Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín- Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.3 Thực trạng về tình hình rủi ro tín dụng tại Sacombank Chi nhánh Hải Phòng

2.3.1 Thực trạng hoạt động tín dụng tại Sacombank Chi nhánh Hải Phòng

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đã thành lập bộ phận “Quản lý rủi ro tín dụng” đây là hoạt động độc lập với phòng tín dụng tổng hợp. Qua đó việc quản lý tín dụng của ngân hàng được tách biệt làm hai khâu: khâu kiểm tra, quản lý, thu hồi, vốn vay và khâu xét duyệt , quyết định cho vay. Quán triệt chủ trương “Tăng trưởng tín dụng trên cơ sở tập trung nâng cao chất lương tín dụng”, toàn ngân hàng tăng cường các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng, kiểm soát chặt chẽ. Ngân hàng luôn coi trọng danh mục khách hàng và ngành cho vay, thực hiện nghiêm túc tăng trưởng tín dụng lựa chọn theo vùng, luôn bám sát và xử lý các khoản nợ xấu. Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

Bảng2.4 : Dư nợ tín dụng Sacombank Chi nhánh Hải Phòng

Dư nợ tín dụng của ngân hàng liên tục giảm qua các năm, năm 2011 giảm 3.06% so với năm 2010. Nguyên nhân do tình hình kinh tế năm 2011 không thuận lợi, tình trạng khủng hoảng kéo dài, khiến các doanh nghiệp cũng như kinh doanh hộ cá thể không có những phương án kinh doanh mới, thậm chí thu hẹp mô hình. Mặt khác để an toàn vốn ngân hàng hạn chế giải ngân và không cho vay những phương án kinh doanh mới mà không an toàn cao. Năm 2012 tình hình không khả quan hơn, những khó khăn 2011 tiếp tục kéo dài sang 2012 do vậy dư nợ tín dụng tiếp tục giảm 6.62% so năm 2011. Chi nhánh cần phải nâng cao hoạt động tín dụng cũng như đào tạo đội ngũ nhân lực và nâng cao chất lương quản lý rủi ro.

2.3.1.1. Phân loại tín dụng theo thành phần kinh tế

Bảng 2.5: Bảng phân loại tín dụng theo thành phần kinh tế của Sacombank Chi nhánh Hải Phòng

Hình 2.6: Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế

Ta nhận thấy cơ cấu cho vay theo thành phần kinh tế chủ yếu là cho vay cá nhân, và tỷ trọng này tăng qua các năm. Với định hướng ban đầu là một “ngân hàng bán lẻ” nên công tác chăm khóc khách hàng cá nhân của toàn hệ thống ngân hàng Sacombank nói chung và của Sacombank Chi nhánh Hải Phòng nói riêng luôn được chú ý và quan tâm đều đạt kết quả cao, chiếm chủ yếu trong cơ cấu cho vay của ngân hàng. Chi nhánh Hải phòng luôn ý thức được ý nghĩa quan trọng của khoản vay cá nhân nên Ngân hàng luôn khuyến khích thị trường bán lẻ như lãi suất hấp dẫn, hay các khoản vay tiêu dùng, vay mua ô tô, nhà cửa, hay cho vay tín chấp đối với đối tượng là công chức nhân viên nhà nước hay cho vay góp chợ luôn được ngân hàng quan tâm và thu hút được một lượng khách hàng kinh doanh hộ cá thể. Do trong khi cơ cấu lại khách hàng và danh mục cho vay lại theo định hướng giảm quy mô cấp tín dụng với nhóm khách hàng lớn sử dụng phương pháp cho vay cầm cố hàng hóa do vậy mà tỷ trọng cho vay khách hàng doanh nghiệp bị giảm qua những năm vừa qua.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.3.1.2 Phân loại tín dụng theo kỳ hạn Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

Bảng 2.6: Phân loại tín dụng theo kỳ hạn tại Sacombank Hải Phòng

Hình 2.7: Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn

Dư nợ tín dụng trung dài hạn so với dư nợ ngắn hạn của Sacombank Hải Phòng luôn giữ tỷ trọng ổn định qua các năm. Cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu cho vay của ngân hàng chiếm gần 60%, vì cho vay có liên quan mật thiết tới tính sinh lời, vòng quay vốn và an toàn trong ngân hàng nên những khoản vay dài hạn thường rủi ro hơn. Nhìn chung dư nợ trung dài hạn qua 3 năm qua có tăng lên và dư nợ ngắn hạn có xu hướng giảm xuống nhưng không đáng kể luôn giữ mức trung bình 40/60. Đây là tỷ lệ hợp lý, đủ để đảm bảo một mức dư nợ ổn định, phù hợp với cơ cấu huy động vốn của Ngân hàng.

