Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan cân bằng lợi ích tín dụng tại VietinBank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Quản trị rủi ro nhằm cân bằng lợi ích trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NH TMCP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Khái quát lịch sử hình thành
Có thể tóm lược quá trình phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam qua 4 giai đoạn kể từ thời điểm ngày 6/5/1951. Tuy nhiên vai trò của các NHTM với vai trò là một chủ thể của nền kinh tế thị trường chỉ bắt đầu cách đây hơn 17 năm, kể từ tháng 5/1990 với sự ra đời của hai pháp lệnh về ngân hàng. Hai pháp lệnh này đã lần đầu tiên chính thức chuyển đổi cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng từ 1 cấp sang 2 cấp, trong đó NHNN thực thi nhiệm vụ quản lý Nhà nước về mọi mặt hoạt động kinh doanh tiền tệ tín dụng thanh toán, ngoại hối và điều hòa lưu thông tiền tệ, phát hành tiền, điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất và tỷ giá chung trong toàn quốc, lấy trách nhiệm giữ ổn định giá trị đồng tiền làm mục tiêu chủ yếu. Trong khi đó, các NHTM ra đời tập trung vào hoạt động kinh doanh theo đúng nghĩa (hạch toán chi phí, mục tiêu sinh lời), tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình.
Trong những năm gần đây, quá trình cổ phần hoá NHTM diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước đã làm gia tăng đáng kể số lượng các NH TMCP cũng như thị phần của NH TMCP trong bảng thị phần ngân hàng. Đặc biệt trong 5 năm trở lại đây, quá trình cổ phần hoá NHTM diễn ra ồ ạt, cộng với việc thành lập mới nhiều NH TMCP mới trong thời gian ngắn đã khiến cho hoạt động của khối NH TMCP trở nên ngày càng sôi động. NH TMCP ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình đối với sự phát triển kinh tế đất nước nói chung, và đối với sự phát triển của thị trường tài chính, cụ thể hơn là sự phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam nói riêng.
Trải qua hơn 17 năm hình thành và phát triển, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã nhanh chóng phát triển cả về quy mô và chất lượng,đóng vai trò tích cực trong thúc đẩy phát triển kinh tế của nước ta.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
2. Cơ cấu tổ chức bộ máy Khóa luận: Tổng quan cân bằng lợi ích tín dụng tại VietinBank
Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã được thiết lập thành một mạng lưới cung cấp dịch vụ ngân hàng phong phú, phục vụ mọi thành phần kinh tế. Tính đến đầu năm 2008, Việt Nam có 1 ngân hàng Chính sách xã hội, 5 NHTM Nhà nước, 37 NH TMCP đô thị, 1 NH TMCP nông thôn, 37 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 NHTM liên doanh, 53 văn phòng đại diện NH nước ngoài tại Việt Nam. Ngoài ra còn có 9 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính, và gần 1000 quỹ tín dụng nhân dân.
Trong số các định chế tài chính nói trên, 5 NHTM Nhà nước chiếm gần 70% thị phần tổng thể các dịch vụ ngân hàng thông qua mạng lưới dày đặc các chi nhánh, phòng giao dịch, máy giao dịch tự động, máy thanh toán thẻ tín dụng,… trên cả nước. Hiện nay, khối NHTM Nhà nước có tới 515 chi nhánh và sở giao dịch hoạt động liên tục cung cấp các dịch vụ ngân hàng.
