Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Quản trị rủi ro nhằm cân bằng lợi ích trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN TRỊ RRTD NHẰM MỤC TIÊU CBLI

1. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến hoạt động kinh doanh của NH TMCP

Tiến trình hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới của Việt Nam bắt đầu cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế của đất nước từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX. Thực hiện chủ trương của Đảng “chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, các diễn đàn, các tổ chức, các định chế quốc tế một cách có chọn lọc, với bước đi thích hợp”, Việt Nam đã và đang thực hiện hội nhập với khu vực và thế giới một cách sâu rộng và nhanh chóng. Đầu tiên là khai thông quan hệ với Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB),… Tiếp đó, quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã bình thường hóa trở lại từ 1995 và bắt đầu qua trinh đàm phán song phương. Việt Nam lần lượt gia nhập các tổ chức trong khu vực và trên thế giới như ASEAN (1995), APEC (1998),… Ngày 7/6/2007, sau 11 năm đàm phán, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO). Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Dưới tác động của hoạt động hội nhập kinh tế, hoạt động tài chính ngân hàng của Việt Nam cũng có những thay đổi đáng kể. Hoạt động của thị trường tài chính với các chủ thể chủ yếu là ngân hàng và các TCTD trở nên sôi động và mang màu sắc hội nhập rõ nét.

Hoạt động hội nhập một mặt mang lại những cơ hội phát triển mới, mặt khác lại mang đến những thách thức mới cho các doanh nghiệp Việt Nam, và NH TMCP-doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt tiền tệ- không phải là một ngoại lệ.

Những cơ hội phát triển : Thu hút nguồn vốn lớn từ nước ngoài, cơ hội học hỏi kinh nghiệm quản lý, nâng cao trình độ khoa học kĩ thuật và ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến hiện đại trong mô hình tổ chức và quản lý, nâng cao vai trò của NH TMCP đối với sự phát triển kinh tế thông qua hoạt động cung ứng vốn cho các doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế,…

Bên cạnh đó, cũng phải kể đến những thách thức mà các NH TMCP phải đối mặt: Nhu cầu nguồn vốn của nền kinh tế ngày càng lớn về số lượng,hoạt động kinh doanh trở nên phức tạp với nhiều loại hình và rủi ro tiềm ẩn khó nắm bắt, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng. Với sự xuất hiện và ảnh hưởng của các yếu tố “ngoại” trong hoạt động king doanh, cạnh tranh giữa các NH TMCP và các NH nước ngoài ngày càng gay gắt; cạnh tranh trong hệ thống các NH TMCP Việt Nam cũng không ngừng gia tăng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến công tác quản trị RRTD của NH TMCP Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Công tác quản trị rủi ro với sứ mệnh đảm bảo sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng trong thời kì hội nhập càng trở nên quan trọng và cần thiết. Hoạt động của NH TMCP có tính chất đặc trưng là luôn tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là RRTD. Bởi vậy, khi hoạt động kinh doanh của những ngân hàng này trở nên sôi động và ngày càng phát triển, thì cũng đồng nghĩa với việc các rủi ro tiềm ẩn ngày càng phức tạp hơn, gia tăng về số lượng, khó nắm bắt về loại hình, gây khó khăn cho công tác nhận diện và kiểm soát rủi ro. Hoạt động tín dụng của NH TMCP càng phát triển, RRTD càng gia tăng ở mức đáng quan tâm nhiều hơn.

Từ đó có thể thấy, hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra yêu cầu bức thiết cho công tác quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của hệ thống NH TMCP. Ban quản trị các NH TMCP cần có nhận thức mới về RRTD trong thời kì hội nhập, thiết lập và thực hiện các biện phảp quản trị rủi ro mới song song với phát huy hiệu quả và thực hiện các biên pháp quản trị rủi ro sẵn có, đảm bảo tính an toàn cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng và giảm thiểu những tổn thất mà rủi ro có thể gây ra, đặc biệt là RRTD.

3. Yêu cầu phát triển bền vững ngành ngân hàng đảm bảo CBLI trong dài hạn

Phát triển bền vững là một trong những mục tiêu quan trọng nhất mà ngành ngân hàng cần đặt ra và xây dựng chiến lược thực hiện mục tiêu này. Đối với các NH TMCP cũng vậy,song để đạt đến sự phát triển bền vững, NH TMCP cần thiết lập những điều kiện cần thiết có tính chất nền tảng. Một trong những điều kiện quan trọng nhất là hoạt động ngân hàng nói chung và cụ thể là hoạt động tín dụng phải an toàn, muốn vậy công tác quản trị RRTD phải được thực hiện hiệu quả hơn, tích cực hơn, tinh vi hơn và hiện đại hơn.

Bên cạnh việc thực hiện các biện pháp quản trị RRTD, các NH TMCP cần đặt ra mục tiêu CBLI giữa hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng, giữa lợi ích của ngân hàng và các chủ thế khác có quan hệ với ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng- khách hàng và nền kinh tế nói chung. Dựa trên mối quan hệ mật thiếtgiữa công tác quản trị rủi ro và đảm bảo CBLI, có thể thấy rằng, thực hiện tốt các giải pháp quản trị RRTD chính là gián tiếp thực hiện mục tiêu CBLI, nhằm hướng đến sự phát triển lành mạnh, toàn diện và bền vững cho các NH TMCP. Góp phần quan trọng thực hiện phương châm hành động của các NHTM là “An toàn- Hiệu quả- Phát triển bền vững- Hội nhập quốc tế”.

Quản trị RRTD nhằm CBLI trong hoạt động tín dụng trở thành một nhiệm vụ quan trọng mà các NH TMCP cần thực hiện để hướng tới phát triển bền vững.

II. ĐỊNH HƯỚNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG NHẰM CÂN BÀNG LỢI ÍCH CHO CÁC NH TMCP VIỆT NAM Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Hiện nay, hoạt động quản tri rủi ro ở các NH TMCP Việt Nam mới ở thời kì sơ khai, do đó còn rất nhiều hạn chế. So với các ngân hàng trên thế giới, có thể nói các ngân hàng thương mại Việt Nam tiếp cận quản trị rủi ro muộn hơn, nên bề dày của hoạt động này ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam còn kém. Tuy nhiên, là người đi sau, các ngân hàng thương mại Việt Nam có thể định hướng phát triển hoạt động quản trị rủi ro theo những xu hướng mới trên thế giới, rút ngắn được thời gian mà không phải đi lại chặng đường mà thế giới đã trải qua hàng chục năm.

Các NH TMCP Việt Nam có thể định hướng hoạt động quản trị RRTD của mình như sau:

1. Hướng đến tổ chức quản trị RRTD nhằm cân bằng lợi ích một cách có hệ thống.

Các NH thống trong toàn ngân hàng. Phải làm cho tất cả các CBTD cũng như các nhân viên ở các phòng ban có liên quan nhận biết được vai trò của quản trị rủi ro tín dụng nhằm mục tiêu cân bằng lợi ích; có ý thức nhận diện và kiểm soát rủi ro tín dụng trong quá trình thực hiện công việc của mình.

2. Hướng đến áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro tín dụng tiên tiến hiện đại Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

TMCP Việt Nam có thể bắt đầu hoạt động quản trị rủi ro tín dụng từ một số phòng ban liên quan, nhưng chỉ nên xem là bước đi ban đầu để hướng đến thực hiện quản trị rủi ro tín dụng một cách có hệ trong hoạt động quản trị RRTD nhằm cân bằng lợi ích.

Một số phương pháp mới khá phức tạp, có thể chưa phù hợp ngay với các ngân hàng TMCP Việt Nam, nhưng ở một mức độ nhất định trong điều kiện cho phép, các NH TMCP Việt Nam vẫn có thể áp dụng các phương pháp này. Có thể tiến hành hoàn thiện từng phần chứ không nhất thiết phải thực hiện toàn bộ các phuơng pháp đó ngay từ đầu. Các NH TMCP Việt Nam cũng có thể áp dụng các phương pháp đơn giản hơn ( nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả) phù hợp với điều kiện của mình trước, để rèn luyện năng lực quản trị rủi ro tín dụng, tạo cơ sở hướng đến sử dụng các phương pháp phức tạp, tiên tiến hơn sau này. Trong quá trình đó, các NH TMCP Việt Nam phải không ngừng chuẩn bị cho mình để theo kịp với thế giới. Đặc biệt trong điều kiện hội nhập với kinh tế quốc tế ngày nay, các NH TMCP Việt Nam sẽ gặp phải rất nhiều bất lợi khi hợp tác với các ngân hàng nước ngoài có hoạt động quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng ưu việt hơn mình.

Khi tổ chức hoạt động quản trị rủi ro tín dụng, các NH TMCP Việt Nam cần có cái nhìn dài hạn, phải có lộ trình phù hợp với đơn vị mình. Có thể trong điều kiện hiện tại, các NH TMCP Việt Nam chưa thể thực hiện ngay mô hình quản trị rủi ro tín dụng mới hay áp dụng các phương pháp tiên tiến, nhưng điều đó không có nghĩa là các NH TMCP Việt Nam không thể thực hiện được chúng. Các ngân hàng trên thế giới đã cần đến hàng chục năm để phát triển hoạt động quản trị rủi ro như hiện nay, các NH TMCP Việt Nam đi sau có thể không cần đến thời gian dài như vậy, nhưng chắc chắn cũng không thể thực hiện được ngay trong thời gian ngắn trước mắt. Với một định hướng đúng, một cam kết thực hiện, một lộ trình và sự phân bổ nguồn lực hợp lý, các NH TMCP Việt Nam hoàn toàn có thể tổ chức được một hoạt động quản trị rủi ro tín dụng toàn diện, hiện đại, tiên tiến ở đơn vị mình.

III. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG NHẰM MỤC TIÊU CÂN BẰNG LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NH TMCP VIỆT NAM.

1. Các giải pháp vĩ mô

1.1. Đổi mới quản lý, tăng cường giám sát đối với hoạt động tín dụng.

Một trong những nguyên nhân của sự hoạt động kém hiệu quả của các NH tại các quốc gia chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Châu á 1997 là do khả năng giám sát lỏng lẻo, yếu kém của các cơ quan quản lý điều hành pháp lý NH. Vì vậy, bài học rút ra cho Việt Nam là NHNN cần tăng cường công tác thanh tra, giám sát các RRTD, giám sát việc tuân thủ các quy định về công tác tín dụng đã được thể hiện đầy đủ trong Sổ tay tín dụng của các NHTM. Ngoài ra, NHNN cần tăng cường giám sát các TCTD trong hoạt động kinh doanh chứng khoán. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Tăng cường quản lý các khoản trích lập dự phòng rủi ro của các TCTD nhằm tạo điều kiện hình thành các quỹ dự phòng cho hoạt động tín dụng một cách tập trung và kịp thời.

Tập trung cái cách và phát triển hệ thống giám sát NH theo nội dung chủ yếu sau:

  • Đổi mới mô hình tổ chức của Thanh tra NHNN hiện nay theo hướng chuyên nghiệp và phù hợp với chuẩn mực quốc tế về thanh tra, giám sát NH (Basel); thành lập Cục Giám sát an toàn hoạt động NH thuộc NHNN, nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động giám sát từ xa.
  • Mở rộng danh mục các đối tượng chịu sự thanh tra, giám sát của NHNN.
  • Ban hành quy định mới đánh giá, xếp hạng các TCTD theo tiêu chuẩn CAMEL(S).

Chỉnh sửa phù hợp các quy định, chính sách về bảo hiểm tiền gửi buộc các tổ chức tài chính- tín dụng có huy động tiền gửi theo quy định của Luật các TCTD đều phải tham gia bảo hiểm tiền gửi. Nâng cao vai trò, năng lực tài chính và hoạt động của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc giám sát, hỗ trợ, xử lý các tổ chức tham gia bảo hiểm tiển gửi gặp khó khăn và góp phần đảm bảo an toàn hệ thống NH.

Tăng cường vai trò và năng lực hoạt động của trung tâm TTTD trong việc thu thập, xử lý và cung cấp TTTD nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh của các TCTD và hoạt động giám sát của NHNN đối với các TCTD.

1.2. Đẩy mạnh hoạt động của kênh thông tin hỗ trợ cho hoạt động tín dụng: Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

CIC là một hệ thống thông tin riêng của ngành ngân hàng, những người ngoài hệ thống không được tiếp cận thông tin chia sẻ của TCTD, do đó rất đảm bảo về an toàn bảo mật thông tin, không gây các khiếu kiện không cần thiết cũng như không làm ảnh hưởng đến việc canh tranh lành lạnh của các TCTD. Do có tính bảo mật cao nên trong những trường hợ cần thiết, NHNN có thể sử dụng công cụ này để thực hiện những cuộc điều tra, khảo sát hoặc thực hiện thêm những nhiệm vụ khác như: Thu thập báo cáo những khoản vay vượt quá 15% vốn tự có của các TCTD; thu tập, lưu trữ, thông báo việc phát hàng Sec quá số dư, sec giả, sec khống,…; thu thận điều tra thông tin về doanh nghiệp nước ngoài có quan hệ kinh tế với nước chủ nhà, điều tra đột xuất về RRTD; khảo sát thông tin về các doanh nghiệp lớn trong nước.

Song, hiệu quả hoạt động của CIC Việt Nam vẫn còn khiêm tốn, chất lượng thông tin chưa thực sự tốt, chưa bbd thông tin nhanh nhậy, kịp thời, chinh xác. Công tác này đang gặp khó khăn rất lớn trách nhiệm việc chia sẻ thông tin giữa các Bộ ngành, đặc biệt là những thông tin khá nhạy cảm về tín dụng. Vì vậy, để phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của CIC, cần phải tiến hành một số giải pháp sau:

  • Cần có sự phối hợp tích cực hơn nữa của NHNN và câc TCTD cũng như các bộ ngành để tiếp tục hoàn thiện và phát triển hoạt động TTTD.
  • Thông tin cần được lấy từ nhiều nguồn, thường xuyên được cấp nhật, đồng thời đi sâu phân tích, đánh giá xếp loại tín dụng doanh nghiệp, kịp thời dự báo, cảnh báo nhằm hạn chế RRTD.
  • CIC cần nhanh chóng củng cố đội nhũ cán bộ, áp dụng công nghệ mới, hiện đại hóa và tựu động hóa tất cả các cong đoạn xử lý nghiệp vụ để tạo ta nhiêu sản phẩm thông tin.
  • Thanh tra NHNN, chi nhánh NHNN tỉnh, thành phổ trực thuộc TW, CIC phối hợp đôn đốc, kiểm tra việc báo cáo, khai thác thông tin của các TCTD, đồng thời có biện pháp xử lý kiên quyết, kịp thời đối với những đơn vị vi phạm chế độ báo cáo TTTD.
  • Tích cực phối hợp với các tổ chức thê giới như: Ngân hàng thế giới (WB), công ty tài sản quốc tế (IFC), ngân hàng phát triển Châu á ( ADB),… và Ngân hàng TW các nước khi họ rất quan tâm, mong muốn và tạo điều kiện phát triển hệ thống TTTD ở từng nước cũng như toàn cầu, tận dụng cac hỗ trợ kĩ thuật của các tổ chức này nhằm có được một công nghệ hiện đại quản lý một kho thông tin khổng lồ.

2. Các giải pháp vi mô về phía NH. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Các NH phải tự lực cánh sinh, tự mình xây dựng một chính sách ngăn ngừa rủi ro một cách hợp lý.

2.1. Cải tiến quy trình cấp tín dụng:

Các NHTM phải chú ý hơn trong việc định kì hạn nợ và gia hạn nợ phù hợp với chu kì sản xuất kinh doanh và thời gian thi công các công trình. Các biện pháp kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay phải được áp dụng chặt chẽ. Theo đó, các NHTM giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn của khách hàng đúng mục đích hay không, quản lý vốn vay đầu tư chặt chẽ và hiệu quả hay không. Khâu thẩm định dự án cho vay được tiến hành mang tính thực chất hơn. thẩm định bao gồm cả hiệu quả dự án, khả năng tiêu thụ hay đầu ra của thị trường sản phẩm và dịch vụ, giá trị đích thực và tính pháp lý của tài sản đảm bảo tiền vay. Uy tín của dự án của khách hàng, năng lực của chủ dự án,… là những yếu tố không thể bỏ qua trong quá trình thẩm định cho vay, vì vậy, cần nâng cao yếu tố phân tích phi tài chính đối với cac doanh nghiệp và cá nhân. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Tránh việc cho vay theo phong trào hoặc xu hướng lới lỏng điều kiện vay vốn, hạ thấp lãi suất để giành khách hàng, cho vay theo chỉ định đối với nhiều công trình lớn, hiệu quả kinh tế không được đánh giá đầy đủ và thẩm định thiếu chặt chẽ.

Hoàn thiện quy trình cho vay, quy chế hoá mọi hoạt động trong NH, đảm bảo được các nguyên tăc hạn chế rủi ro (như nguyên tắc phân tách chức năng, nguyên tắc “hai tay bốn mắt”, nguyên tắc tuân thủ hạn mức…) ở mọi khâu trong NH. Phân tách chức năng tức là phải có sự độc lập giữa các chức năng: bán hàng, tác nghiệp và quản trị rủi ro trong mô hình TCTD.

Ngoài ra, các NH nên đưa vào sử dụng mô hình, phần mềm hiện đại phục vụ việc phân tích mức độ rủi ro của khách hàng, định giá khoản vay, định giá tài sản thế chấp và quản trị danh mục cho vay. Các NH cũng cần tuân thủ quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn mà Nhà nước đặt ra.

Thực hiện bảo hiểm tín dụng: áp dụng mua bảo hiểm cho các khoản tiền gửi và tiền vay cũng giúp hạn chế được rủi ro một cách đáng kể. Bảo hiểm tiền gửi đang được các NH thực hiện theo nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ. Tuy nhiên bảo hiểm tiền vay đến nay vẫn chưa được thực hiện do chưa có chủ trượng định hướng của Chính phủ và cũng chưa có tổ chức bảo hiểm nào nhận bảo hiểm cho các khoản tiền vay. Do đó, Chính phủ cần nghiên cứu các kinh nghiệm, mô hình hoạt động của bảo hiểm tiền vay trên thế giới để có thể áp dụng vào Việt Nam trước khi thời khắc hội nhập 2010 thực sự bắt đầu.

