Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Quảng Trị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Quảng Trị
Tỉnh Quảng Trị là tỉnh thuộc vùng có toạ độ địa lý 17010′ đến 16018′ vĩ độ Bắc, 106032′ đến 107024′ kinh độ Ðông, cách Thủ đô Hà Nội 598 km. Tỉnh Quảng Trị thuộc vùng Bắc Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế, phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và phía Đông giáp biển đông. Tỉnh có 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện. Quảng Trị nằm trên các trục giao thông quan trọng của quốc gia, có Quốc lộ 9 nằm trên tuyến Hành lang Kinh tế Đông – Tây (EWEC) qua cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo, thuậ lợi cho các ngành giao thông, thương mại, du lịch và hợp tác đầu tư với các nước ASEAN.
Quảng Trị có lợi thế về địa lý – kinh tế, là đầu mối giao thông, nằm ở trung điểm đất nước, ở vị trí quan trọng – điểm đầu trên tuyến đường huyết mạch chính của hành lang kinh tế Đông – Tây nối với Lào – Thái Lan – Mianmar qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đến các cảng biển Miền Trung như: Cửa Việt, Chân Mây, Đà Nẵng, Vũng Áng…
Đây là điều kiện rất thuận lợi để Quảng Trị mở rộng hợp tác kinh tế trong khu vực, giao thương hàng hóa, vận tải quốc tế, phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch ..
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
2.2 Tổng quan về cục thuế tỉnh Quảng Trị Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
Ngày 21/08/1990, Bộ Tài chính đã có Quyết định số 314 TC/QĐ/TCCB về việc thành lập Cục Thuế tỉnh Quảng Trị, trên cơ sở sát nhập Chi cục thu quốc doanh, Chi cục Thuế công thương nghiệp và bộ phận thuế nông nghiệp của Sở Tài chính theo hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến địa phương. Hiện nay bộ máy tổ chức quản lý của Cục Thuế tỉnh Quả g Trị được thực hiện theo mô hình tổ chức cơ cấu trực tuyến – chức năng. Đây là kiểu cơ cấu trong đó có hai cấp quản lý: cấp Cục Thuế (cấp Tỉnh) và cấp Chi Cục Thuế (cấp Huyện, Thị xã, Thành phố).
Bộ máy tổ chức Cục Thuế gồm Văn phòng Cục Thuế và 10 Chi cục Thuế (09 huyện, thị xã và thành phố Đông Hà), trong đó Văn phòng Cục Thuế có 11 phòng.
Chức năng và nhiệm vụ của Cục Thuế tỉnh Quảng Trị
Cục Thuế tỉnh Quảng Trị đóng tại phường Đông Lương, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Văn phòng Cục Thuế tỉnh Quảng Trị gồm có Cục trưởng chỉ đạo, điều hành chung các mặt công tác của Cục Thuế và 03 Phó Cục trưởng giúp việc cho Cục trưởng.
Theo nguồn tài liệu từ cục Thuế tỉnh Quảng Trị ,chức năng, nhiệm vụ của các phòng thuộc Cục Thuế được quy định như sau:
- Phòng Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thu : Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách, pháp luật thuế, hỗ trợ người nộp thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý; tư vấn, hỗ trợ, trả lời các vướng mắc về t uế; biên soạn tài liệu và tham gia đào tạo cán bộ, công chức thuế thuộc lĩnh vực được giao và thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.
- Phòng Kê khai và Kế toán thuế: Tổ chức thực hiện công tác đăng ký thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý; Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra công tác xử lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế và thống kê thuế đối với các Chi cục Thuế và thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.
- Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân: Tổ chức, chỉ đạo triển khai quản lý thuế thu nhập cá nhân đối vớ các cá nhân có thu nhập thuộc diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý; Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.
- Phòng Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: Thực hiện công tác quản lý nợ thuế, đôn đốc thu tiền thuế nợ và cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt trong phạm vi quản lý; Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra công tác quản lý thu nợ và CCNT đối với các Chi cục Thuế; Tổng hợp, báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện công tác quản lý nợ và CCNT trên địa bàn; biên soạn tài liệu và tham gia đào tạo cán bộ, công chức thuế thuộc lĩnh vực được giao; Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.
- Phòng Kiểm tra Thuế: Kiểm tra, giám sát kê khai thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý trực tiếp của Cục Thuế.
- Tổ chức thu thập thông tin liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế; Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.
- Phòng Thanh tra thuế: Triển khai thực hiện công tác thanh tra người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế; giải quyết tố cáo về hành vi trốn lậ thuế, gian lận thuế liên quan đến người nộp thuế thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý; Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao. Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
- Phòng Tổng hợp – Nghiệp vụ – Dự toán: Chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế; xây dựng và thực hi ện dự toán thu ngân sách nhà nước thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý; Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.
- Phòng Kiểm tra nội bộ: Tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế; giải quyết khiếu nại tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế trong phạm vi quản lý của Cục trưởng Cục thuế; Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.
- Phòng Tin học: Tổ chức quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học ngành thuế; triển khai các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế và hỗ trợ hướng dẫn, đào tạo cán bộ thuế trong việc sử dụng ứng dụng tin học trong công tác quản lý; Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.
- Phòng Tổ chức cán bộ: Tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện về công tác tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, biên chế, tiền lương, đào tạo cán bộ và thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong nội bộ Cục Thuế; thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.
- Phòng Hành chính – Quản trị – Tài vụ – Ấn chỉ: Tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện các công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý tài chính, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, quản trị, quản lý ấn chỉ thuế trong toàn Cục thuế; thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.
2.3 Thực trạng công tác quản lý thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh Quảng Trị. Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
2.3.1 Thực trạng công tác đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và ấn định thuế
Công tác quản lý doanh nghiệp, đăng ký thuế, kê khai và kế toán thuế được thực hiện theo quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế ban hành theo Quyết định số 879/QĐ-TCT ngày 15/5/2015 của Tổng cục Thuế.
