Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Luật Đầu tư năm 2005 và các tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. Luật Đầu tư năm 2005

1. Sự cần thiết phải ban hành Luật Đầu tư năm 2005

Thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư như: Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã,… Các đạo luật này đã tạo nên một khung pháp lý quan trọng điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến hoạt động đầu tư phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng và thực tế phát triển kinh tế – xã hội nước ta, cũng như phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập; góp phần tạo môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.

Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1987 và đã được sửa đổi bổ sung vào các năm 1990, 1992, 1996 và 2000 đã tạo môi trường pháp lý ngày càng hấp dẫn cho việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tính đến hết năm 2004, trên địa bàn cả nước có trên 5.300 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 47 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 31 tỷ USD. Quán triệt Nghị quyết Đại hội IX và Nghị quyết TW 5 khóa IX về kinh tế tập thể, Luật hợp tác xã năm 2003 đã có nhiều nội dung mới, tạo sức sống cho nông nghiệp nông thôn. Cùng với việc thực hiện chính sách giao đất cho hộ nông dân, chính sách trang trại,… đã xuất hiện các mô hình hợp tác xã đích thực, đa ngành góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên, những yêu cầu mới của sự nghiệp đổi mới sâu rộng nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập quốc tế đã đặt ra những đòi hỏi khách quan đối với việc phải xây dựng một Luật Đầu tư chung nhằm tăng cường huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội.

1.1 Để hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Nghị quyết TW IX, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, khắc phục nguy cơ tụt hậu của nước ta so với thế giới và khu vực, đưa Việt Nam ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp. Do đó, trong những năm tới, nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển là rất lớn. Để đạt mục tiêu tăng GDP gấp đôi vào năm 2020, sơ bộ ước tính nhu cầu tổng vốn đầu tư phát triển kinh tế của kế hoạch 5 năm (20052010) là khoảng 1580-1960 ngàn tỷ đồng, tương đương với 117-124 tỷ USD, chiếm 38% GDP. Đây là một nhiệm vụ khó khăn đòi hỏi phải tiếp tục quán triệt đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng được khẳng định trong Đại hội Đảng IX, đặc biệt Nghị quyết TW IX khóa IX đã khẳng định: “gắn huy động nguồn nội lực với ngoại lực, gắn cải cách trong nước với hội nhập để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức trong giai đoạn tới”; điều đó một mặt đòi hỏi phải xây dựng đồng bộ và hoàn thiện cơ bản thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; mặt khác cần phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và các giải pháp đồng bộ nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, trong đó có việc phải xây dựng một Luật Đầu tư áp dụng thống nhất nhằm đảm bảo quyền bình đẳng, tự do đầu tư kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh và tạo sự hấp dẫn các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.

1.2 Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh không ngừng được cải thiện theo hướng phù hợp với việc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình đó, môi trường kinh doanh tại Việt Nam cũng không ngừng được hoàn thiện, thay đổi theo hướng bình đẳng, không phân biệt, tạo lập “một sân chơi chung” cho các hình thức đầu tư, các thành phần kinh tế, thể hiện qua hàng loạt các đạo luật mới được ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung. Những khác biệt về điều kiện đầu tư, kinh doanh cũng như điều kiện gia nhập thị trường, các yếu tố đầu vào, đầu ra và hoạt động quản lý doanh nghiệp giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài đã được thu hẹp đáng kể, thậm chí nhiều chính sách đã được áp dụng chung cho cả hai nhóm đối tượng.

Tuy nhiên, do các luật liên quan đến hoạt động đầu tư cho đến thời điểm đó chủ yếu được ban hành riêng lẻ, chưa có sự nhất quán về nội dung, phạm vi điều chỉnh trên thực tế chưa thực sự tạo được một sân chơi bình đẳng như chủ trương của Đảng và yêu cầu hội nhập. Những khác biệt như vậy đã làm cho hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh thiếu nhất quán, minh bạch; tình trạng phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư và các loại hình doanh nghiệp khác nhau đang tồn tại, đã hạn chế việc phát huy các nguồn lực. Thêm vào đó, sự phát triển năng động, đa dạng của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đã làm bộc lộ những bất cập của hệ thống pháp luật tách biệt theo thành phần kinh tế.

Do đó, việc xây dựng Luật Đầu tư áp dụng thống nhất cho các nhà đầu tư là yêu cầu thiết yếu nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nhất là môi trường pháp lý để củng cố niềm tin của các nhà đầu tư tạo điều kiện thuận lợi trong việc thu hút đầu tư tối đa và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

1.3 Đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế về đầu tư

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nước ta đã ký kết nhiều hiệp định song phương và đa phương liên quan đến hoạt động đầu tư và hiện nay đang ở giai đoạn phải thực hiện về cơ bản các cam kết quốc tế đó như những cam kết trong khuôn khổ AFTA, Hiệp định khung về đầu tư ASEAN, Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ, Hiệp định tự do hóa, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản,…Hơn thế nữa, thời điểm năm 2005 là khi Việt Nam đang tích cực đàm phán gia nhập WTO. Để có thể gia nhập WTO, Việt Nam cần phải đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử – nguyên tắc cơ bản của WTO. Việc ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế liên quan đến hoạt động đầu tư một mặt vừa đòi hỏi Việt Nam phải mở cửa thị trường, xóa bỏ các rào cản thuế quan, phi thuế quan hoặc các trợ cấp không phù hợp với thông lệ quốc tế, mặt khác vẫn phải duy trì một số chính sách bảo hộ sản xuất trong nước có điều kiện, có thời gian, mở của thị trường theo lộ trình xác định.

Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật phục vụ cho hội nhập quốc tế, trong đó có Luật Đầu tư, là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo hệ thống pháp luật về đầu tư phù hợp với cam kết quốc tế, phản ánh thông điệp quan trọng về chính sách đổi mới và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

1.4 Nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút FDI

Cuộc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới diễn ra ngày càng gay gắt, đặc biệt là khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới. Trong bối cảnh đó, các nước trong khu vực đã cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư theo hướng tự do hóa chính sách đầu tư, thương mại với các đối tác kinh tế lớn nhằm tranh thủ nguồn vốn đầu tư, công nghệ. Hệ thống luật pháp về Đầu tư nước ngoài của Việt Nam trước đây được coi là hấp dẫn, thông thoáng, nay giảm dần tính cạnh tranh so với những chuyển biến mới về chính sách thu hút đầu tư của các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong bối cảnh đó, cần thiết phải ban hành Luật Đầu tư mới để thể hiện rõ ràng, minh bạch hơn chính sách bảo đảm đầu tư, khuyến khích, ưu đãi đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tháo gỡ các rào cản liên quan đến đầu tư như hạn chế lĩnh vực đầu tư, các điều kiện thương mại liên quan đến đầu tư, hạn chế về tổ chức và quản lý doanh nghiệp, hạn chế về hình thức đầu tư, thiếu tự do trong việc quyết định các hoạt động đầu tư. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

1.5 Tăng tính hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đầu tư

Công tác quản lý đầu tư nói chung, bao gồm cả việc quản lý các dự án Đầu tư nước ngoài và các dự án đầu tư bằng vốn nhà nước còn nhiều yếu kém, thiếu sót đã dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư còn thấp; cơ cấu đầu tư còn nhiều điểm chưa hợp lý; sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển, vốn đầu tư của doanh nghiệp còn kém hiệu quả; công tác thanh tra giám sát chậm được chú ý, còn lúng túng trong hướng dẫn triển khai thực hiện. Do đó, việc ban hành một văn bản có quy định cụ thể về công tác quản lý nhà nước về đầu tư là một yêu cầu khách quan nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn đầu tư trong nước cũng như Đầu tư nước ngoài.

Như vậy, việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005 là một đòi hỏi tất yếu của việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn tư chủ trương, đường lối của Đảng, từ thực tiễn hoạt động đầu tư, đòi hỏi của hội nhập và cạnh tranh quốc tế nhằm huy động nhiều hơn, sử dụng có hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí các nguồn lực đầu tư trong nước và nước ngoài của mọi thành phần kinh tế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Nội dung cơ bản của Luật Đầu tư năm 2005

Luật Đầu tư năm 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2006, Luật này ra đời thay thế các Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998.

Những nội dung được quy định trong Luật đầu tư đã tạo lập một khung pháp lý thống nhất cho các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế, xoá bỏ các rào cản, các phân biệt đối xử bất hợp lý giữa các nhà đầu tư. Đây là một trong những cam kết quan trọng của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là gia nhập WTO. Đồng thời, Luật cũng tạo điều kiện pháp lý tăng quyền tự chủ, quyền tự quyết định của các nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư, kinh doanh và quản trị nội bộ. Luật gồm có 10 chương 89 điều như sau: Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Chương I. Những quy định chung, gồm 5 điều (từ Điều 1 đến Điều 5), quy định về: phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; chính sách về đầu tư; áp dụng pháp luật đầu tư, điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán đầu tư quốc tế.

Chương II. Bảo đảm đầu tư, gồm 7 điều (từ Điều 6 đến Điều 12), quy định về: bảo đảm về vốn và tài sản; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; mở cửa thị trường, đầu tư liên quan đến thương mại; chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài; áp dụng giá, phí, lệ phí thống nhất; bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách; giải quyết tranh chấp.

Chương III. Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, gồm 8 điều (từ Điều 13 đến Điều 20), quy định về: quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh; quyền tiếp cận, sử dụng nguồn lực đầu tư; quyền xuất khẩu, nhập khẩu, quảng cáo, tiếp thị, gia công và gia công lại liên quan đến hoạt động đầu tư; quyền mua ngoại tệ; quyền chuyển nhượng, điều chỉnh vốn hoặc dự án đầu tư; thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; các quyền khác của nhà đầu tư; nghĩa vụ của nhà đầu tư.

Chương IV. Hình thức đầu tư, gồm 6 điều (từ Điều 21 đến Điều 26), quy định về: các hình thức đầu tư trực tiếp; đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư theo hợp đồng; đầu tư phát triển kinh doanh; góp vốn, mua cổ phần và sáp nhập, mua lại; đầu tư gián tiếp.