2.2. Nhanh chóng giải quyết các khoản nợ tồn đọng. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Xử lý nợ tồn đọng lành mạnh hoá tài chính của NHTM nói chung và NH TMCP nói riêng là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu trong chương trình tái cơ cấu hệ thống NHTM, chuẩn bị hội nhập hoàn toàn vào năm 2010, bởi lẽ: Nợ tồn đọng lớn chứa đựng nguy cơ đổ vỡ hệ thống NH sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chính tiền tệ. Hơn nữa, nợ tồn đọng tạo ra gánh nặng chi phí cho NHTM, suy giảm khả năng huy động vốn và cho vay đối với nền kinh tế, làm giảm lòng tin của dân chúng và uy tín quốc tế đối với hệ thống NH Việt Nam .

Nguồn vốn xử lý nợ tồn đọng:

  • Nguồn dự phòng rủi ro được trích lập hàng năm của các NH.
  • Nguồn từ NHNN đã tái cấp vốn trước đây cho các NHTM quốc doanh theo các mục tiêu như cho vay để cơ cấu lại nợ, khoanh nợ, khắc phục thiên tai, cho vay theo chỉ định của Chính phủ.
  • Nguồn từ NH Thế giới và Quỹ tiền tệ Quốc tế cho vay hỗ trợ để cơ cấu lại nợ NHTM.
  • Chính phủ cho phép NHNN phát hành trái phiếu có lãi suất cố định để xử lý nợ tồn đọng cho các NH.

Cách xử lý:

  • Tập trung thu hồi nợ đến hạn và nợ quá hạn, nợ đã xử lý rủi ro, kiên quyết chuyển nợ quá hạn đối với khách hàng đến hạn trả nợ nếu không có lý do chính đáng để gia hạn nợ.
  • Bắt tay với các công ty mua bán nợ và tồn đọng như DATC để xử lý dứt điểm nợ tồn đọng vì đây là những công ty có nhiều kinh nghiệm và có khả năng tư vấn, phối hợp với các bộ ngành nhằm xử lý nợ nhanh nhất.
  • Đối với các khoản nợ không còn khả năng thu hồi, dùng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý nợ, làm trong sạch các báo cáo tài chính. Tiếp tục bổ dung quy mô quỹ dự phòng rủi ro thiếu hụt, trích lập dự phòng rủi ro trên cơ sở mức RRTD chứ không phải trên cơ sở nợ quá hạn. Theo quy định hiện nay, các NHTM trích lập dự phòng RRTD trên cơ sở nợ quá hạn. Việc trích lập này là không hợp lý và sẽ không chính xác vì có những khoản vay mặc dù chưa đến hạn nhưng khả năng mất vốn rất cao, cần được dự phòng rủi ro song lại không được trích lập. Số nợ quá hạn hiện nay của các NH tương đối thấp sau khi đã xử lý một lượng lớn nợ tồn đọng song nợ có nguy cơ gây ra RRTD vẫn còn cao. Vì vậy các NH cần tăng trích lập một lượng đủ lớn từ nguồn lợi nhuận hàng năm và trích lập trên cơ sở mức độ rủi ro để bổ sung quỹ dự phòng RRTD.

2.3. Đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, phát triển sản phẩm mới, thay đổi cơ cấu đối tượng khách hàng.

Đa dạng hoá và thực hiện thay đổi cơ cấu chiến lược đối tượng khách hàng: Đổi mới phương thức và thủ tục tín dụng theo hướng tạo thuận lợi và bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Việc có quá ít khách hàng vay vốn đã khiến cho nhiều NH quá ưu ái cho một vài khách hàng lớn bất chấp những quy định về phân tán rủi ro khiến nguy cơ sụp đổ cùng với thất bại của khách hàng cũng tăng theo. Vì vậy, cần thực hiện phân chia giới hạn rủi ro: nhiều NH cùng tài trợ cho một khách hàng, không tập trung vốn cho một số khách hàng mà cho nhiều người vay, đảm bảo không một khoản tín dụng nào vượt quá 15% vốn tự có của NH. Giảm tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp Nhà nước, tăng tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thực tế khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế, mà nguyên nhân có từ 2 phía: các doanh nghiệp này thiếu các điều kiện vay vốn, các TCTD lo sợ vấn đề an toàn vốn vay. Vì vậy, việc phân bổ tín dụng còn nhiều ưu tiên hơn cho các doanh nghiệp Nhà nước. Tuy nhiên, có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động rất năng động, kinh doanh hiệu quả.

Đa dạng hoá sản phẩm: Tăng % lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ như: thanh toán, uỷ thác; giảm bớt % lợi nhuận từ các hoạt động tín dụng truyền thống. Hiện nay, các TCTD hoạt động chủ yếu vẫn là huy động và cho vay dưới các hình thức tín dụng truyền thống, chiếm 70-80% thị phần cũng như tài sản của toàn hệ thống NH. Phát triển thị trường thương phiếu (hối phiếu và lệnh phiếu) mà hiện nay hầu như chúng ta chưa triển khai thực hiện. Nếu thị trường thương phiếu phát triển, không chỉ làm lành mạnh hoá tình trạng chiếm dụng vốn giữa các doanh nghiệp, mà là điều kiện phát triển các dịch vụ chiết khấu và tái chiết khấu, thu nhập dịch vụ của các TCTD. Đặc biệt chia sẻ và giảm áp lực thị trường tín dụng ngắn hạn cho các TCTD đang khá nóng hiện nay.

Đa dạng hoá ngành nghề cấp tín dụng: Ngày nay xu hướng chung của các NH là chuyển sang mô hình hoạt động đa năng. Vì vậy các NH khi cấp tín dụng cần thiết phải thực hiện cấp tín dụng cho nhiều ngành nghề, tuỳ theo xu thế phát triển và tốc độ tăng trưởng từng ngành.

2.4. Thận trọng khi cho vay đầu tư chứng khoán, cho vay thế chấp bất động sản và cho vay đầu tư bất động sản: Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán: Trước tình hình cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán của các NHTM có biểu hiện nóng lên trong hai năm 2006, 2007 vừa qua, các NH TMCP cần thực hiện đúng quy định về khống chế dư nợ vốn cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ tín dụng; thực hiện việc cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư , kinh doanh chứng khoán , cho vay có đảm bảo bằng cầm cố chứng khoán theo đúng các quy định của Pháp luật về cho vay và hướng dẫn của NHNN, tăng cường kiểm soát các khoản cho vay tiêu dùng, cho vay vốn sản xuất kinh doanh để phát hiện và xử lý kịp thời các khoản cho vay sử dụng vốn sai mục đích sang đầu tư, kinh doanh chứng khoán.

Cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản: Các ngân hàng cũng cần đặc biệt lưu tâm đến cho vay để đầu tư bất động sản, xây văn phòng, cao ốc, chung cư,… vì đây là các dự án có thời hạn thu hồi vốn chậm, vốn bỏ ra lớn, rủi ro rất cao. Hiện tại, nhu cầu về văn phòng cho thuê tại Việt Nam rất lớn, môi trường kinh doanh cho các dự án bất động sản như vậy rất thuận lợi, mang lại lợi nhuận lớn cho các công ty kinh doanh bất động sản. Song môi trường kinh doanh luôn biến động, các dự án bất động sản có thể gặp khó khăn do biến động môi trường bất cứ lúc nào. Thực tế có một bài học từ Trung Quốc mà các NH TMCP cần rút kinh nghiệm. Tại Trung Quốc, nợ xấu và nợ cần lưu tâm đặc biệt đang có xu hướng bùng phát cao và có nguy cơ khủng hoảng tài chính cho toàn hệ thống. Rất nhiều khoản cho vay không có triển vọng thu hồi với giá trị tài sản đảm bảo được thổi phồng lên giá trị thực tế. Nguyên nhân là do đâu?- Các NH TW và địa phương liên tục đổ tiền vào các dự án thương mại và xây dựng ( xây chung cư, cao ốc, sân gofl,…) bất chấp các dự án này có mang lại lợi nhuận hay không. Hiện, nhiều cao ốc, chung cư đang bị bỏ trống, nhiều dự án bất động sản có nguy cơ phá sản. Hậu quả là nợ xấu lại đang có xu hướng bùng phát tại Trung Quốc.Vì vậy, các NHTM Việt Nam cần hết sức thận trọng với những khoản cho vay đầu tư bất động sản. Cơ cấu một tỷ lệ nhất định đủ an toàn đối với các khoản tín dụng loại này và có sự phòng ngừa, theo dõi kịp thời. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Cho vay thế chấp bất động sản: Thị trường bất động sản- thị trường chứng khoán- thị trường tín dụng luôn có mối “liên thông”. Thị trường bất động sản luôn có những cơn sốt nóng, sốt lạnh, do đó kéo theo những rủi ro khôn lường của các khoản tín dụng thế chấp bằng bất động sản. Khi thị trường bất động sản sốt nóng, giá trị tài sản thế chấp được thổi phồng lên, giúp cho chủ doanh nghiệp có cái cớ để vay những món khổng lồ. Khi thị trường đóng băng như giai đoạn 2000-2006 vừa rồi, việc phát mại tài sản trở nên khó khăn, trong khi tiền vay đã trao cho khách hàng rồi, nếu chẳng may khách hàng gặp khó khăn mất khả năng thanh toán thì NH lại phải rất vất vả với món nợ không còn khả năng thu hồi và tài sản thế chấp thì khó bán. Việc xử lý một tài sản đảm bảo với sự tham gia của toà án, từ lúc thi hành đến lúc cưỡng chế, mất ít nhất 2 năm, trung bình mất 8-9 năm. Như vậy, thời gian để NH gánh chịu nợ xấu rất lâu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn của NH. Một khách hàng vỡ nợ thì có thể ảnh hưởng không lớn, song khi toàn bộ thị trường bất động sản đóng băng thì sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ khách hàng đi vay thế chấp bất động sản, mà tỷ lệ này không nhỏ.