2.3.1.3 Phân loại tín dụng theo chất lượng

Bảng 2.7: Phân loại tín dụng theo chất lượng của Sacombank Hải Phòng

Ta thấy năm 2010 nợ quá hạn chỉ ở mức 0.046%, kết quả này cho thấy hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thực hiện rất tốt tuy nhiên đến năm 2011 do tình hình kinh tế khủng hoảng, bất ổn mà hoạt động kinh doanh của toàn xã hội gặp khó khăn, rất nhiều doanh nghiệp cũng như cá nhân rơi vào cảnh khốn đốn không có đường rút và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng nói chung và của Sacombank nói riêng do vậy tỷ lệ nợ quá hạn tăng lên đột biến từ 0.046% lên 5.31% đây là kết quả đáng buồn với ngân hàng, chất lượng tín dụng của ngân hàng có dấu hiệu xấu, hoạt động quản lý rủi ro tín dụng cần phải được quan tâm hơn, theo dõi sát sao hơn các khoản nợ quá hạn, vì rất có thể tiềm ẩn nguy cơ mất vốn. Đến năm 2012 tình hình khả quan hơn, nợ quá hạn đã giảm còn 4.73%, đã cho thấy sự cố gắng của ngân hàng trong việc giám sát nợ quá hạn nhưng tỷ lệ này vẫn cao hơn so với nhóm ngân hàng thương mại là 4.4%, cao hơn rất nhiều so với nhóm các ngân hàng thường mại cổ phần là 2.1% tuy nhiên vẫn trong mức an toàn có thể chấp nhận được là 5%. Do vậy, chi nhánh cần phải phấn đấu để giảm tỷ lệ nợ quá hạn xuống còn 2%.

2.3.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Sacombank chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

2.3.2. Chính sách quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn

Thương Tín

  • Quan điểm của Sacombank về rủi ro tín dụng
  • Không tập trung cấp tín dụng quá cao cho một khách hàng, một ngành nghề/lĩnh vực, các nhóm khách hàng, ngành nghề/lĩnh vực có liên quan với nhau, một loại tiền tệ và một địa bàn.
  • Khi quyết định cấp tín dụng cho một dự án lớn, phải thực hiện theo chế độ tập thể (nhiều thành viên cùng tham gia quyết định cho vay thông qua nhiều mức xét duyệt và biểu quyết hoạt động của hội đồng tín dụng), bảo đảm tính khách quan.
  • Áp dụng hạn mức cấp tín dụng và/ hoặc thời hạn cấp tín dụng tùy thuộc vào năng lực của chi nhánh.

Hình thức quản lý rủi ro tín dụng

Việc quản lý rủi ro tín dụng được thực hiện dưới các hình thức:

  • Các quy chế, Quyết định, Quy định do Chủ tịch Hội đồng Quản trị hoặc Tổng Giám đốc ban hành.
  • Định hướng hoạt động tín dụng trong từng thời kỳ.
  • Công văn, Thông báo do thành viên Ban điều hành ký.
  • Các nội dung quản lý rủi ro tín dụng cơ bản

Giới hạn tín dụng: Đối với một khách hàng là tổng mức dư nợ tín dụng tối đa mà Sacombank chấp nhận giao dịch đối với khách hàng đó trong một thời kỳ (một năm). Tổng mức dư nợ tín dụng gồm: dư nợ cho vay, số dư bảo lãnh và phần L/C miễn ký quỹ, dư nợ cho vay chiết khấu, dư nợ cho vay thấu chi.

Mục đích: áp dụng giới hạn tín dụng nhằm hướng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của Sacombank theo chuẩn mực quốc tế.

Ý nghĩa:

Quản lý rủi ro tổng thể đối với một khách hàng.

Tăng cường tính tập thể, khách quan trong hoạt động tín dụng.

Mở rộng quyền chủ động của chi nhánh trong hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu linh hoạt của khách hàng.

