Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Quản trị rủi ro nhằm cân bằng lợi ích trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
1. Thực trạng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro tiềm ẩn nhiều nhất trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Đặc biệt trong môi trường kinh doanh quốc tế hiện nay, rủi ro tín dụng trở nên phức tạp và rất khó nhận diện cũng như kiểm soát. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Trước sức ép của sự biến động về lãi suất, thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán có những biến động mạnh trong những năm gần đây, tình hình rủi ro tín dụng vẫn luôn là một vấn đề làm đâu dầu những nhà quản trị ngân hàng TMCP Việt Nam. Tín dụng tăng trưởng quá nhanh, quá “nóng” kéo theo nguy cơ rủi ro cũng gia tăng ở mức đáng e ngại.
Chưa tính đến các tỷ lệ cân đối giữa tài sản và vốn vay, tỷ lệ giữa lãi suất cho vay dài hạn và lãi suất huy động ngắn hạn, chỉ cần nhìn vào tỷ lệ giữa vốn huy động và vốn cho vay, các chuyên gia tài chính đã giật mình vì tình trạng mất ổn định tín dụng quá cao mà các ngân hàng thương mại đã đặt mình vào. Một báo cáo mới nhất của ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP.HCM trong quý 1/2008 cho thấy tổng số vốn huy động của các ngân hàng là 518,5 nghìn tỉ đồng, và tổng vốn cho vay là 460 nghìn tỉ đồng. Vốn cho vay chiếm đến 88% tổng vốn huy động, một tỷ lệ rất cao theo đánh giá của các chuyên gia ngân hàng. Theo lý thuyết, các ngân hàng chỉ cho vay đến 75% của vốn huy động là tối đa.
Một tình trạng khác của hệ thống ngân hàng, cũng rất đáng lo ngại mà chưa kiểm soát được, là cân đối giữa tài sản và vốn vay, hay là tình trạng lấy ngắn nuôi dài. Việc lãi suất tăng vọt trong thời gian vừa qua khiến cho hầu hết các ngân hàng đều đối mặt với tình trạng tỷ lệ lãi suất cho vay dài hạn thấp hơn tỷ lệ lãi suất huy động. Do sức ép thanh khoản, các ngân hàng đã phải nâng lãi suất cho vay lên tới 18%, trong khi lãi suất huy động lên tới 14%. Thế nhưng rất nhiều ngân hàng đang kẹt với những khoản cho vay dài hạn từ trước với lãi suất thấp hơn hẳn(8)
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
2.1.Tình hình thực hiện các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng.
Như đã trình bày ở chương I, khi các NH TMCP thực hiện công tác quản trị rủi ro tín cần tuân thủ đúng các 7 nguyên tắc để đảm bảo cho một khoản tín dụng lành mạnh và hiệu quả. Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng thực hiện được đầy đủ các nguyên tắc đó khi tiến hành quản tri rủi ro tín dụng.
2.1.1. Việc thực hiện các quy chế cho vay
Cho vay là hoạt động mang tính đặc trưng và thường xuyên nhất cho hoạt động của NH TMCP. Các văn bản pháp luật quy định về hoạt động cho vay đã được Chính phủ và NHNN ban hành và sử đổi bở sung trong nhiều năm qua. Bên cạnh Pháp lệnh ngân hàng và luật các TCTD, các quy chế cho vay còn được quy định trong các văn bản sau:
- Chỉ thị số 02/2005/CT-NHNN ngày 2044/2005 yêu cầu các NH thương mại tuân thủ đúng các quy định về cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu, bao thanh toán và bảo đảm tiền vay, đảm bảo tăng trưởng tài sản phù hợp với khả năng huy động vốn, đảm bảo cồn tác quản trị rủi ro, kiểm tra, kiểm soát nội bộ.
- Quyết định 783/2005/QĐ- NHNN ngày 31/5/2005 của thống đốc NH Nhà nước sửa đổi, bổ sung quy chế cho vay của NHTM đối với khách hàng. Các nội dung được sửa đổi quy định theo hướng trao quyền phán quyết, hoặc tạo cơ sở pháp lý cho TCTD chủ động thực hiện theo đặc thù kinh doanh. Ví dụ: Việc cơ cấu lại thời hạn trả nự là do NHTM tự xem xét, quyết định trên cơ sở khả năng tài chính của mình và kết quả đánh giá khả năng tài chính của khách hàng.
- Quyết định 457/2005/QĐ- NHNN ngày 19/4/2005 của thống đốc NH Nhà nước ban hàng quy định về các tỷ lệ an toàn trong hoạt động của NHTM.
- Theo nguồn tin từ Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
- Quyết định 493/2005 ngày 22/4/2005 của thống đốc NH Nhà nước ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động NH của NHTM.
Nhìn chung, các NH TMCP Việt Nam đều nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện các quy chế cho vay theo đúng các nguyên tắc đã được quy định.
Điều đó một mặt góp phần gia tăng độ an toàn cho hoạt động tín dụng ngân hàng, mặt khác làm lành mạnh hóa hoạt động tín dụng, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Mặc dù với mỗi ngân hàng điều kiện để áp dụng và thực hiện các quy định này không hoàn toàn giống nhau, một ngân hàng có thể thực hiện tốt quy chế này song lại khó khăn ở một quy chế khác; Song, các NH TMCP đều đã áp dụng và phần nào củng cố tính hệ thống cho hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Chính phủ và NHNN trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô hoạt động ngân hàng, góp phần nâng cao tính cạnh tranh cho các ngân hàng thương mại Việt Nam .
Tuy nhiên, việc thực hịên các quy chế cho vay tại các NH TMCP trên thực tế vẫn bộc lộ những mặt yếu kém nhất định. Cụ thể:
- Tính mục đích và hiệu quả trong hồ sơ tín dụng chưa được quan tâm một cách thích đang. Vì vậy trong nhiều hợp đồng tín dụng hoặc khế ước vay vốn, CBTD chỉ ghi chung chung: “Bổ sung vốn kinh doanh”. Trong khi đó người vay vốn không có đăng kí kinh doanh, không có phương án kinh doanh hoặc phương án sản xuất hoặc phương án sản xuất kinh doanh hoặc phương án sản xuất kinh doanh qua loa, đại khái, thậm chí không có tính thực tế và còn nhiều sai lệch trong tính toán.
- Cho vay sai đối tượng, dùng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn. Tình trạng dùng vốn ngắn hạn cho vay xây dựng khách sạn, nhà hàng, mua sắm phương tiện vận tải,… diễn ra khá phổ biến, dẫn đến hầu hết các món vay này phải gia hạn nợ hoặc bị thất thoát.
- Hầu hết các NH đều có hiện tượng lãi chưa thu với số lượng ngày càng tăng. Hơn nữa một phần lãi treo không được các NH hạch toán ngoại bảng nên số lượng thực tế sẽ còn cao hơn nữa.
Tại một số NH, có nhiều trường hợp vừa cho công ty vay, vừa cho cá nhân, giám đốc công ty hoặc thành viên công ty (theo dạng thể nhân). Do đó tuy các khế ước đứng tên khác nhau nhưng thực chất tiền cho vay được tập trung vào một đơn vị để đầu tư vào một dự án.
Hầu hết các NHTM đều có quy định về quy trình tín dụng. Song quy định cụ thể của từng NH có vai trò giảm rủi ro hay không, hoặc CBTD của NH có tuân thủ câc bước của quy trình tín dụng hay không lại là một vấn đề phải được xem xét. ở một số nơi, CBTD chưa thật sự có trách nhiệm trong công việc, tâm lý giải ngân xong là xong việc còn rất phổ biến; cho nên việc kiểm tra, giám sát sau khi cho vay lỏng lẻo. Thể hiện trong hồ sơ tín dụng không có các biên bản làm việc hoặc phiếu kiểm tra khách hàng sử dụng vốn vay, không có các báo cáo định kì về tình hình tài chính, chu chuyển vốn,… của các doanh nghiệp nên việc định giá hiệu quả sử dụng vốn vay bị hạn chế dẫn đến tính trạng khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích và kết quả là món nợ quá hạn. Hơn nữa, vai trò quản lý, giám sát việc thực hiện quy trính tín dụng của các cán bộ lãnh đạo các cấp mờ nhạt, chưa sát thực,…
2.1.2. Hoạt động mở rộng quy mô tín dụng Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Mặc dù mức tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã được kiềm chế lại trong những năm trước, giảm xuống còn 25% trong năm 2006. Tuy nhiên, từ đầu năm 2007 trở lại đây, mức tăng trưởng tín dụng lại gia tăng quá nhanh, đạt mức trung bình là 40% tính đến tháng 8 năm 2007. Trong đó, tín dụng của các NH TMCP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tăng cao nhất tới mức 77% tính đến tháng 8 năm 2007(9).