Chương V. Lĩnh vực, địa bàn đầu tư, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư, gồm 18 điều (từ Điều 27 đến Điều 44), quy định về: lĩnh vực ưu đãi đầu tư; địa bàn ưu đãi đầu tư; lĩnh vực đầu tư có điều kiện; lĩnh vực cấm đầu tư; ban hành danh mục các lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư, đầu tư có điều kiện; đối tượng và điều kiện ưu đãi đầu tư; ưu đãi về thuế; chuyển lỗ; khấu hao tài sản cố định; ưu đãi về sử dụng đất; ưu đãi đối với nhà đầu tư đầu tư vào khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu công nghệ cao (KCNC), khu kinh tế (KKT); thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư; trường hợp mở rộng ưu đãi; hỗ trợ chuyển giao công nghệ; hỗ trợ đào tạo; hỗ trợ và khuyến khích phát triển dịch vụ đầu tư; đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng KCN, KCX, KCNC, KKT; thị thực xuất cảnh, nhập cảnh. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Chương VI. Hoạt động đầu tư trực tiếp, gồm 22 điều (từ Điều 45 đến Điều 66), quy định về: thủ tục đăng ký đầu tư (ĐKĐT) đối với dự án đầu tư trong nước; thủ tục đăng ký kinh doanh đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài; thẩm tra dự án đầu tư; thủ tục thẩm tra đối với dự án có quy mô vốn đầu tư từ ba trăm tỷ đồng Việt Nam trở lên và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện; thủ tục thẩm tra đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện; thủ tục đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế; điều chỉnh dự án đầu tư; thời hạn hoạt động của dự án có vốn đầu tư nước ngoài; trách nhiệm lập dự án, quyết định đầu tư, thẩm tra đầu tư; lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án có nhiều nhà đầu tư quan tâm; thuê, giao nhận đất thực hiện dự án; chuẩn bị mặt bằng xây dựng; thực hiện dự án đầu tư có khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản; thực hiện dự án đầu tư có xây dựng; giám định máy móc, thiết bị; tiêu thụ sản phẩm tại thị trường Việt Nam; tài khoản ngoại tệ, tài khoản tiền đồng Việt Nam; bảo hiểm; thuê tổ chức quản lý; tạm ngừng dự án, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư; chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư; bảo lãnh của Nhà nước cho một số công trình dự án quan trọng.

Chương VII. Đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước, gồm 7 điều (từ Điều 67 đến Điều 73), quy định về: quản lý đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước; đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước vào tổ chức kinh tế; đầu tư của Nhà nước vào hoạt động công ích; đầu tư bằng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; tổ chức, cá nhân được giao quản lý dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước; thay đổi nội dung, hoãn, đình chỉ, hủy bỏ dự án đầu tư; lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án.

Chương VIII. Đầu tư ra nước ngoài, gồm 6 điều (từ Điều 74 đến Điều 79), quy định về: đầu tư ra nước ngoài; lĩnh vực khuyến khích, cấm đầu tư ra nước ngoài; điều kiện đầu tư ra nước ngoài; quyền của nhà đầu tư ra nước ngoài; nghĩa vụ của nhà đầu tư ra nước ngoài; thủ tục đầu tư ra nước ngoài.

Chương IX. Quản lý nhà nước về đầu tư, gồm 8 điều (từ Điều 80 đến Điều 87), quy định về: nội dung quản lý nhà nước về đầu tư; trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư; quản lý đầu tư theo quy hoạch; xúc tiến đầu tư; theo dõi, đánh giá hoạt động đầu tư; thanh tra về hoạt động đầu tư; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện; xử lý vi phạm.

Chương X. Điều khoản thi hành, gồm 2 điều (Điều 88 và Điều 89), quy định về áp dụng pháp luật đối với các dự án đang thực hiện đầu tư trước khi Luật này có hiệu lực và hiệu lực thi hành.

3. Những điểm mới có liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài trong Luật Đầu tư năm 2005 Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

3.1. Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài

  • Quyền tự chủ đầu tư kinh doanh

Theo điều 13 luật Đầu tư, các nhà đầu tư trong đó có nhà đầu tư nước ngoài có quyền:

  • Lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức huy động vốn, địa bàn, quy mô đầu tư, đối tác đầu tư và thời hạn hoạt động của dự án đầu tư.
  • Đăng ký kinh doanh một hoặc nhiều ngành, nghề; thành lập doanh nghiệp theo quy định pháp luật; tự quyết định về hoạt động đầu tư, kinh doanh đã được đăng ký.

Như vậy luật Đầu tư đã thiết lập một sân chơi bình đẳng, trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

  • Quyền tiếp cận, sử dụng các nguồn lực đầu tư

Theo Khoản 1 Điều 14 luật Đầu tư, nhà đầu tư trong và ngoài nước được quyền bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn tín dụng, quỹ hỗ trợ, sử dụng đất đai và tài nguyên theo quy định của pháp luật.

Nhà đầu tư cũng được quyền thuê hoặc mua thiết bị, máy móc ở trong nước và nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư chứ không bị bắt buộc phải ưu tiên mua sắm thiết bị, máy móc, vật tư, phương tiện vận tải tại Việt Nam trong điều kiện kỹ thuật, thương mại như nhau như trong quy định tại điều 31 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996.

Một điểm khác nổi bật trong quy định về quyền tiếp cận và sử dụng nguồn lực đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài là quyền thuê lao động. Theo Khoản 2 Điều 14 luật Đầu tư, nhà đầu tư được quyền thuê lao động trong nước, thuê lao động nước ngoài làm công việc quản lý, lao động kỹ thuật, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó. Như vậy, luật Đầu tư đã bãi bỏ quy định nhà đầu tư nước ngoài phải “ưu tiên tuyển dụng công dân Việt Nam, chỉ được tuyển người nước ngoài làm việc những công việc đòi hỏi trình độ kỹ thuật và quản lý mà Việt Nam chưa đáp ứng được, nhưng phải đào tạo lao động Việt Nam thay thế” theo quy định tại điều 25 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

  • Quyền xuất khẩu, nhập khẩu, quảng cáo, tiếp thị, gia công và gia công lại liên quan đến hoạt động đầu tư

LĐT làm rõ quyền nhập khẩu của doanh nghiệp nước ngoài, theo đó, nhà đầu tư có thể trực tiếp hoặc ủy thác nhập khẩu thiết bị, máy móc, vật tư, nguyên liệu và hàng hóa cho hoạt động đầu tư (Khoản 1 Điều 15). luật Đầu tư cũng loại bỏ phương tiện vận tải ra khỏi danh mục nhập khẩu của nhà đầu tư nước ngoài và bổ sung thêm nguyên liệu, và hàng hóa cần thiết cho hoạt động đầu tư.

Trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 chưa có quy định gì về quảng cáo, tiếp thị, gia công và gia công lại liên quan đến hoạt động đầu tư. luật Đầu tư đã bổ sung các quy định liên quan đến các hoạt động này tại Khoản 2 và 3 Điều 15. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài đượ quảng cáo, tiếp thị sản phẩm, dịch vụ của mình và trực tiếp ký hợp đồng quảng cáo với tổ chức được quyền hoạt động quảng cáo; được quyền thực hiện hoạt động gia công, gia công lại sản phẩm; đặt gia công và gia công lại trong nước, đặt gia công ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về thương mại.

Quyền mở tài khoản và mua ngoại tệ

  • Về quyền mua ngoại tệ:

Tại Điều 33 Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh được mua ngoại tệ tại ngân hàng thương mại để đáp ứng cho các giao dịch vãng lai và các giao dịch được phép khác theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối. Chính phủ cũng bảo đảm cân đối ngoại tệ cho những dự án đặc biệt quan trọng đầu tư theo chương trình của Chính phủ trong từng thời kỳ và bảo đảm hỗ trợ cân đối ngoại tệ cho các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng và một số dự án quan trọng khác.

LĐT mở rộng quyền cho nhà đầu tư nước ngoài về mua ngoại tệ. Theo đó, ngoài mục đích đáp ứng các giao dịch vãng lai, nhà đầu tư có quyền mua ngoại tệ để đáp ứng giao dịch vốn và các giao dịch khác theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối. Ngoài ra, luật Đầu tư cũng quy định rõ các dự án được Chính phủ bảo đảm cân đối hoặc hỗ trợ cân đối ngoại tệ (một số dự án quan trọng trong lĩnh vực năng lượng, kết cấu hạ tầng giao thông, xử lý chất thải).

  • Về quyền mở tài khoản: Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Theo điều 35 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000, doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài được mở tài khoản bằng tiền Việt Nam và tiền nước ngoài tại Ngân hàng Việt Nam, hoặc tại ngân hàng liên doanh, hoặc tại ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam; trong trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể được mở tài khoản ở nước ngoài khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp nhận.

LĐT chỉ quy định các nhà đầu tư trong và ngoài nước được bình đẳng trong việ tiếp cận sử dụng các nguồn vốn tín dụng, quỹ hỗ trợ chứ không quy định gì về việc mở tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, theo Điều 16 của Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Đầu tư, nhà đầu tư được mở tài khoản đồng Việt Nam và tài khoản ngoại tệ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối, trường hợp được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận, nhà đầu tư được mở tài khoản tại ngân hàng ở nước ngoài.

Như vậy, theo luật Đầu tư, nhà đầu tư có thể mở tài khoản, mua ngoại tệ tại bất kỳ tổ chức tín dụng nào hoạt động ở Việt Nam theo quy định của pháp lệnh ngoại hối chứ không bị giới hạn ở các ngân hàng như quy định trong các văn bản luật trước đó.

  • Quyền chuyển nhượng, điều chỉnh vốn hoặc dự án đầu tư

Theo Điều 34 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000, các bên trong doanh nghiệp liên doanh bao gồm cả nhà đầu tư nước ngoài có quyền chuyển nhượng giá trị phần vốn của mình trong doanh nghiệp liên doanh, nhưng phải ưu tiên chuyển nhượng cho các bên trong doanh nghiệp liên doanh. Trong trường hợp chuyển nhượng cho doanh nghiệp ngoài liên doanh thì điều kiện chuyển nhượng không được thuận lợi hơn so với điều kiện đã đặt ra cho các bên trong doanh nghiệp liên doanh. Việc chuyển nhượng vốn phải được các bên trong doanh nghiệp liên doanh thỏa thuận. Các quy định này cũng được áp dụng với việc chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh. Đối với doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng vốn của mình. Luật cũng quy định nếu chuyển nhượng vốn có phát sinh lợi nhuận thì bên chuyển nhượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất là 25%. Rõ ràng việc quy định nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp liên doanh có thể chuyển nhượng vốn cho “doanh nghiệp ngoài liên doanh” và bên chuyển nhượng phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong trường hợp chuyển nhượng phát sinh lợi nhuận là không chính xác và gây hiểu lầm cho các nhà đầu tư.