Thời hạn và thẩm quyền xác định giới hạn tín dụng:

Việc xác định giới hạn tín dụng phải được tiến hành xong chậm nhất là vào tháng 6 hàng năm. Việc duyệt giới hạn tín dụng được chia thành 2 cấp. Giới hạn tín dụng vượt thẩm quyền của Hội đồng tín dụng cơ sở phải trình ra Hội đồng tín dụng Trung ương xem xét phê duyệt.

Phân vùng đầu tư: Mỗi chi nhánh sẽ tập trung cấp tín dụng cho các khách hàng thuộc những vùng đầu tư nhất định. Chi nhánh có thể cấp tín dụng cho khách hàng ngoài vùng đầu tư của mình nếu được Tổng giám đốc cho phép bằng văn bản. Việc phân bố đầu tư được tiến hành trên cơ sở:

  • Đặc điểm địa lý nơi chi nhánh đặt trụ sở;
  • Năng lực của bản thân các chi nhánh.

Phân chia thẩm quyền quyết định: Trong hoạt động tín dụng:

Giám đốc chi nhánh: được quyền chủ động quyết định cho vay, thẩm quyền cao nhất là 60 tỷ đồng, thấp nhất là 20 tỷ đồng đối với từng lần cho vay dự án đầu tư và mở L/C, bảo lãnh miễn ký quỹ. Đối với các khoản cho vay vượt ngoài phạm vi nói trên, chi nhánh phải trình Tổng giám đốc xem xét.

Tổng Giám đốc: Các khoản do Hội sở chính và chi nhánh gửi lên được chia làm 3 cấp: trên 100 tỷ đồng do Phó Giám đốc phụ trách, 100-120 tỷ đồng do Tổng Giám đốc quyết định, trên 120 tỷ đồng do Hội đồng tín dụng trung ương xem xét và phê duyệt.

Mức dư nợ tín dụng tối đa đối với từng chi nhánh: Tổng Giám đốc khống chế mức dư nợ tín dụng tối đa quy VNĐ đối với từng chi nhánh căn cứ vào tình hình kinh tế, xã hội tại địa bàn và năng lực quản lý rủi ro tại chi nhánh.

Các giới hạn khác: Tùy tình hình thực tế tại từng thời điểm và trên cơ sở đánh giá những biến động đột ngột có tác động xấu đến công tác quản lý rủi ro tín dụng, Tổng Giám đốc có thể ban hành văn bản giới hạn, ngừng cho vay mới, hoặc áp dụng các kỹ thuật giảm dư nợ đối với một nhóm khách hàng, mặt hàng/ lĩnh vực đầu tư.

2.3.2.2 Phân loại nợ cho vay theo mức độ rủi ro Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

Bảng 2.8: Bảng phân loại nợ cho vay theo mức độ rủi ro tại Sacombank

Qua bảng trên ta thấy nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) là nhóm nợ chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nợ không đủ tiêu chuẩn, đặc biệt trong năm 2011do tình hình kinh tế đất nước khủng hoảng, sự bất ổn biến động của nhiều lĩnh vực và sự tăng giá của hàng loạt những mặt hàng thiết yếu làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như ngân hàng làm tỷ trọng của nợ nhóm 2 tăng đột biến làm cho tổng nợ không đủ tiêu chuẩn của 2011 tăng theo với tỷ lệ là 5.2% đây là vấn đề đặt ra cho chi nhánh cần phải giải quyết, thể hiện năng lực của cán bộ công nhân viên của ngân hàng trong việc ngăn chặn rủi ro tín dụng. Đến năm 2012 tình trạng không khả quan hơn mặc dù tổng nợ không đủ tiêu chuẩn của năm là giảm nhưng việc xuất hiện tỷ trọng nợ ở các nhóm nợ khác, làm chi nhánh có tỷ lệ nợ xấu ở mức cao là 3.5%. Do nền kinh tế vẫn trong giai đoạn khó khăn, tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn không tốt lên, không những vậy còn xuất hiện một số doanh nghiệp, cá nhân mới khác lại gặp khó khăn, do vậy một phần nhóm nợ cần chú ý đã cơ cấu lại thành nợ dưới tiêu chuẩn thậm chí nợ nghi ngờ cũng ở mức cao 1.69%, nợ có khả năng mất vốn là 0,42%. Mặc dù chi nhánh đã cố gắng trong việc thu hồi những khoản nợ quá hạn, đặc biệt là nhóm nợ có khả năng mất vốn, đã đạt được những thành quả nhất định nhưng vẫn chưa có dấu hiệu khả quan.