Về việc nộp khai thuế
Các doanh nghiệp có xu hướng nộp khai thuế tăng qua các năm từ năm 2013 đến năm 2016 cụ thể năm 2013 là 94,76 %, năm 2014 tăng lên đến 97,05%, năm 2015 tăng lên đến 98,39%, năm 2016 đạt 99,33 %. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp đã tiếp cận và am hiểu đồng thời tuân thủ chính sách thuế, cán bộ thuế đã tích cực trong việc tuyên truyền chính sách thuế đến các doanh nghiệp một cách tích cực. Tuy nhiên vẫn còn nhiều doanh nghiệp chậm trễ và cố tình trong việc nộp chậm và không nộp khai thuế, nguyên nhân chủ yếu là do một số doanh nghiệp mới thành lập chưa nắm rõ về các chính sách, một số tờ khai thuế còn sai sót nên dẫn đến tình trạng nộp chậm tờ khai thuế.
Về việc nộp thuế
Xác đị h thuế TNDN là một trong những nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Thời gian qua Cục Thuế Quảng Trị đã có sự quan tâm đặc biệt đến công tác quản lý thu thuế TNDN đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Vì vậy giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016 số thu, nộp thuế TNDN đều hoàn thành và vượt dự toán, số nộp năm sau luôn cao hơn năm trước. Cụ thể năm 2013 có tỷ lệ hoàn thành đạt 126,62 %, là năm có tỷ lệ hoàn thành cao nhất trong các năm. Năm 2014 có tỷ lệ hoàn thành đạt 117,76%, năm 2015 có tỷ lệ hoàn thành đạt 113,62 %, năm 2016 có tỷ lệ hoàn thành đạt 113,29%. Điều này chứng tỏ tình hình quản lý thuế TNDN tại Cục Thuế Quảng Trị những năm vừa qua đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên tỉnh Quảng Trị vẫn là một tỉnh nghèo, chưa có sự đầu tư và phát triển thương mại, du lịch, khai khoáng chưa được tận dụng một cách hữu hiệu nên số thu về thuế vẫn thấp so với khu vực.
2.3.2 Quản lý công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế là khâu quan trọng trong toàn bộ lộ trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế . Nó giúp người nộp thuế nâng cao ý thức trách nhiệm về việc khai thuế và nộp thuế, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của ngành, tạo sợi dây gắn kết giữa người nộp thuế và cơ quan thuế.
Thực hiện luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực từ ngày 01/07/2007, công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế luôn được quan tâm thực hiện. Đây được xem là nhiệm vụ quan tâm hàng đầu trong công tác quản lý thuế hiện nay.Công tác tuyên truyền tại Cục Thuế tỉnh Quảng Trị bao gồm các công việc chủ yếu sau:
Công tác tiếp nhận hồ sơ giải quyết vướng mắc cho NNT tại bộ phận “một cửa” Cục Thuế tỉnh Quảng Trị đã thành lập và đưa vào hoạt động của bộ phận giao dịch “1 cửa” hằm tạo điều kiện thuận lợi cho NNT khi thực hiện nghĩa vụ thuế cũng như cần tư vấn và tìm hiểu về chính sách thuế.
Về công tác tuyên truyền.
Cục Thuế đã tổ chức đa dạng các hình thức tuyên truyền về chính sách pháp luật thuế như: viết các tin, bài tuyên truyền trên báo địa phương và tạp chí thuế; phối hợp với Sở tư pháp, Đài phát thanh truyền hình tỉnh mở chuyên mục về thuế; Xây dựng các cụm panô, áp phích tuyên truyền về thuế; Tủ sách miễn phí đã kịp thời cung cấp các tài liệu về chính sách thuế cho NNT; Thường xuyên phối hợp với các ban ngành trong tỉnh như: Ban Tuyên giáo, Ban dân vận… tuyên truyền chính sách thuế đến mọi người dân trên địa bàn. Công tác tuyên truyền đã phát huy được hiệu quả quan trọng trong việc truyền tải những nội dung chính sách pháp luật thuế đến đông đảo NNT, nhân dân và cán bộ trong tỉnh.Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
Về công tác hỗ trợ
Cục Thuế Quảng Trị đã tổ chức kịp thời các buổi tập huấn Luật thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn mới; các chính sách thuế mới sửa đổi, bổ sung, các chính sách về miễn thuế, giãn thuế, gia hạn nộp thuế TNDN…cho toàn bộ doanh nghiệp. Hướng dẫn, giải thích, trả lời các chính sách liên quan đến t uế TNDN cho các doanh nghiệp tại cơ quan thuế, qua điện thoại và bằng văn bả kịp thời, thái độ của cán bộ thuế nhiệt tình, xem NNT là bạn đồng hành, được NNT t n tưởng, chất lượng công tác hỗ trợ ngày càng cao.
Từ bảng trên đưa ra nhận xét:
Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế tăng lên một cách rõ rệt qua những bài viết, bài báo, các lớp tập huấn, hội nghị, các văn bản trả lời… Từ đó cho thấy được, cục thuế tỉnh chú trọng và lấy công tác tuyên truyền hỗ trợ làm nhiệm vụ hằng đầu. Công tác được triển khai một cách đa dạng, đúng kế hoạch, dễ ghi nhớ.
Công tác tổ chức tuyên dương NNT
Cục Thuế Quảng Trị đã trình UBND Tỉnh tuyên dương kịp thời các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoàn thành tốt nghĩa vụ nộp hu hàng năm, đồng thời đề nghị Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính…khen thưởng những doanh nghiệp chấp hành tốt chính sách thuế. Phối hợp với Ban thi đua khen t ưởng T ỉnh khen thưởng, tôn vinh các doanh nghiệp chấp hành tốt nhân ngày doanh hân Việt Nam.
Công tác cải cách thủ tục hành chính thuế.
Ngành Thuế tỉnh Quảng Trị đã chủ động xây dựng ban hành Kế hoạch chương trình hành động thực hiện Kế hoạch, Chương trình hành động trọng tâm để nâng cao chỉ số PCI năm 2016 ban hành kèm theo Công văn số 197/CT-TTHT ngày 14/01/2016 nhằm thức hiện có hiệu quả Quyết định số 1383/QĐ-UBND ngày 07/7/2014 về việc Ban hành Chương trình hành động cải t iện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2014-2020
Việc hướng dẫn, giả quyết các thủ tục hành chính về nhận hồ sơ và trả kết quả cho NNT như đăng ký thuế, nhận hồ sơ khai thuế, hoàn thuế… cho NNT nhanh chóng, trả kết quả trước thời hạn quy định. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính và Tổng cục thuế, Cục Thuế Quảng Trị đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thông tuyên truyề n và hỗ trợ đến các DN về lợi ích của việc kê khai thuế qua mạng và nộp thuế điệ tử một cách sâu rộng kịp thời, 100% các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn đã tiến hành kê khai thuế qua mạng và nộp thuế điện tử. Vì vậy Năm 2015 Cục Thuế Quảng Trị vinh dự là 1 trong 3 Cục Thuế được Tổng Cục Thuế tặng bằng khen về công tác tuyên truyền thực hiện chương trình thuế điện tử.
