sản xuất, đưa thêm một nhà máy khác đi vào hoạt động thì cần một lượng rất lớn nguồn lực để có thể sản xuất, quản lí cũng như bán một lượng hàng hóa lớn cho khách hàng. Tuy nhiên DN cũng nên chú trọng có những biện pháp thích hợp hơn trong việc quản lí chi phí, không để chi phí tăng quá nhiều gây tác động xấu đến lợi nhuận.
Về doanh thu hoạt động tài chính:
Chỉ tiêu này cũng chiếm một phần rất nhỏ tuy nhiên nó lại cho thấy xu hướng giảm mạnh qua cả 3 năm. Từ 63 n hìn USD xuốg còn 14.6 nghìn USD (tức giảm 77%) và giảm mạnh hơn xuố g 2.3 ghìn USD vào cuối giai đoạn. Nguyên nhân là bởi vì trong giai đoạn này, chênh lệch tỉ giá hối đoái không phát triển theo chiều hướng có lợi cho công ty nên dẫn đến việc khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, DN thu về nhiều khoản lỗ h n là các khoản lợi nhuận, chính vì vậy Doanh thu đến từ hoạt động tài chính giảm những Chi phí cho hoạt động tài chính lại tăng đáng kể.
Về Lợi nhuận:
Biểu đồ 2.6. Biến động Lợi nhuận từ hoạt động kinh d anh và Lợi nhuận sau thuế của công ty HbI giai đoạn 2016 – 2018
Chính vì có nhiều sự biến động trong những loại chi phí kể trên mà cụ thể là tăng quá nhiều vào năm 2018 khiến cho Lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh cũng như Lợi nhuận sau thuế tăng giảm thất thường.
Qua biểu đồ 2.6 ta thấy rằng, 2 chỉ tiêu lợi nhuận có xu hướng giống nhau là tăng vào năm 2017 (đều tăng trên 200%) sau đó giảm vào năm 2018. Cụ thể, Lợi nhuận từ hoạt động kinh doa h tăng từ 9 triệu USD lên 29 triệu USD và sau đó 21 triệu USD, tương tự như việc tăng từ 8 triệu USD lên 25 triệu USD và giảm xuống còn 16 triệu USD của Lợi nhuận sau thuế.
Sau khi tiến hành phân tích kết quả HĐKD của công ty HBI trong 3 năm gần đây, có thể thấy rằng với chiến dịch mở rộng quy mô sản xuất, hướng đến đáp ứng nhiều đơn hàng hơn của công ty đã có hiệu quả khi nó làm tăng khả năng tiêu thụ hàng hóa của công ty và làm tăng doanh thu bán hàng. Tuy nhiên công ty cần xem xét lại việc quản lí các loại chi phí khi mà năm 2018 lại ghi nhận sự tăng đột biến của các loại chi phí như chi phí tài chính, chi phí khác, chi phí quản lí DN khiến cho mặc dù Doanh thu thuần tăng nhưng lại dẫn đến sự sụt giảm trong Lợi nhuận.
2.2.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Tương tự báo cáo kết quả HĐKD, báo cáo LCTT cũng là BCTC mang tính chấ thời kì, thể hiện sự vận động của các dòng tiền ra và dòng tiền vào trong một c u kì kinh doanh của DN.
Thông qua báo cáo LCTT, các NĐT cũng như nhà quản trị sẽ biết được tiền của DN được sử dụng như thế nào, hiệu quả của việc sử dụng tiền vào những mục đích trên ra sao để từ đó đưa ra những quyết định phù hợp. Bên cạnh đó, bằng việc phân tích báo cáo LCTT, các nhà quản trị có thể nhận biết được hoạt động kinh doanh nào đem lại dòng tiền vào lớn cho DN, hoạt động kinh doanh nào lại tiêu tốn nhiều chi phí từ đó có những chiến lược thay đổi, cải thiện tình hình kinh doanh của những hoạt động đó.
Từ bảng 2.6 dưới đây thể hiện báo cáo LCTT của công ty HbI giai đoạn 2016 – 2018, ta nhận thấy rằng:
Lưu chuyển tiền thuần đạt giá trị âm và giảm 4.1 triệu USD (tức 77%) trong 2 năm đầu tiên, lần lượt có giá trị là âm 5 triệu USD và âm 9.4 triệu USD. Sau đó lưu chuyển tiền thuần lại cho thấy sự khởi sắc khi tăng lên một khoản có giá trị hơn 25 triệu USD, chạm mốc 16.4 triệu USD (tức tăng 274%) vào năm 2018. Các bộ phận cấu thà h ên lưu chuyển tiền thuần trong kì có mối quan hệ tổng số, bởi vậy mà qua BCLCTT, ta thấy:
Về lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh: Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Không giống như lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư và tài chính, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh luôn đạt giá trị dương trong suốt giai đoạn mặc dù có sự giảm mạnh vào năm 2017 một kh ản 23.9 triệu USD (tức 62%) xuống còn 14.4 triệu USD, tuy nhiên năm 2018 lại cho thấy sự tăng trở lại rõ rệt một khoản gần như tương tự và quay trở lại với phong độ như trước đây là 37.5 triệu USD (tức tăng 159.2%).
Nguyên nhân cho sự sụt giảm rõ rệt trong tiền thuần từ hoạt động kinh doanh vào năm 2017 mặc dù có Lợi nhuận trước thay đổi vốn lưu động cao nhất trong cả 3 năm được xác định là bởi vì trong năm này có sự tăng lên đột biến của HTK cũng như các khoản phải thu để phục vụ khách hàng cũng như duy trì mối quan hệ lâu dài với họ thông qua chính sách trả chậm, chính vì việc phải điều chỉnh giảm sự tăng lên quá nhiều của 2 nhân tố này khiế cho lưu chuyển tiền thuần đạt giá trị âm.
Bên cạnh đó, mặc dù có giá trị nhỏ so với những nhân tố khác, tuy nhiên sự tăng lên của Các chi phí trả trước từ 3.9 nghìn USD lên 21.5 nghìn USD (tức tăng hơn 441%) cũng góp phần làm giảm đi giá trị của Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh. Nguyên nhân chủ yếu là bởi vì để mở rộng quy mô sản xuất, công ty phải tiến hành mua một số lượng lớn hàng hóa so với năm trước, chính vì vậy dẫn đến sự tăng lên trong Chi phí trả trước.