Một bài học lịch sử mà các NH TMCP Việt Nam cần nhìn nhận để rút ra kinh nghiệm xương máu cho mình là thực tế khủng hoảng thị trường cho vay thế chấp bất động sản dưới tiêu chuẩn tại Mỹ tháng 7/2007. Khủng hoảng cho vay thế chấp tại Mỹ xuất phát từ việc các NH giảm nhẹ các tiêu chuẩn cho vay đối với các khoản vốn vay để mua nhà với độ rủi ro cao và việc các NH nước này có xu hướng chứng khoán hoá các khoản cho vay đó. Khi có sự xẹp hơi của bong bóng thị trường nhà ở của Mỹ, có tới 60 TCTD Mỹ đứng trước nguy cơ phá sản do hoạt động cho vay thế chấp. Khủng hoảng này sau đó đã lan rộng sang Châu Âu và toàn thế giới gây thiệt hại lớn cho rất nhiều NH hàng đầu thế giới.

2.5. Nâng cao trình độ nguồn nhân lực, cán bộ quản lý. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Ngày nay, bài toán nhân lực đối với các NH vẫn luôn là một vấn đề nan giải. Số người muốn vào làm việc tại NH rất đông nhưng tỷ lệ thực sự am hiểu lĩnh vực này để có thể đảm đương được trọng trách thì vẫn còn rất thiếu. Khi các NH đồng loạt tăng vốn điều lệ, mở rộng hoạt động kinh doanh, việc có được một đội ngũ nhân sự đáp ứng đối với yêu cầu về trình độ và đạo đức không phải là điều dễ dàng. Đặc biệt về số lượng cán bộ quản lý, tình trạng thiếu hụt nhân sự càng trầm trọng hơn.

CBTD phải có trình độ học vấn, năng lực chuyên môn nghiệp vụ vì hoạt động tín dụng mang tính phức tạp chứa ẩn vô số rủi ro. Yêu cầu đối với CBTD là phải biết phân tích tài chính, thẩm định dự án, phương án sản xuất kinh doanh trên cơ sở tính khả thi và mang lại lợi nhuận của dự án; quản lý tín dụng trong và sau khi cho vay. CBTD phải có khả năng nắm bắt, cập nhật thông tin về các lĩnh vực, am hiểu phân tích kinh tế để có khả năng tham mưu cho khách hàng và lãnh đạo nhằm ra quyết sách đầu tư đúng đắn. Phải có năng lực điều tra thu thâp, liên kết, xử lý và tổng hợp thông tin vì họ phải thu thập một khối lượng thông tin lớn về phương án vay vốn, cơ chế chính sách của ngành, của Nhà nước liên quan đến phương án. Do khối lượng thông tin lớn như vậy, nên đòi hỏi phải có một quá trình sàng lọc, xử lý, tổng hợp để có được những thông tin chuẩn xác và đó không phải là một công việc dễ dàng. Bên cạnh đó, vấn đề cập nhật thông tin về khách hàng rất cần thiết để còn kịp thời có biện pháp xử lý rủi ro khi cần.

CBTD phải có khả năng giao tiếp, tiếp thị và thu hút khách hàng vì trong môi trường cạnh tranh, để duy trì và phát triển mạng lưới khách hàng cần phải có dịch vụ tốt. Khả năng giao tiếp thể hiện cở việc khi phỏng vấn khách hàng để xét duyệt tín dụng, phải làm sao để khách hàng bày tỏ được tâm tư nguyện vọng của mình, từ đó nắm được thông tin về khách hàng. Phải có kĩ năng giao tiếp để tư vấn cho khách hàng, mỗi đối tượng đều phải có cách tiếp cận, phương pháp tư vấn, biện pháp thu hút chăm sóc,… khác nhau. Ngoài ra, những khách hàng mà ngân hàng muốn đặt quan hệ vay thường là những khách hàng xuất kinh doanh ổn định, làm ăn hiệu quả, có năng lực tài chính vững vàng, vay trả sòng phẳng, do đó CBTD cần phải biết tiếp thị và thu hút khách hàng. Để có được khả năng tiếp thị, CBTD phải được trang bị đầy đủ kĩ năng tề tiếp thị, cách giao tiếp ứng xử lịch sự, gây được thiện cảm, tin tưởng và ấn tượng tốt đối với khách hàng,… Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Muốn có một đội ngũ cán bộ như vậy, ngân hàng cần liên tục đào tạo và đào tạo lại, nâng cao chất lượng. Công tác đào tạo tập trung, khuyến khích tự học, tổ chức các buổi sinh hoạt nghiệp vụ, thảo luận các vướng mắc trong hoạt động tín dụng và các thay đổi thị trường để tránh tụt hậu trước sự thay đổi của nền kinh tế thị trường, của công nghệ trong quá trình phát triển và hội nhập của ngân hàng. Đồng thời cũng phải có tổ chức kiểm tra định kì nghiệp vụ, ngoại ngữ và trình độ tin học văn phòng trong nội bộ toàn ngân hàng, như vậy chất lượng CBTD sẽ liên tục được củng cố và nâng cao. Có khen thưởng và nâng lương hợp lý để khuyến khích những CBTD giỏi, có nhiều cống hiến.

CBTD phải có phẩm chất đạo đức tốt, không có tư tưởng trục lợi cá nhân. Đạo đức nghề nghiệp của CBTD là phải luôn lấy mục đích sự nghiệp phát triển ngân hàng làm mục đích phấn đấu. Nâng cao tính kỉ luật, tính liêm khiết, chấp hành tốt chủ trương của ngành, quy chế, cơ chế của cơ quan. CBTD phải có bản lĩnh kinh doanh vững vàng, không để bản thân bị cuốn theo các cám dỗ để hạ thấp các tiêu chuẩn tín dụng dẫn đến thất thoát vốn. Phải nhìn nhận khách hàng một cách chính xác, khách quan, không được manh động. Muốn vậy, các ngân hàng cần có sự theo dõi chặt chẽ nhân viên của mình và kịp thời phát hiện các nhân viên không trung thực để xử lý. Trong công tác quản lý CBTD, phải thường xuyên quan tâm việc xác định đúng nhiệm vụ chính trị, tư tưởng cho đội ngũ CBTD. Thường xuyên quán triệt cho CBTD về chức năng, vai trò, nhiệm vụ của mình đối với công tác, từ đó CBTD xác định đúng vị trí của mình.

Một vấn đề quan trọng để nâng cao chất lượng nhân sự ngay từ đầu là tuyệt đối có sự công bằng khách quan trong khâu tuyển dụng. Ngành ngân hàng vốn bị coi là ngành “con ông cháu cha” nhưng đã đến lúc các ngân hàng cần khách quan và công bằng trong tuyển dụng để có được một đội ngũ nhân lực trình độ cao. Tiêu chuẩn tuyển dụng CBTD mới cần có là: tiêu chuẩn đậo đức, tư cách; tiêu chuẩn chuyên môn, tiêu chuẩn thể chất,..

Ngoài ra, các ngân hàng cungc cần chú trọng đến chính sách đãi ngộ CBTD. Đãi ngộ hợp lý về tiền lương, tiền thưởng, hệ số tiền lương,… có ý nghĩa quan trọng vì đây là đội ngũ có nhiều cống hiến, chịu áp lực lớn từ công việc mang tính rủi ro cao. Có như vậy, đội ngũ CBTD mới phát huy được khả năng và nhiệt tình lâu dài của mình. Đồng thời thực hiện cơ chế thưởng, phạt nghiêm minh, tạo ra bầu không khí thi đua, khuyến khích sáng tạo và phát huy trách nhiệm. Những CBTD vi phạm quy chế, quy trình nghiệp vụ tín dụng, làm thất thoát vốn của Nhà nước phải xử lý nghiêm khắc. Những CBTD có đạo đức tốt, yêu nghề, có khả năng tiếp thị, kinh doanh, .. cần có chế độ khen thưởng xứng đáng.

Tiền thưởng cho nhân viên: Một ngân hàng nước ngoài đã áp dụng rất thành công chính sách thưởng CBTD nếu như CBTD đó có dư nợ cho vay và chất lượng vay tốt. Tuy nhiên, điều đặc biệt ở đây là số tiền thưởng đó chỉ được gửi tới CBTD khi khách hàng vay hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi tiền vay cho ngân hàng. Như vậy, có khi sau một thời gian dài, tuỳ thuộc vào thời hạn của khoản vay, CBTD mới nhận được khoản tiền thưởng này của mình, mặc dù lúc này CBTD đó đã thuyên chuyển công tác hoặc đã về hưu. Nhưng làm như vậy thì mới gắn trách nhiệm của CBTD với khoản vay mà cán bộ đó cho vay.