2.3.3 Quản lý công tác kiểm tra và thanh tra thuế Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
Để tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý thuế TNDN, nâng cao năng lực của cơ quan thuế trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các doanh nghiệp có hành vi gian lận, trốn thuế; đồng thời phát huy tính tự giác chấp hành và tự chị trách nhiệm của người nộp thuế. Trong thời gian qua, Cục Thuế tỉnh Quảng Trị đã không ngừng đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra thuế, góp phần đảm bảo nguồn thu ngân sách.
Nội dung của công tác kiểm tra, thanh tra như sau:
- Lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra.
- Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế.
- Kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
Để hạn chế mức thấp nhất tình trạng thất thu gân sách Nhà nước, cục thuế Tỉnh Quảng Trị đã lên kế hoạch để kiểm tra và thanh tra thuế một cách hợp lý. Kế hoạch kiểm tra các doanh nghiệp được dựa trên việc phân tích, đánh giá, chọn lựa từ 15% – 20% các cơ sở kinh doanh có rủi ro v ề thuế như:[ 8]
- Nộp hồ sơ khai thuế thường không đầy đủ các tài liệu kèm theo.
- Khai thuế hay sai sót, k ông đúng với số thuế phải nộp, phải điều chỉnh nhiều lần, cơ quan thuế đã nhắc nhở nhiều lần nhưng vẫn chậm khắc phục.
- Vi phạm về hồ sơ khai thuế tháng, quý mà cơ quan phải ra quyế định kiểm tra tại cơ sở kinh doanh ít nhất 3 lần trong 1 năm.
- Không nộp đúng số thuế đã kê khai và nộp chậm kéo dài, thường xuyên có tình trạng nợ thuế.
- Có đột biến về doanh thu hoặc số thuế phải nộp tăng hoặc giảm trên 20%.
Qua bảng kết quả trên có thể thấy từ năm 2013 – 2015 số DN kiểm tra tăng lên rõ rệt, cụ thể năm 2014 tăng 38,32% so với năm 2013, năm 2015 tăng 44,59 % so với năm 2014. Tuy nhiên năm 2016 giảm 18,79% so với năm 2015. Do đó số tiền truy thu cũng tương ứng với số doanh nghiệp được kiểm tra, cụ thể năm 2014 số tiền truy thu tăng 6,25 % so với năm 2013, năm 2015 số tiền truy thu giảm 3,42 % so với năm 2014, năm 2016 số tiền truy thu giảm 27,73 % so với năm 2015. Điều này cho thấy rõ khi cục thuế tỉnh Quảng Trị đã thực hiện nghị quyết 19/ NQ- CP ngày 12/03/2015 của chính phủ về việc cắt giả m thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người doanh nghiệp đối với công tác kiểm tra thanh tra thuế. Tuy nhiên để tránh tình trạng thất thu NSNN, việc đâỷ mạnh công tác thanh tra kiểm tra nên có kế hoạch hợp lý nhằm răn đe, ngăn chặn các hành vi gian lận về thuế, mà trước tiên là ngăn chặn đẩy lùi tình trạng “ Doanh ghiệp ma”. Điều này góp phần tạo lập công bằng về nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp.
Qua công tác thanh tra kiểm tra cho thấy những dạng sai phạm chủ yếu về thuế TNDN như sau: Không hạch toán, hạch toán không đủ doanh thu, thu nhập chịu thuế; Hạch toán doanh thu không đúng thời điểm làm giảm số thuế phải nộp do chênh lệch về thuế suất; Kết chuyến giá vốn (giá thành sản xuất) không tương ứng với doanh thu, giảm số thuế phải nộp; Hạch toán chi phí được trừ để xác định thu nhập chịu thuế sai quy định làm giảm số thuế phải nộp; Kê khai, quyết toán sai thuế suất thuế TNDN.
Các doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra đều có sai phạm trong việc hạch toán, kê khai, quyết toán thuế với các mức độ khác nhau, điề này dẫn đến việc thất thu ngân sách Nhà nước. Nguyên nhân của các sai phạm:
- Các doanh nghiệp đã không xác định rõ thời điểm ghi nhận, hạch toán doanh thu của các công trình, dự án do đơn vị thi công theo quy định của pháp luật thuế và chuẩn mực doanh thu; phần lớn các doanh nghiệp đều hạ ch oán doanh thu theo số tiền thực tế được thanh toán. Do đó, dẫn đến việc chậm kê khai, nộp thuế so với quy định.
- Do các doanh nghiệp không loại bỏ chi p í được trừ theo quy định khi xác định thu nhập chịu thuế và quyết toán thuế. Do đó, kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp không chính xác, làm giảm số thuế phả nộp.
- Một số doanh nghiệp chỉ hạch toán doanh thu từ 90% – 95%, trừ dự phòng giá trị cắt giảm khi quyết toán vốn đầu tư. Do đó, kê khai, xác định số thuế phải nộp không đúng với doanh thu thực tế.
Một số doanh nghiệp chưa nắm bắt và hiểu đầy đủ chính sách pháp luật về thuế, tài chính, kế toán; năng lực của một số kế toán doanh nghiệp còn yếu kém, hạch toán sai một số nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong niên độ kế toán; kê khai thuế sai thuế suất, sai đơn giá, sai thời điểm, sai số học… Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý kết quả thanh tra, kiểm tra được thực hiện cơ bản theo đúng quy trình ban hành kèm theo Quyết định số 460/QĐ-TCT ngày 05/5/2009 của Tổng cục Thuế và các quy định của Luật Quản lý thuế.
Tuy nhiên, bên c ạnh những mặt làm được, công tác kiểm tra quyết toán thuế cũng còn nhữ g mặt tồ tại cần được khắc phục:
Bước kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế còn tiến hành chậm, làm ảnh hưởng đến bước kiểm tra báo cáo quyết toán bước 2 tại trụ sở người nộp thuế.