Ngược lại vào năm 2018, vì công ty đã có một sự thắt chặt trong việc quản lí HTK cũng như Các khoản phải thu do đó mặc dù có Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh ít hơn năm 2017, Lưu chuyển tiền thuần của năm 2018 lại có dấu hiệu khả quan hơn.
Về lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư:
Chỉ tiêu Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư có xu hướng giảm manh đột ngột vào năm 2017 từ âm 485.6 nghìn USD xuống âm 5.9 triệu USD (tức giảm hơn 1000%). Nguyên nhân là vì vào năm này, công ty chi mạnh tiền để đầu tư vào các máy móc, thiết bị cũng như nhà xưởng,…để có một năng lực sản xuất lớn hơn, đáp ứng một lượng nhu cầu tăng của khách hàng về sản phẩm. Sau năm 2017, khi việc mở rộng quy mô sản xuất đã dần đi vào ổn định, nhu cầu của khách hàng đã được dự trù một cách chính xác hơn và năng lực sản xuất của công ty đã có phần đủ đáp ứng thì việc chi cho tài sản cố định giảm 78% xuống còn 1.2 triệu USD, k iến cho Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư tăng 80.8% lên âm 1.1 triệu USD.
Về lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính:
Trong giai đoạn phân tích, công ty không hề có hoạt động đi vay hay trả nợ gốc vay cũng như sự đóng góp thêm của vốn CSH. Điều này có nghĩa rằng những khoản nợ của công ty chủ yếu là đến từ việc chiếm dụng vốn tạm thời của nhà cung cấp, nhân công và Nhà nước chứ không hề đến từ việc đi vay dài hạn từ các tổ chức tín dụng. Nhân tố biến động duy hất chí h là Cổ tức đã trả cho CSH. Nhân tố này giảm mạnh vào năm 2017 từ 43 triệu USD còn 18 triệu USD (tức 58%) và chỉ tăng nhẹ 2 triệu USD vào năm 2018 (tức 11%). Nguyên nhân cho sự giảm mạnh về cổ tức trả cho CSH vào năm 2017 cũng là dễ hiểu khi mà công ty đang có một kế hoạch sản xuất với quy mô mở rộng có t iển vọng, chính vì vậy mà các cổ đông chấp nhận tăng phần lợi nhuận giữ lại để đầu tư cho dự án này, để thu được lợi nhuận lớn hơn trong tương lai. Chính vì số cổ tức trả cho CSH ít hơn, số tiền mà công ty phải bỏ ra ít hơn do đó Lưu chuyển tiền thuần tư hoạt động tài chính cũng tăng lên một số lượng tương ứng như số lượng giảm của Cổ tức đã trả cho CSH.
Sau khi phân tích BCLCTT, ta thấy rằng mặc dù có sự giảm mạnh vào năm 2017 tuy nhiên Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty HbI đều là dương. Tuy nhiên công ty cũng cần có sự xem xét lại về HTK, chính sách trả chậm cũng như việc đầu tư vào TSCĐ bởi vì những nhân tố này đã tác động làm Lưu chuyển tiền thuần trong kì của công ty đạt giá trị âm vào năm 2016 – 2017.
2.2.4. Phân tích báo cáo tài chính thông qua các nhóm tỉ số Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
2.2.4.1. Phân tích tỉ số thanh khoản
Bảng 2.8. Tỉ số thanh khoản của công ty HbI giai đoạn 2016 – 2018
Từ bảng 2.7 ta thấy rằng:
Về tỉ số thanh toán hiện hành:
Nhìn chung tỉ số thanh toán hiện hành của công ty là khá tốt khi mà qua cả 3 năm, Nợ ngắn hạn luôn được đảm bảo bởi nhiều hơn 1 đồng TSNH. Điều này cho thấy rằng công ty HbI sẽ không gặp khó khăn thanh khoản khi thanh toán các khoản Nợ ngắn hạn.
Mặc dù vậy, nếu như chỉ có năm 2016 thì tỉ số này mới đạt mức lý tưởng trong khoảng 2 -3 mà cụ thể là 2.09, thì 2 năm còn lại, tỉ số này dần giảm xuống đạt 1.86 vào năm 2017 và 1.76 vào năm 2018. Khi so sánh với trung bình ngành Dệt may có chỉ số khả năng thanh toán hiện hành đạt 2.07 lần thì nhìn chung chỉ số này của HbI vẫn ở mức chấp nhận được.
Nguyên nhân cho sự sụt giảm trong khả năng thanh khoản được xác đị h là bởi vì trong giai đoạn này, công ty lần lượt gia tăng các khoản nợ ngắn hạn để phục vụ việc mở rộng sản xuất, cụ thể tăng 35% từ 38 triệu USD của năm 2016 sau đó tiếp tục tăng nhẹ 5% từ 51 triệu USD lên 54.2 triệu USD vào năm 2018. Trong khi đó sự gia tăng của Tài sản ngắn hạn lại thấp hơn đạt 20% chạm 95.9 triệu USD vào năm 2017 và thậm chí giảm 0.6% xuống còn 95.3 triệu USD vào năm 2018. Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Việc gia tăng các khoản nợ ngắn hạn thay vì toàn phụ thuộc vào vốn CSH để chi tiêu mua sắm tài sản cũng là một cách để duy trì oạt động kinh doanh đồng thời tận dụng hiệu quả của đòn bẩy tài chính. Và như đã phân tích, mặc dù việc gia tăng khoản nợ phải trả sẽ khó làm cho DN HbI rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản khi mà các tỉ số thanh khoản cũng như dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của DN là khá khả quan, tuy nhiên chính vì phần lớn nguồn tiền từ NPT là đến từ việc chiếm dụng vốn của người lao động, nhà cung cấp và phải trả Nhà nước cho nên nó có thể sẽ làm ảnh hưởng đến hình ảnh DN. Bê cạ h đó, chính vì không huy động vốn từ các tổ chức tín dụng cho nên DN không thể thu lợi từ “lá chắn thuế”. Nếu DN biết sử dụng vốn vay đến từ các nguồn này thì một mặt, nó sẽ giúp Thu nhập của DN có cơ hội tăng trưởng, mặt khác, chi phí lãi vay sẽ trở thành chi phí hợp lí được trừ ra khỏi thu nhập của DN trước khi tính thuế, giúp DN tiết kiệm một khoản thuế phải nộp, từ đó sử dụng đòn bẩy tài chính hiệu quả.
