Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa Luận: Giải pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa Luận: Các giải pháp phát huy vai trò của Luật Đầu tư năm 2005 vào đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. Định hướng của nhà nước trong việc thu hút, sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn 2006-2010
1. Dự báo tình hình đầu tư nước ngoài
1.1. Quan điểm thu hút FDI giai đoạn 2006-2010
Đảng và Nhà nước ta luôn coi FDI là một nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế và đã đề ra quan điểm chỉ đạo về thu hút FDI. Cụ thể như sau:
Thứ nhất: Duy trì nhất quán, ổn định, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài nhất là FDI. Coi FDI là một bộ phận hữu cơ quan trọng về vốn và kinh doanh của nền kinh tế. Cần thống nhất nhận thức về tầm quan trọng, triển vọng và các điều kiện hoạt động của FDI trong đời sống kinh tế- xã hội đất nước, khắc phục những lệch lạc, dao động, thiếu nhất quán trong nhận thức, cơ sở pháp lý và chỉ đạo thực hiện quá trình thu hút FDI cả trước mắt và lâu dài.
Thứ hai: Coi trọng đồng bộ hóa các giải pháp, tạo thuận lợi và bình đẳng tối đa đồng thời đáp ứng cao nhất yêu cầu hội nhập đã cam kết. Thực hiện đổi mới chính sách và cải thiện môi trường đầu tư, xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử trong tiếp cận các cơ hội đầu tư để khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI.
Thứ ba: Kết hợp chặt chẽ hiệu quả dòng vốn FDI với các nguồn vốn đầu tư phát triển khác, nhất là vốn trong nước. Để phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam cần nhiều vốn được “hợp lực” từ các dòng chảy khác nhau, song không được tách rời chức năng và môi trường hoạt động của từng loại vốn, và cần hòa nhập chúng một cách tổng thể hiệu quả. Cần định hướng khuyến khích và chủ động tổ chức gắn kết, hợp tác, hỗ trợ kinh tế lẫn nhau giữa các loại hình doanh nghiệp và thành phần kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế, trong từng ngành, từng địa phương, từng dự án đầu tư phát triển, cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.
Thứ tư: Đề cao yêu cầu phát triển bền vững trong thu hút FDI. Thu hút FDI càng nhiều càng tốt, nhưng không phải bằng mọi giá mà cần gắn với quy hoạch, với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH và từng bước tiếp cận nhanh nền kinh tế tri thức, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả nền kinh tế, giữ vững độc lập tự chủ, an ninh quốc gia và định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo sự lành mạnh xã hội và môi trường sinh thái. Cần tạo dựng những quy hoạch để vừa làm tăng về số lượng, quy mô, địa bàn, lĩnh vực thu hút FDI, vừa thu hút được ngày càng nhiều các đối tác, dự án FDI có chất lượng toàn diện, có tiềm lực mạnh về tài chính, hiện đại về công nghệ, triển vọng về thị trường, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH, cải thiện cơ cấu và năng lực xuất khẩu, giải quyết việc làm và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Khóa luận: Giải pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Thứ năm: Đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn FDI và các hình thức FDI, đồng thời dành quan tâm và ưu tiên đặc biệt đối với các nhà đầu tư lớn, dự án lớn, có tiềm lực lớn về tài chính, nắm công nghệ nguồn và cả những công nghệ nhỏ nhưng chuyển giao công nghệ hiện đại hoặc phát triển các vùng sâu, vùng xa hoặc các lĩnh vực cần phát triển được lựa chọn.
1.2. Mục tiêu Chương trình thu hút FDI giai đoạn 2006-2010 :
Các chỉ tiêu chủ yếu về Đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2010 cần đạt được là:
- Vốn Đầu tư nước ngoài thực hiện: đạt khoảng 24 – 25 tỷ USD (tăng 70-75% so với giai đoạn 2001-2005) chiếm khoảng 17,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
- Vốn đăng ký bao gồm cả vốn FDI đăng ký cấp mới và tăng vốn đạt khoảng 55 tỷ USD (tăng hơn 2 lần so với giai đoạn 2001–2005), trong đó vốn cấp mới đạt 41 tỷ USD và vốn bổ sung đạt khoảng 14 tỷ USD. Bình quân mỗi năm đạt khoảng 11 tỷ USD.
- Doanh thu: khoảng 163,4 tỷ USD
- Xuất – nhập khẩu: xuất khẩu đạt khoảng 93,3 tỷ USD (không kể dầu thô); nhập khẩu đạt 103,0 tỷ USD.
- Nộp ngân sách nhà nước: đạt khoảng 8,4 tỷ USD.
- Cơ cấu vốn thực hiện theo ngành: vốn FDI thực hiện trong ngành công nghiệp chiếm khoảng 60%, Nông-Lâm-Ngư nghiệp khoảng 5% và dịch vụ khoảng 35%.
- Chú trọng thu hút đầu tư từ các nước G7 có công nghệ cao, đảm bảo phát triển bền vững.