Một số nội dung kiểm tra còn phụ thuộc nhiều vào khai báo chủ quan của doanh nghiệp:
Thời gian cho một cuộc kiểm tra hiện nay quy định là không quá 5 ngày (nếu vì lý do nào đó cần kéo dài thời gian kiểm tra thì phải xin quyết định bổ sung của cấp trên). Thời gian đó quá eo hẹp so với khối lượng công việc mà đoàn kiểm tra phải tiến hành. Chính vì thế, để đảm bảo tiến độ, không vượt giới hạn thời gian quy định, ở một số nội dung đoàn kiểm tra không có điều kiện xác minh, tìm hiểu mà phải dựa hoàn toàn vào số liệu do doanh nghiệp cung cấp. Thông thường những nội d ng đó là: phần vốn, tăng giảm TSCĐ, tăng giảm trích khấu hao, phần công nợ, sản phẩm dở dang, thành phẩm tồn kho…Tại một số doanh nghiệp, đoàn kiểm tra cũng không có điều kiện để tiến hành đối chiếu hoá đơn, chứng từ giữa người mua và người bán. Điều này làm cho kết quả kiểm tra không được chính xác và thực ế, mà phụ thuộc rất lớn vào ý thức tự giác, sự trung thực của các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có tự giác cao, chấp hành pháp luật thuế thì những số liệu mà họ cung cấp có thể tin cậy được và kết quả kiểm tra sẽ có cơ sở chính xác. Ngược lạ , ếu doa h nghiệp cố tình vi phạm, sử dụng những biện pháp tinh vi để “chế biến” số liệu để trốn thuế mà cán bộ thuế kiểm tra không sáng suốt nhìn nhận thì rất khó phát hiện được và kết quả kiểm tra sẽ khó mà chính xác được.
Công tác kiểm tra tại cơ quan thuế đượ tiến hành thường xuyên từ khi thực hiện Luật quản lý thuế, đảm bảo phần lớn các tờ khai thuế đều được kiểm tra nhưng cán bộ thuế chưa khai thác hết các thông tin trên tờ khai thuế, báo cáo tài chính của DN có tại cơ quan thuế để phục vụ cho công tác đánh giá, phân tích, kịp thời phát hiện các sai phạm. Thực hiện kiểm tra DN theo rủi ro phải dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin NNT để phân tích đánh giá, nhưng thực tế hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về NNT chưa đầy đủ và chưa xây dựng đầy đủ hệ thống chỉ tiêu cho việc phân tích hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế để lựa chọn đơn vị có rủi ro cao. Từ đó việc kiểm tra hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và khả năng của từng cán bộ thuế.
Trình độ của cán bộ còn nhiều hạn chế, lực lượng cán bộ làm công tác thanh tra còn quá mỏng (chỉ chiếm 14% trên tổng số công chức) so với yêu cầu quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp.
Về công tác xử lý vi phạm pháp luật về thuế TNDN đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận tại Cục Thuế Quảng Trị thời gian qua. Các trường hợp liên quan đến vi phạm pháp luật về thuế như trốn thuế, gian lận thuế được xử lý khá tốt tại địa bàn. Cục
Thuế Quảng Trị đã phối hợp, tổ chức thu hiệu quả các khoản nợ thuế còn đọng lại và thực hiện đúng chương trình kế hoạch của Cục Thuế đã đề ra từ đầu năm.
Tuy nhiên, công tác xử lý vi phạm pháp luật về thuế TNDN tại Cục Thuế Quảng Trị vẫn còn nhiều hạn chế ở quy trình xử lý vi phạm pháp luật chưa được thống nhất và hoàn thiện. Đồng thời, đội ngũ nhân viên thực hiện xử lý vi phạm pháp luật còn hạn chế về kỹ năng, nghiệp vụ. Đây là những điểm cần khắc phục trong giai đoạn tới.
2.3.4 Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
Chức năng chính và cơ bản của Luật quản lý thuế là công tác quản lý thu nợ và cưỡng chế thuế. Chính vì vâỵ công tác quản lý thu nợ và cưỡng chế thuế được cục thuế tỉnh Quảng Trị đặc biệt quan tâm. Không chỉ để đáp ứng nguồn thu NSNN mà còn chấn chỉnh và làm chuyển biến nhận thức về chấp hành chế độ chính sách pháp luật của người nộp thuế trên địa bàn.
Theo quy định cơ sở kinh doanh có trách nhiệm tạm nộp thuế TNDN hàng quý theo tờ khai thuế TNDN hoặc theo số thuế ơ quan thuế ấn định đầy đủ, đúng hạn vào NSNN. Thời hạn chậm nhất không quá ngày cuối cùng của tháng cuối quý. Nếu đối tượng nộp thuế không nộp theo đúng ạn, sẽ bị phạt chậm nộp.
Khi kết thúc năm tài chính, cơ sở kinh doanh phải thực hiện quyết toán thuế với cơ quan thuế theo mẫu tờ khai quyết toán thuế (trừ trường hợp ấn định tỷ lệ thu nhập chịu thuế tính trên doanh thu). Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm kê khai đầy đủ các chỉ tiêu trên tờ khai quyết toán thuế như: số thuế TNDN phải nộp, số thuế TNDN đã tạm nộp trong năm, số thuế TNDN nộp thiếu hoặc nộp thừa… cơ sở kinh doanh phải nộp số thuế còn thiếu theo báo cáo quyết toán thuế chậm nhất là ngày thứ 90 (chín mươi) kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính. Nếu sau ngày trên thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế còn thiếu, cơ sở kinh doanh còn bị nộp tiền phạt về hành vi chậm nộp tiền thuế.
Qua bảng số liệu cho thấy tổng nợ thuế năm 2014 giảm 11,22% so với năm 2013, nợ thuế năm 2015 giảm 3,59% so với năm 2014, nợ thuế năm 2016 giảm 1,3 % so với năm 2015. Nợ khó thu qua các năm có xu hướng tăng. Cụ thể năm 2015 tăng 35,54% so với năm 2014, năm 2016 tăng 42,86% so với năm 2015. Từ đó có thể thấy cục thuế Quảng Trị đã nỗ lực hết mình trong việc giảm nợ thuế qua các năm. Tuy nhiên nợ khó thu vẫn tăng do doanh nghiệp chưa chấp hành nghiêm chỉnh các qui định của pháp luật về thuế; một số đối tượng bỏ trốn, mất tích hoặc không còn khả năng thanh toán. Bên cạ h đó còn do ảnh hưởng của biến động thị trường, lạm phát, lãi suất cho vay của các ngân hàng biến động liên tục và chính sách giãn thuế của Nhà nước.