2.3.2.3 Phân loại nợ quá hạn theo thời gian

Bảng 2.9 : Nợ quá hạn phân theo thời gian của Sacombank Hải Phòng

Qua bảng trên ta là sự biến động liên tục các nhóm nợ quá hạn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Cụ thể năm 2010 nhóm nợ quá hạn tập trung ở nhóm trung hạn là 100% nợ quá hạn, đến năm 2011 thì nợ quá hạn có ở cả ba dư nợ tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, chiếm tỷ trọng cao nhất đó là nợ dài hạn chiếm tới 89.26% cho thấy sự sự ảnh hưởng của nền kinh tế đặc biệt là lĩnh vực sắt thép-nhóm khách hàng có khoản vay dài hạn tại ngân hàng bị ảnh hưởng lớn, làm ngân hàng xuất hiện rủi ro tín dụng ở nhóm khách hàng này. Đến năm 2012 nợ quá hạn dài hạn giảm xuống rõ rệt chỉ còn 6.82% tổng nợ quá hạn, phản ánh những cố gắng của Chi nhánh trong việc cố gắng thu hồi nợ. Lúc này, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nợ quá hạn lại chuyển cho nhóm nợ quá hạn ngắn hạn 77,12%- do nợ ngắn hạn thường có thời gian vay vốn ngắn nên khách hàng thường không kịp thu hồi vốn trả đúng hạn, các khoản này thường chỉ quá hạn tạm thời và khả năng thu hồi vốn cao.

2.3.2.4 Phân loại nợ quá hạn theo khả năng thu hồi Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

Bảng 2.10: Nợ quá hạn phân theo khả năng thu hồi Sacombank Hải Phòng

Nguồn: Báo cáo tổng kết của phòng quản lý tín dụng 2010-2012 Qua bảng số liệu trên ta thấy, trong hai năm 2010, 2011 không có nhóm nợ quá hạn khó đòi nhưng đến năm 2012 do phát sinh nợ quá hạn của công ty thép Đình Vũ (kinh doanh sắt thép, tài trợ theo hình thức đồng tài trợ) – đây là lĩnh vực gặp rất nhiều khó khăn trong gai đoạn vừa qua đồng thời xuất hiện thêm những doanh nghiệp và cá nhân mất khả năng thanh toán, vỡ nợ làm cho nhóm nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ lệ là 8.97% và nhóm nợ từ 6-8 tháng là 35.75%. Chi nhánh nên kết hợp với khách hàng cùng giải quyết để giảm thiểu thiệt hại và bằng mọi cách thu hồi lại vốn. Còn các khoản nợ khó đòi nên trích lập dự phòng rủi ro để xử lý.

2.3.2.5 Đánh giá về nợ quá hạn

Công tác kiểm tra, giám sát các khoản vay luôn được các ngân hàng chú trọng thực hiện, và có ý nghĩa rất quan trọng đối với các ngân hàng. Công việc duy trì và tăng cường công tác kiểm tra giám sát tín dụng là việc cần thiết cũng như là một công cụ để ngân hàng ngăn chặn rủi ro kinh doanh. Một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng các ngân hàng thường dùng là chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu

Bảng 2.11: Tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn trên tổng dư nợ của Sacombank Hải Phòng

Hình 2.8: Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu trên tổng dư nợ của Sacombank Hải Phòng giai đoạn 2010-202