LĐT chỉ quy định tất cả các nhà đầu tư trong đó có nhà đầu tư nước ngoài đượ quyền chuyển nhượng, điều chỉnh vốn của dự án đầu tư, không quy định cụ thể về thủ tục và quy trình chuyển nhượng vốn như thế nào. Những điểm này được quy định cụ thể tại các luật có liên quan tùy theo hình thức đầu tư mà nhà đầu tư lựa chọn như Luật Doanh nghiệp, Luật các tổ chức tín dụng,…

LĐT cũng quy định trong trường hợp chuyển nhượng có phát sinh lợi nhuận thì bên chuyển nhượng phải nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật về thuế. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

LĐT bổ sung một điểm về điều kiện chuyển nhượng, điều chỉnh vốn, dự án đầu tư trong những trường hợp phải quy định có điều kiện tại Khoản 2 điều 17. Theo đó, việc chuyển nhượng, điều chỉnh này sẽ được Chính phủ quy định cụ thể.

  • Quyền thế chấp, sử dụng đất, quyền gắn liền với đất

Theo Điều 46 Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 và Điều 92 Nghị định 27/2003/NĐ-CP quy định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thời hạn thuê đất, thuê lại đất để đảm bảo vay vốn tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam theo quy định của pháp luật trong các trường hợp sau:

  • Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trả tiền thuê đất nhiều năm, nếu thời hạn thuê đất trả tiền còn lại ít nhất 05 năm.
  • Doanh nghiệp liên doanh bên Việt Nam góp vốn bằng quyền sử dụng đất, nếu thời hạn góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn lại ít nhất 05 năm.

LĐT và Nghị định 108/2006/NĐ-CP chỉ quy định nhà đầu tư nước ngoài có dự án đầu tư được thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn thực hiện dự án theo quy định của pháp luật, không quy định cụ thể từng trường hợp mà nhà đầu tư được phép thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất như quy định ở nghị định 27/2003/NĐ-CP.

  • Nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài

Trong luật Đầu tư có các điểm mới về nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài như sau:

  • Nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủ các quy định về tài chính theo quy định của pháp luật. Rõ ràng đây là một quy định tiến bộ hơn hẳn so với Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 (Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 chỉ đề cập đến nghĩa vụ nộp thuế của nhà đầu tư). Quy định này tổng quát hơn, hạn chế việc phải sửa đổi, bổ sung luật trong trường hợp nhà nước phải quy định thêm những nghĩa vụ tài chính khác để phù hợp với những thay đổi trong thể chế pháp luật và tình hình kinh tế, chính trị – xã hội sau này.
  • Bổ sung nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật về thống kê.
  • Bổ sung nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi để người lao động thành lập, tham gia tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.
  • Bổ sung việc phải thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
  • Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

3.2. Hình thức đầu tư Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Theo Điều 4 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 thì các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép đầu tư vào Việt Nam dưới các hình thức sau đây:

  • Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh;
  • Doanh nghiệp liên doanh;
  • Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, theo Điều 21, Luật Đầu tư năm 2005, hình thức đầu tư trực tiếp cho các nhà đầu tư nước ngoài được mở rộng đáng kể. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư trực tiếp vào Việt Nam dưới các hình thức sau:

  • Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài;
  • Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài;
  • Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT;
  • Đầu tư phát triển kinh doanh;
  • Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư;
  • Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp; – Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.

Về hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn nước ngoài và thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài:

  • Về hình thức và cơ cấu tổ chức

Theo Điều 4 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000, khi đầu tư trực tiếp vào Việt Nam có gắn với thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép thành lập doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Luật Đầu tư năm 2005 đã thay từ “doanh nghiệp” thành một từ có nghĩa rộng hơn là “tổ chức kinh tế”. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài hoặc thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Cũng theo luật này, tại điều 22 quy định, nhà đầu tư được đầu tư để thành lập các tổ chức kinh tế sau:

  • Doanh nghiệp tổ chức hoặc hoạt động theo Luật doanh nghiệp.
  • Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ chức tài chính khác theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.
  • Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác hoạt động đầu tư sinh lợi.
  • Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật.

Hơn thế, luật Đầu tư cũng xoá bỏ quy định doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn (Theo điều 6 và Điều 15 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996). Thay vào đó, nhà đầu tư được quyền tự do lựa chọn hình thức doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp, đó là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, và doanh nghiệp tư nhân.

  • Về vốn góp

Trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, tại Điều 7 có quy định: “ Bên nước ngoài tham gia doanh nghiệp liên doanh góp vốn pháp định bằng:

  • Tiền nước ngoài, tiền Việt Nam có nguồn gốc từ đầu tư tại Việt Nam.
  • Thiết bị máy móc, nhà xưởng, công trình xây dựng khác.
  • Giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật.”

Theo luật Đầu tư, vốn đầu tư được hiểu là vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác của nhà đầu tư, do đó, nhà đầu tư nước ngoài có quyền dùng tiền và các tài sản hợp pháp khác của mình để góp vốn và liên doanh chứ không bị bó gọn vào một số loại hình tài sản như trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996.

  • Về vốn pháp định

LĐT đã xoá bỏ quy định về mức vốn pháp định tối thiểu mà nhà đầu tư nước ngoài phải góp vào trong liên doanh (30%) theo Điều 8 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996. Thay vào đó, các quy định về tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp được dẫn chiếu tới các quy định của Luật Doanh nghiệp.

  • Về tổ chức hoạt động Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 quy định nhà đầu tư nước ngoài chỉ được thành lập doanh nghiệp dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, nên luật cũng quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp liên doanh. Luật cũng quy định Tổng Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc thứ nhất phải là công dân Việt Nam.

LĐT đã mở rộng các hình thức tổ chức kinh tế nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập khi thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam, tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được dẫn chiếu đến các văn bản luật có liên quan như Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật các tổ chức tín dụng,…

  • Về hình thức đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT)

Điểm thay đổi đầu tiên của luật Đầu tư đến các hình thức đầu tư theo hợp đồng đó là, hiện nay BCC, BOT, BTO, BT không chỉ còn là một văn bản ký kết giữa các nhà đầu tư hoặc giữa nhà đầu tư với cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà đã trở thành một hình thức đầu tư trong đó có sự tham gia của các nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và cơ quan nhà nước.

Theo Khoản 6 Điều 3 luật Đầu tư, hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC được định nghĩa là hình thức đầu tư được ký kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. Tuy nhiên, theo Điều 23 Khoản 1, luật Đầu tư lại quy định ngoài hình thức hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm, BCC còn bao gồm các hình thức hợp tác kinh doanh khác. Như vậy, các hình thức của BCC thì không thay đổi, vẫn bao gồm hình thức sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác.

Về nội dung của hợp đồng BCC, luật Đầu tư bổ sung thêm điều khoản về tổ chức quản lý và thay cụm từ “quan hệ giữa các bên” thành “quan hệ hợp tác giữa các bên” để làm rõ nội dung điều chỉnh của hợp đồng và tránh các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.

LĐT cũng cụ thể hóa các lĩnh vực mà nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư dưới các hình thức BOT, BTO, BT đó là các dự án xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa giao thông, sản xuất và kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác do chính phủ quy định. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Trong quy định về hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT), luật Đầu tư bổ sung thêm một hình thức mới để nhà đầu tư thu hồi vốn và lợi nhuận, đó là Chính phủ có thể thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT.

  • Đầu tư phát triển kinh doanh và góp vốn, mua cổ phần và sáp nhập, mua lại

Đây là hình thức đầu tư hoàn toàn mới, chỉ được quy định trong luật Đầu tư năm 2005, theo đó, nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư phát triển kinh doanh thông qua hai hình thức:

  • Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh;
  • Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường.

Hình thức đầu tư góp vốn, mua cổ phần và sáp nhập, mua lại được quy định tại Điều 25 luật Đầu tư. Theo đó, nhà đầu tư đươc góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh tại Việt Nam hoặc mua lại, sáp nhập công ty chi nhánh theo các quy định của Chính phủ và các quy định của pháp luật có liên quan.

3.3. Đảm bảo đầu tư

  • Bảo đảm về vốn và tài sản

Theo điều 21 Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000, trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài không bị trưng dụng hoặc bị tịch thu bằng biện pháp hành chính, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hóa.

LĐT quy định tài sản của nhà đầu tư nước ngoài có thể được trưng mua, trưng dụng, tuy nhiên chỉ trong những trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia. Thể thức, điều kiện trưng mua, trưng dụng theo quy định của pháp luật. luật Đầu tư cũng bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước, khi tiến hành trưng thu, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư, Nhà nước sẽ tiến hành thanh toán hoặc bồi thường cho nhà đầu tư theo giá thị trường tại thời điểm công bố việc trưng mua, trưng dụng bằng đồng tiền tự do chuyển đổi, và các nhà đầu tư nước ngoài được quyền chuyển ra nước ngoài các khoản thanh toán, bồi thường đó.

  • Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Nếu như Luật Đầu tư nước ngoài chỉ bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ trong hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam thì Luật Đầu tư năm 2005 đã có một bước tiến lớn trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Theo đó, ngoài quyền sở hữu công nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài còn được bảo hộ về quyền tác giả, quyền đối với giống cây trồng và vật liệu nhân giống. Luật cũng quy định thêm là sẽ bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, nhưng phải theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

  • Mở cửa thị trường, đầu tư liên quan đến thương mại

Đây là một quy định mới của Luật Đầu tư năm 2005 so với Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 để tạo sự phù hợp với các quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Nội dung cụ thể của việc mở cửa thị trường, đầu tư liên quan đến thương mại được quy định tại Điều 8 luật Đầu tư.

  • Chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài

LĐT bổ sung các khoản tiền liên quan đến sở hữu trí tuệ, các khoản thanh lý đầu tư vào danh mục các khoản nhà đầu tư được phép chuyển ra nước ngoài sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính với nhà nước.

Đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cho các dự án đầu tư được chuyển ra nước ngoài thu nhập hợp pháp của mình sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước chứ không phải là sau khi nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật như trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996.

Ngoài ra luật Đầu tư cũng quy định thêm rằng việc chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài của nhà đầu tư, người nước ngoài làm việc tại Việt nam được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi theo tỷ giá giao dịch tại ngân hàng thương mại do nhà đầu tư lựa chọn theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.

  • Bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách

Cả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 và luật Đầu tư đều đề cập đến việc đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư trong trường hợp có thay đổi pháp luật, chính sách nhưng luật Đầu tư đã bỏ quy định nhà đầu tư có thể được miễn giảm thuế trong trường hợp những thay đổi này làm thiệt hại đến lợi ích của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác liên doanh.

  • Giải quyết tranh chấp

Theo điều 24 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, tranh chấp phát sinh giữa các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc giữa các bên liên doanh cũng như các tranh chấp giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp Việt Nam phải được giải quyết trước hết bằng hòa giải và thương lượng. Nếu các bên không thể hòa giải được thì tranh chấp sẽ được đưa ra giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án tại Việt Nam. Các bên trong tham gia doanh nghiệp liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh có thể thỏa thuận trong hợp đồng việc lựa chọn một tổ chức trọng tài khác để giải quyết tranh chấp. Đối với hợp đồng BTO, BOT, BT, tranh chấp phát sinh được giải quyết theo phương thức do các bên thỏa thuận ghi trong hợp đồng. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Theo luật Đầu tư, việc hòa giải, thương lượng là không bắt buộc. Các bên có liên quan tới tranh chấp phát sinh trong quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể giải quyết tranh chấp thông qua: thương lượng, hòa giải, Tòa án Việt Nam, trọng tài Việt Nam, trọng tài nước ngoài, trọng tài quốc tế, trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập. Rõ ràng quy định về giải quyết tranh chấp đã thông thoáng hơn rất nhiều so với Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996.

3.4. Về lĩnh vực, địa bàn đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư

Tương tự như các quy định khác, Luật đầu tư năm 2005 đã đưa ra những ưu đãi, khuyến khích, hỗ trợ đầu tư bình đẳng cho các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài cụ thể như sau:

  • Về lĩnh vực, địa bàn đầu tư

LĐT thay cụm từ lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư ở điều 3 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi bổ sung năm 2000 thành lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư.

  • Về lĩnh vực ưu đãi đầu tư

LĐT đã bỏ lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu và lĩnh vực chế biến nguyên liệu và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam ra khỏi danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư. Luật cũng thay đổi, bổ sung lĩnh vực “xây dựng kết cấu hạ tầng và các cơ sở sản xuất công nghiệp quan trọng” ở Khoản đ Điều 3 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 thành “xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng, các dự án quan trọng, có quy mô lớn” tại Khoản 5 Điều 27 luật Đầu tư.

Ngoài ra luật Đầu tư cũng bổ sung một số lĩnh vực ưu đãi đầu tư hoàn toàn mới đó là:

  • Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới; sản xuất sản phẩm công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin; cơ khí chế tạo.
  • Làm muối; sản xuất giống nhân tạo, giống cây trồng và giống vật nuôi mới.
  • Ươm tạo công nghệ cao.
  • Phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo; y tế; thể dục, thể thao và văn hóa dân tộc.
  • Phát triển ngành, nghề truyền thống.
  • Những lĩnh vực sản xuất, dịch vụ khác cần khuyến khích.

Những sửa đổi bổ sung này là hợp lý và cần thiết trong điều kiện kinh tế xã hội mới với sự phát triển và thống trị của khoa học công nghệ, với sự hội nhập kinh tế quốc tế giữa các quốc gia, với chủ trương hội nhập kinh tế của Đảng và Nhà nước.

  • Về địa bàn ưu đãi đầu tư Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Theo điều 28 luật Đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư bao gồm:

  • Địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
  • Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

Như vậy, so với Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000, luật Đầu tư đã dành thêm ưu đãi cho các nhà đầu tư đầu tư vào các KCN, KCX, KCNC, KKT.

  • Về ưu đãi đầu tư

 Các quy định liên quan đến ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài,v.v được dẫn chiếu đến các quy định của pháp luật về thuế có liên quan như luật thuế thu nhập doanh nghiệp, luật thuế xuất nhập khẩu,v.v chứ không quy định cụ thể mức thuế phải nộp cho từng trường hợp như trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000.

  • Về hỗ trợ đầu tư

Nếu như Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2000 chỉ có một quy định duy nhất về hỗ trợ đầu tư đó là “Chính phủ Việt Nam bảo đảm hỗ trợ cân đối ngoại tệ cho các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng và một số dự án quan trọng khác” thì Luật Đầu tư năm 2005 có hẳn một mục quy định về hỗ trợ đầu tư bao gồm: Hỗ trợ chuyển giao công nghệ; hỗ trợ đào tạo; hỗ trợ đầu tư và phát triển dịch vụ đầu tư; hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN, KCX, KCNC, KKT.  

3.5. Thủ tục đầu tư

Điểm mới của Luật Đầu tư và Nghị định 108/NĐ-CP là phân cấp mạnh cho UBNN cấp tỉnh và Ban quản lý KCN, KCX, KCNC và KKT (sau đây gọi là ban quản lý) cấp Giấy chứng nhận đầu tư cũng như quản lý hoạt động đầu tư, đồng thời giảm bớt những dự án phải trình Thủ tướng Chính phủ. Nếu phải trình thì Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận về mặt nguyên tắc đối với mốt số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch hoặc chưa có quy hoạch. Những dự án đã có trong quy hoạch được duyệt và đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý cấp Giấy chứng nhận đầu tư mà không phải trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư. Các dự án còn lại sẽ do ủy ban nhân dân cấp Tỉnh và ban quản lý tự quyết định và cấp Giấy chứng nhận đầu tư.

Đối với các dự án đầu tư không nằm trong quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc ủy quyền phê duyệt hoặc dự án không đáp ứng điều kiện mở cửa thị trường quy định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thì cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư chủ trì, lấy ý kiến bộ, ngành quản lý, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch hoặc quyết định mở cửa thị trường. Đối với dự án đầu tư thuộc lĩnh vực chưa có quy hoạch, thì cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Điểm mới của Luật là thủ tục đầu tư được thiết kế đơn giản và thuận lợi cho các nhà đầu tư. Theo đó, dự án đầu tư nước ngoài được phân chia thành hai loại: đăng ký kinh doanh và thẩm tra đầu tư.

Đối với dự án đầu tư nước ngoài có quy mô vốn dưới 300 tỷ đồng Việt Nam và không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện, nhà đầu tư chỉ cần đăng ký kinh doanh theo mẫu để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản đăng ký hợp lệ.

Dự án thuộc diện thẩm tra áp dụng chung cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, theo đó, các dự án thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện hoặc dự án có quy mô vốn từ 300 tỷ đồng Việt Nam trở lên thì phải làm thủ tục thẩm tra đầu tư. Nội dung thẩm tra chỉ bao gồm:

  • Sự phù hợp với quy hoạch kết cấu hạ tầng – kỹ thuật, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng khoáng sản và các nguồn tài nguyên khác;
  • Nhu cầu sử dụng đất; – Tiến độ thực hiện dự án;
  • Giải pháp về môi trường.

Riêng đối với dự án thuộc danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì chỉ thẩm tra các điều kiện mà dự án phải đáp ứng.

Pháp luật đầu tư quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư. Trường hợp đã thành lập tổ chức kinh tế mà có nhu cầu thực hiện dự án đầu tư tiếp theo thì không phải thành lập tổ chức kinh tế mới. Đối với đầu tư trong nước thì khi thành lập tổ chức kinh tế không cần phải có dự án. Đây là điểm khác biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, điểm khác biệt này là cần thiết bởi đầu tư nước ngoài cần phải thực hiện theo lộ trình mở cửa thị trường trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Nhằm thực hiện cải cách hành chính đối với hoạt động đầu tư, Nghị định quy định trường hợp dự án đầu tư gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thì thủ tục đầu tư được làm đồng thời với thủ tục đăng ký kinh doanh. Trong Giấy chứng nhận đầu tư bao gồm cả các nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Trong trường hợp này Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cũng được gửi cho cơ quan quản lý kinh doanh để quản lý chung về đăng ký kinh doanh.

Đối với việc điều chỉnh dự án đầu tư, luật Đầu tư và Nghị định 108/ NĐ-CP quy định khi điều chỉnh dự án đầu tư liên quan đến mục tiêu, quy mô, địa điểm, hình thức, vốn và thời hạn thực hiện dự án đầu tư, nhà đầu tư phải làm thủ tục tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ để làm thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư. Việc điều chỉnh dự án đầu tư được thực hiện theo quy trình đăng ký điều chỉnh dự án đầu tư hoặc thẩm tra điều chỉnh dự án đầu tư.

3.6. Quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

LĐT và Nghị định 108/ NĐ-CP quy định cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Xây dựng, các bộ, ngành kinh tế kỹ thuật, ủy ban nhân dân cấp Tỉnh và Ban quản lý, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp Tỉnh trong quản lý hoạt động đầu tư. ủy ban nhân dân cấp Tỉnh là một đơn vị hành chính của Trung ương tại địa phương, ủy ban nhân dân

Tỉnh sẽ thực hiện chức năng quản lý toàn diện về phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, trong đó có việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư trên địa bàn.

Cùng với việc phân cấp mạnh cho ủy ban nhân dân cấp Tỉnh và Ban quản lý, chức năng quản lý của nhà nước của Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ yếu tập trung vào công tác xây dựng chính sách pháp luật, theo dõi, kiểm tra, thanh tra, giám sát và hỗ trợ cho hoạt động đầu tư, chủ trì thực hiện hoạt động xúc tiến đầu tư trên quy mô toàn quốc, chủ trì phối hợp, tham gia soạn thảo các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động đầu tư; tổ chức hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, tăng cường năng lực quản lý đầu tư cho cơ quan quản lý đầu tư các cấp.

II. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trước 7/ 2006

1.1 Giai đoạn 1975 – 1987

Trong giai đoạn này, Việt Nam chủ yếu thực hiện chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước xã hội chủ nghĩa. Do vậy, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ mới bắt đầu thực hiện giữa các nước xã hội chủ nghĩa, một số dự án FDI đã xuất hiện. Những dự án đầu tư này hoạt động tại Việt Nam chủ yếu dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh giữa một bên là các nước xã hội chủ nghĩa với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dự án đáng chú ý nhất trong giai đoạn này là dự án khai thác dầu khí Việt – Xô năm 1980 ký kết giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Liên bang Xô Viết về hợp tác tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam.