Khối NH TMCP cũng đã nhanh chóng mở rộng quy mô và mạng lưới rộng khắp trên phạm vi cả nước, với các chi nhánh, sở giao dịch liên tục khai trương và đi vào hoạt động. Đến nay, tổng số chi nhánh và sở giao dịch của khối NH TMCP đã lên tới con số 595 địa điểm, đáp ứng tốt nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng cho các tổ chức, cá nhân tham gia vào nên kinh tế thị trường hiện nay(1). Ngày 29/11/2007, Ngân hàng nhà nước(NHNN) đã đồng ý về nguyên tắc thành lập mới cho bốn NH TMCP là: Bảo Việt, Tài chính Dầu khí, FPT, Liên Việt và đang xem xét đế cấp phép một NH TMCP nữa. Trong bốn ngân hàng này, Ngân hàng Dầu khí có vốn điều lệ cao nhất với 5000 tỷ đồng, NH TMCP Liên Việt có vốn điều lệ 3.300 tỷ đồng, Ngân hàng Bảo Việt có vốn điều lệ 1.500 tỷ đồng và thấp nhất là NH TMCP FPT có vốn điều lệ 1000 tỷ đồng. Bốn ngân hàng này đã chính thức đi vào hoạt động từ đầu năm 2008(2)..Mới đây, ngày 8/1/2008, NHNN công bố chấp thuận về mặt nguyên tắc cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho 5 NH TMCP: Ngân hàng Năng lượng, Ngoại thương Châu á, Ngôi sao Việt Nam, Đông Dương Thương Tín và Bảo Tín(3)
3. Năng lực tài chính của các NH TMCP
Từ năm 2001 đến nay, vốn điều lệ của các NHTM Nhà nước không ngừng được bổ sung, tăng từ 6.000 tỷ đồng vào năm 2001 lên đến trên 21.000 tỷ đồng vào cuối năm 2004 và tiếp tục tăng đến trên 37.000 tỷ đồng vào cuối năm 2007. Trong
- Theo thống kê của NHNN Khóa luận: Tổng quan cân bằng lợi ích tín dụng tại VietinBank
- Sẽ có thêm bốn ngân hàng TMCP, Bản tin ngân hàng ngày 28/11/2007, Thời báo tài chính-Hà Nội
- Chấp thuận thêm 5 ngân hàng TMCP, Bản tin ngân hàng ngày 9/1/2007, Thời báo Tài chính Hà Nội đó mức vốn điều lệ lớn nhất là ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với 10.400 tỷ đồng.
Hầu hết các NH TMCP đáp ứng tốt nhu cầu về vốn pháp định theo Luật các TCTD. Nhiều NH TMCP đã tăng đáng kể vốn điều lệ bằng lợi nhuận để lại và phát hành cổ phiếu. Vốn điều lệ bình quân của các NH TMCP đã tăng từ mức 150 tỷ đồng (năm 2005) lên đến gần 1500 đồng (năm 2007). Các NH TMCP nông thôn đã tăng vốn và đã chuyển đổi thành NH TMCP đô thị, hiện nay chỉ còn duy nhất một NH TMCP nông thôn hoạt động là NH TMCP Mỹ Xuyên với 2 chi nhánh, vốn điều lệ khiêm tốn ở mức 500 tỷ đồng. Các NH TMCP đã tích cực tìm các đối tác chiến lược để hợp tác đầu tư và hỗ trợ phát triển. Song song với việc này là tích cực thực hiện các biện pháp tăng vốn, trong đó các NH TMCP thực hiện phát hành thêm cổ phiếu (cho cả nhà đầu tư chiến lược và cổ đông hiện hữu) nhằm đáp ứng yêu cầu của Nghị định 41 của Thủ tướng chính phủ trong 2 năm 2006,2007, các NH TMCP được phép tăng vốn điều lệ lên 31.768 tỷ đồng; trong đó bằng phát hành cổ phiếu 19.945 tỷ đồng, lớn nhất là NH TMCP: Đông Nam á (2000 tỷ đồng); á Châu (1530 tỷ đồng); Quân đội (955 tỷ đồng)… NH TMCP có vốn điều lệ tăng mạnh là Đông Nam á (từ 250 tỷ đồng lên 3000 tỷ đồng, Quân đội (từ 780 tỷ đồng lên đến 2000 tỷ đồng), Xuất nhập khẩu (từ 700 tỷ đồng lên đến 2800 tỷ đồng),… NH TMCP có vốn điều lệ lớn nhất là Sài Gòn thương tín (4449 tỷ đồng). Sau khi tăng vốn, tổng vốn điều lệ của các NH TMCP đạt 48.881 tỷ đồng. Trên cơ sở đó, các NHTM nhất là các NH TMCP đã mở rộng phạm vi và địa bàn hoạt động, thị phần hoạt động tín dụng của các ngân hàng này đã thay đổi đáng kể: Đến tháng 11 năm 2007, các NHTM Nhà nước đạt 435.600 tỷ đồng, chiếm gần 70%; các NH TMCP đạt 180.400 tỷ đồng, chiếm 27,7% và như vậy, cơ cấu cho vay của các NHTM đã tăng lên đáng kể so với trước đây. Một minh chứng cụ thể là: cùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, thị phần tín dụng tăng khá mạnh từ 60- 120% năm(4).