Ta nhận thấy rõ ràng là tốc độ tăng của nợ quá hạn và nợ xấu ở năm 2011 là tăng đột biến so với năm 2010, đây là một dấu hiệu đáng buồn cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp nằm khỏi ngường an toàn và nguy cơ rủi ro tín dụng là rất cao. Xét trên bình diện xã hội ta có thể thấy năm 2011 là năm có rất nhiều biến động tình hình kinh tế xã hội không ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước đang chậm lại, mức độ lạm phát tăng cao, đồng tiền mất giá, hàng loạt những mặt hàng thiết yếu tăng giá làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp cũng như kinh doanh hộ cá thể và lĩnh vực tài chính tiền tệ. Hoạt động của ngân hàng ngày càng trở nên khó khăn. Rất nhiều doanh nghiệp và cá nhân gặp khó khăn trong việc thanh toán thậm chí là phá sản và giải thể. Do vậy xuất hiện hàng loạt những khoản tín dụng tiềm ẩn rủi ro chủ yếu là ở nhóm 2. Điều đó cũng phần nào phản ánh công tác quản lý tín dụng của ngân hàng cần được thắt chặt, cán bộ tín dụng cần phải theo dõi chặt chẽ tình hình hoạt động, sử dụng vốn của các khách hàng vay vốn. Đến năm 2012 nợ quá hạn có giảm xuống từ 5.31% còn 4.73% cho thấy hiệu quả của công tác quản lý tín dụng có tác dụng kiềm chế được tỷ lệ nợ quá hạn. Tuy nhiên nợ xấu lại tăng rất cao và chiếm chủ yếu trong tỷ lệ nợ quá hạn. Nguyên nhân là do các khoản nợ quá hạn ở năm 2011 đã không giải quyết được mà lại cơ cấu thành nợ xấu ở năm 2012. Ngân hàng cần phải đặc biệt chú trọng đến công tác quản lý rủi ro tín dụng

2.3.2.6 Đánh giá nợ có khả năng thu hồi Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

Bảng 2.12: Nợ có khả năng thu hồi trên tổng dư nợ và nợ quá hạn của Sacombank Hải Phòng

Qua bảng trên ta thấy trong hai năm 2010 và 2011 không xuất hiện khoản nợ khó đòi nào, tuy nhiên đến năm 2012 nhóm nợ này đã có và với tỷ lệ khá cao, tỷ lệ này chiếm 0,42% tổng dư nợ và tới 8,9% trong tổng số nợ quá hạn. Cho thấy mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng cao, cần phải tăng cường chất lượng tín dụng và tìm biện pháp thích hợp để hạn chế rủi ro tín dụng.

2.3.2.7 Tỷ lệ dự phòng tổn thất tín dụng

Bảng 2.13: Bảng dự phòng tổn thất rủi ro của Sacombank Hải Phòng

Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD của Chi nhánh ngày càng tăng qua các năm:

  • Năm 2010 trích lập 5189 trđ chiếm 0.76% tổng dư nợ
  • Năm 2010 trích lập 6859 trđ chiếm 1.03% tổng dư nợ
  • Năm 2012 trích lập 14646 trđ chiếm 2.36% tổng dư nợ

Ta thấy tỷ lệ trích lập không những tăng mà còn tăng rất nhanh, nguyên nhân là do qua các năm gần đây nền kinh tế liên tục rơi vào tình trạng khủng hoảng, sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trở nên vô cùng khốc liệt.Hoạt động kinh doanh của mọi thành phần kinh tế đều gặp khó khăn và không có cách tháo gỡ, đến năm 2012 với việc xuất hiện nợ có khả năng mất vốn đã đẩy tỷ lệ DPRR của ngân hàng lên cao và gấp hơn 2 lần so với năm 2011.

2.4 Đánh giá về tình hình hạn chế rủi ro tín dụng tài chi nhánh Sacombank Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

2.4.1 Những kết quả đạt được

Mặc dù còn nhiều yếu kém tồn tại nhưng Chi nhánh cũng đã có được những kết quả nhất định. Đầu tiên là công tác thẩm định, cán bộ tín dụng của Chi nhánh cũng đã chủ động được trong công tác thẩm định trước khi cho vay theo đúng những quy trình mà ban lãnh đạo Sacombank đặt ra, tiến hành phân loại khách hàng và có những chính sách phù hợp với từng khách hàng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng.

Cán bộ tín dụng cũng thể hiện sự năng động của tuổi trẻ khi đã chủ động tìm khách hàng nhằm giới thiệu sản phẩm của chi nhánh và có những kết quả nhất định.

Chi nhánh luôn tuân thủ việc điều hành tăng trưởng tín dụng của ngân hàng trong từng thời kỳ. Tiến hành phân ban ngăn chặn và xử lý nợ quá hạn cuả chi nhánh có hiệu quả. Ngân hàng đã xử lý thành công 3 món nợ quá hạn nhóm 5.

Việc ngăn chặn và xử lý tốt nợ quá hạn tại chi nhánh đã góp phần lớn vào hiệu quả hoạt động kinh doanh, đảm bảo hoàn thành vượt mức lợi nhuận trước thuế, mặc dù công tác kinh doanh nhìn chung gặp nhiều khó khăn.