1.2 Giai đoạn 1988 – 1996

Có thể nói đây là giai đoạn mở đầu cho đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời là giai đoạn đầu tiên chúng ta thực hiện các quy định của Luật Đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế trong các quy định của Luật Đầu tư nước ngoài cũng như do sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội, nên chúng ta rơi vào tình trạng vừa đi vừa tìm đường. Cơ chế chính sách phải thay đổi liên tục để thích ứng với các điều kiện mới. Tuy nhiên, chúng ta cũng đã thu hút được hơn 29 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số dự án đạt 1992 dự án.

Biểu đồ 4: Dự án FDI được cấp phép trong giai đoạn 1988-1996

Giai đoạn 1988-1989: Đây là 2 năm đầu tiên sau khi Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực. Số lượng dự án đầu tư trong hai năm này lần lượt là 37 và 67 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký trong cả giai đoạn là 867,2 tỷ USD.

Giai đoạn 1990-1996: Trong giai đoạn này, Việt Nam đã hai lần tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào các năm 1990 và 1992 và đến năm 1996, chúng ta đã phải ban hành mới Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996. Những sửa đổi, bổ sung này nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp tại Việt Nam. Nhờ đó, môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam được cải thiện đáng kể. Lượng vốn đầu tư vào Việt Nam cũng như số dự án đầu tư được cấp phép tăng rõ rệt và ổn định. Đặc biệt, trong năm 1996, lượng vốn đầu tư thu hút được đạt mức kỷ lục: hơn 10 tỷ USD và 372 dự án, đưa tổng số vốn FDI trong vòng 7 năm từ 1990 đến 1996 đạt mức 28 tỷ USD và 1888 dự án.

1.3. Giai đoạn 1997 – 2000 Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Năm 1996, Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với nhiều điểm tiến bộ so với các quy định trước đó trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 và Luật sửa đổi bổ sung năm 1990 và 1992. Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn này giảm mạnh so với giai đoạn trước. Ví dụ như trong năm 1997 số lượng vốn đầu tư chỉ khoảng 5 tỷ USD, khoảng một nửa số vốn thu hút được trong năm 1996; hay như trong năm 1999, cả nước chỉ thu hút được 2,5 tỷ USD, khoảng 1/2 lượng vốn thu hút được trong năm 1998. Sự sụt giảm này khiến cho tổng lượng vốn thu hút trong giai đoạn chỉ đạt khoảng 16,1 tỷ USD.

Bảng 5: Dự án FDI được cấp phép trong giai đoạn 1997 – 2000

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn này. Một lý do không thể không nhắc tới đó chính là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ bắt nguồn từ Thái Lan và lan rộng sang các nước Châu Á – Thái Bình Dương. Cuộc khủng hoảng này đương nhiên gây ra những bất ổn trong nền kinh tế, chính trị cũng như các vấn đề xã hội của Việt Nam, khiến cho các nhà đầu tư lo ngại và không đầu tư thêm nữa. Tuy nhiên, đó chưa phải là lý do quan trọng nhất. Một lý do khác có tác động mạnh mẽ hơn đó chính là do sau cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính năm 1997, các quốc gia khác trong khu vực đã có những động thái để cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, trong khi đó Việt Nam lại không hề có bất kỳ một sự thay đổi nào về thể chế, chính sách. Do đó, môi trường đầu tư nước ngoài vốn được coi là thông thoáng và cạnh tranh ở Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 1996 đã trở nên lạc hậu và kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

1.4. Giai đoạn 2000 – 6/2006

Bảng 6: Dự án FDI được cấp phép trong giai đoạn 2000-6/2006                              

Sau khi ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000, lượng vốn FDI của Việt Nam đã có những bước phục hồi đáng kể. Cụ thể, lượng vốn FDI đã tăng từ 2.998,8 nghìn USD trong năm 2002 lên 6,8 tỷ USD – gấp hơn hai lần vào năm 2005. Số lượng dự án cũng tăng mạnh từ 555 dự án (năm 2001) lên 970 dự án trong năm 2005. Tuy nhiên, nhịp độ tăng trưởng và lượng vốn đầu tư thu hút được vẫn chưa hoàn toàn phục hồi so với giai đoạn trước. Năm 2005, lượng vốn đầu tư thu hút được chỉ là 6,8 tỷ USD, thấp hơn lượng vốn thu hút được 10 năm trước, năm 1995.

Trong 6 tháng đầu năm 2006, trước thời điểm luật Đầu tư có hiệu lực thi hành, Việt Nam chỉ thu hút được 339 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký đạt 2,26 tỷ USD – chỉ bằng một phần ba so với lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút được trong năm 2005.

Trong cả giai đoạn hơn 5 năm, lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam đạt 22,98 tỷ USD với 4274 dự án.

2. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam từ 7/2006 Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

2.1 Về lượng vốn đầu tư thu hút được

Bảng 7: Dự án FDI được cấp phép trong giai đoạn 7/2006 đến nay

Sau khi luật Đầu tư có hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/2006, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã có một bước phát triển vượt bậc. Chỉ trong 6 tháng cuối năm 2006, Việt Nam đã thu hút được 5,3 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và 458 dự án đầu tư. Lượng vốn FDI trong sáu tháng cuối năm 2006 cao hơn gấp 2 lần lượng vốn đầu tư thu hút được trong nửa đầu năm 2006 đưa tổng lượng vốn thu hút được của cả năm lên 7,6 tỷ USD, tăng khoảng 0,8 tỷ USD so với năm 2005. Trong năm 2007, lượng vốn FDI chảy vào Việt Nam tăng trưởng mạnh đạt mức 17,9 tỷ USD, tăng 140% so với năm 2006. Như vậy, chỉ trong một năm, chúng ta đã thu hút được lượng vốn lớn hơn cả lượng vốn thu hút được giai đoạn 19972000 (16 tỷ USD) và chỉ thấp hơn khoảng 5 tỷ USD so với tổng lượng vốn thu hút giai đoạn từ năm 2000 đến hết tháng 6/2006.

Tổng số dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép 5 tháng đầu năm nay đạt 324 dự án với tổng số vốn đăng ký là 14,7 tỷ USD; tuy giảm 29,6% về số dự án nhưng tăng 160,8% về số vốn so với cùng kỳ năm 2007. Nếu tính thêm cả 604,7 triệu USD cấp bổ sung cho 12 lượt dự án được cấp phép dưới đây thì tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của cả nước từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2008 đạt 15,3 tỷ USD, tăng 134,1% so với cùng kỳ năm 2007

2.2 Về cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế

Trong năm 2007, ngành công nghiệp và xây dựng vẫn dẫn đầu trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với lượng vốn thu hút được chiếm 54,1% vốn FDI của cả nước, số dự án là 910, 62,98%. Trong đó, ngành công nghiệp nặng được các nhà đầu tư quan tâm nhất lượng vốn đăng ký lên tới 3,47 tỷ USD, chiếm 19,5% tổng lượng vốn FDI thu hút được. Số dự án đầu tư được cấp phép trong ngành công nghiệp nặng đạt 337 dự án, chiếm 23,3%. Ngành công nghiệp nhẹ tuy dẫn đầu về số lượng dự án đầu tư được cấp phép (441 dự án, chiếm 30,5% tổng số dự án FDI được cấp phép trong năm 2007) nhưng chỉ xếp ở vị trí thứ 2 về số lượng vốn đầu tư (2,47 tỷ USD). Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí chỉ chiếm 0.5% về số dự án được cấp phép nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong nguồn vốn FDI tại Việt Nam với 1,87 tỷ USD vốn đầu tư – đạt 10,3% tổng lượng vốn FDI của cả nước. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Tiếp đó là ngành Dịch vụ với 456 dự án (chiếm 31,56%) và chiếm 47,8% tổng số vốn FDI của nền kinh tế với lượng vốn tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực khách sạn – du lịch và xây dựng khu đô thị mới.

Ngành Nông – Lâm nghiệp và Thủy sản chỉ chiếm 5,47% về số dự án và 1,6% về lượng vốn đầu tư. Trong đó, ngành Nông – Lâm nghiệp có 63 dự án đầu tư và 1,81 tỷ USD vốn đầu tư (khoảng 1%), ngành thủy sản chiếm 0,6% lượng vốn FDI của cả nước với 1,02 tỷ USD và 16 dự án.

Biểu đồ 5: Cơ cấu vốn FDI được cấp mới từ 1/1/2007-22/12/2007

2.3. Về địa bàn thu hút đầu tư

Trong năm 2007, trừ dầu khí, cả nước có 56 địa phương thu hút được dự án đầu tư nước ngoài, trong đó 10 địa phương dẫn đầu. Đó là: Hà Nội đứng đầu với số vốn đăng ký 2,5 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn đầu tư đăng ký; Đồng Nai đứng thứ 2, chiếm 11,3%; TP Hồ Chí Minh đứng thứ 3, chiếm 10,6%; Bình Dương đứng thứ 4, chiếm 10,5% về tổng vốn đầu tư đăng ký; Phú Yên đứng thứ 5, chiếm 7,9%; Bà Rịa-Vũng Tàu đứng thứ 6, chiếm 5,2%; Vĩnh Phúc đứng thứ 7, chiếm 4,9%; Đà Nẵng đứng thứ 8, chiếm 4,4%; Long An đứng thứ 9 chiếm 3,8% và Hậu Giang đứng thứ 10, chiếm 2,9% tổng lượng vốn FDI của cả nước.

2.4. Đối tác FDI chủ yếu

Biểu đồ 6: 10 đối tác chính đầu tư trực tiếp vào Việt Nam từ 1/2008-5/2008

Trong các quốc gia đầu tư chủ yếu vào Việt Nam, các quốc gia ở khu vực Đông Á và ASEAN luôn chiếm một tỷ trọng lớn và dẫn đầu về khối lượng vốn đầu tư. Ví dụ như trong năm 2007, Hàn Quốc dẫn đầu về lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam với 405 dự án và 4,46 tỷ USD. Tiếp theo là Quần đảo Virgin (thuộc Anh) với lượng vốn đầu tư lên tới 4,27 tỷ USD, dù chỉ có 56 dự án. Quốc gia đứng ở vị trí thứ ba trong bảng xếp hạng các quốc gia lớn nhất thực hiện hoạt động FDI tại Việt Nam là Xinga-po với 2,61 tỷ USD. Nhật Bản chỉ khiêm tốn đứng ở vị trí thứ 6 với 9,65 tỷ USD và 154 dự án đầu tư, Mỹ đứng thứ 8 với 62 dự án và 3,58 tỷ USD vốn đầu tư. Còn lại, các quốc gia là các quốc gia và vùng lãnh thổ đang phát triển tại Châu Á như

Đài Loan, Ma-lai-xi-a, Trung Quốc, Thái Lan, Hồng Kông,…

Trong 5 tháng đầu năm 2008, đối tác FDI của Việt Nam có một bước chuyển đổi đáng kể với sự dẫn đầu của Ca-na-da, một quốc gia thuộc nhóm nước công nghiệp phát triển G7, các quốc gia phát triển khác như Mỹ, Nhật, Anh lần lượt đứng ở vị trí 5,6 và 7.