Tổng tài sản ngày càng tăng nhưng khả năng thanh toán của các ngân hàng tăng không tương ứng. Kể từ năm 2007 đến nay, quy mô tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần tăng cao chưa từng thấy. Khu vực các ngân hàng thương mại cổ phần ở địa bàn Hà Nội năm 2007 có dư nợ tín dụng tăng 125,6% so với năm 2006, cao gấp trên 5 lần tốc độ tăng của khu vực các ngân hàng thương mại nhà
Tín dụng Việt Nam tăng trưởng quá cao, Bản tin ngân hàng ngày 15/12/2007,Thời báo Tài chính Hà Nội nước. Khu vực các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP.HCM tháng 12.2007 tăng 14,2%, tháng 1.2008 tăng tiếp 13,2%. Đây là một trong những yếu tố góp phần làm tăng sức ép lạm phát vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008.
Mặc dù ngân hàng là kênh cung ứng vốn hàng đầu cho nền kinh tế, nhưng sự tăng trưởng tín dụng quá cao và quá nhanh cũng đồng nghĩa với rủi ro tăng lên trong khi việc quản trị điều hành ngân hàng chưa theo kịp, chất lượng tín dụng vẫn để ngỏ. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Tình trạng vay từ các tổ chức tín dụng khác (là nguồn chỉ để bù đắp thiếu hụt tạm thời khả năng thanh khoản) để cho khách hàng vay đã diễn ra khá phổ biến và đối với một số ngân hàng đã có quy mô rất lớn. Có ngân hàng trong tổng số dư nợ cho vay, thì có đến 50% là từ nguồn vay trên thị trường liên ngân hàng. Có đến gần 60% số ngân hàng thương mại cổ phần có hội sở chính trên địa bàn TP.HCM có tỷ lệ dư nợ so với số vốn huy động tiền gửi tổ chức kinh tế và dân cư trên 100%. Đáng lưu ý, tỷ lệ đó của 6 ngân hàng đã lên đến từ 130% trở lên, trong đó ngân hàng có tỷ lệ cao nhất lên đến 267%. Điều đó giải thích tại sao lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đã “phi mã” lên mức rất cao và một số ngân hàng đi vay vẫn phải chấp nhận10
Tình trạng dùng quá nhiều vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn diễn ra khá phổ biến. Sự mất cân đối giữa thời hạn của các khoản tiền huy động với thời hạn các khoản cho vay ngày càng lớn, trái với tiêu chuẩn và nguyên tắc tín dụng trong kinh tế thị trường.
Yếu kém nổi bật là cơ cấu dư nợ tín dụng của nhiều ngân hàng thương mại cổ phần không bền vững, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Một lượng vốn không nhỏ các ngân hàng cổ phần không được các nhà đầu tư dùng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh phục vụ tăng trưởng kinh tế, mà lại đổ vào các lĩnh vực phi sản xuất, như thị trường chứng khoán thứ cấp (các nhà đầu tư mua/bán với nhau); thị trường bất động sản (trong đó có không ít nhà đầu tư theo kiểu đầu cơ mua đi bán lại); tiêu dùng (có không ít người tiêu dùng vượt quá khả năng làm ra); vàng (cũng có không ít người
Theo Việt Báo mua đi bán lại)… Những lĩnh vực trên năm qua có quá nhiều biến động bất thường, tiềm ẩn rủi ro lớn.
Với một mức tăng trưởng tín dụng tăng cao nhưng lại không dựa trên cơ sở nâng cao chất lượng các khoản cho vay, điều này là một thực tế đang lo ngại cho các NH TMCP Việt Nam.
2.1.3. Công tác quản lý nợ quá hạn, nợ khó đòi, các khoản nợ
NHTM là doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh tiền tệ, là người “đi vay để cho vay”. Do đó quản lý nợ là một trong những nhân tố cực kì quan trọng. Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì các quan hệ tín dụng càng trở nên đa dạng. Sự phát sinh nợ là một yếu tố tất nhiên trong hoạt động kinh doanh, trông đó bao gồm cả tín dụng NH và tín dụng thương mại.
NH TMCP là người cung cấp tín dụng cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong xã hội, do đó các NH phải đối mặt với mức độ rủi ro rất cao, trong đó rủi ro về tổn thất nợ khố đòi là một trong những nhân tố cần được kiểm soát chặt chẽ. Trong nhiều trường hợp, vòng xoáy của tổn thất nợ đọng giữa các doanh nghiệp có xu hướng đổ dồn về NH thương mại- đó là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm, xét cả trên bình diện của mỗi NH cũng như trên bình diện vĩ mô của nền kinh tế. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Tình trạng nợ khó đòi và “nợ nần dây dưa” trong thời gian gần đây đã được giới chuyên môn cảnh báo nhưng hầu như bài toán hoc búa này vẫn chưa có lời giải cuối cùng và sự gia tăng nợ xấu trong các NH vẫn đang tiếp diễn. Có rất nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng tài chính suy yếu với một nguyên nhân khá phổ biến là doanh nghiệp phải vay NH quá mức trong khi vốn của doanh nghiệp lại bị chiếm dụng, các công trình thi công không được thanh toán đúng hạn.
Năm 2006, Khối ngân hàng TMCP có tỷ lệ tăng dư nợ tín dụng lớn nhất (211% dư nợ VND và 128% dư nợ USD) trong toàn hệ thống ngân hàng với tổng giá trị dư nợ VND là 91.942 tỷ đồng, dư nợ USD là 1.363 triệu USD.
Để đảm bảo an toàn nguồn vốn, các NH trên thê giới thường đòi hỏi các khoản tín dụng phải có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo hiểm tín dụng hoặc được người thứ ba bảo lãnh. Tại Việt Nam, việc người thứ ba bảo lãnh ít được thực hiện vì không đủ khả năng tài chính nên hình thức đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố tài sản để vay vốn NH phổ biến nhất. Trong số các tài sản dùng làm đảm bảo thì bất động sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng giá trị. Các động sản như ô tô, xe máy, thiết bị máy móc, hàng hoá,… chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ vì các NH không có kho bảo quản, còn nếu vẫn để khách hàng sử dụng thì mức độ rủi ro rất cao. Khi khách hàng không trả được nợ do phá sản, chủ đích lừa đảo,… thì NH buộc phải xiết nợ tài sản thế chấp. Tuy nhiên, các NH đã gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện biện pháp tình thế này do nhiều nguyên nhân khác nhau như không đủ văn bản pháp lý cần thiết đê hướng dẫn, thị trường bất động sản đóng băng, tâm lý không muốn mua nhà bị xiết nợ,… Do đó, dù là cho vay có đảm bảo nhưng các NH vẫn phải đối đầu với TTTD khá lớn.
Khi NH không thể thu hồi được khoản tín dụng đã cấp thì buộc phải xoá nợ và ghi lỗ cho khoản tín dụng này. Tuy nhiên, từ năm 1998 trở về trước, các NHTM chưa được trích chi phí dự phòng để bù đắp rủi ro mà mới chỉ được trích 10% lợi nhuận sau thuế để lập quỹ dự trữ. Từ năm 1999, các NH mới được trích dự phòng từ chi phí theo quyết định 488/1999/QĐ-NHNN đến nay đã được sửa đổi bổ sung theo quyết định số 493/2005 ngày 22/4/2005. Theo báo cáo của các NHTMCP, số dự phòng mới chỉ hơn 10% tổng số nợ khó đòi, nợ khoanh và nợ chờ xử lý. Vì vậy, nếu đưa các khoản nợ khó đòi này vào kết quả kinh doanh theo đúng thông lệ quốc tế thì nhiều NH vẫn bị lỗ lớn trong nhiều năm tới. Tình hình này đang thực sự đe doạ tới sự an toàn của mỗi một NH cũng như toàn hệ thống.
2.2. Các biện pháp quản trị rủi ro tín dụng nhằm cân bằng lợi ích.
Như ở chương I đã chỉ ra, hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại các NH TMCP Việt Nam bao gồm 3 nội dung cơ bản:
- Nhận dạng- phân tích- đo lường rủi ro tín dụng.
- Kiểm soát-ngăn ngừa rủi ro tín dụng.
- Tài trợ rủi ro khi nó xuất hiện tín dụng.