Đối với khách hàng có quan hệ tín dụng với Chi nhánh có uy tín và vay với khối lượng lớn thì Chi nhánh có chính sách ưu đãi để tăng sức cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác nhằm thu hút khách hàng. Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

Chi nhánh Sacombank Hải Phòng luôn có biện pháp hữu hiệu để tiếp cận với khách hàng làm ăn có hiệu quả nhằm giới thiệu về khả năng đáp ứng nhu cầu nội, ngoại tệ với các mức lãi suất và khả năng đáp ứng các dịch vụ với các lợi ích khác có thể mang lại cho doanh nghiệp như chủ động và thường xuyên làm tốt công tác tiếp cận trên địa bàn nhằm đáp ứng được yêu cầu của thị trường, của các ngành kinh tế khác… Trên cơ sở đó chi nhánh đã xây dựng và quyết định các đối sách đúng đắn, kịp thời nhằm mở rộng và phát triển tín dụng.

Chi nhánh đã rất kịp thời điều chỉnh mức lãi suất theo các lần điều chỉnh cho vay của Ngân hàng Nhà nước. Điều này làm cho các khách hàng yên tâm, tin tưởng vào Chi nhánh

Đối với dự án đầu tư, Chi nhánh thực hiện nghiêm túc theo quy trình cho vay tín dụng và nâng cao hiệu quả công tác thẩm định dự án, phân tích tín dụng để tìm ra những nguy cơ tiềm ẩn, giảm trừ những dự án kém hiệu quả, nâng cao chất lượng tín dụng, bảo đảm an toàn vốn cho Ngân hàng.

Chi nhánh thường xuyên cử các cán bộ tín dụng tham gia các lớp, các khoá đào tạo cả trong nước và nước ngoài, đồng thời thực hiện công tác đào tạo để nâng cao nghiệp vụ. Chi nhánh đã đưa tin học ứng dụng mạnh mẽ trong tất cả các hoạt động của Chi nhánh nên làm giảm thời gian giao dịch của khách hàng, giảm bớt thời gian làm việc cho nhân viên quan đó nâng cao được chất lượng tín dụng

2.4.2 Những tồn tại trong hạn chế rủi ro tín dụng Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

Công tác điều hành thanh khoản của ngân hàng vào thời điểm cuối năm gặp nhiều khó khăn lên ảnh hưởng đến kế hoạch tăng trưởng tín dụng của chi nhánh, gây áp lực cho công tác kinh doanh.

Trong khi cơ cấu lại khách hàng và danh mục cho vay theo định hướng của ngân hàng và khu vực, chi nhánh cũng có bị ảnh hưởng bởi việc cơ cấu theo hướng giảm quy mô cấp tín dụng đối với nhóm khách hàng lớn sử dụng phương pháp cho vay cầm cố bằng hàng hóa.

Nhân sự tín dụng biến động nhiều do công tác định biên nhân sự và mở rộng mạng lưới các PGD.

Nhân sự chủ yếu là mới tuyển nên còn hạn chế về kỹ năng chăm sóc khách hàng và kinh nghiệm trong công tác thẩm định.

Việc xử lý nợ tồn đọng còn gặp khó khăn ở khâu xử lý tài sản đảm bảo. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trên thực tế là đã ngừng hoạt động, phá sản những luật pháp lại chưa tuyên bố giải thế, nhất là đối với các doanh nghiệp nhà nước. Hơn nữa, việc sử dụng trích lập dự phòng chỉ được dùng để bù đắp những khoản nợ xấu khi doanh nghiệp đã phá sản, nên việc chậm trễ trong thủ tục phá sản của doanh nghiệp gây trở ngại cho Chi nhánh trong công tác xử lý nợ xấu, làm trong sạch bảng tổng kết.

Công nghệ thông tin của Chi nhánh còn một số hạn chế. Thông tin còn chưa đầy đủ, chưa kịp thời, chưa có tính hệ thống và chính xác, chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa bộ phận cung cấp thông tin và bộ phận cần sử dụng thông tin. Vấn đề này thể hiện rõ nhất trong chất lượng của các báo cáo thẩm định tín dụng và các báo cáo phục vụ quản lý. Các cán bộ tín dụng thường chưa nắm được thông tin một cách tổng hợp, chỉ tiếp nhận một cách riêng lẻ điều này là hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng.