III. Đánh giá tác động của Luật Đầu tư năm 2005 tới đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

1. Tác động tích cực

Luật Đầu tư và các văn bản pháp luật khác có quy định về các vấn đề có liên quan tới đầu tư nằm trong hệ thống pháp lý, một bộ phận có tầm ảnh hưởng quan trọng trong hệ thống các nhân tố có ảnh hưởng tới đầu tư trực tiếp nước ngoài. Luật Đầu tư năm 2005 đã mở ra một thời kỳ mới cho đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Luật đã mở rộng quyền tự do đầu tư, kinh doanh của các nhà đầu tư, mở rộng và bổ sung các hình thức đầu tư trực tiếp cho phù hợp với thông lệ quốc tế, thiết lập một môi trường đầu tư minh bạch và bình đẳng với rất nhiều hỗ trợ, ưu đãi hấp dẫn, đưa ra hệ thống các quy định để bảo đảm quyền lợi cho các nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước. Luật Đầu tư có hiệu lực đã cải thiện đáng kể môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, góp phần tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua.

1.1 Tăng lòng tin của doanh nghiệp vào chính sách của Đảng và Nhà nước

Theo kết quả nghiên cứu của Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ (PMRC) kết hợp với Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ), các doanh nghiệp đã đánh giá rất cao chủ trương xây dựng luật Đầu tư thay thế cho Luật Đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước của nhà nước ta. Cụ thể, tác động của Luật được đánh giá theo mức độ từ 1 (không có tác động gì hoặc tác động không đáng kể) đến 5 (tác động rất tích cực, khiến cho doanh nghiệp yên tâm sản xuất kinh doanh, mở rộng đầu tư). Theo đó, các doanh nghiệp đánh giá rất cao tác động tích cực của Luật Đầu tư chung ở mức 4,2 điểm. Đánh giá về luật Đầu tư của các doanh nghiệp FDI dựa trên sự tổng hợp của rất nhiều tiêu chí, trong đó có các tiêu chí nổi bật sau đây:

Trong những điểm mới của luật Đầu tư, tiêu chí được các nhà đầu tư đánh giá cao nhất là cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập, minh bạch, không thiên vị, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước theo đó, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn và thỏa thuận hình thức giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam. Quy định của luật Đầu tư cũng được các doanh nghiệp đánh giá là phù hợp với thông lệ quốc tế, rất thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (theo đó, các bên có thể lựa chọn giải quyết các tranh chấp thông qua hòa giải, thương lượng hoặc được giải quyết thông qua Tòa án Việt Nam, Trọng tài Việt Nam, Trọng tài nước ngoài, Trọng tài quốc tế).

  • Các doanh nghiệp FDI cũng ủng hộ quy định rõ điều kiện ưu đãi, thủ tục đơn giản, bảo đảm bình đẳng và cho rằng quy định này sẽ có tác dụng tích cực tới quá trình đầu tư và thực hiện dự án đầu tư.
  • Thủ tục xin cấp ưu đãi đầu tư, xét ưu đãi đầu tư minh bạch, giản tiện và chính sách ưu đãi bảo đảm nhất quán, minh bạch, ổn định, dễ dự liệu, tiêu chí xác định ưu đãi đầu tư đơn giản được quy định tại luật Đầu tư cũng được các doanh nghiệp FDI đánh giá rất cao. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.
  • Tiêu chí tiếp theo là bình đẳng trong ưu đãi đầu tư không phân biệt thành phần kinh tế và bảo hộ tài sản và vốn hợp pháp của nhà đầu tư.
  • Các doanh nghiệp FDI cũng đánh giá cao việc bãi bỏ quy định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tổ chức và hoạt động theo các mô hình pháp lý phù hợp với thông lệ kinh doanh quốc tế (dưới các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh) sẽ tạo điều kiện thuận lợi và tăng cường quyền tự do kinh doanh của các nhà đâu tư.
  • Tiêu chí tiếp theo là minh bạch hóa danh mục ngành nghề, lĩnh vực đầu tư hạn chế, có điều kiện hoặc cấm doanh nghiệp FDI: Danh mục các ngành nghề, lĩnh vực hạn chế đầu tư, đầu tư có điều kiện hoặc cấm đầu tư được quy định rất rõ ràng đính kèm với nghị định 108/NĐ-CP và đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhà đầu tư nước ngoài có thể dễ dàng tham khảo thông tin trên website chính thức của Bộ Kế hoạch Đầu tư hay Cục Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
  • Cơ quan chuyên trách quản lý các hoạt động FDI của Bộ. Điều đó tạo thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc xem xét, lựa chọn lĩnh vực đầu tư và có sự chuẩn bị cần thiết khi họ muốn đầu tư vào các lĩnh vực đầu tư có điều kiện hay bị hạn chế. Hơn thế nữa, quy định này cũng góp phần giảm cơ chế xin – cho, tình trạng tham nhũng, tha hóa biến chất của các quan chức nhà nước có thẩm quyền, tạo điều kiện cạnh tranh công bằng và bình đẳng giữa các nhà đầu tư khi đầu tư vào lĩnh vực có điều kiện.
  • Bồi thường thiệt hại khi nhà nước thay đổi chính sách.
  • Loại bỏ các quy định về hạn chế, thay đổi vốn đăng ký trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
  • Loại bỏ các quy định về vốn đầu tư, vốn pháp định, tỷ lệ vốn đầu tư/ vốn pháp định.
  • Loại bỏ quy định về lương tối thiểu trong doanh nghiệp FDI.
  • Việc loại bỏ quy định bắt buộc phải bổ nhiệm tổng giám đốc hoặc phó tổng giám đốc là người của bên Việt Nam trong công ty liên doanh tạo điều kiện cho các doanh nghiệp FDI tuyển dụng những người giỏi nhất, phù hợp nhất để bổ nhiệm vào những vị trí này, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó, điểm mới này của luật Đầu tư cũng được các nhà đầu tư đánh giá là một điểm đổi mới tích cực.
  • Loại bỏ những hạn chế về quy định tỷ lệ tham gia tối thiểu của bên Việt Nam trong thành phần hội đồng quản trị.

Nói tóm lại, các doanh nghiệp FDI đánh giá rất cao về tác động của luật Đầu tư tới việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Hầu hết những đổi mới của luật Đầu tư đều được đánh giá là có tác động tích cực tới tình hình thu hút và thực hiện dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, nhờ đó, các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm bỏ vốn, thực hiện dự án đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

1.2 Tăng lượng vốn đầu tư Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Cụ thể, trong 6 tháng cuối năm 2006, lượng vốn FDI thu hút được lên tới 5.305 nghìn USD, gấp hơn 2 lần lượng vốn thu hút được trong 6 tháng đầu năm 2006 (2.260,2 nghìn USD) và gấp hơn 2,5 lần lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam trong 6 tháng cuối năm 2005. Trong năm 2007, lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam đạt mức kỷ lục 17,9 tỷ USD; gấp 1,7 lần so với lượng vốn thu hút được năm 1996, năm được coi là thành công nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn 1988-2006.

Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên tổng vốn đầu tư của xã hội sau giai đoạn trượt dốc từ năm 1995 đến 2005 đã bắt đầu tăng trở lại. So với năm 2005, tỷ trọng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam năm 2007 đã tăng 1,54% từ 14,5% lên 16,04%, tương đương với lượng vốn FDI tăng từ 6,8 tỷ USD lên 17,9 tỷ USD.

Năm 2008 được dự báo sẽ là một trong những năm kỷ lục của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong suốt hơn 20 năm qua với số lượng vốn đầu tư trực tiếp thu hút được trong 5 tháng đầu năm đạt 14,7 tỷ USD, gần bằng tổng lượng vốn thu hút được ở năm 2006, gấp 2,5 lần lượng vốn thu hút được cùng kỳ năm 2007.

Như vậy sau khi Luật Đầu tư có hiệu lực, đầu tư phát triển của Việt Nam, bao gồm cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đều tăng mạnh. Hiện nay, chúng ta đã thực hiện rất tốt công tác thu hút mọi nguồn lực của xã hội, cả trong và ngoài nước vào công cuộc đầu tư xây dựng đất nước.

1.3. Cải thiện thủ tục hành chính

Theo nghiên cứu đánh giá tác động của luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp năm 2005 của ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ cho thấy: trước khi luật Đầu tư có hiệu lực thi hành, nhà đầu tư nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn và vướng mắc từ hệ thống cấp phép đầu tư theo quy định của pháp luật tại thời điểm đó. Một nhà đầu tư có thể phải tiếp xúc với 11 cơ quan chức năng khác nhau để giải trình về dự án đầu tư. Trung bình, một nhà đầu tư phải tiếp xúc với ít nhất 4-5 cơ quan trong số này để xin cấp phép đầu tư, trong đó nhóm cơ quan đầu tư mà nhà đầu tư phải tiếp xúc nhiều nhất là các cơ quan quản lý chuyên ngành về đầu tư nước ngoài (như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Kế hoạch và Đầu tư), các cơ quan liên quan đến đất đai, xây dựng, giải phóng mặt bằng (Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch – Kiến trúc, thậm chỉ cả ủy ban nhân dân huyện). Hơn thế, nhà đầu tư nước ngoài phải tiếp xúc ít nhất hai lần với những cơ quan này trong quá trình xin cấp giấy phép đầu tư. Đối với nhóm các cơ quan còn lại (Bộ quản lý chuyên ngành, cơ quan chủ quản của đối tác Việt Nam trong trường hợp thành lập doanh nghiệp liên doanh có vốn góp thuộc sở hữu Nhà nước, Sở Tài chính – Vật giá,…), các nhà đầu tư thậm chí còn phải tiếp xúc từ một đến ba lần trong quá trình lập hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư. Hơn thế nữa, các nhà Đầu tư nước ngoài còn cho rằng, để có được các văn bản có liên quan trong quá trình cấp giấy phép đầu tư, họ phải trải qua một quá trình phức tạp với nhiều yêu cầu bổ sung các văn bản giải trình từ các cơ quan chức năng. Chính vì thế, thời gian thực tế để nhà đầu tư nhận được giấy phép đầu tư kéo dài không cần thiết. Thời gian chờ đợi trung bình là khoảng 60 ngày, thậm chí có một số nhà đầu tư phải chờ đến 365 ngày mới được cấp giấy phép đầu tư (Công ty may liên doanh Việt – Hàn, huyện An Dương, Hải Phòng), cao hơn rất nhiều so với quy định của Luật Đầu tư nước ngoài lúc bấy giờ. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Khoảng thời gian chờ đợi kéo dài gây thiệt hại không nhỏ cho nhà đầu tư. Hơn thế nữa, nó còn gây ra tâm lý chán nản và mất lòng tin vào hệ thống công quyền tại Việt Nam trong việc quản lý các dự án đầu tư nước ngoài.