1.3. Dự báo tình hình đầu tư nước ngoài trong thời gian tới
Căn cứ các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới, trên cơ sở tổng hợp một số dự án lớn đang trong quá trình đàm phán từ các địa phương và tình hình triển khai nhanh các dự án được cấp từ năm 2005 đến nay, dự kiến tình hình thu hút vốn Đầu tư nước ngoài trong 2 năm 2008 và 2009 sẽ thu hút vốn đầu tư mới (bao gồm cả tăng vốn mở rộng sản xuất) tương tự như kết quả năm 2007, trong đó chú trọng thu hút các dự án lớn, trọng điểm, sử dụng công nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh. Khóa luận: Giải pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
- Vốn thực hiện: đạt 10 tỷ USD vượt 25%năm 2007 (8 tỷ USD).
- Lao động: 16 vạn người, tăng 6,7% so với năm 2007.
- Nộp ngân sách Nhà nước: 2 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2007.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Định hướng chung
Từ những quan điểm về thu hút FDI, Đảng ta đã đề ra những định hướng chung thu hút FDI:
Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút và sử dụng FDI vào tất cả các lĩnh vực mà pháp luật không cấm, không thuộc lĩnh vực loại trừ vì lý do quốc phòng, an ninh, bao gồm: Sản xuất, dịch vụ phục vụ sản xuất, công nghiệp chế biến, nhất là chế biến nông- lâm- thủy sản, khoáng sản, nguyên – nhiên liệu, sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó ưu tiên đặc biệt cho sản xuất có sử dụng nguyên liệu trong nước và tỷ lệ nội địa hóa cao, các dự án ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử, vật liệu mới, viễn thông, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, kinh doanh xây dựng nhà ở, khu đô thị mới và các ngành, nghề mà Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh với công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tiếp tục thu hút và mở rộng cho các dự án FDI vào những địa bàn có nhiều lợi thế để phát huy vai trò của các vùng kinh tế chủ lực; các KCX, KCN, KCNC, KKT; khu du lịch mà chúng ta chưa có điều kiện khai thác,… tạo điều kiện, khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết kinh tế trong công nghiệp, dịch vụ, có chính sách thật sự hấp dẫn và tạo điều kiện thật sự thuận lợi để thúc đẩy phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Dành những ưu đãi tối đa cho FDI vào những vùng và địa bàn mà điều kiện kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn.
Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài từ tất cả các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, nhất là các nhà đầu tư, các công ty, các tập đoàn công ty có tiềm năng lớn về tài chính, nắm công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển, tiếp tục thu hút các nhà đầu tư nước ngoài trong khu vực, chú trọng tới khu vực, địa bàn mới có nhiều tiềm năng chưa khai thác mạnh như: Bắc Mỹ, Bắc Âu, Nam Mỹ, v,v tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư về nước.
Đa dạng hóa các hình thức doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, đặc biệt là mở rộng hình thức công ty cổ phần, công ty hợp danh. Tất cả các thành phần kinh tế có đủ điều kiện tham gia vào liên doanh, hợp tác đầu tư trực tiếp với nước ngoài. Khuyến khích mở rộng hơn nữa cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước để tạo ra môi trường cạnh tranh năng động, sôi nổi, lành mạnh, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển trong khuôn khổ pháp luật.
Trong bối cảnh hiện nay, cần chú ý tới sự thống nhất cao về nhận thức và dư luận xã hội, hoàn thiện nhanh chóng những chính sách cụ thể và cơ chế về tổ chức, điều hành, đẩy mạnh khâu tuyên truyền, phổ biến thông tin, kiến thức, làm thay đổi cách nhìn nhận về vai trò và vị trí của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh hiện nay, tạo sự đồng thuận trong nhận thức, tư tưởng từ đó có sự thống nhất và có quyết tâm hành động trong toàn Đảng, toàn dân, trước hết là các cấp, các ngành, các cơ quan, đoàn thể có liên quan trực tiếp tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài,… Tăng cường khâu tổ chức, chỉ đạo điều hành để tạo thành những sự thay đổi có tính căn bản trong chính sách đối với lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài. Coi trọng và tập trung cải thiện nhanh và đồng bộ môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài, khắc phục tình trạng thiếu nhất quán, thiếu minh bạch và có thể dự đoán được về chính sách và thực thi pháp luật từ trung ương tới địa phương, cơ sở.
3. Định hướng cụ thể trong việc thu hút FDI giai đoạn 2006 – 2010 Khóa luận: Giải pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Chủ trương tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Mục tiêu và định hướng thu hút đầu tư nước ngoài giai đoạn tới được xác định như sau:
3.1. Định hướng thu hút vốn đầu tư theo ngành
- Ngành Công nghiệp – Xây dựng:
Các ngành đặc biệt khuyến khích đầu tư gồm công nghệ thông tin, điện tử, vi điện tử, công nghệ sinh học…; chú trọng công nghệ nguồn, tiên tiến, hiện đại từ các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản; hết sức coi trọng thu hút FDI gắn với nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ.