Tuy nhiên trên thực tế, không phải tất cả các NH TMCP đều thực hiện đầy đủ cac nội dung quản trị rủi ro tín dụng nói trên. Điều này phụ thuộc vào nhận thức, khả năng tài chính của ngân hàng và đặc điểm tình hình của ngân hàng( quy mô hoạt động, môi trường hoạt động,…)
2.2.1. Công tác nhận diện- phân tích-đo lường rủi ro. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Nhận diện rủi ro tín dụng là công việc đầu tiên phải thực hiện để tiến hành quản trị loại rủi ro này. Các NH TMCP ở các mức độ khác nhau đã quan tâm đến việc nhận diện- phân tích và đo lường rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Việc nhận diện và phân tích rủi ro:
Các NH TMCP đã áp dụng phương pháp nhận diện rủi ro tín dụng dựa vào hệ thống cảnh báo rủi ro tín dụng xây dựng áp dụng chung cho cả hệ thống NHTM. Các dấu hiệu cảnh báo rủi ro tín dụng được xếp vào các nhóm như sau:
Nhóm 1: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng:
Trong quá trình hạch toán của khách hàng,xu hươngg của các tài khoản của khách hàng qua một quá trình sẽ cung cấp cho ngân hàng một số dấu hiệu quan trọng gồm: Phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối; Khó khăn trong thanh toán lương; Sự dao động của các tài khoản mà đặc biệt là giảm sút số dư tài khoản tiền gửi; Tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản; Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác nhau; Không có khả năng thực hiện các nghiệp vụ cắt giảm chi phí; Gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn.
Các hoạt động cho vay: Mức độ vay thường xuyên gia tăng; Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi; Thường yêu cầu ngân hàng cho đáo hạn; Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến.
Phương thức tài chính: Sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển dài hạn; Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất; Giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu; Các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu; Có biểu hiện g iảm vốn điều lệ. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Nhóm 2: Nhóm các dấu hiệu liên quan tới phương pháp quản lý của khách hàng:
- Thay đổi thường xuyên cơ cấu hệ thống quản trị hoặc ban điều hành.
- Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, quản trị, điều hành độc đoán hoặc ngược lại quá phân tán.
Việc lập kế hoạch những người kế cận không đầy đủ.
- Quản lý có tính gia đình.
- Có tranh chấp trong quá trình quản lý.
- Có các chi phí quản lý bất hợp lý.
Nhóm 3: Nhóm các dấu hiệu liên quan tới các ưu tiên trong kinh doanh – Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn.
- Dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp.
- Sự cấp bách không thích hợp.
Nhóm 4: Nhóm các dấu hiệu thuộc vấn đề kĩ thuật và thương mại, biểu hiện:
- Khó khăn trong phát triển sản phẩm.
- Thay đổi trên thị trường.
- Những thay đổi từ chính sách của Nhà nước.
- Sản phẩm của khách hàng manh tính thời vụ cao.
- Có biểu hiện cắt giảm các chi phí sửa chữa, thay thế.
Nhóm 5: Nhóm các dấu hiệu về xử lý thông tin về tài chính, kế toán:
- Chuẩn bị không đày đủ số liệu tài chính hoặc chậm trễ, trì hoãn nộp báo cáo tài chính.
- Những dấu hiệu phi tài chính khác.
Dựa vào việc nhận diện các rủi ro tín dụng thông qua các dấu hiệu cảnh báo như vậy, các NH TMP có thể đưa ra các phân tích, đánh giá về khả năng rủi ro của khoán tín dụng. Bằng việc sử dụng phương pháp này, các NH đã phần nào nhận diện được rủi ro tín dụng kịp thời để có biện pháp kiểm soát, góp phần giảm thiểu một phần tổn thất cho ngân hàng.
Việc đo lường rủi ro tín dụng
Hiện nay, các NH TMCP Việt Nam vẫn chưa xây dựng được hệ thống đo lường rủi ro tín dụng hiệu quả và có khả năng áp dụng rộng rãi. Sự bất cập về công nghệ thông tin và năng lực làm việc trong công tác đo lường rủi ro tín dụng đã giới hạn hiệu quả áp dụng các phương pháp đo lường RRTD hiện đại vào các NH TMCP Việt Nam hiện nay. Các NH TMCP phần lớn đã triển khai áp dụng “phương pháp dựa trên đánh giá nội bộ” để đo lường RRTD. Hai nội dung được triển khai là “xếp hạng tín dụng đối với doanh nhiệp lớn” và “chấm điểm tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Tuy nhiên, hệ thống xếp hạng theo hiệp ước Basel II khi áp dụng tại Việt Nam chưa phát huy được hết hiệu quả bởi vì các điều kiện công nghệ và nhân lực của Việt Nam chưa đầy đủ.
2.2.2. Công tác kiểm soát- ngăn ngừa rủi ro tín dụng Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Trên cơ sở những rủi ro tín dụng đã nhận dạng và đo lường được, NH TMCP có thể thực hiện các biện pháp để kiểm soát- phòng ngừa các rủi ro đó. Muốn vậy, các ngân hàng có thể sử dụng rất nhiều phương pháp, công cụ để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra cho ngân hàng.
Các biện pháp né tránh rủi ro.
Các biện pháp này thường được áp dụng khi ban lãnh đạo cho rằng những rủi ro tín dụng có thể xảy ra là không thể chấp nhận được. Khi đó, ngân hàng sẽ quyết định không cho vay, hoặc không đầu tư hoặc trì hoãn cho đến một thời điểm thích hợp hơn hay cho vay những đối tượng ít rủi ro hơn. Thực tế cho thấy hầu hết các NH TMCP đều sử dụng biện pháp né tránh rủi ro trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của mình. Điều đó cũng có nghĩa là ngân hàng có thể đã bỏ qua những hợp đồng tín dụng mang lại cơ hội phát triển cho mình. Các ngân hàng cần có sự xác nhận rủi ro tín dụng nào là không thể chấp nhận được, cần phải né tránh và nên kết hợp với các hoạt động khác hoặc chỉ thực hiện trong một số trường hợp nhất định.
Các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro.
Trên thực tế, ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro tín dụng là những hoạt động quản trị rủi ro chủ yếu trong hoạt động tín dụng của các NH TMCP hiện nay. Các ngân hàng đã áp dụng nhiều biện pháp để ngăn ngừa giảm thiểu rủi ro như quan tâm đến việc ngăn ngừa để giảm thiểu rủi ro tín dụng, tiến hành điều tra thị trường.…
Nếu như các ngân hàng TMCP lớn chủ động thực hiện các phương pháp kiểm soát rủi ro, thì các Ngân hàng nhỏ hơn chủ yếu sử dụng phương pháp hợp tác. Phương pháp này được các NH TMCP Việt Nam áp dụng khá phổ biến với việc huy động những nguồn tín dụng trung dài hạn với các khách hàng lớn.
2.2.3. Tài trợ rủi ro.
Chầp nhận ruỉ ro và lập quỹ dự phòng cho những rủi ro xảy ra, chia sẻ và chuyển giao rủi ro.
Trong nhiều trường hợp, các Ngân hàng không thể né tránh mà phải chấp nhận rằng kinh doanh đầy rủi ro. Khi chấp nhận rủi ro, các ngân hàng đã lập quỹ dự phòng để khắc phục những hậu quả, tổn thất nếu rủi ro xảy ra. Nhiều ngân hàng giữ lại rủi ro tín dụng bằng cách bằng cách kiểm soát những biến số biến động thay vì xem chúng là những rào cản trong hoạt động của mình.
3. Tình hình thực hiện mục tiêu cân bằng lợi ích. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
3.1. Cân bằng lợi ích giữa hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của NH TMCP
Tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng.Tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của cá NHTMCP nhưng rủi ro lớn, hiệu quả đạt được không tương xứng với mức độ rủi ro thực tế đã và đang tiếp tục là nguyên nhân tạo ra nguy cơ đe dọa an toàn hoạt động của các NH TMCP. Cấp tín dụng là hoạt động tạo ra trên 80% tổng thu nhập, trong khi đó thu ngoài lãi (dịch vụ, phí, lãi kinh doanh ngoại hối và đàu tư …) còn rất thấp.
Trong khi đó, các hoạt động kinh doanh khác như mua bán ngoại tệ, cung cấp các tài khoán giao dịch và thực hiện thanh toán, quản lý ngân quỹ, Tài trợ các hoạt động của chính phủ, Bảo lãnh, Cho thuê thiết bị trung và dài hạn, Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn, Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chúng khoán, Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, Cung cấp các dịch vụ đại lý…; Và các hoạt động trong thương mại quốc tế (thanh toán quốc tế,tài trợ ngoại thương, kinh doanh ngoại tệ, đầu tư quốc tế) mặc dù có những phát triển nhất định song vẫn chưa thể gia tăng được thị phần của mình trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Các Ngân hàng vẫn chú trọng quá nhiều đến kinh doanh tín dụng và đẩy thị phần tín dụng ngày càng lớn, dẫn đến sự chênh lệch ngày rõ nét giữa lợi nhuận mà tín dụng mang lại cho ngân hàng và lợi nhuận từ các hoạt động khác. Vai trò của hoạt động tín dụng ngày càng trở nên quan trọng, thì sự chênh lệch đó càng rõ nét hơn. Điều đó có nghĩa là các ngân hàng chưa thực sự chú tâm đến vấn đề CBLI trong hoạt động của mình, vẫn duy trì lối kinh doanh theo kiểu “xếp trứng cả vào một giỏ”. Nguy cơ mất cân bằng như vậy không phải là một điều kiện tốt để các ngân hàng hướng đến phát triển bền vững.