Sau khi luật Đầu tư có hiệu lực thi hành, cơ chế cấp phép đầu tư được chuyển thành cơ chế đăng ký kinh doanh kết hợp với việc phân cấp mạnh trong quản lý nhà nước về Đầu tư nước ngoài về các địa phương và thực hiện tốt cơ chế một cửa, thời gian nhà đầu tư được nhận giấy chứng nhận đầu tư giảm đáng kể xuống chỉ còn 15 ngày đối với dự án thuộc diện đăng ký kinh doanh (có vốn dưới 300 tỷ đồng và không thuộc danh mục đầu tư có điều kiện) và 30 ngày đối với dự án thuộc diện thẩm tra đầu tư (dự án có vốn đầu tư từ 300 tỷ đồng hoặc thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện).

LĐT đã rút ngắn thời gian chờ đợi để nhận được giấy chứng nhận đầu tư. Điều này đồng nghĩa với việc vốn của nhà đầu tư nước ngoài sẽ được nhanh chóng đưa vào thực hiện, tránh được tình trạng để nhà đầu tư phải chờ đợi, vốn đầu tư ứ đọng như trước đây. Hơn thế nữa, việc chuyển từ hình thức cấp phép đầu tư sang đăng ký kinh doanh còn giảm được sự phức tạp trong thủ tục hành chính, nhà đầu tư giảm được số lượng và số lần phải tiếp xúc với cơ quan công quyền để giải trình về dự án đầu tư. Từ đó, cũng giảm được hiện tượng quan liêu, tham nhũng trong bộ máy chính quyền của Việt Nam.

Như vậy, sự đổi mới của luật Đầu tư về thủ tục hành chính và cấp giấy chứng nhận đầu tư không những mang lại lợi ích cao hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn góp phần tăng hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài nói riêng và đầu tư tại Việt Nam nói chung.

2. Tác động tiêu cực và nguyên nhân

2.1. Tác động tiêu cực tới cơ cấu vốn FDI

Mặc dù nhà nước đã ban hành các quy định về lĩnh vực, địa bàn ưu đãi hỗ trợ đầu tư rất rõ ràng, tuy nhiên, lượng vốn đầu tư thu hút được trong các ngành, vùng, miền vẫn còn nhiều bất cập.

a. Về lĩnh vực đầu tư Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Bảng 8: So sánh cơ cấu FDI trước và sau năm 2007

Trong năm 2007, sự mất cân đối về cơ cấu vốn FDI thậm chí còn trở nên nghiêm trọng hơn các năm trước. Cụ thể, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ với tổng số dự án đầu tư chiếm 94,53% và lượng vốn đầu tư chiếm tới 97,8%. Ngành Nông – Lâm nghiệp và Thủy sản dù có rất nhiều ưu đãi đầu tư nhưng dường như bị các nhà đầu tư bỏ quên, tỷ trọng số dự án đầu tư FDI vào lĩnh vực này giảm từ 7,96% trong giai đoạn 19882006 xuống còn 3,47%, tỷ trọng lượng vốn đầu tư cũng giảm tương ứng từ 4,93% xuống còn vẻn vẹn 1,6%. Trong năm 2007, ngành Nông – Lâm nghiệp và Thủy sản thu hút được 79 dự án và lượng vốn đăng ký chỉ chiếm 1,6%, quá nhỏ so với nhu cầu phát triển nông nghiệp Việt Nam và so với tỷ trọng ngành nông nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân. Hậu quả là, mặc dù cơ cấu kinh tế Việt Nam vẫn chuyển dịch theo hướng tiến bộ, đó là giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ, nhưng khoảng cách giữa các ngành kinh tế, đặc biệt là khoảng cách về khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý, càng ngày càng nới rộng. Ngành Công nghiệp và dịch vụ, được tiếp nhận công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý khoa học và tiên tiến từ các quốc gia đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong khi đó, ngành Nông – Lâm nghiệp và Thủy sản sẽ ngày càng tụt hậu, gây khó khăn trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước nói chung và quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, điện khí hóa nông nghiệp nông thôn của nước ta.

Sự rủi ro của hoạt động Nông – Lâm nghiệp và Thủy sản (do chịu ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu,…) có thể là một trong những nguyên nhân gây nên sự bất cân bằng về cơ cấu vốn FDI giữa các ngành. Tuy nhiên, chính cơ chế, chính sách về Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư nghiệp mới là nguyên nhân chính gây ra tình trạng nói trên. Hiện nay, công tác xúc tiến đầu tư của Việt Nam mới chỉ tập trung và các ngành công nghiệp và dịch vụ, còn việc vận động và xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực Nông nghiệp còn nhiều hạn chế, chưa thực sự hiệu quả, chưa thực sự lôi cuốn được các nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước.

b. Về khu vực, địa bàn đầu tư

Theo Luật Đầu tư và nghị định hướng dẫn thi hành, địa bàn ưu đãi đầu tư bao gồm:

Địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. KCN, KCX, KCNC, KKT.

Ngoài mục đích hướng các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các KCN, KCX, KCNC, KKT; những quy định này còn khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các vùng kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Như ta đã biết, trong những tác động tích cực của Đầu tư trực tiếp nước ngoài tới nước nhận đầu tư, chúng ta không thể không kể đến việc giải quyết công ăn việc làm, nâng cao mức sống của người lao động. Khi ban hành những quy định này, Đảng và Nhà nước ta cũng mong đợi FDI sẽ có thể góp phần phát triển những khu vực nằm trong diện có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn về mọi mặt (kinh tế, xã hội , chính trị, văn hóa, tinh thần,…) thông qua việc tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động tại khu vực này. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Tuy nhiên, cho đến nay, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài mới chỉ tập trung vào các địa bàn kinh tế có các điều kiện thuận lợi cho công tác sản xuất kinh doanh (như địa bàn có đường giao thông thuận lợi; hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin liên lạc hiện đại,v.v.), hay đầu tư vào các KCN, KCX, KCNC, KKT để được hưởng các ưu đãi đầu tư của nhà nước và chính phủ, còn các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn không nhận được mấy chú ý của các nhà đầu tư. Điều này đương nhiên sẽ dẫn tới tình hình mất cân đối cơ cấu kinh tế theo vùng, miền tại Việt Nam, một tác động không mong đợi của đầu tư trực tiếp nước ngoài và một ảnh hưởng không lường trước được của Luật Đầu tư năm 2005.

Nguyên nhân của hiện tượng này là do các ưu đãi được áp dụng cho các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn vẫn chưa thực sự thỏa đáng chưa vượt qua được những trở ngại do sự thiếu thốn về mọi mặt (cơ sở vật chất hạ tầng, hệ thống đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, các ngành công nghiệp phụ trợ,v.v.) ở các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Vì thế, những địa bàn này trở nên không hấp dẫn các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.

2.2. Tác động tiêu cực tới quy trình Đăng ký đầu tư và Đăng ký kinh doanh

Sau một thời gian triển khai thi hành Luật Đầu tư và các văn bản khác có liên quan, thủ tục đầu tư và quản lý nhà nước về đầu tư đã được đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao sức hấp dẫn đầu tư của Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, nhiều quy định chưa nhất quán và tương thích trong các văn bản có liên quan đã gây không ít vướng mắc cho việc thực hiện thủ tục và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua.

Do còn nhiều vướng mắc với các văn bản có liên quan khiến cho thủ tục đầu tư và triển khai dự án đầu tư tưởng chừng như đơn giản lại trở thành phức tạp.

Việc đầu tiên các nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện khi quyết định đầu tư vào Việt Nam đó là Đăng ký đầu tư và Đăng ký kinh doanh. Hiện nay, theo quy định của luật Đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với dự án đầu tư có thành lập tổ chức kinh tế đã được gộp thành một. Tuy nhiên, bản thân quy định này lại không rõ ràng, gây ra không ít bối rối và khó khăn cho các nhà đầu tư. Trong nhiều trường hợp, các nhà đầu tư và cả các cơ quan nhà nước không biết phải xử lý như thế nào bởi các nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, quy định không rõ ràng về thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký kinh doanh

Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) đối với dự án đầu tư có thành lập tổ chức kinh tế  về bản chất là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh “khai sinh” ra doanh nghiệp có sở hữu nước ngoài từ 49% trở lên. Tuy nhiên, việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư lại thuộc thẩm quyền của ủy ban nhân dân hoặc Ban quản lý KCN, KCX, KCNC, KKT, chứ không phải Cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Kết quả là hồ sơ của loại doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài do ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ban quản lý KCN quản lý. Vì vậy, sau này, mọi bổ sung, thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh trong giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đều phải do ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ban quản lý thực hiện. Điều này gây không ít khó khăn và tốn kém cho cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Việc phân tán chức năng đăng ký kinh doanh trong điều kiện chưa mẫu biểu hoá và chưa chuẩn mực hoá hệ thống nghiệp vụ đăng ký kinh doanh và hệ thống thông tin về doanh nghiệp đã làm phân tán dữ liệu thông tin doanh nghiệp; không thống nhất được mã số doanh nghiệp, không thống nhất được cả nội dung và hình thức của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Nó cũng là nguyên nhân gây thêm khó khăn và kém hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI trên địa bàn.

Thậm chí có những trường hợp các cơ quan chức năng từ chối thực hiện các thủ tục hành chính do doanh nghiệp yêu cầu với lý do là sự không tương thích của một số giấy tờ trong hồ sơ. Ví dụ, khi doanh nghiệp KCN được cấp giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh muốn chuyển trụ sở chính ra ngoài KCN, hay một doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh muốn mở chi nhánh ở tỉnh, thành phố khác.