Nhìn chung công tác quản lý và đôn đốc nợ thuế của cục thuế khá tốt. Nợ thuế chủ yếu bởi các nguyên nhân khách quan sau:
Một số doanh nghiệp có nợ đọng thuế trước thời điểm cổ phần hóa nhưng không đủ thủ tục xóa nợ, sau đó gặp khó khăn nên không có nguồn nộp thuế.
Nợ thuế còn do doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản nhưng không ký hợp đồng trực tiếp với chủ đầu tư, thi công các công trình bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước nhưng chưa được ngân sách thanh toán nên doanh nghiệp không có tiền để nộp thuế.
Về công tác quản lý hành thu: Với cơ chế hiện nay, cán bộ thuế phải trực tiếp đến từng cơ sở kinh doanh để đôn đốc thu nộp thuế là vấn đề rất khó khăn phải cải tiến nhanh. Với cách thu này đòi hỏi một lực lượng hành thu rất lớn, mất nhiều thời gian và hiệu quả mang lại không cao. Về chủ quan, do cán bộ hu chuyên quản chưa thực hiện tốt quy trình quản lý thuế, công tác theo dõi tổ chức, đôn đốc thu của đội thuế chưa kịp thời. Tập quán nộp thuế gối đầu của các hộ kinh doanh đây là một cản ngăn lớn. Tình trạng nghỉ kinh doanh tự do không khai báo cho cơ quan thuế còn nhiều, đã xảy ra các trường hợp hộ đã nghỉ kinh doanh nhưng cơ quan thuế vẫn còn lập sổ tính thuế, tạo ra nợ thuế dồn lên nhưng không thu được. Tập trung nhất vẫn là cơ sở kinh doanh cố tình không chịu nộp thuế, trốn thuế, dây dưa nợ thuế không giải quyết dứt điểm được. Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
Công tác xử lý các trường hợp nợ thuế chưa có hiệu quả. Phổ biến nhất là, cơ quan thuế kiểm tra các trường hợp nợ thuế, trốn thuế tiến hành lập hồ sơ xử lý phạt nộp chậm tiền thuế, xử phạt vi phạm ành chính về thuế theo luật định nhưng người nợ thuế vẫn không chấp hành. Cơ quan thuế tiếp tục chuyển hồ sơ cho cơ quan chức năng xử lý theo pháp luật.. Nhưng thực tế, công tác xử lý nợ thuế đến khâu này thì thường bị bế tắc, chậm trễ, thường xem việc thu thuế, xử lý thuế là làm “giúp” cho cơ quan thuế. Cách làm này đã tạo nên “sức ì” nợ thuế ngày càng lớn, hiệu lực của pháp luật kém hiệu lực. Đây là vấn đề bức xúc nhất hiện nay trong thực hiện luật thuế.
Nguyên nhân cơ bản là sự chưa đồng bộ về hệ thống chính sách thuế với hệ thống chính sách quả lý nhà nước về thuế. Tuy hầu hết các luật thuế đều có phần xử lý vi phạm thuế và nhà nước đã ban hành Nghị định 22/CP của Thủ tướng Chính phủ, quy định xử phạt hành chính về thuế. ở đây nêu không cụ thể các mức xử phạt theo từng loại vi phạm thuế… nên trong thực tế rất khó thực hiện. Trong bộ luật hình sự thì chưa quy định cụ thể trốn thuế mức nào bị xử lý hình sự. Trong các luật chuyên ngành của các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng chưa nói rõ mức độ và trách nhiệm xử lý vi phạm thuế… Do vậy, sự phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan pháp luật trong công tác xử lý vi phạm thuế chưa chặt chẽ theo quy định của pháp luật, nên kết quả xử lý nợ đọng thuế không tốt thì chưa biết quy trách nhiệm này về ai. Do vậy tình trạng nợ đọng thuế ngày càng tăng và hiệu quả thực hiện pháp luật ngày càng giảm sút.
Để khắc phục tình trạng nợ đọng thuế, Cục Thuế tỉnh đã thực hiện các biện pháp mạnh để thu hồi nợ đọng thuế. Cục Thuế tỉnh đã tổ chức hội nghị chuyên đề về chống thất thu, nợ đọng thuế. Qua hội nghị này, Cục Thuế đã xây dựng quy chế thực hiện và giao chỉ tiêu thu nợ đến từng đơn vị, cá nhân, theo từ ng sắc thuế, loại thuế từ năm 2013. Dự kiến, ngành Thuế sẽ đưa vào dự toán hu năm sau số lượng nợ đọng có thể thu của năm trước để ràng buộc trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trong ngành với nhiệm vụ chống nợ đọng thuế.
Phòng Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế phối hợp với các bộ phận như Phòng Kê khai và Kế toán thuế, Phòng Kiểm tra thuế, Phòng Thanh tra thuế thực hiện thống kê, xác định rõ từng trường hợp nợ thuế để từ đó có biện pháp thu nợ thích hợp; kiên quyết, xử lý những trường hợp trốn tránh trách nhiệm nộp thuế, áp dụng biện pháp cưỡng chế, đình chỉ hóa đơn đối với đối tượng nợ đọng thuế. Trong năm 2014, cùng với tổ chức cho 25 doanh nghiệp có số nợ thuế lớn ký cam kết sẽ trả nợ, ngành Thuế tỉnh đã tiến hành cưỡng chế thu nợ thuế hàng chục trường hợp cố tình nợ đọng.
Đối với các doanh nghiệp cố tình nợ đọng thuế, Cục Thuế đã sử dụng biện pháp cưỡng chế thu nợ, đặc biệt đối với những khoản nợ thuế được phân loại, xác định có khả năng thu được. Để triển khai biện pháp cưỡng chế và cưỡng chế đạt hiệu quả thì cần sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng như Kho bạc, Ngân hàng, Công an… Thực tế các cuộc cưỡng chế nợ thuế trong thời gian qua cho thấy sự phối hợp, tham gia của các ngành, nhất là chính quyền địa phương chưa thực sự đồng bộ, tạo kẽ hở cho đối tượng nợ thuế đối phó.