4. Hiệu quả hoạt động và việc ứng dụng công nghệ thông tin
Cùng với việc gia tăng các hoạt động dịch vụ, hiệu quả hoạt động của các NHTM cũng được tăng cao. Năm 2007 được xem là năm “làm ăn phát đạt” của các NHTM, đặc biệt là các NH TMCP. Tính đến cuối tháng 9/2007, lợi nhuận trước thuế của các NHTM tăng 2 lần, cuối tháng 9/2007, một số NH TMCP đạt lợi nhuận cao như ACB (1400 tỷ đồng), cả năm vượt 20-30% kế hoạch năm, lợi nhuận của Sacombank hay Eximbank cũng phát triển khá mạnh, đều đạt trên 1.000 tỷ đồng.ứng dụng công nghệ vào hoạt động của các NHTM được tăng cường hơn, do đó đã đẩy mạnh hoạt động dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán, trong đó thanh toán bằng thẻ ATM tăng khá mạnh (năm 2006 có 2500 máy, đến nay đã có gần 5000 máy). NHNN chỉ đạo các NHTM thực hiện kết nối thanh toán thẻ rút tiền tự động qua công ty chuyển mạch tài chính quốc gia theo Đề án đã được Chính phủ phê duyệt và đến nay 2 công ty là Banknet và Pvnet đã kí hợp đồng về việc kết nối giữa 2 hệ thống thanh toán giữa 2 nhóm NHTM, chiếm phần lớn các NHTM ở nước ta.
II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NH TMCP Khóa luận: Tổng quan cân bằng lợi ích tín dụng tại VietinBank
1. Quy mô hoạt động tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng
Tính đến hết tháng 9/2007, tổng dư nợ cho vay nền kimh tế tăng 35% so với cuối năm 2006 và ước tính đến hết tháng 10/2007 tăng 38%, gấp gần 2 lần mức tăng cùng kỳ năm 2006. Riêng khối NHTM cổ phần có tốc độ tăng dư nợ tới 103% so với cùng kỳ năm 2006 và tăng 65% so với đầu năm, chiếm 24,7% thị phần tín dụng, tăng mạnh so với tỷ lệ 19,7% cuối năm 2006.
Một số NHTM mại cổ phần đến hết tháng 10/2007 có tốc độ tăng trưởng kể cả tổng tài sản, tổng nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay lên tới trên 100% so với đầu năm.
Tính đến cuối thắng 4 năm 2008, tổng lượng tín dụng đầu tư cho nền kinh tế của toàn hệ thống ngân hàng, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế ước tăng 1,66% so với tháng trước, trong đó, dư nợ cho vay bằng VND ước tăng 1,66% và dư nợ cho vay bằng ngoại tệ ước tăng 1,64%. So với cuối năm 2007, dư nợ cho vay nền kinh tế ước tăng 14,73%, cao hơn mức tăng 9,79% của cùng kỳ năm 2007.(Nguồn…) Nguyên nhân tăng tín dụng chủ yếu là do:
- Nhu cầu vốn cho nền kinh tế tiép tục tăng mạnh, trong khi thị trường chứng khoán của Việt Nam đang có những bước phát triển ban đầu, các TCTD vẫn là kênh đáp ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế.
- Cho vay cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất tăng lên.
- Nhu cầu vay ngoại tệ lớn do lãi suất cho vay ngoại tệ thấp, tỷ giá tương đối ổn định, mặt khác nhập khẩu tăng cùng với việc tăng giá cả hàng hoá, nhất là giá các nguyên liệu đầu vào trên thị trường quốc tế đã tác động làm tăng nhu cầu vay ngoại tệ.
- Ngoài ra, việc một số TCTD thực hiện chiến lược mở rộng mạng lưới các chi nhánh và đa dạng hoá khách hàng cũng là một trong những nguyên nhân tăng tín dụng.
2. Cơ cấu tín dụng Khóa luận: Tổng quan cân bằng lợi ích tín dụng tại VietinBank
Nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế rất lớn, đặc biệt trong giai đoạn phát triển kinh tế hội nhập với nền kinh tế thế giới hiện nay. Tuy nhiên, nguồn vốn trung và dài hạn mà các NHTM huy động được còn rất ít, chủ yếu các khoản tiền gửi ngắn hạn làm cho nguồn vốn ngắn hạn ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong kết cấu nguồn vốn của ngân hàng. Vì vậy, tình trạng các ngân hàng dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn diễn ra khá phổ biến.