Về tỉ số thanh toán nhanh:
Khác với tỉ số thanh toán hiện thời, tỉ số thanh toán nhanh chỉ bao gồm những tài sản có tính thanh khoản cao hơn, đồng nghĩa với việc HTK sẽ bị trừ khỏi TSNH khi xác định tỉ số này. Trong cả 3 năm, tỉ số này của công ty đều lớn hơn 1, cao nhất vào năm 2016 là 1.48, thấp nhất là vào năm 2017 chỉ đạt 1.16 và năm 2018 thì đạt 1.32. Điều này chứng tỏ rằng công ty luôn đáp ứng được việc chi trả các khoản nợ trong ngắn hạn, khó gặp rủi ro mất khả năng thanh khoản.
Khi so sánh với mức bình quân ngành Dệt may là 1.46 [4] thì tỉ số t anh toán nhanh của DN được đánh giá là khá tốt. Mặc dù chỉ số này qua cả ba năm khi so với trung bình ngày thì có vẻ khiêm tốn hơn, tuy nhiên nó cũng đồng nghĩa với việc DN đang nắm giữ một lượng Tiền và các khoản tương đương tiền cũng như TSNH nhỏ hơn trung bình ngành chính vì vậy mà DN sẽ ít đánh mất các cơ hội đầu tư hơn ũng như tiết kiệm được chi phí quản lí cho việc duy trì một lượng tiền lớn.
Mặc dù có khả năng thanh toán nhanh là khá cao, tuy nhiên việc sụt giảm trong khả năng thanh toán nhanh vào năm 2017 cũng khá đáng chú ý. Bên cạnh việc gia tăng trong Nợ ngắn hạn như đã phân tích, nguyên nhân c o việc này còn được xác định là bởi sự gia tăng quá lớn trong HTK với mục đích dự trữ để đáp ứng nhu cầu tăng lên đột biến của khách hàng. Qua đó ta thấy rằng DN cần chú ý hơn trong công tác quản lí HTK của mình bởi vì về lâu dài, nó sẽ gây ra nhiều chi phí, làm giảm khả năng thanh khoản đồng thời là nguyên nhân làm đọng vốn, làm giảm khả năng sinh lời của DN.
Về tỉ số thanh toán hiện thời:
Đây là một tỉ số đòi hỏi khắt khe hơn về tính thanh khoản so với 2 tỉ số trước khi mà nó chỉ tính đến Tiền mặt và các khoản tương đương tiền để xem xét khả năng đáp ứng nợ ngắn hạn. Qua cả 3 năm, nếu như năm 2016 và 2018 có giá trị khá xấp xỉ nhau lần lượt là 0.38 và 0.39 thì thấp nhất là vào năm 2017 chỉ đạt 0.22 bởi vì trong năm này, công ty đã sử dụng phần lớn tiền để mua sắm nguyên vật liệu sản xuất để dự trữ hàng hóa đồng thời có chính sách trả chậm cho khách hàng khiến các khoản phải thu tăng lên.
Về lí thuyết, nếu chỉ số này thấp hơn 1 có nghĩa rằng DN đang không đảm bảo được các khoản nợ của mình và có thể sẽ mất khả năng thanh khoản nếu chỉ dùng Tiền và các khoản tương đương tiền để chi trả. Tuy nhiên trong thực tế, không một DN nào muốn duy trì tỉ số này bằng 1 hay lớn hơn 1 ngay cả khi họ có khả năng đó bởi vì nó đồng nghĩa với việc DN đang không sử dụng loại tài sản có tính thanh khoản cao này một cách có hiệu quả. DN hoàn toàn có thể sử dụng số Tiền và các khoản tương đương tiền này để ạo ra doanh thu cao hơn, ví dụ như cho vay ngắn hạn thay vì chỉ dự trữ nó trong DN gây đọng vốn cũng như tốn nhiều chi phí quản lí.
Sau khi phân tích các tỉ số thể hiện khả năng thanh khoản của công ty HbI trong giai đoạn 2016 – 2018 thì ta thấy rằng, công ty có khả năng thanh khoản rất tốt khi luôn đảm bảo các khoản nợ ngắn hạn của mình bằng TSNH cũng như Tiền và các khoản tương đương tiền. Tuy nhiên DN cũng cần có sự xem xét kĩ lưỡng hơn trong việc quản lí HTK, đồng thời không nên duy trì một mức thanh kh ản quá cao bởi vì nó có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng ứ đọng vốn, làm giảm khả năng sinh lời của DN.
2.2.4.2. Phân tích tỉ số quản lí tài sản Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Bảng 2.9. Các tỉ số thể hiện hiệu quả quản lí tài sản tại công ty HbI giai đoạn 2016 – 2018
Về hàng tồn kho:
Vào năm 2016, HTK của DN quay tổng cộng 9.49 vòng để có thể tạo ra doanh thu và trung bình HTK mất khoảng 38.47 ngày để có thể bán hết. Vòng quay HTK giảm mạnh xuống còn 6.92 vòng trong 1 năm – thấp nhất trong cả 3 năm đồng hời thời gian lưu kho cũng là lớn nhất là 52.71 ngày thì mới có thể xử lý hết. Mặc dù năm 2018, vòng quay HTK và thời gian lưu kho có dấu hiệu khả quan hơn năm 2017, lần lượt đạt 7.50 vòng và 48.66 ngày tuy nhiên vẫn không thể đạt đến mức như năm 2016.
Mặc dù có sự tăng lên đáng kể về GVHB tuy nhiên trong giai đoạn phân tích, vòng quay HTK lại giảm xuống, đặc biệt là vào năm 2017 khi hưa có dự trù chính xác về nhu cầu khách hàng khiến cho DN buộc phải duy trì một mức dự trữ hàng hóa cao hơn. Mặc dù việc tăng lên về HTK sẽ giúp DN đáp ứng được kịp thời các đơn hàng tuy nhiên nó cũng là nguyên nhân làm ứ đọng vốn đồng thời gây ra nhiều chi phí tổn thất cho DN, chính vì vậy mà DN nên tính toán để duy trì một lượng HTK hợp lí.