Thực tế, Việt Nam còn thiếu rất nhiều chuyên gia cấp cao trong lĩnh vực ngân hàng. Điều này không những đáng lo ngại cho các ngân hàng nội địa trong vấn đề quản lý ngân hàng mà còn là nguy có cạnh tranh nhân lực sẽ đẩy chi phí tiền lương, tiền công lao động lên cao. Các ngân hàng trong nước sẽ gặp khó khăn và phải đối mặt với sự chảy máu chất xám.

Tóm lại, vấn đề nâng cao chất lượng CBTD là một nhiệm vụ trọng tâm của NHTMCP và cần phải có những cái cách hiệu quả.

2.6. Vận dụng các công cụ phái sinh tín dụng: Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Phái sinh tín dụng là các công cụ phương án được sử dụng để quản lý RRTD, chúng cho phép tách RRTD với các loại hình rủi ro khác vốn có trong mỗi công cụ cụ thể và chuyển rủi ro này từ người bán rủi ro (người mua sự bảo vệ tín dụng) sang người mua rủi ro (người bản sự bảo vệ tín dụng). Các công cụ phái sinh để phòng ngừa RRTD như: chứng khoán hoá các khoản cho vay, hợp đồng trao đổi tín dụng, hợp đồng quyền lựa chọn tín dụng, trái phiếu ràng buộc. Khả năng tách RRTD khỏi các tài sản Có và các tài sản Nợ làm cho phái sinh tín dụng trở nên hấp dẫn trong sử dụng. Nhờ các công cụ này, các TCTD có thể tự bảo vệ mình khỏi các RRTD, đảm bảo đa dạng hoá các rủi ro này.

Phát triển các công cụ tài chính mới, trong đó có công cụ phái sinh tín dụng được xem là một trong năm bài học rút ra từ sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế Mỹ suốt 5 năm qua (2000-2005). Các công cụ tài chính phương án không chỉ cho phép các ngân hàng phòng ngừa rủi ro mà còn là một trong những dịch vụ có tỷ lệ sinh lời cao nhất.Những công cụ này mặc dù tại các quốc gia phát triển tương đối phổ biến, song ở Việt Nam thì còn rất mới, chưa được sử dụng rộng rãi. Vì vậy, các ngân hàng cần nghiên cứu, áp dụng thử nghiệm và nếu thấy hiệu quả thì có thể đưa vào ứng dụng một cách thức quản lý rủi ro tương đối mới mẻ này.

2.7. Tăng vốn tự có của các ngân hàng.

Tăng vốn tự có là nhân tố quyết định để có thể tăng cường huy động vốn mở rộng đầu tư phục vụ phát triển kinh tế, vừa thực hiện tỷ lệ an toàn tối thiểu theo chuẩn mực quốc tế. Theo quy định cho vay tối đa đối với một khách hàng không quá 15% vốn tự có thì với mức vốn hiện nay, các NHTM không dủ sức tài trợ cho những dự án lớn như dầu khí, điện lực, hàng không,bưu chính viễn thông,… làm giảm khả năng cạnh tranh của các NHTM. Vì vậy, tăng vốn tự có để mở rộng quy mô hoạt động tín dụng đồng thời cũng tăng tính an toàn của ngân hàng.

Nguồn để tăng vốn tự có: Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

  • Chính phủ và Bộ tài chính cho phép NH TMCP giữ lại phần thuế sử dụng vốn phải nộp để tăng vốn tự có.
  • Chính phủ cho phép chuyển phần vốn vay từ Ngân hàng Thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế theo chương trình tái cơ cấu cho các NH TMCP và cho phép các ngân hàng này không phải sử dụng vốn hàng năm để các ngân hàng nhận vốn vay để tăng vốn tự có, được sử dụng số thuế sử dụng vốn này hoàn trả khoản vay theo các điều kiện của Ngân hàng Thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế.

Khuyến khích các NH TMCP tích cực thu hồi các khoản nợ đã khoanh để tăng vốn tự có.

  • Tăng vốn bằng phương thức bán cổ phần ưu đẫi ( không tham gia quản lý) cho cán bộ- công nhân viên với cổ tức cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm hoặc bán cổ phần ra công chúng trên thị trường OTC hợc thị trường niêm yết chính thức. Tại Việt Nam hiện nay, các NH TMCP đã niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Với việc niêm yết cổ phiếu, uy tín và thương hiệu của các ngân hàng đã tăng lên rất nhiều trên phạm vi cả nước. Thị trường chứng khoán đang ngày càng phát triển, tạo cơ hội lớn cho các ngân hàng tăng uy tín và bổ sung vốn điều lệ của mình. Vì vậy, các ngân hàng cần mnạh dạn, tận dụng cơ hội để tăng cường quy mô hoạt động của ngân hàng mình, vì nếu nhỏ yếu sẽ bị loại khỏi cuộc chơi đang ngày càng khốc liệt trên lĩnh vực tài chính-ngân hàng tại Việt Nam hiện nay.

2.8. Nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty quản lý nợ- DATC.

Hiệu quả hoạt động của công ty xử lý nợ Quốc gia DATC còn hạn chế, do đó, cần phải có những cải tiến hợp lý cho công ty này, nếu không để các NHTM Nhà nước tự xử lý nợ sẽ hiệu quả hơn. Nhà nước không nên đặt vấn đề bảo toàn vốn và có lợi nhuận làm nguyên tăc hoạt động chính cho tổ chức xử lý nợ. DATC nên chuyển sang mô hình hoạt động không vi lợi nhuận thì sẽ giảm áp lực về lỗ lãi cho công ty, đồng thời có khả năng giải quyết nhanh chóng nợ xấu. Nhà nước chỉ nên yêu cầu tổ chức này xử lý nợ, tối đa hoá gía trị thu hồi để giảm thiểu gánh nặng ngân sách hỗ trợ cho chương trình xử lý nợ tồn đọng. Quảng cáo, tuyên truyền, giúp cho các NH và các doanh nghiệp thấy rõ được lợi ích của DATC và bắt tay với tổ chức này để giải quyết nợ đọng.

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng bất cứ mô hình công ty quản lý tài sản nào cũng khó phù hợp khi mà các doanh nghiệp Nhà nước không được cải cách triệt để. Hay nói cách khác, nợ không thể xử lý được khi chưa xác định được con nợ hay con nợ không có nỗ lực trả nợ. Với mô hình doanh nghiệp Nhà nước cũ, những món nợ này là những khoản nợ vô chủ, không xác định được ai là người chịu trách nhiệm chính. Vì vậy, cần cải cách lại mô hình hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước và khuyến khích họ giải quyết nợ thông qua DATC.

2.9. Cải tiến mô hình đánh giá RRTD. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Mô hình chất lượng: Dựa trên yếu tố 6 C

  • Tư cách người vay (Character): CBTD phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, mục đích vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vat và trả nợ đối với khách hàng cũ, còn khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau.
  • Năng lực của người vay (Capacity): Tuỳ thuộc vào quy định luật pháp của quốc gia. Đối với cá nhân, dưới 18 tuổi không đủ tư cách ký hợp đồng tín dụng; đối với doanh nghiệp, phải căn của vào giấy phép kinh doanh, quyết đinh thành lập, quyết định bổ nhiệm người điều hành.
  • Thu nhập của người vay (Cash): Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tièn từ phát hành chứng khoán… Sau đó cần phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các chỉ số tài chính sau: + Nhóm chỉ tiêu thanh khoản (Liquidity ratio):

Hệ số lưu động = tài sản nợ lưu động / nợ ngắn hạn. Hệ số này phải lớn hơn 1, nếu không doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ đúng hạn.

Hệ số thanh khoản nhanh = tín dụng lưu động – hàng tồn kho / nợ ngắn hạn. Các doanh nghiệp có vòng quay hàng tồn kho chậm đòi hỏi hệ số này phải cao, còn doanh nghiệp có hệ số vòng quay hàng tồn kho nhanh thì chỉ tiêu này có thể nhỏ hơn 1.

Hệ số ngân quỹ = ngân quỹ / nợ ngắn hạn.

Nhóm chỉ tiêu đòn cân nợ ( Leverage ratio):

Hệ số nợ = tổng tài sản – vốn chủ sở hữu / tổng tài sản. Hệ số này có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 0,5 là lý tưởng vì có ít nhất phân nửa tài sản của doanh nghiệp được hình thành bằng vốn chủ sở hữu.

Hệ số khả năng trả lãi = lợi tức trước thuế về lãi / chi phí trả lãi. Hệ số này đo lường mức độ an toàn của thu nhập có thể trả lãi cho các chủ nợ.

Nhóm chỉ tiêu hoạt động ( Activity ratio):

Hệ số vòng quay hàng tồn kho = giá vốn hàng bán / hàng tồn kho

Hệ số vòng quay các khoản phải thu = doanh thu / các khoản phải thu.