Cùng với việc kiên quyết ngăn chặn tình trạng cố tình nợ đọng thuế, ngành Thuế đã rà soát, tạo điều kiện cho những doanh nghiệp thật sự khó khăn để có hướng tháo gỡ khó khăn, có cơ hội phát triển; tránh tình trạng doanh nghiệp không những không trả được nợ đọng mà số tiền bị phạt chậm nộp ngày càng cao, dẫn tới ngày càng khó khăn hơn. Điều này đòi hỏi mỗi cán bộ thuế phải nắm bắt đầy đủ thông tin, diễn biến hoạt động, nguyên nhân nợ đọng thuế để có biện pháp thích hợp, chống được chậm nộp thuế nhưng vẫn tạo điều kiện cho doanh nghiệp khắc phục, tiếp tục phát triển sản xuất.
2.3.5 Thực trạng thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
Hoàn thuế đối với các doanh nghiệp là vấn đề đặc biệt quan trọng. Nó liên quan đến vấn đề tài chính của dianh nghiệp. Do vậy, trong quá trình thực hiện khó tránh khỏi vướng mắc. Đến nay, công tác hoàn thuế cho các doanh nghiệp đã tốt hơn và được tiến hành theo những quy định cụ thể, chi tiết và công khai, minh bạch, rõ ràng tạo điều kiện thuận lợi cho NNT thực hiện.
Thời gian qua việc hoàn thuế TNDN đối với các doanh nghiệp được thể hiện tại bảng như sau:
Số lượng DN có số thuế TNDN nộp thừa biến động từ năm 2013 đến năm 2016 khá lớn. Sở dĩ như vậy là do: Thuế TNDN là loại thuế nộp tạm tính theo quý, quyết toán năm, vì vậy trong năm căn cứ kế hoạch được giao, các doanh nghiệp tự tính toán và tạm nộp thuế TNDN theo từng quý. Đến hết năm sau khi có số liệu quyết toán chính thức DN mới xác định được số thuế TNDN phải nộp của năm đó.
Tuy nhiên số doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế TNDN nộp thừa so với số lượng doanh nghiệp đủ điều kiện đề nghị hoàn thu (số DN có số thuế TNDN nộp thừa sau khi quyết toán năm) chiếm một tỷ lệ rấ nhỏ. Năm 2013 chiếm 14,3%, năm 2014 chiếm 1,8%, năm 2015 chiếm 7,1%, năm 2016 c iếm 5,3%. Điều này có thể lý giải như sau: Phần lớn các DN khi xác định trong năm có thuế TNDN nộp thừa đã lựa chọn xử lý số tiền thuế nộp thừa theo quy đị h tại mục 1 Điều 47 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006, đó là lựa chọn hình thức bù trừ vào tiền thuế TNDN phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo thay vì chọn hình thức yêu cầu cơ quan thuế hoàn trả lại tiền thuế TNDN nộp thừa. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế trong quản lý thu nộp thuế TNDN ủa các doanh nghiệp, mặt khác giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết cho doanh nghiệp khi thực hiện nghĩa vụ thuế đối với NSNN. Điều này được thể iện rõ qua số liệu về số hồ sơ đề nghị hoàn thuế TNDN nộp thừa giảm qua từng năm. Cụ thể năm 2013 có 6 hồ sơ đề nghị hoàn thuế TNDN nộp thừa, số tiền đề nghị hoàn là 634,5 triệu đồng thì đến năm 2016 chỉ có 2 hồ sơ đề nghị hoàn thuế TNDN nộp thừa với số tiền đề nghị hoàn là 93 triệu đồng. Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
Trong quy trình quản lý thuế, việc quản lý chặt chẽ ở khâu miễn giảm là một điều kiện hết sức quan tr ọng trong công tác quản lý thuế. Song công tác này cần có sự phối kết hợp giữa nhiều ban ngành từ khâu cấp giấy phép đầu tư, xác định điều kiện miễn giảm, xác đị h thời hạn cho miễn giảm,…Trong thời gian qua Cục Thuế tỉnh Quảng Trị đã làm rất tốt công tác này trong thẩm quyền của mình, Cục Thuế đã xem xét và quản lý thời hạn miễn giảm của các doanh nghiệp rất sát sao, không để xảy ra tình trạng các doanh nghiệp được hưởng thời hạn miễn giảm nhiều hơn so với giấy phép đầu tư đã cấp. Từ năm 2013 đến năm 2016 Cục Thuế Quảng Trị đã giải quyết miễn giảm và gia hạn 1.484 hồ sơ giảm thuế TNDN của các DN với số tiền miễn giảm là: 22.543 triệu đồng.
2.3.6 Thực trạng khiếu nại, tố cáo về thuế
Phòng Kiểm tra nội bộ thuộc Cục Thuế Quảng Trị theo kế hoạch đã lập kế hoạch và kiểm tra đột xuất các dấu hiệu vi phạm do các Phòng chức năng và các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, đơn khiếu nại,… ch yển đến. Trong thời gian 4 năm từ năm 2013 đến năm 2016, Phòng KTNB của Cục Thuế đã tiến hành 148 cuộc kiểm tra nội bộ, kết quả kiểm tra đã phát hiện một số cán bộ thuế không tuân thủ quy trình nghiệp vụ, nhiều trường hợp tính sai thuế TNDN gây thất thoát từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng, chiếm dụng tiền thuế, không nộp vào Kho bạc theo quy định… Số công chức thuế bị khiếu nại, tố cáo là 15 người chiếm 3,7% tổng số cán bộ công chức Cục Thuế tỉnh Quảng Trị); 100% số vụ việ c khiếu nại, tố cáo được giải quyết kịp thời đúng quy định của pháp luật.
Thời gian qua hầu hết các đơn thư khiếu nại được giải quyết theo đúng quy định, tuy nhiên một bộ phận doanh nghiệp không đồng ý với kết quả giải quyết nên tiếp tục khiếu nại lên cấp trên. Số lượng doanh nghiệp khiếu nại có xu hướng gia tăng, đặc biệt là khiếu nại kết quả thanh tra, kiểm tra, nguyên nhân do: Trình độ hiểu biết chính sách thuế của NNT còn hạn chế; năng lực của cán bộ thuế chưa đáp ứng tốt yêu cầu của người nộp thuế. Kết quả xử lý vi phạm ảnh hưởng đến lợi ích NNT; NNT chưa có ý thức trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế và cũng còn một số trường hợp cơ quan thuế xử lý chưa sát, đúng với quy định.