Bên cạnh đó, còn một số hạn chế về rủi ro tín dụng của Chi nhánh: những tác động từ môi trường kinh tế, chính sách vĩ mô, hệ thống pháp luật…Hành lang pháp lý hiện nay chưa đồng bộ và đầy đủ, cần thời gian để hoàn thiện, ít nhiều gây cản trở lớn cho công tác hạn chế rủi ro tín dụng của Chi nhánh.

2.4.3 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế rủi ro tín dụng Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

2.4.3.1 Nguyên nhân khách quan

Giai đoạn 2010-2012 là một giai đoạn đầy biến động của nền kinh tế nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng như khủng hoảng kinh tế, suy thoái kinh tế, lạm pháp cao, tỷ giá thường xuyên bất ổn,…các doanh nghiệp, cá nhân gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh dẫn tới khả năng trả nợ cũng bị ảnh hưởng xấu, tăng nợ quá hạn, tiềm ẩn rủi ro nguồn vốn, công tác quản lý rủi ro tín dụng gặp khó khăn. Đồng thời khiến cho ngân hàng giới hạn tín dụng.

Hệ thống pháp luật quốc gia với các bộ luật và văn bản dưới luật chưa đầy đủ, đồng bộ, hợp lý cũng như môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng chưa được hoàn thiện nên gây khó khăn cho cả ngân hàng và khách hàng trong quá trình thực hiện. Các cơ chế về việc thành lập và hoạt động của các định chế kinh doanh bảo hiểm tín dụng chưa có, do đó tại Việt Nam hiện nay chưa hình thành hệ thống các công ty kinh doanh bảo hiểm tín dụng, hạn chế việc phân tán rủi ro tín dụng của các Ngân hàng Thương mại.

Các nguyên nhân bắt khả kháng khác như: thiên tai, bão lụt, hạn hán…

2.4.3.2 Nguyên nhân chủ quan.

Nguyên nhân từ phía ngân hàng:

Thứ nhất, chính sách quản trị tín dụng của ngân hàng : Cho đến nay chưa có một Ngân hàng thương mại nhà nước nào ban hành chiến lược, chính sách phát triển và quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng một cách đầy đủ bằng văn bản. Sacombank cũng nằm trong đó. Hơn nữa, tất cả các chỉ đạo từ Ngân hàng Trung ương mới chỉ là những bản hướng dẫn thi hành quy chế cho vay, bảo lãnh, bảo đảm tiền vay và các quy chế khác do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành. Bên cạnh đó, kế hoạch tín dụng chỉ mang tính thủ tục. Những khuyến cáo về các ngành hàng không nên cho vay, đầu tư hay khống chế thường chỉ được đưa ra sau khi rủi ro tín dụng đã phát sinh ở một số chi nhánh hay tín dụng đã tăng trưởng đến mức nóng. Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

Thứ hai, quy trình cấp tín dụng: Hiện tại đang tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao do các khoản vay chưa được thực hiện rà soát rủi ro một cách độc lập với bộ phận bán hàng.

Thứ ba, Việc xử lý nợ tồn đọng còn kéo dài: Chưa xử lý được dứt điểm, gây mất nhiều chi phí trong quá trình thu hồi nợ tồn đọng.

Thứ tư, năng lực của cán bộ tín dụng: Năng lực dự báo, phân tích ngành, phân tích tài chính, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn đề của một số cán bộ còn rất yếu nhất là đối với những ngành hàng đòi hỏi hiểu biết chuyên môn cao(công nghiệp khai thác, chế biến dầu khí, sản xuất vật liệu xây dựng, nông, ngư nghiệp…). Nhiều quyết định cho vay mang tính cảm tính, được đưa ra trên cơ sở thông tin được cân nhắc không đầy đủ hoặc phiến diện như chỉ dựa vào tài sản thế chấp hay bản thân phương án kinh doanh mà bỏ qua năng lực tài chính của bản thân doanh nghiệp đều dẫn đến rủi ro. Một số cán bộ cũng chưa có khả năng tư vấn, giám sát khách hàng vượt qua giai đoạn khó khăn tạm thời. Kỹ năng thương lượng với khách hàng, tính chủ động trong công việc, khả năng kiểm soát chứng từ vay, kiến thức pháp luật của một vài cán bộ tín dụng cũng còn yếu. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ nhân viên của Chi nhánh phần lớn là còn rất trẻ, do đó kinh nghiệm thực tế còn hạn chế. Mặt khác, họ cũng chưa được đào tạo và trang bị một cách đầy đủ các kiến thức mới về mô hình quản trị rủi ro ở các nước phát triển. Nhận thức được trình độ của cán bộ nhân viên là vô cùng quan trọng. Tuy vậy, hoạt động này cũng gặp nhiều khó khăn do kinh phí dành cho đào tạo là có hạn và điều quan trọng hơn là tình trạng thiếu chuyên gia giỏi để giảng dạy.