Khi so sánh với các DN cùng ngành là CTCP Dệt May – Đầu tư – Thương mại Thành Công cũng như Tập đoàn Dệt May Việt Nam Vinatex, chỉ tiêu vòng quay HTK của 2 DN này lần lượt qua 3 năm là 3.51, 3.53, 3.07 và 9.38, 4.56, 4.63 , thấp hơn rất nhiều so với HbI. Điều này cũng đồng nghĩa 2 DN cùng ngành này có thời gian lưu kho bình quân lớn hơn khá nhiều. Như vậy, mặc dù có sự gia tăng lên lớn về HTK tuy nhiên tỉ số Vòng quay HTK và Thời gian lưu kho bình quân của công ty HbI là khá tốt.
Về vòng quay khoản phải thu và kì thu tiền bình quân:
Vòng quay khoản phải thu tại công ty HbI đạt cao nhất vào năm 2017 là 7.65 vòng và xấp xỉ vào năm 2018 là 7.19 vòng, tuy nhiên vào năm 2016 thì con số này chỉ đạt 5.69 vòng. Từ đó ta có thể suy ra được vào năm 2017, DN chỉ mất 47.71 ngày để thu hết các khoản phải thu, trong khi con số này vào năm 2016 là 64.15 ngày hơn 2 tháng và 50.75 ngày vào năm 2018.
Mặc dù năm 2017 công ty đã gia tăng đáng kể trong các khoản phải thu của mình tuy nhiên lại có một Vòng quay khoản phải thu cao nhất trong cả 3 năm là bởi vì vào năm 2016, các Khoản phải thu của DN chỉ có 25.3 triệu USD – thấp nhất so với 2 năm còn lại là 37.6 triệu USD vào năm 2017 và 33.4 triệu USD vào năm 2018. Điều này đã làm cho bình quân Khoản phải thu của DN vào năm 2017 giảm so với năm 2018. Bên cạnh đó sự gia tăng lên trong Doanh thu thuần vào năm này, tăng hơn 15.85% so với năm trước cũng là nguyên nhân dẫn đến Vòng quay khoản phải thu tăng.
Ngược lại vào năm 2018, mặc dù có doanh thu cao hơn năm 2017 đạt 255.4 triệu USD (tức tăng 6.06%) thế nhưng nó lại không đủ bù đắp sự tăng lên quá lớn về Các khoản phải thu ngắn hạn khiến cho bình quân Khoản phải thu đạt 35.5 triệu USD, từ đó làm giảm Vòng quay khoản phải thu xuống còn 7.19 vòng trên năm. Khi so sánh với hai DN cùng ngành là CTCP Dệt may – Đầu tư – Thương mại Thành Công cũng như Vinatex, chỉ số Vòng quay khooản phải thu qua 3 năm lần lượt là 10.78, 7.6, 9.7 và 13.55, 6.91, 8.14 ta thấy rằng nhìn chung, hai DN này duy trì một mức Vòng quay khhoản phải thu lớn hơn nhiều so với HbI, đặc biệt là vào năm 2016 khi HbI chỉ quay tổng cộng hơn 5 vòng thì CTCP Thành Công cũng như Vinatex có 10.7 và 13.5 vòng trên năm [5]. Từ đó ta cũng nhận thấy rằng công ty HbI cần có sự quản lí trong chính sách bán hàng trả chậm cũng như công tác thu hồi tiền từ khách hàng của mình hơn, vừa không làm mất mối quan hệ của mình với khách hàng nhưng đồng thời cũng không bị chiếm dụng vốn bởi họ. Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Về vòng quay tài sản cố định:
Vòng quay tài sản cố định của HbI qua 3 năm nhìn chung là khá ổn định khi duy trì xung quanh mức 14 vòng, cao nhất là vào năm 2017 đạt 14.69 vòng và thấp nhất là năm 2018 13.99 vòng. Nguyên nhân cho việc này là bởi vì năm 2016, TSCĐ của HbI chỉ đạt hơn 14 triệu USD, trong khi TSCĐ của năm 2017 và 2018 luôn được duy trì ở mức 18 triệu USD để phục vụ cho việc mở rộng quy mô sản xuất, từ đó khiến cho bình quân TSCĐ của năm 2017 giảm. Vòng quay TSCĐ của năm 2018 lại cho thấy sự sụt giảm so với năm 2017 trong khi Doanh thu tăng. Chính vì vậy mà đây lại là dấu hiệu cho thấy rằng công ty cần xem xét việc đầu tư vào TSCĐ của mình, tránh việc tốn nhiều chi phí hơn thế nhưng số đồng doanh thu tạo ra lại giảm chứ không tăng.
So sánh với CTCP Thành Công và Tập đoàn Vinatex, hai DN cùng ngành có chỉ số Vòng quay trên TSCĐ lần lượt qua 3 năm là 3.00, 2.72, 3.20 và 2.9, 2.79, 2.74 ta nhận thấy rằng việc sử dụng TSCĐ của công ty HbI lại có phần hiệu quả hơn khi 1 đồng TSCĐ của công ty lại tạo ra được nhiều doanh thu hơn. Do đó mặc dù giảm vào ăm 2018 nhưng chỉ số này của DN vẫn khá khả quan.
Về vòng quay Tổng tài sản:
Tỉ số này dùng để đo lường mức độ hiệu quả của việ sử dụng tài sản chung mà không biệt là Tài sản cố định hay Tài sản lưu động. Nhìn chung tỉ số này của công ty HbI luôn được duy trì ở mức 2 vòng, thấp nhất vào năm 2016 với 1.95 vòng và cao nhất vào năm 2017 đạt 2.31 vòng sau đó giảm nhẹ xuống 2.24 vòng vào năm 2018. Đây là xu hướng giống với Vòng quay TSCĐ, Vòng quay khoản phải thu chính vì vậy mà nguyên nhân cho xu hướng tăng giảm trong Vòng quay tổng tài sản cũng khá giống với những tỉ số trên. Với việc Tổng tài sản củ công ty HbI vào năm 2016 là thấp nhất trong cả 3 năm đạt 93.8 triệu USD cùng với việc Do nh thu thuần về bán hàng của công ty trong năm 2017 tăng khiến cho Vòng quay tổng tài sản tăng mạnh. Đến năm 2018, mặc dù Doanh thu thuần tiếp tục tăng tuy nhiên do sự tăng lên quá lớn về Tổng tài sản để chi cho việc mua sắm máy móc vào cuối năm 2017 và 2018 mà chỉ số này lại trở nên khiêm tốn hơn.