2.3.7 Thực trạng quản lý thông tin của người nộp thuế Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
Theo quy định phân cấp của ngành thì Văn phòng Cục Thuế được phân cấp quản lý đối với tất cả các loại hình DN theo các tiêu thức như sau:
Các ĐTNT thuộc thẩm quyền quản lý của văn phòng cục thuế bao gồm: các DN có quy mô lớn với số vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên, số lao động từ 200 người trở lên; các DN SXKD xuất nhập khẩu liên quan đến hoàn thuế GTGT; các CTCP có số thuế TNDN nộp năm 2008 trên 50 triệu đồng/năm; các DN đã giải thể còn nợ tiền thuế chưa thu hồi; các DN có hoạt động tại Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo có vốn đăng ký từ 2 tỷ đồng trở lên.
Hàng năm Cục thuế tiến hành rà soát lại toàn bộ các DN trên địa bàn tỉnh mà Cục thuế đang trực tiếp quản lý thuế để phân loại trên cơ sở về doanh thu, vốn, tài sản, phạm vi kinh doanh … phù hợp với từng thời kỳ và đặc điểm kinh t của từng địa phương. Trên cơ sở đó phân chia lại các DN, những DN được các chi cục thuế quản lý có sự phát triển đủ điều kiện có thể chuyển lên để văn phòng c ục quản lý và ngược lại.
Ngoài ra để quản lý một cách toàn diện ĐTNT, Cục thu ế Quảng Trị quản lý các đối tượng này thông qua các phần mềm quản lý như :
Phần mềm TINC là hệ thống quản lý đăng ký huế. Với phần mềm này cán bộ thuế có thể cập nhật các thông tin về NNT về tên DN, loại hình, ngành nghề kinh doanh, địa chỉ, mã số thuế… số lượng DN, tình hình hoạt động hiện tại của DN.
- Phần mềm QLT là hệ thống quản lý thuế tự khai tự nộp. Qua phần mềm này cán bộ thuế có thể biết được tình hình đăng ký tờ khai thuế, tờ khai quyết toán của DN, việc đăng ký nộp tờ khai, đăng ký tỷ lệ thuế TNDN quý.
- Phần mềm QTT là hệ thống phân tí h tình trạng thuế của ĐTNT. Phần mềm này sẽ giúp cán bộ thuế phân tích tình trạng kê khai, quyết toán, hoàn thuế và miễn giảm thuế các ĐTNT qua đó năm bắt rõ ơn tình hình thực hiện pháp luật thuế của đối tượng quản lý.
- Từ tháng 9 năm 2015 hệ thống phần mềm quản lý thuế tập trung TMS đi vào triển khai đây là hệ thống tích hợp tất cả các phần mềm quản lý về NNT đã nếu trên. Nó giúp cho quá trình quản lý đồng bộ, dễ dàng và không chồng chéo, tăng tính hiệu quả trong việc quản lý thông tin NNT. Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
Tại Cục thuế Quả ng Trị các phần mềm này được cung cấp cho tất cả các cán bộ quản lý sử dụ g, tuy hiên lại được phân quyền sử dụng cụ thể: các cán bộ ở phòng, đội kê khai và kế toán thuế sẽ là người trực tiếp sử dụng và cập nhật các thông tin cần thiết trong các phần mềm này; các cán bộ ở các phòng, đội về kiểm tra, thanh tra, cưỡng chế, quản lý nợ… chỉ có chức năng tra cứu và theo dõi thông tin về ĐTNT ở các phần mềm.
Các phần mềm này đưa vào quản lý đã đáp ứng được nhu cầu quản lý của cơ quan thuế.Việc áp dụng các phần mềm quản lý thuế này đã giúp cơ quan thuế dễ dàng hơn trong việc quản lý ĐTNT, việc xác định các DN chưa nộp hồ sơ kê khai, nộp chậm, sai số học đều phát hiện nhanh chóng và chính xác, từ đó có kế hoạch quản lý tốt hơn và áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời. Tuy nhiên các phần mềm này vẫn chưa có sự kết nối với nhau, cho nên cơ quan thuế vẫn chưa có cái nhìn tổng quát về ĐTNT được quản lý.
Ngoài ra các trong quá trình quản lý ĐTNT các cán bộ huế tiến hành theo phân loại và chấm điểm các DN mà họ trực tiếp quản lý. Việc tiến hành chấm điểm DN sẽ được thực hiện hàng năm dựa vào những thông tin mà cơ quan thuế có được về DN.
2.3.8 Đánh giá về công tác quản lý thuế TNDN tại cục thuế tỉnh Quảng Trị
Qua bảng khảo sát đánh giá về công tác quản lý thuế của cán bộ cục thuế tỉnh Quảng Trị. Có thể nói, công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT, công tác quản lý thông tin NNT đều được đánh giá tốt. Công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế còn nhiều bất cập, cần có kế hoạch dài hạn. Công tác thanh tra và kiểm tra thuế cần có kế hoạch phù hợp với DN trên địa bàn. Nhìn chung, năng lực và số lượng cán bộ cục thuế còn nhiều hạn chế, tuy nhiên cán bộ các phòng ban cục thuế đã cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ và chỉ tiêu đề ra. Trình độ hiểu biết NNT còn thấp, gây khó khăn trong công tác quản lý thuế TNDN nên vẫn xảy ra tình trạng khiếu nại và tố cáo về thuế.
2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh Quảng Trị Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
2.4.1 Thành tựu đạt được
Công tác thu thuế không những đạt chỉ tiêu đề ra mà còn vượt kế hoạch dự toán và liên tục tăng qua các năm.
Công tác quản lý thuế được chuyển từng bước từ chế độ chuyên quản khép kín sang chế độ người nộp thuế tự tính, tự khai thông qua trang mạng của cục thuế.
Bước đầu hoàn thành tương đối tốt công tác tự tính, tự khai, tự nộp thuế hoàn thành một bước cơ bản trong công tác hiện đại hóa quản lý thuế.
Hình thành và xây dựng một hệ thống quản lý t uế thống nhất, chịu sự lãnh đạo đồng thời của các cơ quan cấp Uỷ, chính quyền địa phương.