Thứ năm,các hướng dẫn trong việc xác định giá trị của tài sản đảm bảo còn chưa cụ thể: Mặc dù Chi nhánh định giá các tài sản thế chấp theo quy định chung và có tham khảo giá tài sản đó trên thị trường tại thời điểm định giá. Thực tế các tài sản thế chấp mà khách hàng thường sử dụng làm tài sản đảm bảo tiền vay tại Chi nhánh là đất đai, nhà ở, máy móc, thiết bị. Mức giá của các loại tài sản này thường biến động nên gây khó khăn cho việc định giá. Đặc biệt, đối với các tài sản thế chấp là máy móc, thiết bị, ngân hàng yêu cầu phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Nhưng do các loại máy móc này hay được mua đi bán lại nhiều lần nên các doanh nghiệp thường không có giấy tờ sở hữu các tài sản đó.

Thứ sáu, trang thiết bị công nghệ thông tin không đầy đủ: Trang web trung tâm thông tin tín dụng CIC ra đời những hiệu quả hoạt động chưa cao, ngân hàng nhiều khi không có được nguồn thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ. Điều này dẫn đến việc ngân hàng có thể ra những quyết định sai lầm như: khách hàng vay tiền bằng tài sản thế chấp mà tài sản này đã khách hàng thế chấp tại nhiều ngân hàng khác hoặc khách hàng vay tiền và dùng vào mục đích đảo nợ, trả nợ ngân hàng khác.

Thứ bảy, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt:Thị trường tài chính ngày càng phát triển, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài ngày một quyết liệt. Bởi lẽ đó, chi nhánh vì giữ khách hàng, đôi khi đã phải chấp nhận những khoản tín dụng chất lượng không tốt, xác suất rủi ro cao. Chính điều này đã góp phần làm gia tăng rủi ro tín dụng.

Nguyên nhân từ phía khách hàng:

Thứ nhất: Một số hộ cá thể và cá nhân có kiến thức kinh doanh và thị trường còn nhiều hạn chế, vì vậy khả năng chống đỡ với những yếu tố biến động có tính chất bất lợi và hết sức khó khăn. Mặt khác nhiều cá nhân còn chưa nhận thức đúng đắn về việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng, có không ít cá nhân sử dụng sai mục đích, hiệu quả sử dụng vốn thấp.

Thứ hai: Báo cáo tài chính không minh bạch, những thông tin trên báo cáo tài chính sẽ là cơ sở để các cán bộ phân tích và đánh giá tình hình tài chính của khách hàng trong quá trình thẩm định dự án. Tuy nhiên, có những báo cáo không được kiểm toán nên không có độ chính xác cao, gây khó khăn cho cán bộ tín dụng trong việc đánh giá năng lực tài chính, khả năng trả nợ, nhân tố quan trọng trong việc quyết định cho vay.

Thứ ba: Lợi dụng điểm yếu của NHTM, nhiều khách hàng đã tìm cách lừa đảo để được vay vốn. Họ lập phương án sản xuất kinh doanh giả, giấy tờ thế chấp cầm cố giả mạo, hoặc đi vay ở nhiều ngân hàng cùng với một bộ hồ sơ.

Thứ tư: Sử dụng sai mục đích so với hợp đồng tín dụng khiến cho nguồn trả nợ trở nên bấp bênh.Vì vậy, khi khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, việc thanh toán gốc và lãi đúng hạn rất khó xảy ra, rủi ro tín dụng xuất hiện. Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Biện pháp hạn chế rủi do tín dụng tại Sacombank

One thought on “Khóa luận: Thực trạng những rủi ro tín dụng tại Sacombank

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan chung về Ngân hàng Sacombank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464