Hệ số vòng quay tài sản = doanh thu thuần / tổng tài sản.

Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời ( Profitability ratio):

Hệ số mức sinh lời trên doanh thu = tổng lợi tức sau thuế / doanh thu thuần. Hệ số thu nhập trên tổng tài sản = tổng lợi tưc sau thuế / tổng tài sản

Hệ số thu nhập trên vốn thuần = tổng lợi tức sau thuế / vốn chủ sở hữu thuần Tuỳ theo từng loại hình tín dụng mà ngân hàng quan tâm đến các chỉ số khác nhau: cho vay ngắn hạn thì lưu tâm đến các chỉ số lưu động, chỉ số về nợ; cho vay dài hạn thì quan tâm đến chỉ số sinh lời, khả năng trả nợ.

Bảo đảm tiền vay (Collatera): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.

Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tuỳ theo chính sách tín dụng theo từng thời kỳ như cho vay hàng xuất khẩu với điều kiện thâu ngân hàng phải qua ngân hàng, nhằm thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng TW theo từng thời kỳ.

Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như các thay đổi trong pháp luật và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng.

Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s:

Rủi ro tín dụng hay rủi ro không hoàn được vốn trái phiếu của công ty thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu. Những đánh giá này được chuẩn bị bới một số dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó Moody’s và Standard & Poor’s là những dịch vụ tốt nhất.

Đối với Moody’s xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng với Standard & Poor’s thì cao nhất là AAA. Việc xếp hạn giảm dần từ Aa ( Moody’s) và AA ( Standard & Poor’s) sau đó thấp dần để phản ánh những rủi ro không được hoàn vốn cao. Trong đó, chứng khoán trong 4 loại đầu được xem như loại chứng khoán nên đầu tư, còn các loại chứng khoán bên dưới xếp hạng rác rưởi. Nhưng do có mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận nên tuy việc xếp hạng thấp ( rủi ro không hoàn vốn cao) nhưng có lợi nhuận cao nên đôi lúc khách hàng chấp nhận đầu tư vào các loại chứng khoán này. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Mô hình điểm số Z ( Z-Credit scoring model): 

Đây là mô hình do E.I. Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn. Đai lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người vay và phụ thuộc vào:

  • Trị số của các chỉ số tài chính của người vay
  • Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ. Từ đó Altman xây dựng mô hình điểm như sau:

Trong đó:

X1 = Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản

X2 = Hệ số lsĩ chưa phân phối / tổng tài sản

X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế / tổng tài sản

X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu / Giá trị hạch toán của tổng nợ

X5 = Hệ số doanh thu / tổng tài sản

Trị số Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Vậy khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao. Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào coá điểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ RRTD cao.

Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng.

Các hạng mục và điểm thường được sử dụng ở các ngân hàng Mỹ.

Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu thập, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác.

Bảng8 .Các hạng mục và điểm số trong mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng

Khách hàng có điểm số cao nhất theo mô hình với 8 mục tiêu nêu trên là 43

điểm, thấp nhất là 9 điểm. Giả sử ngân hàng biết 28 điểm là ranh giới giữa khách hàng có tín dụng tốt và khách hàng có tín dụng xấu, từ đó ngân hàng hình thành khung chính sách tài sản theo mô hình điểm như bảng 7.

2.10. Xây dựng mô hình quản trị RRTD tại các NH TMCP Việt Nam dựa trên những ứng dụng của nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Việt Nam đã có những bước phát triển kinh tế khá ấn tượng kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới kinh tế và thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. Năm 2007, thu hút FDI lên tới 20,3 tỷ đô la, đây là một sự tăng trưởng vượt trội so với mức 10,2 tỷ đô la trong năm 2006, tạo nguồn tài chính ngoại lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề huy động nguồn tài chính nội lực và sử dụng hiệu quả nguồn lực đó cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt trên vai các định chế tài chính Việt Nam nói chung và các NH TMCP nói riêng với những thách thức thực sự. Trong đó, việc sử dụng nguồn vốn có hiệu quả và đảm bảo tính an toàn, lành mạnh trong hoạt động cấp tín dụng, xây dựng một mô hình quản lý RRTD phù hợp là một đòi hỏi khách quan cần thiết để thực hiện mục tiêu này.Trên cơ sở những nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu và đặc thù hoạt động ngân hàng tại Việt Nam, những đính hướng có thể áp dụng trong xây dựng mô hình quản trị RRTD như sau:

Thực hiện phân tách chức năng bán hàng, chức năng thẩm định, quản lý RRTD và chức năng quản lý nợ trong hoạt động cấp tín dụng cho các doanh nghiệp.

Theo đó, toàn bộ việc xây dựng giới hạn tín dụng trên cơ sở xác định rủi ro tổng thể (thông qua thực hiện xếp hạng tín dụng, phân tích ngành, khả năng phát triển của ngành trong tương lai…) sẽ do bộ phận quản lý RRTD thực hiện độc lập, đảm bảo tính khách quan cũng như hạn chế sự phân tán thông tin khi cung cấp các sản phẩm tín dụng (cho vay, tài trợ thương mại,…). Đối với đánh giá các rủi ro giao dịch (được hiểu theo nghĩa là xem xét từng lần có thể giao cho bộ phận quan hệ khách hàng trực tiếp thực hiện thẩm định hoặc giao cho bộ phận phân tích tín dụng (đối với những doanh nghiệp có dư nơn lớn, tính phức tạp của các khoản vay cao). Cách thức này sẽ giúp đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách nhanh chóng và phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam. Trên cơ sở sự phân tích trên, bộ phận quan hệ khách hàng sẽ chịu trách nhiệm tiếp xúc, tiếp nhận các yêu cầu của khách hàng, cung cấp thông tin cho bộ phận quản lý RRTD , đồng thời giám sát kiểm tra quá trình thực hiện các cam kết của khách hàng (sử dụng vốn vay, thực hiện các cam kết về tiền vay,…). Bộ phận quản lý RRTD thực hiện việc “giám sát song song” quá trình bộ phận quan hệ khách hàng thực hiện các quyết định phê duyệt tín dụng để phát hiện các dấu hiệu rủi ro cũng như can thiệp kịp thời như giám sát việc thực hiện kiểm tra sử dụng vốn vay, kiểm tra tài sản đảm bảo, các điều kiện giải ngân….. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Như vậy, qúa trình đánh giá RRTD được thực hiện một cách tổng thể, liên tục trước, trong và sau khi cho vay, nâng cao hiệu quả quản lý RRTD, khắc phục được tình trạng không kịp thời khi chỉ sử dụng một cơ chế hậu kiểm của kiểm tra nội bộ.

Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm pháp lý của bộ phận quan hệ khách hàng, quản lý RRTD và quản lý nợ.

Sự rạch ròi trong phân định trách nhiệm sẽ đảm bảo tính công bằng trong đánh giá chất lượng công việc, là điều kiện để quá trình xử lý các dấu hiệu RRTD được nhanh chóng, hiệu quả và kịp thời cũng như tạo sự yên tâm trong suy nghĩ, hành động của các cán bộ các bộ phận. Đồng thời, mỗi bộ phận trong chức năng, nhiệm vụ của mình cần xây dựng các mục tiêu trong hoạt động cấp tín dụng ( tỷ lệ nợ xấu chấp nhận được, số lượng và nhóm khách hàng cần thiết lập, mức độ tăng trưởng tín dụng…) các giải pháp hiện thực hóa các mục tiêu đó, đảm bảo sự phối hợp uyển chuyển, nhịp nhàng giữa các bộ phận tác nghiệp khi các mục tiêu quản trị RRTD đã đề ra, phù hợp với đặc thù của mỗi ngân hàng cũng như chính sách tín dụng mà ngân hàng đó đề ra.

Tiêu chuẩn hóa cán bộ theo dõi RRTD để đáp ứng các yêu cầu của nguyên tắc Basel. Theo đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý RRTD có kinh nghiệm, có kiến thức và khả năng nhanh nhạy khi xem xét, đánh giá các đề xuất tín dụng. Ngân hàng có thể xây dựng một hệ tiêu chuẩn đối với cán bộ RRTD như trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế, thời gian trải qua công tác tại bộ phận quan hệ khách hàng, …. Những yêu cầu này sẽ giúp cho đội ngũ cán bộ quản lý RRTD trong quá trình phân tích, thẩm định và giám sát RRTD. Đồng thời, cần nâng cao tính chuyên nghiệp của các cán bộ ngân hàng, theo đó mỗi cán bộ ngân hàng theo chức năng, nhiệm vụ của mình phải thực hiện một cách đầy đủ, hết trách nhiệm và thái độ tất cả vì công việc chung trong xử lý mối quan hệ giữa các bộ phận.

Xây dựng cơ chế trao đổi thông tin hiệu quả, đảm bảo sự liên lạc thường xuyên, liên tục và cập nhật kịp thời các thông tin trọng yếu giữa các bộ phận chức năng trong hoạt động cấp tín dụng.