Tổ chức tốt công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế thông qua các lớp tập huấn, in ấn băng rôn, khẩu hiệu, áp phích, cấp phát tài liệu thuế và tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng. Giải đáp thắc mắc của người nộp thuế một cách hợp lý, rõ ràng, minh bạch và kịp thờ i thông qua trả lời văn bản, điện thoại hay trả lời trực tiếp tại cơ quan thuế. Nhờ đó, người nộp thuế có thể cập nhật chính xác các chính sách mới, sai sót và vi phạm về t uế có xu hướng giảm dần.
Nhận và xử lý nhanh chóng các tờ khai thuế có sai sót, phát hiện và xử lý các tờ kê khai của người nộp thuế, hạch toán đầy đủ, chính xác, kịp thời nghĩa vụ thuế của từng doanh nghiệp.
Tiến hành công tác thanh tra và kiểm tra trên cơ sở thu thập các thông tin về đối tượng nộp thuế; nghiên cứu, lựa chọn một số tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá rủi ro để xác định các trường hợp có n hi vấn gian lận về thuế. Việc thanh tra qua phân tích đánh giá báo cáo tài chí h, các thông tin từ các bộ ngành khác giúp thanh tra viên nắm vững thông tin về doanh nghiệp. Rút ngắn thời gian thanh tra và kiểm tra tại doanh nghiệp.
Đối với công tác quản lý thu nợ, cưỡng chế thuế cơ quan thuế đã theo dõi sát trong việc nộp tờ khai và nộp thuế của từng đối tượng nộp thuế, đôn đốc thu nợ sát thực tế. ăng các biện pháp thu đòi nợ đọng thuế.
Phản ánh đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, có phân công, phân cấp rõ ràng đã tạo ra cơ chế tự kiểm tra và kiểm tra chéo lẫn nhau giữa các phòng.
2.4.2 Hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân
Hạn chế cần khắc phục
Năng lực thu thập thông tin và xử lý thông tin còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu về chống gian lận về thuế. Để chống gian lận hiệu quả, vi ệc cơ bản và quan trọng hàng đầu đó là luôn luôn cập nhật thông tin thường xuyên, đầy đủ, toàn diện về mọi mặt của đối tượng nộp thuế, về các cơ sở kinh doanh có mối liên kết với doanh nghiệp, tình hình kinh tế trong nước và thế giới.
Công tác quản lý điều hành thu nộp còn nhiều vấn đề chưa phù hợp với tình hình hiện tại DN. Nhiều tiêu chuẩn về kê khai, hỗ trợ người nộp thuế, xử lý tờ khai chưa phù hợp và chưa hoàn thiện. Công tác thanh tra kiểm tra còn rất thủ công và thường kéo dài làm mất thời gian, ông sứ và kém hiệu quả. Doanh nghiệp không những không nộp thuế mà còn tìm cách chiếm đọat NSNN qua các hành vi trốn và nợ thuế, lập hồ sơ khống để hoàn thuế GTGT… Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
Công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đã có những chuyển biến, tuy nhiên ngoài việc đôn đốc, tính và thông báo tiền phạt nộp chậm, bộ phận quản lý nợ chưa dự báo được khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp, chưa có sự phối hợp giữa các bộ phận trong việc quản lý nợ thuế, do vậy tình trạng nợ đọng thuế tiếp tục kéo dài nhưng vẫn chưa có biện pháp cưỡng chế phù hợp, kịp thời.
Công tác xử lý khiếu nại tố cáo còn kém, chưa đáp ứng yêu cầu của NNT. Vẫn gây vướng mắc và mắc phải sự phản đối của một số DN. Chưa xử lý cặn kẽ các trường hợp bị NNT tố cáo một cách minh bạch, gây hiểu nhầm cho NNT.
Việc ứng dụng CNTT trong quản lý thuế còn ở mức thấp mới chỉ tập trung chủ yếu vào việc đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử lý tờ khai và chứng từ nộp thuế, quản lý ấn chỉ, quản lý nợ. Hệ thống thông tin về doanh nghiệp còn lỏng lẻo, tính tự động hóa chưa cao để phục vụ cho việc truy cập, khai thác, đánh giá tính tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp.
Nguyên nhân chủ yếu
Công tác ban hành Luật thuế còn thiếu đồng bộ và ổn định về mặt lâu dài và chưa có chiến lược cụ thể. Các văn bản thuế thay đổi liên tục và thường xuyên sửa đổi, bổ sung. Điều này không chỉ tạo sự chồng chéo lên cán bộ thuế mà còn gây khó khăn trong công tác quản lý thuế, tạo cơ hội cho DN gian lận trong việc nộp thuế.
Trình độ hiểu biết, ý thức của NNT còn thấp, chưa ự giác chấp hành các quy định của pháp luật về thuế. Tình trạng gian lận thuế còn khá phổ biến, kéo dài, nợ đọng thuế càng lớn, gây khó khăn cho cơ quan thuế khi phối hợp trong công tác thanh tra kiểm tra thuế.
Số lượng doanh nghiệp ngày càng lớn, với nhiều hình thức khác nhau, nằm trên nhiều vị trí địa lý khác nhau nên rất khó quản lý và sâu sát với doanh nghiệp còn hạn chế.
Nguồn lực cho thanh tra và kiểm tra còn hạn chế về chất lượng năng lực và số lượng so với yêu cầu theo cơ chế NNT tự khai và tự nộp thuế.
Chưa có tính sát sao với NNT, dặc biệt là khâu xử lý khiếu nại tố cáo của NNT do địa hình phức tạp khó quản lý hết các DN.
Hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu của NNT còn chưa đồng nhất giữa các phòng ban, gây khó khăn và nhầm lẫn khi sử dụng dữ liệu.
Trong chế độ quản lý hành chính đối với các doanh nghiệp còn nhiều khâu chưa hợp lý. Doanh nghiệp sau khi được Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép thành lập thì chỉ có cơ quan thuế nắm bắt và quản lý vấn đề kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp, còn các vấn đề khác như: quản lý nhân sự, vốn, ngành nghề…chưa được một cơ quan nào chủ trì kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ. Do vậy đã tạo ra kẻ hở lớn cho sự tự do trong thành lập và trong kinh doanh của các doanh nghiệp.
Chất lượng của công tác tuyên truyền hỗ trợ doanh nghiệp của cơ quan thuế chưa thật sự đổi mới về nội dung và phương pháp, còn khá truyền thống và chưa có gì đột phá. Khóa luận: Thực trạng quản lý thuế DN tại cục thuế Quảng Trị
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp tăng cường quản lý thuế DN tại Quảng Trị

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Quảng Trị