Khi so sánh với CTCP Thành Công và Vinatex, hai DN cùng ngành có Vòng quay tổng tài sản trong 3 năm này lần lượt là 1.15, 1.10, 1.17 và 0.8, 0.86, 0.89, ta thấy rằng HbI có lợi thế vượt trội khi sử dụng tài sản một cách có hiệu quả hơn nhiều với hiệu suất sử dụng tài sản lớn hơn. [4]
Bảng 2.10. Bảng so sánh các chỉ số hiệu quả sử dụng tài sản với hai DN cùng ngành trong giai đoạn 2016 – 2018
Sau khi phân tích các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản thì ta thấy rằng, mặc dù khi so sánh với hai doanh nghiệp cùng ngành là CTCP Dệt may – Đầu tư – Thương mại Thành Công và Tập đoàn Dệt may Việt Nam Vinatex, các chỉ số về hiệu quả quản lí của công ty HbI đều tốt hơn, tuy nhiên để có thể p át triển hơn nữa trong tương lai, DN cũng cần xem xét và quản lí lại HTK, Các khoản phải thu cũng như việc chi mua sắm tài sản để phục vụ sản xuất bởi vì những chỉ tiêu này đã góp phần làm cho Vòng quay HTK, Vòng quay khoản phải thu cũng như Vòng quay tài sản của DN đi theo xu hướng không khả quan trong một số thời điểm nhất định khi so sánh giữa các năm trong giai đoạn phân tích với nhau.
2.2.4.3. Phân tích các tỉ số đòn bẩy tài chính Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Đòn bẩy tài chí h thường được hiểu là việc một DN sử dụng nợ vay mượn từ nhiều nguồn để tận dụng cơ hội đầu tư từ đó đem về lợi nhuận cho mình. Đồng thời nó cũng thể hiện mức độ sử dụng vốn vay trong tổng NV của DN nhằm hy vọng gia tăng tỉ suất lợi nhuận trên vốn CSH (ROE) hay một số chỉ tiêu khác. Tuy nhiên việc sử dụng đòn bẩy tài chính không có sự đảm bảo thành công nếu như DN không có một mức sử dụng phù hợp với cơ cấu cũng như quy mô.
Việc đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính thường thể hiện qua các tỉ số ở bảng 2.10 dưới đây.
Về tỉ số nợ trên tổng tài sản:
Tỉ số này có xu hướng tăng dần qua ba năm, cụ thể vào năm 2016 đến năm 2017, tỉ số này tăng từ 0.41 lên 0.45 lần (tức tăng 10.93%) và tiếp tục tăng lên 0.48 lần (tức 6.22%) vào năm 2018. Qua đó ta cũng thấy rằng công ty đang ngày càng chú trọng hơn trong việc sử dụng nợ để tài trợ cho việc chi mua sắm cho tài sản, phục vụ sản xuất. Mặc dù việc gia tăng sử dụng nợ sẽ phần nào đem đến rủi ro cho DN, tuy nhiê đối với HbI khi mà các chỉ số về khả năng thanh khoản cũng như Doanh thu thuần đều được giữ ở mức ổn định và khả quan thì việc gia tăng trong các khoản nợ chưa hẳn sẽẽ gây bất lợi cho DN trong giai đoạn này về mặt tài chính.
Tuy nhiên khi xem xét bảng CĐKT, ta nhận thấy rằng phần lớn NPT của DN đều đến từ việc chiếm dụng của người bán, người lao động cũng như thuế phải nộp cho ngân sách Nhà nước. Mặc dù chỉ là chiếm dụng trong ngắn hạn nhưng phần nào nó sẽ có ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh của DN chính vì vậy mà DN nên xem xét vay mượn từ một số nguồn khác nữa để tài trợ cho mình. Đồng thời việc vay nợ từ các tổ chức tín dụng sẽ tạo nên hiệu quả “lá chắn thuế” giúp DN tiết kiệm bớt số thuế phải nộp.
Về tỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu: Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Tương tự tỉ số nợ trên tổng tài sản, tỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu có xu hướng tăng qua cả ba năm, tăng mạnh vào năm 2017 từ 0.68 lên đến 0.82 lần (tức tăng 19.87%) và tiếp tục tăng lê đế 0.92 lần (tức 11.92%). Chỉ số này đến nhỏ hơn 1 qua cả ba năm chứng tỏ công ty chủ yếu vẫn dựa vào nguồn lực của chính mình để tài trợ cho việc chi mua sắm tài sản, vận hành hoạt động kinh doanh hơn là đi vay. Đây cũng là dấu hiệu DN có khả năng tự chủ kinh tế tốt. Nhưng đồng thời xu hướng gia tăng qua từng năm của chỉ số này cũng ngầm thể hiện rằng công ty đang ngày có ý định trong việc tận dụng việc đi vay để làm đòn bẩy tài chính, gia tăng lợi nhuận cho mình.
Về tỉ số khả năng trả lãi:
Bởi vì DN không hề có hoạt động đi vay từ tổ chức tài chính nào chính vì vậy mà suốt cả ba năm, tại công ty không hề tồn tại khoản mục chi phí lãi vay. NPT tại DN chủ yếu đến từ việc chiếm dụng ngắn hạn tiền hàng của nhà cung cấp, tiền lương phải trả cho người lao động cũng như tiền thuế phải nộp cho Nhà nước. Một mặt, việc không ồn ại chi phí lãi vay nhưng vẫn duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định sẽ góp phần tạo độ tin cậy cũng như độ an toàn khi nhìn vào DN tuy nhiên, điều này cũ g có thể đồng nghĩa với việc DN đang không biết đi vay nợ từ những nguồn nào, từ đó không tận dụng tốt hiệu quả của đòn bẩy tài chính cũng như lá chắn thuế như những DN cùng ngành khác.