Mô hình quản lý RRTD hiện đại theo nguyên tắc Basel chỉ có thể thành công khi giải quyết được vấn đề cơ chế tro đổi thông tin, đảm bảo sự phân tách các bộ phận chức năng để thực hiện chuyên môn hóa và nâng cao tính khách quan nhưng không làm mất đi khả năng nắm bắt và kiểm soát thông tin của bộ phận quản lý RRTD. Muốn vậy, những thông tin trọng yếu trong quá trình cho vay cần phải được bộ phận quan hệ khách hàng cập nhật định kì và/ hoặc đột xuất và chuyển tiếp những thông tin này cho bộ phận quản lý RRTD phân tích, đánh giá những rủi ro tiềm ẩn. Như vậy, sự vận hành của mô hình này mới có thể thông suốt và giảm thiểu những e ngại của bộ phận quản lý RRTD trong các nhận định cấp tín dụng. Đồng thời, ngân hàng cần xây dựng hệ thống thông tin và phân tích thông tin toàn diện, cung ứng nguồn thông tin chính xác, đáng tin cậy cho cac bộ phận chuyên môn có liên quan. Các phân tích về ngành, lĩnh vực kinh tế đang được các ngân hàng bắt đầu thực hiện để xây dựng kho dữ liệu phân tích tín dụng nhưng chưa được đầy đủ và thiếu tính kết nối, hỗ trợ giữa các ngân hàng trong chia sẻ thông tin. Sự hợp tác một cách tòan diện giữa các ngân hàng trong xây dựng và chia sẻ cơ sở sữ liệu thông tin về doanh nghiệp, về ngành là con đường ngắn nhất để hoàn thiện hệ thống thông tin và giảm chi phí khai thác thông tin một cách hợp lý nhất.

IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI CHÍNH PHỦ VÀ NHNN

Quan hệ tín dụng có tính đa dạng, liên quan đến lợi ích của mọi tầng lớp dân cư và mọi thành phàn kinh tế trong xã hội. TTTD, biểu hiện cụ thể là nợ qúa hạn, không phải là vấn đề của riêng một ngân hàng nào mà là vấn đề chung của toàn hệ thống ngân hàng, thậm chí toàn bộ nền kinh tế. Bởi vậy, để có thể khắc phục hậu quả RRTD và đảm bảo thực hiện mục tiêu CBLI thì nếu chỉ có bản thân các ngân hàng nỗ lực vẫn chưa đủ mà còn cần tới sự phối hợp và hỗ trợ tích cự từ phía NHNN và Chính phủ, nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, ổn định, công bằng và ít rủi ro hơn cho hoạt động ngân hàng.

1. Kiến nghị với Chính phủ. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

1.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý:

Điều kiện về một môi trường pháp lý thuận lợi rất quan trọng đối với hoạt động của NHTM. Môi trường pháp lý không đầy đủ, thiếu đồng bộ và bất ổn định sẽ gây nhiều khó khăn và nguy cơ rủi ro cao cho các ngân hàng. Hoàn thiện môi trường pháp lý là ván đề cấp thiết, có ý nghĩa to lớn vì hoạt động ngân hàng liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội, đụng chạm đến nhiều quan hệ xã hội được các luật khác nhau điều chỉnh. Xét về tư cách pháp nhân, các TCTD cũng tương tự như các công ty và doanh nghiệp khác. Vì vậy, quản lý vĩ mô của NHNN và hoạt động của các NHTM sẽ không chỉ do Luật NHNN và Luật các TCTD điều chỉnh mà còn bị chi phối bởi các văn bản pháp luật khác như: Luật Doanh nghiệp, Luật Dân sự, Luật Thương mại,…

Sớm hoàn thiện sửa đổi Luật các TCTD để tạo cơ sơ pháp lý cơ bản cho việc hỉnh sửa cơ chế và thể lệ nghiệp vụ và tổ chức hoạt động của các TCTD và các quan hệ tín dụng trong nền kinh tế. Sửa đổi các Bộ luật: Luật phá sản doanh nghiệp đang có những bất cập hiện nay về việc không thừa nhận tư cách có đảm bảo của ngân hàng bảo lãnh, Luật Đất đai quy định quyền hạn của Tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền phán quyết về giá trị của giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất, có thể gây rủi ro cho các TCTD cho vay nhận thế chấp giá trị quyền sử dụng đất chính là giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất đó, cũng như hạn chế quyền xử lý tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất của ngân hàng. Sửa đổi Luật Doanh nghiệp Nhà nước trong việc quy định và xác định tài sản là dây chuyền công nghệ chính làm thế chấp vay vốn,hoặc bất cập có liên quan đến vốn điều lệ của Doanh nghiệp Nhà nước.

Từng bước phát triển và hoàn thiện hơn nữa hoạt động của thị trường bất động sản nhằm tạo điều kiện vay vốn tín dụng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, hạn chế việc đầu tư quá mức vào thị trường bất động sản tạo ra những cơn sốt giá giả tạo, gây bất ổn định cho thị trường tiền tệ và thị trường tín dụng. Nâng cao hiệu quả của các hoạt động tín dụng ưu đãi và hạn chế tác động tiêu cực của hoạt động này đến tính bình đẳng và khả năng điều tiết của thị trường tín dụng đối với các quan hệ tín dụng.

Trong điều hành vĩ mô, các chính sách xuất nhập khẩu, tỷ giá, ngoại hối, lãi suất,… rất cần tới sự ổn định để bảo đảm quyền lợi cũng như quy trì niềm tin của các nhà đầu tư, những người sản xuất và là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Hoạt động ngân hàng diễn biến liên tục và thay đổi nhanh chóng. Chính vì vậy, các quy định liên quan đến quy trình, thủ tục cần sớm nới lỏng hoặc quy định có tính chất khung để tạo điều kiện cho ngân hàng đa dạng hóa các hình thức hoạt động.

NHNN xác định hành lang an toàn, các chuẩn mực và hệ thống chỉ tiêu an toàn mà các NHTM phải tuân thủ. Khi xử phạt những vi phạm trong kinh doanh, vừa phải dùng các biện pháp hành chính, dân sự, kinh tế và khi cần thiết cũng không loại trừ các biện pháp hình sự; tuy nhiên cần xem trọng nhất các biện pháp kinh tế.

1.2. Hoàn thiện cơ chế hoạt động của công ty bảo hiểm tiền gửi.

Xây dựng hệ thống chính sách để phù hợp với thực tế nền kinh tế và phát huy được hiệu quả. Cần thay đổi quy định về mức tiền gửi bảo hiểm tối đa:

  • Thay đổi quy định về mức phí bảo hiểm tiền gửi.
  • Tăng cường năng lực tài chính của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN): Theo thông lệ quốc tê, trong bối cảnh hệ thống TCTD hoạt động bình thường, thì vốn điều lệ của tổ chức tham gia BHTG phải tương đương khoảng 2% tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm. Thực tế hoạt động thời gian qua cho thấy, vốn điều lệ của BHTG mới chỉ đạt xấp xỉ 1% tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm. Vì vậy, đề nghị Nhà nước xem xét bổ sung vốn điều lệ của BHTGVN cho phù hợp với tình hình hoạt động thực tế. Cơ chế tài chính hiện hành chưa cho phép BHTGVN được trích lập Quỹ dự phòng rủi ro từ chi phí hoạt động để xử lý các khoản rủi ro trong nghiệp vụ hỗ trợ tài chính, cho nên BHTGVN chưa thể triển khai được nghiệp vụ hỗ trợ tài chính đối với các tổ chức tham gia BHTG. Vì vậy đề nghị Chính phủ cho phép bổ sung khoản mục trích lập quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp tổn thất dự kiến có thể xảy ra trong nghiệp vụ hỗ trợ tài chính của NHTGVN.

Xác định vị trí chủ nợ của BHTGVN khi chi trả bảo hiểm: Theo quy định hiện hành, BHTGVN chỉ trở thành chủ nợ khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản. Quy định này tạo nên bất hợp lý khi BHTGVN bị giải thể là trong quá trình thanh lý, tiền thu hồi có thể trả trước cho các thành viên, cổ đông góp vốn. Như vậy, BHTG phải trở thành chủ nợ ngay khi thực hiện chi trả tiền bảo hiểm và có vị trí trong trật tự thanh toán khi xử lý các tổ chức tham gia BHTG là tiền hỗ trợ tài chính của Nhà nước.

1.3. Nhanh chóng phát triển thị trường vốn. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Nhanh chóng phát triển thị trường vốn để giải quyết nhu cầu vố trung, dài hạn của nền kinh tế, giảm áp lực đối với thị trường tín dụng. Một trong những nguyên nhân gây áp lực mạnh mẽ và làm cho tín dụng ngân hàng tăng trưởng nóng chính do xuất phát từ nhu cầu vốn của nền kinh tế, nhất là vốn trung và dài hạn mà thị trường vốn chưa giải quyết được quan hệ cung cầu đó. Vì vậy, để phát triển thị trường vốn (bao gồm thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, tập trung và phi tập trung) cần phải tập trung một số vấn đề:

Phát triển mạnh thị trường trái phiếu trên cơ sở tăng cung cầu trên thị trường bằng cách mở rộng cho nhiều thành viên tham gia đấu thầu trái phiếu Chính phủ, nghiên cứu đưa ra các khuô khổ pháp lý thông thoáng cho việc mua bán, cầm cố trái phiếu Chính phủ, cho phép trai phiếu Chính phủ được chiết khấu tại NHNN , khuyến khích các công ty lớn làm ăn có hiệu quả, nhất là các tổng công ty Nhà nước phát hàn và niêm yết trái phiếu công ty, đa dạng hóa giao dịch các loại trái phiếu mới như trái phiếu có khả năng chuyển đổi, trái phiếu đô thị, trái phiếu các NHTM.