Trong quản lý chuyển hoán nguồn, cần phân biệt kì hạn thực và kì hạn danh nghĩa. Ví dụ, một khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với kì hạn 3 tháng nhưng có thể 10 lần 3 tháng trôi qua mà khách hàng vẫn chưa rút tiền khỏi ngân hàng. Trường hợp này rõ ràng khoản tiền gửi có kì hạn thực là 30 tháng, mang tính chất của nguồn vốn trung hạn, trong khi kì hạn danh nghĩa vẫn là 3 tháng và được xếp vào nguồn huy động ngắn hạn. Do đặc điểm này và ưu thế về chi phí của nguồn vốn ngắn hạn nên các ngân hàng có xu hướng khuyến khích tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Tuy nhiên, nếu quá lạm dụng vốn ngắn hạn như vậy sẽ đặt ngân hàng trước nguy cơ rủi ro thanh khoản cao như trường hợp khách hàng ồ ạt rút vốn tại ngân hàng ACB năm 2003, tác động xấu đến hoạt động kinh doanh và uy tín của ngân hàng.
Các NHTM Việt Nam vẫn chiếm thị phần áp đảo về huy động vốn cũng như tỷ trọng về tín dụng. Tính đến năm 2005, các NHTM Việt Nam chiếm 87,8% huy động vốn của toàn hệ thống ngân hàng, trong đó, các NHTM Nhà nước chiếm 73,7% và NH TMCP chiếm 14,1%.
Tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 4/2008 ước tăng 1,2% so với tháng trước, trong đó, số dư tiền gửi VND ước tăng 1,05% và số dư tiền gửi ngoại tệ ước tăng 1,73%. So với cuối năm 2007, tổng số dư tiền gửi ước tăng 5,39%, thấp hơn mức tăng 15,55% của cùng kỳ năm 2007(6).
Thị phần huy động vốn của các NH TMCP ngày càng tăng đặc biệt cao nhất trong năm 2007 có nhiều nguyên nhân hàng đầu là lãi suất và chính sách khuyến mãi hấp dẫn hấp dẫn hơn, mạng lưới được mở rộng, hoạt động quảng bá thương thiệu được triển khai hiệu quả. Đặc biệt là uy tín, lòng tin của người dân, của khách hàng đối với khối NH TMCP ngày một tăng lên.
Về thị phần tín dụng, các NHTM Việt Nam cũng chiếm đến 92,5% tổng vốn tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng.Trong đó, các NHTM Nhà nước chiếm 52,4%; các NH TMCP chiếm 40,2%.
Thị phần tín dụng của các NH TMCP tăng mạnh là do cùng với lợi thế đã phân tích ở phần huy động vốn của các NH TMCP, thì sự năng động tìm kiếm khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, linh hoạt trong cho vay, đa dạng hoạt động tín dụng tiêu ding, đổi mới quản trị điều hành tín dụng,… cũng là những nguyên nhân quan trọng.
Các NH TMCP tiếp tục hoàn thiện chương trình cơ cấu lại toàn diện nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong xu hướng hội nhập. Để tăng vốn điều lệ, một trong những biện pháp hữu hiệu mà nhiều NH TMCP đã áp dụng là tăng cường phát hành
Thông tin về hoạt động Ngân hàng tháng 4/2008- NHNN cổ phiếu. Tất cả các đợt phát hành cổ phiếu của NH TMCP đều thu được thành công, đạt được kế hoạch huy động vốn của mỗi đợt. Do tính hấp dẫn và sôi động của cổ phiếu, nhiều NH TMCP không chỉ phát hành cho cổ đông mà cón phát hành cho cả các nhà đầu tư chiến lược.
Thị phần của khối NHCP tăng hơn 10%, trong khi thị phần của khối ngân hàng quốc doanh sụt giảm. Đây là sự dịch chuyển thị phần mạnh nhất từ trước tới nay.Tăng trưởng huy động vốn của khối ngân hàng cổ phần trong năm qua đạt bình quân 42,5%, tăng trưởng tín dụng bình quân đạt 47,5%. Đặc biệt, có những NH TMCP đạt tăng trưởng huy động vốn và cho vay trên 80%.Thống kê trên còn chỉ ra rằng, các NH TMCP đang có tốc độ tăng trưởng vốn tự có rất nhanh, đến nay đạt xấp xỉ 50% vốn tự có toàn hệ thống. Tổng mức vốn điều lệ của các NH TMCP đã tăng 70,55% so với cuối năm 2006. Hệ số an toàn vốn tối thiểu đạt trên 8%. Quy mô hoạt động và mạng lưới của khối này cũng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh cao, thể hiện qua tỷ suất lợi nhuận bình quân hàng năm đạt 20-49% với dịch vụ ngân hàng mới, nhiều tiện ích và năng động. Tính chung, khi năm 2007 khép lại, các NH TMCP đều đạt và vượt xa chỉ tiêu lợi nhuận trong năm. Khóa luận: Tổng quan cân bằng lợi ích tín dụng tại VietinBank
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Cân bằng lợi ích tín dụng tại ngân hàng VietinBank