3.2. Cân bằng lợi ích trong mối quan hệ giữa ngân hàng với 2 chủ thể: khách hàng và nền kinh tế
Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động tài chính ngân hàng trở nên sôi động và đã có những bước phát triển mạnh, đặc biệt là sự bùng nổ hoạt động của các NH TMCP. Sự phát triển mạnh mẽ của khối ngân hàng này đã góp phần rất lớn vào sự phát triển chung của nền kinh tế thông qua nghiệp vụ cung ứng vốn cho các chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Lượng tiền cung cấp cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội tăng lên đột biến với quy mô tín dụng tăng với tốc độ rất cao . Điều này có nghĩa là không những khoản lợi nhuận thu về và uy tín cho các NH TMCP không ngừng được nâng cao; các cá nhân và tổ chức trong xã hội ở vị trí người đi vay tiền ngân hàng hay ở vị trí người gửi tìên vào ngân hàng cũng là những chủ thể được thụ hưởng lợi ích lớn hơn do hoạt động tín dụng mang lại. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Lợi ích được gia tăng nhưng tình trạng không ổn định vẫn luôn là mối đe doạ lớn đối với ngân hàng, đối với lợi ích của nền kinh tế và khách hàng. Công tác quản trị rủi ro nhằm thực hiện mục tiêu CBLI đã góp phần tạo cơ sở thực tế vững chắc hơn cho ngân hàng tiến tới phát triển bền vững. Những thành tích của công tác quản trị rủi ro đạt được tuy còn khiêm tốn nhưng đã phần nào thúc đẩy thực hiện mục tiêu CBLI, góp phần bảo vệ lợi ích cho các chủ thể tham gia vào quan hệ tín dụng ngân hàng.
Tuy nhiên, thực trạng công tác quản trị RRTD như đã trình bày ở trên còn bộc lộ nhiều yếu kém. Thành tích đạt được còn quá ít trong khi những hạn chế thì quá nhiều, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của ngân hàng, của khách hàng và của nền kinh tế- ba chủ thể có mối quan hệ lợi ích với nhau và chịu ảnh hưởng từ kết quả của công tác quản trị RRTD. Quản trị RRTD chưa tốt là nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc không đảm bảo an toàn cho những lợi ích mà ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế nói chung đáng lẽ được hưởng. Điều này có thể thấy rất rõ trên thực tế. Quản trị RRTD không đạt hiệu quả cao tức là ngân hàng phải gánh chịu hậu quả do RRTD gây ra. Ngân hàng chịu tổn thất thiệt hại về tài sản hoặc thu nhập, tức là lợi ích đã bị giảm đi một phần. Hoạt động ngân hàng kém hiệu quả ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng cung ứng vốn và thực hiện các chức năng khác đối với nền kinh tế của NH TMCP như: chức năng tạo phương tiện thanh toán, chức năng trung gian tài chính, chức năng tạo tiền, chức năng trung gian thanh toán. Khi các chức năng này giảm sút về chất lượng, tất yếu sẽ ảnh hưởng xấu đến sự vận hành phát triển của nền kinh tế, thế hiện ở việc lưu thông tiền tệ bị gián đoạn, các giao dịch hàng hóa gặp khó khăn trong thanh toán, các doanh nghiệp mất đi cơ hội vay vốn từ ngân hàng để thực hiện sản xuất, kinh doanh. Nền kinh tế do đó chịu hậu của nặng nề nhất, không những không thể phát triển mà còn phải đối mặt với nguy cơ lạm phát, kinh tế phát triển không ổn định,… Đối với khách hàng của ngân hàng, khi lợi ích của ngân hàng bị tổn thất, hoặc là khách hàng sẽ mất đi cơ hội vay vốn hoặc là khoản tiền lãi bị đe dọa. Điều này dẫn đến tâm lí lo ngại và nghiêm trọng hơn sẽ xảy ra tình trạng đi rút tiền gửi hàng loạt. Đây thực sự là một nguy cơ rất lớn cho hoạt động ngân hàng.
4. Đánh giá chung công tác quản trị RRTD nhằm thực hiện mục tiêu Cân bằng lợi ích của các nh tmcp việt nam. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
4.1. Các kết quả đã đạt được.
Công tác quản trị rủi ro nhằm CBLI trong hoạt động tín dụng của các NH TMCP Việt Nam hiện nay đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận sau đây:
4.1.1.Các NH TMCP đã nhận thức được tầm quan trọng của quản trị RRTD nhằm cân bằng lợi ích
Trong nhiều năm trở lại đây, do đánh giá đúng tác động của RRTD đến hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung nên các NH TMCP ở các mức độ khác nhau đã thực sự chú ý đến hoạt động quản trị RRTD. Mục tiêu cân bằng lợi ích cũng dần thu hút được sự quan tâm chú ý của ban lãnh đạo ngân hàng bởi vì bất cứ một NH TMCP nào cũng đặt ra mục tiêu lớn là phát triển bền vững; và các nhà lãnh đạo ngân hàng hơn ai hết đã nhận thức được tầm quan trong vủa vấn đề “lợi ích” trong hoạt đông kinh doanh. Chỉ khi lợi ích của các chủ thể được cân bằng trong mối quan hệ giữa họ thì mới có thể duy trì mối quan hệ lâu dài để cùng nhau phát triển tiến tới phát triển bềng vững. Vì thế, các nhà lãnh đạo ngân hàng đã có quan tâm nhất định với vấn đề cân bằng lợi ích và nhận thức được mối quan hệ quản trị rủi ro nhằm cân bằng lợi ích.
Quản trị RRTD đã dần trở thành một hoạt động thường xuyên. Mỗi NH TMCP có cách thưc quản lý RRTD riêng, song một điều đáng ghi nhận là tất cả các NH TMCP đã tìm mọi cách trong khả năng có thể của mình để đề phòng, hạn chế và kiểm soát RRTD. Phương pháp nhận diện và đo lường rủi ro của nhiều NH TMCP đã thay đổi theo hướng tích cực, thay vì chỉ xác định rủi ro theo cảm nhận chủ quan trước đây, thì nay, họ đã từng bước xây dựng những quy tắc, cách thức phân tích, kiểm soát mới mang tính khoa học và logic. Nhiều NH TMCP đã thành lập riêng Bộ phận quản trị rủi ro như Techcombank, Military bank, Maritime bank, PG bank,… Bộ phận này hoạt động với chức năng nhận diện, kiểm soát và xử lý rủi ro; trong đó có bao gồm RRTD. Trong báo cáo thường niên của các NH TMCP, luôn có báo cáo công tác quản trị rủi ro và định hướng phát triển công tác quản trị rủi ro trong những chu kì kinh tế tiêp theo. Điều đó chứng tỏ sự nhận thức của các NH TMCP về tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro, đặc biết đối với rủi ro tín dụng.
Các NH TMCP đã chủ động thực hiện các biện pháp quản trị RRTD nhằm hạn chế những tổn thất cho ngân hàng của mình. Một số biện pháp đã thực hiện như trích lập dự phòng RRTD với tỷ lệ hợp lý nhằm giảm thiểu những hậu quả mà RRTD có thể gây ra; phân tán rủi ro bằng việc đầu tư vào nhiều loại hình tín dụng khác nhau và các nghiệp vụ kinh doanh khác hoặc kết hợp với TCTD khác cùng cho vay một đối tượng khách hàng; Nhiều NH TMCP đã thiết lập quan hệ với CIC và các ngân hàng khác trao đổi thông tin trước khi ra quyết định cho vay để giảm thiểu khả năng xảy ra RRTD, một số NH TMCP bắt tay với DATC để giải quyết những khoản nợ xấu;…
4.1.2. Đã áp dụng phương pháp mới và công cụ tiên tiến vào việc xây dựng mô hình quản trị RRTD Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Trong thời gian gần đây, đã có một sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu tổ chức bộ máy và quy trình cấp tín dụng của một số NH TMCP Việt Nam. Những thay đổi cơ bản trong mô hình quản lý RRTD đang được các NH TMCP áp dụng là:
- Hoàn thiện bộ máy quản trị RRTD từ Hội sở chính đến các chi nhánh với sự phân cấp rõ ràng về mức phán quyết, chức năng nhiệm cụ của từng bộ phận, đồng thời xây dựng các chính sách quản lý RRTD, chính sách phân bổ tín dụng, chính sách khách hàng, xây dựng danh mục đầu tư,…
- Chuyển đổi mô hình quản lý theo chiều ngang sang mô hình quản lý theo chiều dọc. Theo mô hình này, các nghiệp vụ kinh doanh chính, trong đó hoạt động cấp tín dụng được quản lý tập trung tại Hội sở chính, các chi nhánh chủ yếu làm chức năng bán hàng.