Sau khi phân tích các chỉ số đòn bẩy tài chính tại ông ty HbI qua ba năm, ta thấy rằng công ty HbI có khả năng tự chủ tài chính tốt khi mà phần lớn tài sản đều được tài trợ bởi vốn CSH. Đồng thời công ty cũng đã dần có xu hướng tận dụng đòn bẩy tài chính khi mà tỉ trọng nợ có xu hướng tăng qua ba năm. Tuy nhiên phần lớn nợ lại đến từ việc chiếm dụng của nhà cung cấp, ngườ lao động và Nhà nước chính vì vậy mà chưa tận dụng được “lá chắn thuế” đến từ chi phí lãi vay cũng như có khả năng ảnh hưởng đến hình ảnh của DN.
2.4.4.4. Phân tích các tỉ số thể hiện khả năng sinh lợi Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Bên cạnh các tỉ số thể hiện tính thanh khoản hay hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính, các tỉ số thể hiện khả năng sinh lợi cũng là những yếu tố mà các NĐT luôn luôn quan tâm khi phâ tích một DN.
Các tỉ số này giúp xác định hiệu quả của việc sử dụng vốn CSH, hiệu quả sử dụng tài sản cũng như đánh giá xem bao nhiêu đồng doanh thu thì sẽ tạo được một đồng LNST. Thông qua các chỉ số này, các NĐT và các nhà quản trị sẽ biết được tính hiệu quả của các chiến lược kinh doanh mà họ đã đề ra đồng thời xác định tính khả quan của mức LNST thu về khi thực hiện chiến dịch mở rộng quy mô.
Từ bảng 2.11 bao gồm các tỉ số thể hiện khả năng sinh lợi, ta có nhận xét rằng:
Bảng 2.12. Các tỉ số thể hiện khả năng sinh lợi tại công ty HbI giai đoạn 2016 – 2018
Về tỉ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS):
Tỉ số này có sự tăng giảm thất thường qua ba năm, thấp nhất là vào năm 2016 đạt 4%, cao nhất vào năm 2017 đạt 10.48% và cuối cùng năm 2018 đạt 6.39%. Ta có thể hiểu cứ 100 đồng doanh thu sẽ tạo ra lần lượt 4 đồng, 10.48 đồng và 6.39 đồng lợi nhuận vào ba năm 2016, 2017 và 2018. Qua đó ta nhận thấy rằng năm 2017 công ty HbI có tỉ số này đạt hiệu quả nhất. Năm 2016, khi công ty chưa thực hiện chính sách mở rộ g quy mô sản xuất thì việc Doanh thu thuần cũng như LNST của DN vào năm này thấp hơn so với hai năm còn lại là có thể hiểu được. Tuy nhiên, vào năm 2018, mặc dù có sự tăng trưởng lớn hơn về doanh thu thuần so với năm 2017, tuy nhiên LNST ủa năm này lại thấp hơn. Qua đó ta nhận thấy rằng trong năm này, công ty đã không có sự quản lí thích hợp trong các khoản mục chi phí của mình nên đã làm giảm đi LNST.
Bảng 2.13. Sự biến động của một số chỉ tiêu chi phí
Từ bảng thể hiện sự biến động của một số loại chi phí qua ba năm ta thấy rằng, sự tăng lên quá lớn về chi phí tài chính, cụ thể 1129.35% cũng như giá vốn hàng bán, 9.79% cùng với 19.07% trong chi phí quản lí doanh nghiệp đã khiến cho mặc dù Doanh thu thuần vào năm 2018 là cao nhất trong ba năm nhưng LNST cũng như ROS lại không được tốt khi so sánh với năm 2017.
Về tỉ số lợi nhuận ròng trên tài sản ROA:
Bảng 2.14. Phân tích Dupont chỉ tiêu ROA của công ty HbI giai đoạn 2016 – 2018
Tương tự ROS, ROA tại DN HbI đạt cao nhất vào năm 2017, cụ thể là cứ 100 đồng đầu tư vào tài sản thì sẽ thu được 24.22 đồng LNST. Nếu như năm 2016, chỉ số ROA của DN là thấp nhất trong cả ba năm, đạt 7.81% thì ROA và năm 2018 mặc dù thấp hơn so với năm 2017 nhưng lại gấp đôi năm 2016, đạt hơn 14.31%. Qua đó ta cũng hấy rằng khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty vào năm 2017 là tốt nhất.
Để hiểu rõ hơn, qua bảng 2.13. Phân tích Dupont cho chỉ tiêu ROA, ta thấy rằng tỉ số lợi nhuận trên tài sản của công ty tăng lên vào năm 2017. từ 7.81% lên 24.22% và sau đó giảm xuống còn 14.31% vào năm 2018. Nguyên nhân cho sự biến động được xác định là bởi 2 nhân tố chính là Vòng quay tổng tài sản (TAT) và Tỉ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS). Qua đó ta thấy rằng vào năm 2017, TAT và ROS của HbI đều cho thấy sự tăng lên đáng kể đạt lần lượt 2.31 vòng (tăng 18.37%) và 10.48% (tăng 162%) nên đã dẫn đến sự tăng lên đến 210.15% của tỉ số lợi nhuận trên tài sản. Điều này cho thấy rằng trong năm này, việc mở rộng quy mô, sản xuất được n iều àng hóa hơn, cũng như việc chi mua, quản lí thêm một lượng lớn tài sản của DN đã có những hiệu quả nhất định khi nó góp phần làm tăng Doanh thu thuần, LNST. Ngược lại vào năm 2018, trong khi ROS giảm xuống 6.39% (tức giảm 39.01%) thì nhân tố TAT cũng đồng thời giảm nhẹ xuống 2.24% (tức giảm 3.14%) khiến cho ROA giảm 40.93% so với năm 2017. Chính vì trong năm 2018 công ty đã không quản lí tốt chi phí của mình, dẫn đến LNST bị ảnh hưởng và đồng thời việc chi mua cho tài sản lại không kịp thời điều chỉnh nên đã phần nào khiến cho TAT và ROS đồ g thời giảm, ảnh hưởng đến ROA.