Phải củng cố thật mạnh và có bước phát triển đột phá thị trường chứng khoán ở nước ta. Cần thực sự cổ phần hóa các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp Nhà nước và thí điểm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mạnh dạn cổ phần hóa các doanh nghiệp lớn của Nhà nước trong các ngành viễn thông, điện lựFc, dầu khí,… để tạo đà và lực cho thị trường chứng khoán. Tăng cung và cầu cổ phiếu, cùng với thúc đẩy các giao dịch trên thị trường, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý vá sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước.

Phát triển thị trường thương phiếu (hối phiếu và lệnh phiếu) mà hiện nay hầu như chúng ta chưa triển khai thực hiện. Nếu thị trường thương phiếu phát triển không chỉ lành mạnh hóa tình trạng chiếm dụng vốn giữa các doanh nghiệp mà điều kiện phát triển các dịch vụ chiết khấu và tái chiết khấu, thu nhập dịch vụ của các TCTD. Đặc biệt chí sẻ và giảm áp lực thị trường tín dụng ngắn hạn cho các tổ chức tín dụng đang khá nóng hiện nay.

2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

2.1. Tăng cường công tác thanh tra của NHNN.

Điểm cần lưu ý ở đâylà song song với việc mở rộng quyền tự quyết của mỗi TCTD, cần không ngừng nâng cao việc theo dõi, giám sát ha ngân hàng từ phía các cơ quan quản lý. Cụ thể là sự giám sát từ cơ quan Thanh tra NHNN. Mục tiêu công tác thanh tra của NHNN là phát hiện, kịp thời ngăn chặn và xử lý vi phạm trong mọi lĩnh vực hoạt động của ngân hàng sau thanh tra. Đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của NHNN với tư cách là cơ quan quản lý các TCTD. Trọng tâm thanh tra trong hoạt động tín dụng là kiểm tra việc chấp hành các quy định về cấp tín dụng, bảo lãnh mở L/C nhập hàng trả chậm, kiên quyêt xử lý những khuyết điểm đã được xác định cụ thể qua kết quả thanh tra. Cơ quan thanh tra cần có khoản kinh phí đầu tư thích đáng, biên chế đủ và thường xuyên bổ túc nâng cao trình độ cán bộ. Rõ ràng sự phá sản của bất kì một NHTM nào cũng thiệt hại gấp nhiều lần so với việc trích ra một khoản kinh phí đủ cho cơ quan thanh tra hoạt động được.

Hoạt động ngân hàng sẽ có hiệu quả hơn khi được thanh tra, giám sát chặt chẽ. Kết quả của những đợt thanh tra chính là những tín hiệu quan trọng để có những biện pháp xử lý cụ thể nhằm ngăn chặn những vi phạm, tiêu cực phát sinh, buộc các TCTD phải tuyệt đối tuân thủ những quy đinh đã đặt ra. Phải kết hợp tốt công tác giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ, khắc phục khâu yếu hiện nay là không phát huy được vai trò thanh tra của chi nhánh NHNN đối với các TCTD hoạt động trên địa bàn. Giải pháp là duy trì hoạt động phân tích và giám sát iên tục qua mạng máy tính đối với các TCTD trong hệ thống ngân hàng. Trong quá trình thanh tra cần chú trọng việc phối hợp với chính quyền các cấp, các bộ, ngành hữu quan như ủy ban Nhân dân Tỉnh, thành phô, Bộ nội vụ, Viện Kiểm sát, Bộ tài chính,…

2.2. Nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tín dụng, đổi mới cơ chế quản lý tín dụng ngân hàng của NHNN. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

Tiếp tục đổi mới chính sách cung ứng tín dụng phù hợp theo yêu caàu và mục tiêu của chính sách tiền tệ và chính sách tài chính quốc gia. Chính sách tín dụng vĩ mô cần được hoạch định phù hợp với quá trình và yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế , cơ cấu phân bổ nguồn lực, cơ cấu thị trường và thay đổi cơ cấu sản phẩm,…. Chính sách tín dụng của NHNN phải là cơ sở, định hướng cho các ngân hàng xác định mục tiêu, mức độ, cơ cấu về huy động vốn cũng như đầu tư tín dụng cho nền kinh tế. Trong điều hành chính sách tín dụng, cần nghiên cứu tiến tới tách bạch chức năng cơ quan chủ quản với chức năng giám sát, kiểm tra đảm bảo an toàn tín dụng và an toàn hệ thống của NHNN. Nhanh chóng xây dựng các tiêu chí an toàn phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam. Tiếp tục ban hành các văn bản pháp quy nhằm đảm bảo an toàn hệ thống như BHTG, tài sản đảm bảo tín dụng, đăng kí giao dịch đảm bảo. Về cơ chế tín dụng, nhìn tổng thể, NHNN cần tiếp tục rà soát lại toàn bộ các quy định hiện nay về chế độ và thể lệ tín dụng hiện hành. Tạp trung ban hành một hệ thống văn bản mang tính chất khung pháp lý chung tổng hợp tất cả các quy định về loại hình hoạt động tín dụng. Không nên quy định quá chi tiết thuộc nghiệp vụ kinh doanh của các TCTD để hạn chế việc can thiệp sâu không phù hợp với cơ chế thị trường và tạo chủ động cho các NHTM trong kinh doanh tín dụng. Về cơ chế huy động vốn, Nhà nước cần đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền bằng việc phát triển phương thức bảo hiểm tiền gửi của cơ quan bảo hiểm đã được thành lập. Bảo đảm tính an toàn hệ thống thông qua việc hỗ trợ khả năng chi trả cho các ngân hàng khi gặp khó khăn. Ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng trong việc chi trả tiền gửi, trách nhiệm của ngân hàng trong việc bảo quản lưu trữ các chứng chỉ, thẻ tiền gửi. Về cơ chế cho vay vốn, NHNN cũng chỉ nên xây dựng một thể lệ tín dụng chung theo hướng chỉ quy định những điều hạn chế hoặc không được thực hiện. Vì trong nền kinh tế hiện đại, xu hướng sẽ chuyển dần các loại tín dụng cho vay theo thời hạn truyền thống hiện nay sang hình thức tín dụng dự án. Cho vay thực hiện phương châm tập trung, dứt điểm, hiệu quả và đảm bảo nguyên tắc: Cho vay theo thứ tự ưu tiên về mức độ hiệu quả và nhu cầu cấp thiết của các dự án.

Như vậy, bản thân các NHTM có thế chủ động khắc phục một phần RRTD thông qua các biện pháp như: Củng cố đội ngũ cán bộ, thu thập đầy đủ thông tin về khách hàng và thẩm định chặt chẽ dự án cho vay, phân tán rủi ro nhờ đa dạng hóa các hình thức cấp tín dụng, nâng cao hiệu quả của hệ thống thanh tra nội bộ, lập các quỹ dự phòng,… Tuy nhiên vấn đề RRTD không chỉ của riêng một ngân hàng nào hay của riêng hệ thống ngân hàng mà có liên quan đến hoạt động kinh tế-xã hội chung. Vì vậy, Chính phủ và NHNN cũng cần có những biện pháp nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các ngân hàng trong quản lý RRTD, bao gồm: Hoàn thiện môi trường pháp lý, hoàn thiện hệ thống thông tin, tăng cường công tác thanh tra của NHNN, hoàn thiện cơ chế hoạt động của công ty BHTG, nhanh chóng phát triển thị trường vốn… Cuối cùng cần phải nhấn mạnh một điều là tát cả các biện pháp đặt ra có liên quan chặt chẽ với nhau và phải được thực thi một cách đồng bộ thì mới có thể đem lại hiệu quả cao nhất.

KẾT LUẬN

Quản trị rủi ro nhằm cân bằng lợi ích trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam hiện nay là một vấn đề quan trọng cần được các nhà quản trị ngân hàng đặc biệt quan tâm đến không chỉ bới tính thực tiễn cấp thiết của vấn đề này. Các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nếu giải quyết tốt công tác quản trị sẽ có thêm một tiền đề vững chắc thúc đẩy ngân hàng tiến tới phát triển bền vững.

Trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp, khóa luận đã giải quyết được những vấn đề sau:

  • Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại cổ phần, rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng, mục tiêu cân bằng lợi ích và làm rõ tác động của hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đến mục tiêu cân bằng lợi ích.
  • Mô tả thực trạng hoạt động chung của ngân hàng thương mại cổ phẩn, thực trạng hoạt rủi ro tín dụng và thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng, thực trạng thực hiện mục tiêu cân bằng lợi ích; từ đó đưa ra đánh giá chung về những thành tích đã đạt được, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của hạn chế. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Cân bằng lợi ích tín dụng tại ngân hàng VietinBank

One thought on “Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện lợi ích tín dụng tại VietinBank

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng quản trị lợi ích tín dụng tại VietinBank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464