- Phân tách bộ phận tín dụng thành các bộ phận chuyên môn khác nhau như quan hệ khách hàng (tập trung chủ yếu vào hoạt động tiếp thị, tiếp xúc khách hàng, khởi tạo tín dụng), bộ phận quản lý RRTD (thực hiện thẩm định tín dụng độc lập và ra các ý kiến về cấp tín dụng cũng như giám sát qua trình thực hiện các quyết định tín dụng của bộ phận quan hệ khách hàng), bộ phận tác nghiệp (thực hiện lưu trữ hồ sơ, nhập hệ thống máy tính và quản lý khoản vay,…)Một số NH TMCP như ACB, VIB, VPB, SCB,… đã và đang tiến hành cơ cấu lại bộ máy kinh doanh tín dụng theo hướng này để phân định rõ chức năng đề xuất và thẩm định tín dụng nhằm đảm bảo tính khách quan trong hoạt động cấp tín dụng. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Mặc dù có nhiều trở ngại trong triển khai thực hiện mô hình quản lý RRTD nhưng không thể phủ nhận được những ưu điểm của mô hình mới này mang lại trong quản trị rủi ro bởi đã thực hiện sự tách bạch giữa bộ phận tiếp thị và bộ phận thẩm định giúp cho các quyết định cho vay mang tính khách quan hơn, cũng như nhờ sự chuyên môn hóa sâu hơn theo chức năng mà việc thực hiện phân tích và phản biện tín dụng sâu sắc và chinh xác hơn, giúp nhận diện các rủi ro tiềm năng và có các biện pháp phòng ngừa thích hợp,… Thêm vào đó, chính sự giám sát của bộ phận quản lý rủi ro đối với quan hệ khách hàng trong quá trình thực hiện các quyết định cấp tín dụng đã tạo nên cơ chế kiểm tra và giám sát liên tục, song song trong quá trình cho vay, phát hiện và giảm thiểu được những rủi ro sau khi cho vay.
Bên cạnh đó, nhiều NH TMCP đang xúc tiến việc xây dung cơ sở công nghệ thông tin và nhân lực để tiến tới thực hiện quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế. Đầu năm 2008, Military bank đã trở thành NH TMCP đầu tiên của Việt Nam áp dụng phương pháp quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế. Các chuyên gia tài chính nhận định, trong tương lai gần, sẽ có rất nhiều NH TMCP khác sẽ chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để có thể áp dụng phương pháp quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế. Đây có thể coi là một tín hiệu rất đáng mừng đối với hệ thống NH TMCP Việt Nam.
4.1.3. Góp phần giảm bớt những thiệt hại, tổn thất trong hoạt động kinh doanh tín dụng và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các NH TMCP nhằm cân bằng lợi ích.
Hoạt động Quản trị RRTD của NH TMCP đã bước đầu đem đến những kết quả tích cực.
Thực tiễn cho thấy, hoạt động của các NH TMCP Việt Nam đã tăng trưởng, phát triển rất nhanh về quy mô và từng bước nâng cao chất lượng. Có được những thành công này, một yếu tố rất quan trọng là các NH TMCP đã chú trọng đến công tác quản trị rủi ro đặc biệt là quản trị RRTD nhằm đến mục tiêu cân bàng lợi ích. Trong hoạt động tín dụng của các NH TMCP, RRTD đã trở thành một vấn đề được quan tâm và đầu tư rất nhiều. Qua tổng kết trong những năm gần đây, có thể thấy số lượng những vụ RRTD, thiệt hại, tổn thất do nguyên nhân chủ quan mang lại trong hoạt động tín dụng của NH TMCP đã giảm đi đáng kể, điều đó cũng có nghĩa là lợi ích của ngân hàng, của khách hàng, của nền kinh tế được đảm bảo vững chắc hơn; các NH TMCP Việt Nam tiến thêm một bước trên con đường quản trị RRTD nhằm cân bằng lợi ích của đơn vị mình.
Năng lực cạnh tranh của các NH TMCP được nâng cao hơn đồng nghĩa với việc nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh, năng lực mở rộng và phát triển các dịch vụ, năng lực quản trị-điều hành, năng lực công nghệ của các NH TMCP. Cất lượng dịch vụ tốt hơn, khách hàng an tâm hơn khi biết rằng những RRTD trong NH TMCP đã được kiểm soát ngày càng có hiệu quả là một nhân tố quan trọng khẳng định thương hiệu và uy tín của ngân hàng.
4.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
4.2.1. Hạn chế
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, hoạt động quản trị RRTD ở các NH TMCP Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế. Song có thể thấy rằng, hạn chế bao trùm là hoạt động quản trị RRTD hiện nay ở các NH TMCP còn yếu và chưa thực sự phát huy được hiệu quả. Điều này có thể thấy ở một số hạn chế điển hình sau đây:
4.2.1.1.Các NH chưa xây dựng được mô hình lượng hoá RRTD thích hợp
Hầu hết NH TMCP đều chưa xây dựng được cho mình một mô hình thích hợp để lượng hoá mức độ rủi ro của khách hàng, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro. Một số NH TMCP đã bước đầu có những cải tiến mô hình quản trị RRTD trên cơ sở áp dụng những phương pháp và công cụ tiên tiến nhưng tính khả thi chưa cao.Phần lớn hệ thống quản trị RRTD đang áp dụng được xây dựng dựa trên kinh nghiệm của Ban lãnh đạo chưa có nhiều năm dày dạn kinh nghiệm tín dụng. Bản thân hệ thống tính điểm tín dụng hiện đang áp dụng ở một số NH cũng chưa có hệ thống phương pháp luận cơ sở.
4.2.1.2. Việc định giá khoản vay được thực hiện một cách cảm tính hoặc cứng nhắc. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Vấn đề lượng hoá độ rủi ro của khách hàng và dự án vẫ rất khó khăn ở Việt Nam khi các NH chưa có đầy đủ phần mềm và thông tin để định giá. Các thông số của thị trường dùng trong đo lường (như hệ số bêta, xếp hạng tín dụng…) chưa có cơ quan chuyên nghiệp đê xác định. Đo lường RRTD ở Việt Nam hiện đang rất khó, chưa kể đên thông tin ít chính xác và còn nghèo nàn.
Lãi suất cho vay không được xác định khoa học dựa trên chi phí vốn, mức độ rủi ro và lợi nhuận hợp lý của NH.
Các khoản vay được cơ cấu không phù hợp với tính chất của phương án vay, kế hoạch trả nợ không căn cứ dòng tiền của dự án, phương án sản xuất kinh doanh, gia hạn nợ sai quy định, che giấu nợ quá hạn. Một số ngân hàng có xu hướng nới lỏng điều kiện vay vốn, hạ thấp lãi suất để giành khách hàng, cho vay theo chỉ định đối với nhiều công trình lớn, hiệu quả kinh tế không được đánh giá đầy đủ và thẩm định thiếu chặt chẽ. Vì vậy, nợ qúa hạn tại các NH hoạt động yếu kém, quy mô nhỏ vẫn có nguy cơ tiếp tục phát sinh khi tín dụng được mở rộng quá nhanh, chỉ chạy theo số lượng mà mạo hiểm bỏ qua chất lượng khoản vay. Thực tế, chỉ cần RRTD đi kèm với rủi ro thanh khoản xảy ra tại một trong các NH yếu kém này thôi cũng có thể gây rủi ro khôn lường cho toàn hệ thống, vì thế tâm điểm lo ngại là ở chính các NH nhỏ yếu này.
4.2.1.3. Hoạt động TTTD còn nhiều hạn chế
Để có vốn phục vụ cho hoạt động của mình, các doanh nghiệp có thể huy động từ nhiều nguồn. Các doanh nghiệp có thể chọn vay ở một hoặc nhiều ngân hàng phù hợp, khi đó họ rât cần đến thông tin về NH, thậm chỉ cả thông tin liên quan đến các doanh nghiệp đối tác nếu được.
Về phần các NH TMCP, khi cho bất kì doanh nghiệp nào vay cũng đều phải có thông tin về doanh nghiệp đó. Các thông tin cần quan tâm là hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp, kết quả sản xuất kinh doanh và đặc biệt quan trọng là lịch sử vay vốn. Những thông tin này sẽ giúp phát hiện kịp thời những trường hợp vay của NH này để trả cho NH khác, dự đoán tương lai của doanh nghiệp và quan trọng nhất là xác định mức độ rủi ro của khoản tín dụng có thể được cấp.