Bảng 2.15. Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến chỉ tiêu ROA
Cụ thể hơn, dựa vảo bảng 2.14 thể hiện mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu ROA, ta cũng nhận ra rằng:
Vào năm 2017, chỉ tiêu ROA biến động tăng 16.41% so với năm 2016 phần lớn là do chịu sự tác động của nhân tố Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu ROS khi mà nhân ố này chênh lệch tăng 6.48% (tức tăng 162.02%) so với năm 2016. Chính ROS đã góp phần làm ROA tăng 14.98%. Bên cạnh đó sự tác động của Vòng quay tổng tài sản TAT cũ g đồng thời đóng góp 1.43% vào sự tăng trưởng của Tỉ số lợi nhuận trên tài sản. Ngược lại, vào năm 2018, chính ROS cũng là nhân tố quyết định đã làm giảm 9.15% trong tổng biến động giảm 9.91% của chỉ tiêu ROA so với năm 2017 trong khi TAT chỉ tác động làm giảm đi 0.76% trong tổng biến động giảm này. Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Sau khi phân tích Lợi nhuận trên tổng tài sản của công ty HbI giai đoạn 2016 – 2018 có thể thấy rằng việc biến động giảm của chỉ tiêu này vào năm 2018 chưa hẳn đã là xấu bởi vì hai DN cùng ngành là CTCP Dệt may Thành Công và Vinatex cũng chỉ đạt lần lượt 8.25% và 2.05% cho cùng chỉ tiêu [4]. Tuy nhiên, DN cũng cần phải có những biện pháp để quản lí lại việc chi mua, đầu tư tài sản của mình hoặc có biện pháp quản lí lại chi phí, góp phần làm cho tốc độ tăng trưởng của LNST bắt kịp với tốc độ tăng truởng của việc đầu tư tài sản, từ đó thúc đẩy tính hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của mình hơn.
Về tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu:
Chỉ tiêu ROE là một chỉ tiêu quan trọng đối với mỗi NĐT, mỗi cổ đông bởi vì họ dựa vào chỉ tiêu ày để làm căn cứ đưa ra các phân tích, quyết định góp vốn của họ. Để hiểu rõ hơn về chỉ tiêu này trong ba năm tại công ty HbI, dựa vào bảng phân tích Dupont ROE dưới đây ta thấy rằng chỉ tiêu ROE có sự biến động lên xuống trong cả 3 năm. Cụ thể vào năm 2016, chỉ tiêu ROE là thấp nhấp, đạt 11.35%. Sau đó, chỉ tiêu này có sự tăng t ưởng đột biến 274.57% so với năm trước, chạm mốc 42.5%. Điều này có nghĩa rằng cứ 100 đồng vốn CSH bỏ ra thì sẽ thu về được 42.5 đồng lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên vào năm 2018, chỉ tiêu này cho thấy sự giảm nhẹ 37% xuống còn 26.69%.
Bảng 2.16. Phân tích Dupont chỉ tiêu ROE của công ty HbI giai đoạn 2016 – 2018
Sự tăng lên đáng kể của ROE vào năm 2017 được xác định là do sự tăng lên của ROS, khi mà LNST của năm này có tốc độ tăng trưởng lớn hơn so với Doanh thu thuần. Bên cạnh đó, việc quản lí tốt tài sản trong năm này cũng đã phần nào làm cho khả năng sinh lợi đến từ vốn chủ sở hữu trở nên khá khả quan. Vào năm 2018, ROE lại có xu hướng giảm đi bởi vì năm này LNST giảm trong khi Doanh thu thuần tiếp tục tăng k iến cho ROS giảm đi đáng kể. Bên cạnh đó việc DN đầu tư nhiều vào tài sả hơ cũ g phần nào làm cho việc quản lí chúng trở nên khó khăn chính vì vậy mà so vớ năm 2017, năm nay DN đã có phần không quản lí tốt tài sản của mình, khiến cho số vòng quay tổng tài sản giảm.
Bảng 2.17. Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến chỉ tiêu ROE
Từ bảng 2.16 phân tích mức độ tác động của 3 nhân tố lên chỉ tiêu ROE, ta thấy rằng:
Tương tự như ROA, chỉ tiêu ROE bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi nhân tố ROS. Biến động tăng của ROE vào năm 2017 phần lớn là bởi vì chịu tác động đến từ sự tăng lên của ROS. Nhân tố này đã góp phần làm ROE tăng 26.28% so với năm 2016, trong khi TAT và FML có sự tác động đến ROE là khá xấp xỉ nhau, lần lượt là 2.52 và 2.36. Qua đó ta cũng nhận thấy rằng việc mở rộng quy mô sản xuất cũng như quản lí chi phí, tài sản của DN vào năm này thu được kết quả khá tốt khi mọi ảnh hưởng của các nhân tố đều là dương, tạo nên ảnh hưởng tốt cho ROE.
Tuy nhiên vào năm 2018, nhân tố ROS lại góp phần làm giảm 17.08% trong tổng biến động giảm là 15.08% của chỉ tiêu ROE bởi vì vào năm này, do quản lí chi phí không tốt nên LNST giảm trong khi Doanh thu thuần của DN lại tăng. Bên cạnh đó, ngoại trừ hệ số đòn bẩy tài chính FML cho thấy sự khả quan khi có mức độ ảnh hưởng là dương 2.69%, số vòng quay tổng tài sản cũng làm cho chỉ tiêu ROE giảm đi 1.42% bởi vì tốc độ tăng lên của Doanh thu thuần không theo kịp việc tăng lên trong đầu tư tài sản tại DN. Điều này cho thấy rằng DN đang phần nào quản lí tài sản chưa được tốt như năm 2017.
Sau khi tiến hành phân tích chỉ tiêu Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, ta hận thấy rằng mặc dù mỗi đồng vốn CSH bỏ ra đều đem lại lợi nhuận khá tốt cho NĐT, đặc biệt đem lại hơn 42 đồng vào năm 2017, tuy nhiên việc giảm đi lợi nhuận trên mỗi đồng vốn CSH vào năm 2018 cũng đáng để DN lưu tâm và tiến hành ải thiện, để quản lí tốt hơn chi phí cũng như hoạt động đầu tư tài sản, tạo điều kiện tối đa hóa lợi nhuận cho các NĐT.