Thứ hai, một số nội dung chưa thống nhất về mặt pháp lý trong nội dung đăng ký kinh doanh đồng thời với đăng ký kinh doanh. Ví dụ, nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp được ghi trong điểm 2 và 3 của Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh (gắn với thành lập doanh nghiệp) và Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) chính là chủ sở hữu công ty, các thành viên trong “danh sách thành viên”, và các cổ đông sáng lập “trong Dánh sách cổ đông sáng lập”. Nếu coi những người thành lập là nhà đầu tư, thì các cổ đông sáng lập chưa phải là tất cả các nhà đầu tư;  chữ ký của nhà đầu tư không phải chỉ của một, mà tất cả các nhà đầu tư. Luật cũng chưa có quy định cụ thể về người chịu trách nhiệm pháp lý đối với dự án đầu tư, người chịu trách nhiệm thực hiện dự án đầu tư chủ sở hữu doanh nghiệp hay chính doanh nghiệp do họ thành lập), dự án đầu tư là tài sản của ai, v.v.  Hệ quả của sự không rõ ràng này là không phân biệt, tách biệt được về pháp lý giữa người đầu tư thành lập doanh nghiệp và doanh nghiệp do họ thành lập và những hệ luỵ phát sinh từ đó.

Một điểm  chưa có được cách hiểu thống nhất nữa là ai sẽ là người ký tên ở mục “nhà đầu tư” trong Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh là ai; người đó có vai trò, địa vị và trách nhiệm pháp lý gì đối với doanh nghiệp mới được thành lập, với dự án đầu tư đã được đăng ký và đối với nhà nước và bên thứ ba khác.v.v.. Rõ ràng “nhà đầu tư” ký tên trong giấy đề nghị đăng ký kinh doanh không tương thích với khái niệm “thành viên”, “cổ đông sáng lập”, “người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”, “người đại diện uỷ quyền”,v.v được quy định trong Luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp luật có liên quan.

Thứ ba, sự không tương thích về nội dung giữa giấy chứng nhận đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Phần nội dung đăng ký kinh doanh trong giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không tương thích đáng kể so với nội dung giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Về mặt pháp luật, đáng ra phần nội dung này trong hai loại giấy nói trên phải hoàn toàn giống nhau. Nhưng, thực tế không hoàn toàn như vậy.

  • Trong giấy đề nghị đăng ký kinh doanh không có mục “nhà đầu tư” mà chỉ có danh sách thành viên, cổ đông sáng lập, tên chủ sở hữu; Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.
  • Trong đăng ký kinh doanh doanh nghiệp được đăng ký đa ngành, đa nghề; nhưng trong đăng ký kinh doanh đồng thời là đăng ký kinh doanh, hình như hàm ý chỉ có ngành, nghề tương ứng với dự án đầu tư;
  • “Nhà đầu tư” là ai trong phần đăng ký kinh doanh của giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là ai? Khác biệt cơ bản giữa đăng ký kinh doanh không gắn với đăng ký kinh doanh và đăng ký kinh doanh gắn với đăng ký kinh doanh. Trong đăng ký kinh doanh không gắn với thành lập doanh nghiệp chính là doanh nghiệp; còn trong đăng ký kinh doanh gắn với thành lập doanh nghiệp là những chủ sở hữu doanh nghiệp.
  • Ký tên trong đăng ký kinh doanh là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; còn trong đăng ký kinh doanh đồng thời là đăng ký kinh doanh, thì người ký tên là đại diện nhà đầu tư. “Đại diện của nhà đầu tư” là chức danh chưa được pháp luật quy định cụ thể; họ là ai? Có chức năng và thẩm quyền gì? Có quyền gì và nghĩa vụ gì? Có mối quan hệ như thế nào với doanh nghiệp, các nhà đầu tư? v.v.
  • Trong đăng ký kinh doanh đồng thời là đăng ký kinh doanh không có vốn điều lệ, số vốn góp, tỷ lệ và thời hạn góp vốn của các thành viên (Công ty trách nhiệm hữu hạn); không có tổng số cổ phần chào bán, mệnh giá cổ phần, số cổ phần đăng ký mua của cổ đông sáng lập (đối với Công ty cổ phần); mà lại có “vốn của doanh nghiệp”, “vốn thực hiện dự án đầu tư” và “vốn pháp định”. Bản chất và ý nghĩa pháp lý của các khái niệm nói trên về vốn là chưa rõ hoặc gây nhầm lẫn, không tương thích với những khái niệm tương tự trong Luật Doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.

2.3. Tác động tiêu cực tới thẩm quyền giải quyết thủ tục của các cơ quan có liên quan

Mọi thủ tục hành chính đối với các dự án đầu tư thường đòi hỏi sự tham gia của nhiều cơ quan, từ Thủ tướng Chính phủ đến các Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh và các sở ngành, và ủy ban nhân dân cấp Huyện, Xã. Điều đáng lưu ý thêm là nhà đầu tư thường phải trực tiếp liên hệ với các cơ quan này để xin chấp thuận, ý kiến, phê duyệt,v.v. dưới các hình thức khác nhau. Nói cách khác, nhà đầu tư thường phải đi lại nhiều lần đến nhiều cơ quan khác nhau để có thể hoàn tất một thủ tục.

Hệ quả là, thủ tục thẩm tra đầu tư trong một số trường hợp có thể phải đòi hỏi sự tham gia của tất cả các cơ quan có liên quan, từ Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các bộ ngành liên quan khác, ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các Sở, ban ngành khác. Tương tự như vậy đối với thủ tục về phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình, đất đai có liên quan từ cấp xã, huyện, tỉnh, Bộ và Thủ tướng chính phủ. Nhìn chung nhà đầu tư có thể phải tự liên lạc với tổng số 5 loại cơ quan nhà nước khác nhau để có thể hoàn tất thủ tục phê duyệt dự án xây dựng công trình.

Đầu tiên, nhà đầu tư phải liên hệ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ quản lý ngành để xin chấp thuận chủ trương đầu tư và/hoặc xin phép đầu tư của Thủ tướng Chính phủ (đối với các dự án thuộc thẩm quyền Thủ tướng chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc dự án quan trọng). Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

Sau đó, nhà đầu tư phải liên hệ với Bộ quản lý ngành có thẩm quyền để xin thoả thuận về quy hoạch (đối với 1 số loại dự án chưa có trong quy hoạch).

Tiếp theo, liên hệ với Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc Ban quản lý KCN, KCX, KCNC, KKT, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để đăng ký, xin cấp giấy chứng nhận dầu tư.

Bước thứ tư là liên hệ với Uỷ ban nhân dân xã, quận huyện, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và môi trường, Ban quan lý KCN và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để xin thuê đất hoặc giao đất.

Bước thứ năm là liên hệ với Bộ hoặc Sở Xây dựng, Công nghiệp, Giao thông Vận tải hoặc Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thực hiện thủ tục phê duyệt thiết kế cơ sở công trình.

Cuối cùng, họ có thể lại phải xin giấy phép xây dựng tại ủy ban nhân dân quận, huyện hoặc xã, phường.

Nếu xét trong tổng thể cả bốn thủ tục nói trên, một cơ quan có thể phải quyết định hoặc được hỏi ý kiến nhiều lần về cùng một nội dung và/hoặc về nhiều nội dung khác nhau. Ví dụ, Thủ tướng Chính phủ có thể phải 2 lần cho phép hay chấp thuận đầu tư: chấp thuận về chủ trương đầu tư và quyết định cho phép đầu tư.

Nguyên nhân của tình trạng này là thiếu quy định rõ ràng về cơ quan làm đầu mối giải quyết công việc. Thông thường có nhiều cơ quan được chỉ định làm đầu mối giải quyết công việc, được phân chia theo các cấp Trung ương (Bộ) và địa phương (Sở hoặc ủy ban nhân dân tỉnh, huyện, xã); hoặc phân chia theo hàng ngang, như Sở và KCN, KKT (đối với thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư). Hầu hết các thủ tục, trừ thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư đều không có cơ quan đầu mối để giải quyết công việc, mà nhà đầu tư tự liên hệ với các cơ quan khác nhau để thực hiện các yêu cầu trong quá trình thực hiện thủ tục đó.

2.4. Tác động tiêu cực tới quyền tiếp cận nguồn lực của nhà đầu tư nước ngoài

Tác động tiêu cực tới quyền sử dụng lao động của nhà đầu tư nước ngoài

Mặc dù Luật Đầu tư năm 2005 đã quy định các nhà đầu tư nước ngoài, được quyền bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực tại Điều 14 Luật Đầu tư. Nhưng Bộ Luật Lao động-Thương binh xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành lại có quy định về hạn chế về tỷ lệ lao động nước ngoài. Thêm vào đó, tại khoản 5 mục 3 của Thông tư số 04/2004/TT-BLĐTBXH ngày 10/3/2004 của Bộ Luật lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 105/2003/NĐ-CP ngày 17/9/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam quy định các Ban quản lý KCX, KCN, KCNC trước đây đã được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội uỷ quyền cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài thì hiện nay việc ủy quyền cấp giấy phép lao động thuộc thẩm quyền của Sở Lao động Thương binh và Xã hội. Thẩm quyền của Ban quản lý KCX, KCN, KCNC, KKT về vấn đề lao động hiện nay chưa được quy định rõ. Sự mâu thuẫn này khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các cơ quan quản lý có thẩm quyền tại Việt Nam băn khoăn không biết sẽ phải thực hiện như thế nào.

Đó cũng là một cản trở lớn đối với việc thu hút vốn FDI tại Việt Nam.

Tác động tiêu cực tới quyền sử dụng đất của nhà đầu tư nước ngoài

Theo Điều 44 và Điều 45 của luật Đầu tư và theo quy định tại Nghị định 108/2006/NĐCP quy định hồ sơ đăng ký kinh doanh và thẩm tra đầu tư, trong đó không có hồ sơ về thuê đất, thuê lại đất. Việc này có thể giảm thời gian thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư, nhưng trong nhiều trường hợp sau khi có Giấy chứng nhận đầu tư, nhà đầu tư không thỏa thuận được với chủ đầu tư dự án phát triển kết cấu hạ tầng KCN về thuê lại đất, do đó không có đất để hoạt động sản xuất kinh doanh; khi đó không những gây khó khăn cho nhà đầu tư trong KCN, KCX, KCNC, KKT mà còn bỏ lỡ các cơ hội thu hút đầu tư khác vào KCN, KCX, KCNC, KKT.\ Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 

One thought on “Khóa luận: Thực trạng luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Tác động luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464