Trên thực tế, việc các NH thu nhận thông tin trực tiếp từ các doanh nghiệp đang có nhiều hạn chế. Về thông tin trước khi cho vay, các NH thường được cung cấp các báo cáo tài chính cũ (thường là của năm trước). Sau khi đã cho vay, các NH cũng khó theo dõi tình hình sử dụng khoản vay và thực trạng tài chính của doanh nghiệp do báo cáo tài chính không được lập kịp trong thời gian quy định do muốn che giấu tình hình kinh doanh thua lỗ,… Các NH nhiều khi cũng không đi sâu để tìm hiểu tình hình doanh nghiệp, không yêu cầu cung cấp thông tin một cách kiên quyết do sợ bị coi là hay đòi hỏi và dễ mất khách hàng.
Về trao đổi thông tin giữa các TCTD với nhau, hiện vẫn chưa có được sự tuân thủ nghiêm túc các quy định về cung cấp thông tin, xác nhận dư nợ. Các TCTD cũng thiếu sự hợp tác trong việc cùng cho vay một khách hàng, ngược lại còn giữ bí mật thông tin về khách hàng mà mình biết để đảm bảo quyền lợi riêng, dẫn tới rủi ro trong việc khách hàng vay đảo nợ hoặc chiếm dụng vốn với khối lượng lớn mà không phát hịên kịp thời. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Nhằm đắp ứng yêu cầu thông tin của cả hai phía, doanh nghiệp và TCTD, NHNN đã xây dựng một hệ thống TTTD mới mục đích chính là phòng ngừa RRTD. Đầu mối của hệ thống này là trung tâm TTTD (CIC) NHNN, nơi tập trung toàn bộ thông tin thu thập qua hệ thống thông tin, đồng thời là nơi xử lý, lưu trữ, cung cấp TTTD theo quy định của NHNN. CIC đã được thành lập năm 1999, hoạt động mang tính chất công, có chức năng thu thập, xử lý và phân tích thông tin của khách hàng nhằm cung cấp thông tin cho các TCTD, giúp ngăn ngừa rủi ro trong kinh doanh.
Mối quan hệ cung cấp và nhận thông tin giữa CIC và các TCTD và các doanh nghiệp được thể hiện trên sơ đồ sau:
Hệ thống CIC vận hành tốt, với tư cách là một NH dữ liệu, sẽ giúp cho các TCTD hoạt động hiệu quả, tránh được phần lớn RRTD. Hiệu quả hoạt động của CIC Việt Nam đang từng bước được cải thiện và có những đóng góp đáng kể vào việc cung cấp thông tin cho các NH và doanh nghiệp, từ đó nâng cao tính chính xác trong các quyết định tín dụng của NH, góp phần giảm thiểu RRTD cho NH. Song, những kết quả đó vẫn còn rất khiêm tốn, chất lượng thông tin chưa thật sự tốt, chưa đảm bảo thông tin nhanh nhạy, kịp thời, chính xác. Công tác này đang gặp khó khăn rất lớn trong việc chia sẻ thông tin giữa các bộ ngành, đặc biệt là những thông tin khac nhạy cảm về tín dụng.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng thông tin thấp là do nguồn tin đầu vào của CIC. Số lượng thông tin đầu vào đã tăng lên rõ rệt, tuy nhiên chất lượng thông tin ở một số TCTD chưa tốt. Nguồn thông tin đưa vào hệ thống chủ yếu thu thập từ các TCTD. Nhiều TCTD chưa nhận thấy hết sự cần thiết và tác dụng của hệ thống TTTD nên còn miễn cưỡng hoặc hời hợt trong việc cung cấp thông tin. Tình trạng này làm cho thông tin từ CIC không đầy đủ, thiếu đa dạng, không sát với thực tế.
Một nguyên nhân nữa làm hạn chế hiệu quả hoạt động của CIC chính là sự thiếu phù hợp của mô hình tổ chức. Hệ thống CIC tuy được trải rộng trên cả nước song không có tính độc lập về mặt tổ chức. Các CIC địa phương chỉ chịu sự chỉ đạo của CIC TW về nghiệp vụ, còn về tổ chức và nhân sự thì lại chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc chi nhánh NHNN ở địa phương đó. Việc có nhiều cấp chỉ đạo, điều hành dẫn đến thiếu đồng bộ, giảm hiệu lực, không phát huy được tính chủ động, phân tán số liệu. Cán bộ làm công tác TTTD tại các địa phương phần lớn mang tính tạm thời, kiêm nhiệm nên bị hạn chế về chuyên môn, thụ động trong công việc.
Sản phẩm của CIC chưa đáp ứng yêu cầu các TCTD: Nhất là nhóm sản phẩm về dư nợ tín dụng, nợ xấu, nợ ngoại bảng, tài sản đảm bảo tiền vay, thông tin cảnh báo; sản phẩm về tín dụng tiêu dùng, tín dụng thẻ. Điều này một phần làm cho các TCTD chưa thật sự quan tâm đến việc khai thác thông tin từ CIC.
Chậm đổi mới phương pháp cung cấp, khai thác các sản phẩm TTTD; tự động hoá trả lời tin chưa cao; nhiều lúc các tổ chức, đơn vị truy cập vào Web-CIC bị ách tắc….
Phí khai thác thông tin chưa khuyến khích các TCTD trong việc thực hiện tốt việc báo cáo và khai thác nhiều sản phẩm TTTD.
4.2.1.4. Sự mất cân đối về cơ cấu thời hạn vốn tín dụng Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Hiện nay, một số ngân hàng có hiện tượng sử dụng quá mức nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, điều này có thể trở thành những tác nhân gây ra những bất ổn trên thị trường tín dụng. Sự mất cân đối về kì hạn giữa nguồn vốn và cho vay thể hiện ở chỗ: trong khi vốn huy động dài hạn chỉ chiếm 30% tổng nguồn vốn, thì dư nợ cho vay trung và dài hạn lại chiếm đến 45% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. tín dụng trung, dài hạn tạo thu nhập ngay cho NHTM do khoản vay phải trả lãi ngay nhưng chưa phải trả gốc, mặc dù dự án có thể chưa đi vào hoạt động hoặc hoạt động chưa có lãi. Vì vậy, các NH cũng tranh thủ mảng hoạt động tín dụng này để tăng cao lợi nhuận của mình.
Cho vay trung và dài hạn nhiều dễ gặp rủi ro do thời gian thu hồi vốn lâu, trong điều kiện kinh tế thế giới đang thiếu ổn định, cho vay trung và dài hạn nhiều dễ gặp rủi ro trong tương lai. Lãi suất cho vay trung và dài hạn cố định ở mức thấp trong suốt thời hạn cho vay, trong khi đó lãi suất huy động vốn ngăn hạn có thể tăng làm giảm thu nhập của các NHTM. Cho vay trung và dài hạn thì khi nguồn tiền gửi đến hạn phải trả (trong ngắn hạn), ta chưa thu được nợ gốc để trả cho khoản tiền gửi này (do cho vay trung và dài hạn), điều này tiềm ẩn RRTD, rủi ro thanh khoản rất nguy hiểm cho NH nếu tỷ lệ mất cân đối ở mức độ cao. Mặt khác, khả năng trả nợ, đặc biệt của các dự án trung và dài hạn sẽ có thể thay đổi rất nhiều khi chu kì kinh tế đến giai đoạn chững lại. Tín dụng trung, dài hạn tập trung vào các dự án có quy mô rất lớn, phức tạp mà việc thẩm định đòi hỏi trinh độ chuyên môn cao, theo các tiêu chuẩn thị trường thực sự, vượt quá năng lực, kinh nghiệm, khả năng giám sát của CBTD. Đặc biệt, tín dụng cho vay đầu tư bất động sản là loại tín dụng có thời gian thu hồi vốn dài, tiềm ẩn rủi ro, gắn liền với biến động của thị trường bất động sản.
Theo quy định của Nhà nước, các NHTM chỉ được phép dùng từ 30-40%, vốn huy động ngắn hạn đầu tư cho vay trung và dài hạn. Nếu vượt quá mức an toàn thì sẽ dẫn đến khả năng mất cân đối vốn hoạt động hàng ngày.
Mặc dù đã tăng cường các huy động, nhưng khả năng huy động vốn trung và dài hạn của các ngân hàng vẫn còn thấp so với nhu cầu vốn đầu tư dài hạn của nền kinh tế. Vì vậy, trước áp lực của nền kinh tế, việc sử dụng vốn huy động ngắn hạn để cho vay dài hạn được coi là một giải pháp tình thế của NHNN hiện nay (quy định cho phép của các TCTD thực hiện với một tỷ lệ tối đa 40%). Tuy nhiên, nếu các NH không đảm bảo duy trì ổn định việc huy động vốn theo kế hoạch, cũng như khả năng thu nợ không đáp ứng được với yêu cầu chi trả các khoản tiền gửi do chênh lệch về thời hạn, có thể dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán là điều dễ xảy ra với bất cứ ngân hàng nào có quy mô nhỏ, hệ số an toàn vốn thấp và sử dụng nhiều vôn ngắn hạn để cho vay dài hạn.