2.3. Đánh giá chung về tình hình tài chính tại công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam Huế Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
2.3.1. Kết quả đạt được
Trong quá trình thực tập tại công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam Huế và quá trình phân tích BCTC tại công ty, tôi nhận thấy công ty có những ưu điểm sau:
Về tổ chức: Công ty có cơ cấu tổ chức hợp lí, các phòng ban đều có chức năng, nhiệm vụ riêng và luôn phấn đấu để hoàn thành chức trách của mình. Đồng thời giữa các phòng ban luôn có sự tương tác, giúp đỡ lẫn nhau, khiến cho quá trình vận hành tại công ty luôn diễn ra suôn sẻ, ít gặp sự cố. Mặc dù tiêu chí tổ chức tại công ty là duy trì một môi trường thoải mái, thúc đẩy sự sáng tạo, tuy nhiên mỗi nhân viên sản xuất, nhân viên quản lí đều chấp hành đúng quy định về giờ giấc, tác phong, cũng như quy định an toàn khi di chuyển xuống nhà máy. Bên cạnh đó, ban lãnh đạo luôn có sự quan tâm đặc biệt dành cho công nhân và nhân viên cũng như môi trường xung quanh nhà máy khi liên tục tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí và các hoạt động xã hội như làm từ thiện, trồng cây,…chính vì vậy luôn tạo sự gắn bó không những trong nội bộ DN mà còn với người dân sống trên địa bàn.
Về tài chính:
Về cấu trúc tài chính, công ty duy trì một cấu trúc tài chính hợp lí khi luôn có sự cân đối giữa NPT và vốn CSH. Điều này vừa không làm mất đi tính độc lập tự chủ ài chính nhưng đồng thời cũng vẫn tận dụng được lợi thế của đòn bẩy tài chính trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, sự cân đối giữa việc TSNH luôn được duy trì lớn hơn Nợ ngắn ạn c o thấy rằng DN sử dụng nợ đúng mục đích, từ đó ít gặp rủi ro về mặt tài chính.
Về kết quả HĐKD, Doanh thu của doanh nghiệp khá tốt khi đều có xu hướng tăng qua cả ba năm phân tích. Điều này nói lên rằng việc mở rộng quy mô sản xuất của DN nhận được sự ủng hộ đến từ phía khách hàng, giúp đảm bảo khả năng tiêu thụ hàng hóa. Ngoài ra, thu nhập khác chủ yếu đến từ việc thanh lí các phế liệu, phế phẩm cũng tăng trưởng đáng kể nghĩa là DN cũng đã chuẩn bị cho mình những phương án đầu tư hợp lí, tận dụng được nhiều cơ hội kinh doanh. Hai nhân tố trên giúp đảm bảo một nguồn tiền ổn định đến từ việc kinh doanh, càng nâng cao hơn tính tự chủ về mặt tài chính của công ty.
Tính thanh khoản cao thông qua phân tích các chỉ số về khả năng thanh toán của DN cũng là một ưu điểm nổi bật và một lần nữa chứng minh rằng HbI là một công ty có ít rủi ro về mặt tài chính. Những khoản nợ ngắn hạn của công ty luôn được đảm bảo bởi một nguồn tài sản có tính thanh khoản cao chính vì vậy mà DN sẽ không gặp khó khăn trong việc trả nợ.
Mặc dù có sự biến động qua cả ba năm nhưng nhìn chung, khả năng sinh lợi trên doanh thu, tài sản và vốn CSH của công ty là khá khả quan, chứng tỏ phương thức kinh doanh của công ty là đúng hướng và hợp lí, luôn đảm bảo việc trang trải đủ chi phí để có thu về lợi nhuận.
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
Bên cạnh những điểm mạnh nêu trên, qua việc phân tích BCTC tôi cũng nhận thấy được một số điểm tồn tại mà công ty nên cải thiện, tạo tiền đề cho việc phát triển hơn nữa trong tương lai.
Thứ nhất, đó chính là việc HTK luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng tài sản và chúng mất từ 1 tháng đến 1.5 tháng để có thể được xử lí hết. Nguyên nhân là bởi vì HbI Huế là một DN sản xuất, chủ yếu kinh doanh hàng May mặc. Một DN sản xuất thì hiển nhiên phải luôn có hàng hóa trong kho – một bộ phận của HTK – để đợi ngày xuất hàng và bày bán. Mặt khác, chính vì May mặc là một ngành có thị hiếu khách hàng t ay đổi liên tục cũng như nhu cầu biến động thất thường, do đó DN cần có một lượng hà g óa dự trữ nhất định để đề phòng nhu cầu tăng lên đột biến. Tuy nhiên, mặc dù phần lớn HTK tại DN đến từ hàng hóa từ chi nhánh Nam Kinh – Trung Quốc và dùng để dự trữ cho kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất tuy nhiên, đối với một doanh nghiệp sản xuất áp dụng phương pháp quản lý LEAN – là phương pháp quản lí sản xuất hiệu quả nhất theo quan điểm cạnh tranh về chi phí sản xuất, thời gian sản xuất thì việc để hàng hóa đứng yên, không sinh ra giá trị trên 1 tháng sẽ gây ra lãng phí chờ đợi, lãng phí lưu kho đồng thời tạo nên nhiều chi phí như: chi phí nhân công, c i phí k o bãi, chi phí bảo quản, chi phí cơ hội,…
Thứ hai, công ty cũng nên xem xét lại việc quản lí các loại chi phí như giá vốn hàng bán, chi phí tài chính, chi phí quản lí doanh nghiệp,…bởi vì chính sự gia tăng đáng kể của những chỉ tiêu này là nguyên nhân dẫn đến việc mặc dù có doanh thu thuần tốt, thế nhưng LNST của DN lại suy giảm trong năm 2018, dẫn đến việc khả năng sinh lợi của DN trong thời gian ày không được khả quan như năm 2017.
Cuối cùng là về việc đầu tư vào tài sản. Mặc dù việc gia tăng trong tài sản chứng tỏ quy mô của DN đang ngày càng mở rộng, đem lại nhiều cơ hội hơn so với quy mô trước đây tuy nhiên nếu sự tăng lên trong Doanh thu và LNST không bắt kịp với tốc độ của tài sản thì sẽ dẫn đến việc quản lí không hiệu quả, không tận dụng được hết năng suất, làm giảm khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng tài chính Cty Hanesbrands Việt Nam Huế
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện tài chính tại Cty Hanesbrands

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát về Cty Hanesbrands Việt Nam Huế