4.2.2. Nguyên nhân của hạn chế Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Có rất nhiều nguyên nhân gải thích cho hạn chế nói trên trong hoạt động quản trị RRTD tại các NH TMCP Việt Nam. Dưới đây là một số nguyên nhân tiêu biểu nhất:
4.2.2.1. Việt Nam chưa có đủ các điều kiện áp dụng mô hình quản trị RRTD tiên tiến hiện đại
Hiện nay, một số NH TMCP Việt Nam đã có những tín hiệu mới về việc áp dụng mô hình quản trị rủi ro dựa trên quy tắc Basel II về quản lý nợ xấu, tuy nhiên, quá trình này đang diễn ra một cách khó khăn và theo các chuyên gia thì vẫn còn một chặng đường dài nữa các NH TMCP Việt Nam mới đạt được một mô hình quản trị RRTD hiện đại theo đúng nghĩa.
Trước hết, khó khăn lớn nhất xuất phát từ yếu tố con người bởi sự thay đổi mô hình tổ chức đã ảnh hưởng đến quyền hạn của các cán bộ có liên quan đến quá trình cấp tín dụng. Thật khó khăn khi phải thay đổi, phải tiếp nhận cái mới, đặc biệt khi sự thay đổi đó ảnh hưởng đến quyền lực mà trước đây người ta có được. Giờ đây, một quyết định tín dụng không phụ thuộc vào một cá nhân mà là sự đồng thuận của các lãnh đạo các bộ phận chức năng có vai trò độc lập trong quá trình tác nghiệp. Đây là một lực cản không nhỏ trong việc triển khai mô hình này trên thực tế .
Khó khăn thứ hai có thể kể đến là môi trường thông tin, trong đó, tính mình bạch, chính xác, rõ ràng của các thông tin và độ tin cậy của các cơ quan cung cấp tại Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Mặc dù trung tâm TTTD của NHNN (CIC) ngày càng phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng trong cung cấp thông tin về khách hàng, thực hiện phân tích, xếp loại tín dụng doanh nghiệp, cung cấp các thông tin cảnh báo,… góp phần quan trọng cho sự nghiệp phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam vì mục tiêu an toàn, hiệu quả nhưng những đòi hỏi về thông tin của các ngân hàng vẫn chưa được đáp ứng một cách đáng tin cậy, nhanh chóng và kịp thời. Các thông tin về báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chưa phải bắt buộc phải qua kiểm toán nên tính chính xác của báo cáo chưa cao. Việc tìm kiếm thông tin cực kì khó khăn và tình trạng thông tin bất cân xứng vẫn là một tồn tại chưa thể nào khắc phục được trên thị trường tài chính Việt Nam. Quy trình tín dụng mới lại yêu cầu tách chức năng thẩm định tín dụng với chức năng bán hàng, do đó, cán bộ thẩm định không tiếp xúc khách hàng (để đảm bảo tính khách quan) nên phải có đầy đủ các thông tin để có thể đưa ra các quyết định tín dụng đúng đắn và hợp lý.
Khi triển khai mô hình mới, sự phân tách bộ phận khách hàng, quản lý RRTD và quản lý nợ đã tạo nên những khối chức năng độc lập nhưng lại chưa đảm bảo mối dây liên kết chặt chẽ, đôi khi còn xuất hiện tỵ hiềm, cản trở nhau trong tác nghiệp. Trách nhiệm của các bộ phận tham gia vào hoạt động tín dụng chưa thật rõ ràng, đặc biệt là trách nhiệm pháp lý trong điều kiện tình trạng hình sự hóa các quan hệ kinh tế vẫn đang tồn tại khá phổ biến đã dẫn đến sự e ngại trong các quyết định cấp tín dụng và ảnh hưởng đến không chỉ bản thân ngân hàng mà còn đến cả nền kinh tế bởi khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng của công chúng sẽ trở nên khó khăn hơn và mất nhiều thời gian hơn. Sự hỗ trợ của hệ thống TTTD cũng như khả năng tiếp cận khách hàng và cung cấp thông tin cần thiết của bộ phận quan hệ khách hàng chưa đáp ứng được các yêu cầu chính xác và giảm thiểu tình trạng thông tin bất cân xứng, do đó, những lo ngại của bộ phận quản lý RRTD trong các quyết định rủi ro gia tăng.
4.2.2.2. Khách hàng lạm dụng tài sản thế chấp Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Kinh tế tăng trưởng cao trong vài năm trở lại đây cùng với giá bất động sản bị đẩy lên cao ở hầu hết các thành phố lớn đã làm người vay dựa dẫm thái quá vào tài sản thế chấp. Số lượng các khoản vay để mua bất động sản cũng tăng. Tuy nhiên sẽ rất nguy hiểm nếu CBTD quên đi rằng khoản vay cần được trả bằng dòng tiền tạo ra bởi dự án sản xuất kinh doanh chứ không phải bằng tiền bán tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp chỉ là sự đảm bảo cuối cùng khi phương án kinh doanh của khách hàng gặp rủi ro ngoài dự kiến mà thôi. Đây cũng là tâm lý thường thấy ở các NH các nước đang phát triển. Kinh tế tăng trưởng nóng, lãi suất thấp, giá bất động sản thường bị đẩylên quá cao do đầu cơ và vượt quá xa giá trị thực. Theo các chuyên gia thì đây chính là những dấu hiệu của một chu kì suy thoái kinh tế hoặc nếu ở mức nặng hơn là khủng hoảng kinh tế.
4.2.2.3. Một bộ phận không nhỏ trong đội ngũ CBTD thiếu và yếu về nghiệp vụ, sa sút về phẩm chất đạo đức
Trong điều kiện hiện nay, mạng lưới chi nhánh và địa bàn hoạt động của các NH đang được mở rộng không ngừng, trong khi số CBTD có đủ trình độ nghiệp vụ không tăng hoặc tăng không đáng kể, dẫn đến tình trạng gọi là “sự quá tải” trong tín dụng. Đây là tình trạng một số CBTD phải quản lý một số khối lượng người vay lớn, số dư nợ cao hoặc địa bàn hoạt động rộng vượt quá khả năng kiểm soát. Không đủ sức giám sát nên nhiều CBTD đã lược bớt quá trình kiểm tra hoặc chấp hành mang tính đối phó là chính. Một nguyên nhân làm trầm trọng thêm tình trạng quá tải là sự thiếu khoa học trong quản lý tín dụng, trình độ công nghệ còn thấp, phương tiện giao dịch đi lại chưa đáp ứng được yêu cầu. Hệ quả tất yếu là mức độ RRTD tăng cao mà không xử lý kịp thời.
Một bộ phận CBTD nhận thức chưa đầy đủ, thực hiện chưa nghiêm túc các quy định hiện hành. Do chủ quan, chỉ căn cứ và các giấy tờ có liên quan mà không thực hiện thẩm định một cách chặt chẽ đã quyết định cho vay nên hậu quả là vốn vay bị sử dụng sai mục đích, muốn thu nợ ngân hàng chỉ còn cách xử lý tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, do không bán được, nên tài sản bị xuống cấp, gây thiệt hại cho ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Một số CBTD sa sút về phẩm chất đạo đức, thiếu trách nhiệm. Đành rằng rủi ro thiệt hại trong cho vay là không thể tránh khỏi, nhưng nếu CBTD nêu cao phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm sẽ góp phần quan trọng hạn chế được rủi ro. Ngược lại, nếu CBTD sa sút về phẩm chất đạo đức thiếu trách nhiệm và có tư tưởng, hành vi tiêu cực thì tổn thất cho ngân hàng thật khó có thể tránh được. Thực tế cho thấy, một số khoản vay lớn kém chất lượng tồn đọng không có khả năng thu hồi và đang có nguy cơ bị mất trắng nhiều tỷ đồng đều xuất phát từ số cán bộ này. Vì vụ lợi, buông lỏng quản lý nên trong quá trình thẩm tra, xét duyệt cho vay, quản lý vốn vay, không những họ đã không tuân thủ quy định hiện hành mà còn dễ dãi, tạo kẽ hở cho khách hàng lợi dụng. Đã có chi nhánh NH TMCP tuy sai phạm chỉ do một số người gây ra nhưng tính chất nghiêm trọng, tổn thất nặng nề đến nỗi ngân hàng khó có khả năng tự bù đắp được. Trước thực trang này, ngân hàng lại lạm dụng nguồn dự phòng để xử lý rủi ro thay vì thực hiện một biện pháp thích đáng cho số cán bộ này. Phổ biến nhất là khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức chưa bị giải thể phá sản nhưng nợ tồn đọng của họ tại ngân hàng lại đc xử lý rủi ro đưa ra khỏi nội bảng, vì vậy, không những sai quy định, phản tác dụng mà còn gây phát sinh tâm lý ỷ lại. Chính điều này đã làm cho một số cán bộ có tâm lý chủ quan, chưa tích cực tìm biện pháp khắc phục hậu quả do họ đã gây ra mà thường chờ đợi sự cứu giúp từ cấp trên. Dẫn đến tình trạng khoản vay này chưa khắc phục được, khoản vay khác lại tiếp tục sai phạm tương tự làm cho tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ của ngân hàng luôn ở mức cao hơn rất nhiều so với mức cho phép.
4.2.2.4. Tinh thần hợp tác của khách hàng chưa cao
Hiện tại một số NH vẫn coi tài sản thế chấp là điều kiện tiên quyết để cho vay nên không ít trường hợp khách hàng làm giấy tờ giả mạo để chứng nhận quyền sở hữu nhà hoặc đất ở, làm thủ tục vay vốn tại nhiều NH. ở Quảng Ninh có căn nhà đã được làm tới 7 giấy chứng nhận sở hữu giả mạo để thế chấp vay vốn tại 7 chi nhánh NH địa phương. Mộ số cơ quan quản lý nhà đất địa phương khi cấp lại các giấy chứng nhận quyền sở hữu cho chủ mới lại không thu hồi giấy chứng nhận cũ, vô tình tạo điều kiện cho người vay lừa đảo NH. Cùng không loại trù trường hợp cán bộ có thẩm quyền tiếp tay cho việc vi phạm. Trường hợp này khi phát sinh nợ quá hạn rất khó xử, dẫn đến tranh chấp trong phân chia tài sản để thu hồi nợ giữa các NH.
Khách hàng cũng có thể lừa NH bằng cách thế chấp tài sản không đúng giá trị, ví dụ nhà ở có giá trị thấp khai tăng lên. Khi CBTD đến thẩm định thì họ lại mượn một căn nhà khác có giá trị cao hơn để đạt mục đích vat được nhiều tiền. Một hình thức lừa đảo phổ biến khác là lập phương án kinh doanh giả đê vay vốn NH rồi bỏ trốn. Khách hàng xuất trình một phương án sản xuất kinh doanh hứa hẹn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế lớn cùng với các hợp đồng đã được kí kết, đồng thời đem thế chấp kho hàng hoá … Sau khi đã nắm tiền vay trong tay thì bỏ trốn, gây ra RRTD lớn cho NH.
Các khoản nợ bảo lãnh, chủ yếu là bảo lãnh cho khách hàng trong nước, cũng đang trở thành gánh nặng chi trả cho các NH. Việc nhập khẩu hàng hoá dưới hình thức L/C trả chậm là một trong những kênh huy động vốn nước ngoài cần thiết trong điều kiện nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang thiếu vốn trầm trọng như hiện nay, song việc mở L/C trả chậm tràn lan đã gây hạu quả xấu cho cả nền kinh tế nói chung và hoạt động NH nói riêng. Có nhiều trường hợp khi được NH bảo lãnh mở L/C trả chậm, một số khách hàng đã lợi dụng việc thời gian bảo lãnh lớn hơn chu kỳ sản xuất kinh doanh của đối tượng được bảo lãnh để quay vòng vốn bảo lãnh, thậm chí có thể bán hàng với giá thấp hơn gía mua để thu hồi vốn dùng vào mục đích khác mà NH không thể kiểm soát được. Để thực hiện trách nhiệm bảo lãnh đã cam kết khi khách hàng gặp rủi ro không trả được nợ, các NHTM buộc phải trả nợ nước ngoài thay, tổng số thanh toán lên tới hàng chục triệu đô la, làm giảm chất lượng tín dụng của NH; thậm chí ảnh hưởng đến uy tín của NH Việt Nam trên thị trường quốc tế nếu không thanh toán kịp thời do một nguyên nhân nào đó.
4.2.2.5. Khuôn khổ pháp lý còn nhiều bất cập. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
Những vướng mắc nhất định về cơ chế tín dụng vẫn còn tồn tại tương đối nhiều, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động của các NH TMCP. Các NH khi cấp tín dụng chỉ dựa vào giấy phép kinh doanh để xác định tu cách pháp nhân của doanh nghiệp. Trong trường hợp phát hiện được một hoặc một số doanh nghiệp thực chất là công ty con của một doanh nghiệp khác, dẫn đến tổng số dư nợ cho một khách hàng vượt quá tỷ lệ 15% vốn tự có của NH thì không thể quy kết cho NH là cấp tín dụng vượt hạn mức được.
Các tài sản thế chấp cho NH còn thiếu nhiều yếu tố pháp lý gây khó khăn cho NH khi xử lý để thu hồi nợ. Ví dụ như tình trạng đại đa số nhà và đất ở của người dân sống tại vùng nông thôn không có giấy tờ đủ cơ sở pháp lý để làm thủ tục đăng kí thế chấp tài sản, còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất chỉ thực sự có giá trị khi nằm trong vùng chuyên canh tập trung có quy hoạch của Nhà nước. Chính vì vậy mà các NH đã không thể đổ vốn vào những vùng chưa có quy hoạch phát triển. Đối với tài sản cầm cố, thế chấp là máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ thì phần lớn là lạc hậu hoặc chuyên dùng nên nhu cầu mua là rất ít, hơn nữa cũng chưa có những quy định cụ thể của Nhà nước để có thể mua bán các tài sản này một cách dễ dàng.
Nhiều chính sách liên quan đến khách hàng của NH mà chủ yếu là chính sách đối với doanh nghiệp Nhà nước cũng gây ra sự thiếu lành mạnh trong hoạt động NH. Về thời hiệu khởi kiện cũng còn có những khúc mắc. Thời hiệu khởi kiện được quy định trong pháp lệnh về thời hiệu khởi kiện là 6 tháng kể từ ngày phát sinh tranh chấp. Quy định thời hiệu là để tránh tình trạng các tranh chấp lưu cữu, gây ùn tắc phức tạp. Tuy nhiên với hợp đồng tín dụng thì thời hiệu này cần được xem xét lại. Nhìn chung nội dung các hợp đồng tín dụng thường ghi rõ nếu bên vay không hoàn trả được đầy đủ vốn và lãi cho NH khi đến hạn thì phải chịu lãi suất phạt nợ quá hạn trên số tiền còn thiếu; Khi xác định được bên vay không còn khả năng hoặc cố tình không thực hiện hợp đồng tín dụng đã kí kết thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ cho vay theo hướng chuyển nhượng, phát mãi,… theo quy định; trường hợp đã áp dụng các biện pháp trên mà vẫn không thu hòi đựơc hết số nợ, bao gồm nợ gốc, lãi và lãi phạt, thì bên cho vay có quyền yêu cầu cơ quan chức năng xử lý. Thời gian để thực hiện hết các bước trên là rất lâu nên việc nhiều toà án bác đơn kiện của NH với lý do hết thời hiệu khởi kiện tính từ lúc khoản vay bắt đầu chuyển thành nợ quá hạn hoặc từ giai đoạn NH phát mãi tài sản để thu hồi nợ là không hợp lý. Thời điểm phát sinh tranh chấp thực sự phải là thời điểm NH có đơn kiện gửi toà giải quyết vì đó là thời điểm bên cho vay không cấp nhận sự trì hoãn trả nợ của bên vay. Các thời điểm khi nợ chuyển thành quá hạn và khách hàng phải chịu lãi suất phạt hay khi NH bắt đầu xử lý tài sản thế chấp không phải là thời điểm phát sinh tranh chấp vì đã được thoả thuận trước tronh hợp đồng tín dụng còn đang có hiệu lực pháp lý.
Hình sự hoá hoạt động của NH hiện cũng đang là một xu hướng đáng lo ngại, có thể dẫn đến hậu quả là thị trường tín dụng đóng băng do các NH có tâm lý cầu an, không muốn cho vay vì rủi ro quá lớn. Một ví dụ là các quy định về xử lý tài sản thế chấp. Điều 333 và điều 348 Bộ luật Dân sự 2005 và điều 54 Luật các TCTD quy định các NHTM được quyền bán tài sản cầm cố, thế chấp hợp pháp để thu hồi nợ khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình. Thực tế thì không ít trường hợp những tài sản thế chấp, cầm cố này không được xử lý ngay theo quy định của NH mà phải chờ phán quyết của toà hình sự nếu khách hàng có dính líu vào một vụ án hình sự. Thời gian chờ đợi có thể kéo dài vài năm, gây nhiều tổn thất cho NH khi vốn bị tồn đọng, giá cả tài sản biến động bất lợi, chi phí quản lý tăng cao. Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan cân bằng lợi ích tín dụng tại VietinBank