Công nghiệp phụ trợ: Khuyến khích thu hút FDI vào ngành công nghiệp phụ trợ nhằm giảm chi phí đầu vào về nguyên – phụ liệu của các ngành công nghiệp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước. Để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, cần tạo điều kiện để các dự án sản xuất lắp ráp các sản phẩm công nghiệp nhanh chóng mở rộng quy mô và thị trường tiêu thụ. Ngành Dịch vụ:
Ngành dịch vụ là ngành có tiềm năng rất lớn để đầu tư phát triển góp phần quan trọng trong nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế. Từng bước mở cửa các lĩnh vực dịch vụ theo các cam kết quốc tế, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển như dịch vụ ngân hàng, tài chính; dịch vụ vận tải, bưu chính – viễn thông, y tế, văn hoá, giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực dịch vụ khác.
Với định hướng trên, Nhà nước chủ trương tiến hành xem xét, giảm bớt các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh có điều kiện đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài có tính tới các yếu tố hội nhập và toàn cầu hóa theo lộ trình “mở cửa”; tạo bước đột phá trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng việc xem xét đẩy sớm lộ trình mở cửa đối với một số lĩnh vực dịch vụ, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào phát triển hạ tầng. Cụ thể là:
Khuyến khích mạnh vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành du lịch, y tế, giáo dục – đào tạo. Mở cửa theo lộ trình các lĩnh vực dịch vụ “nhạy cảm” như ngân hàng, tài chính, vận tải, viễn thông, bán buôn và bán lẻ và văn hoá.
Khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật bằng các phương thức thích hợp gồm BOT, BT để xây dựng cảng biển, cảng hàng không, đường cao tốc, đường sắt, viễn thông, cấp nước, thoát nước,v.v. nhằm góp phần nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng nhanh của nền kinh tế.
- Ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp: Khóa luận: Giải pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Về trồng trọt và chăn nuôi: Khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài áp dụng công nghệ sinh học tiên tiến để tạo ra các cây, con giống có năng suất cao, phẩm chất tốt để đưa vào sản xuất, đảm bảo nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Về trồng rừng – chế biến gỗ, đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung vào các dự án sản xuất giống cây có chất lượng, năng suất cao nhằm đáp ứng nhu cầu trồng rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ, lâm sản.
Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp như hệ thống kênh mương, thủy lợi, các nhà máy chế biến, bảo quản thực phẩm sau thu hoạch; góp phần tăng giá trị và chất lượng của sản phẩm.
3.2 Định hướng thu hút vốn đầu tư theo vùng
Trong thời gian tới, dự báo vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn sẽ tập trung chủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi về địa lý – tự nhiên, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm. Để tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại những vùng có điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, bên cạnh những ưu đãi của luật Đầu tư được áp dụng đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta phải tăng cường đầu tư xây dựng nhanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông, điện, nước ở các vùng kinh tế khó khăn bằng nguồn vốn nhà nước, vốn ODA và nguồn vốn tư nhân.
Tập trung thu hút đầu tư, lấp đầy các KCN – KCX – KCNC – KKT đã được Chính phủ phê duyệt góp phần đẩy nhanh việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Tận dụng những khu vực đất trống, đồi trọc, ít giá trị nông nghiệp để phát triển KCN , xây dựng nhà máy, hạn chế xây dựng KCN – KCX – KCNC – KKT trên đất canh tác nông nghiệp truyền thống.
3.3 Định hướng pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội thời kỳ 2001 – 2010 đã khẳng định: “Khu vực có vốn Đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế của đất nước, cùng phát triển, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh trong thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa’’. Thực tiễn trong những năm qua đã cho thấy, khu vực kinh tế có vốn Đầu tư nước ngoài đã phát triển nhanh chóng, hòa trộn cùng các thành phần kinh tế khác tạo thành các khu vực kinh tế hỗn hợp đa dạng. Trên thực tế, khu vực kinh tế Đầu tư nước ngoài đã thâm nhập và trở thành bộ phận hữu cơ của các thành phần kinh tế khác, tạo động lực thúc đẩy quá trình đổi mới, tiếp nhận các công nghệ mới về sản xuất kinh doanh, về tổ chức quản lý cũng như về vốn đầu tư để phát triển.
Đến năm 2020, khu vực kinh tế có vốn Đầu tư nước ngoài và các thành phần kinh tế khác sẽ được phát triển bình đẳng trong cùng một môi trường về kinh tế, thể chế pháp lý, phù hợp với các cam kết và thông lệ quốc tế. Trong giai đoạn 2006-2010, thành phần kinh tế có vốn Đầu tư nước ngoài được khuyến khích phù hợp với lộ trình các cam kết quốc tế của Việt Nam như AFTA, BTA, WTO,v.v. Khóa luận: Giải pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
II. Giải pháp đề xuất nhằm phát huy tác động tích cực của Luật Đầu tư năm 2005 vào đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
1. Về phía nhà nước
Như ta đã thấy, luật Đầu tư đã có những tác động rất tích cực, góp phần thúc đẩy lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay. Vậy, để có thể tiếp tục phát huy được vai trò của Luật Đầu tư năm 2005 và tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, việc tiến hành những công việc sau là cần thiết.
1.1 Kiện toàn bộ máy tổ chức, bài trừ tham nhũng, cửa quyền
Theo Luật Đầu tư năm 2005, việc phân cấp quản lý đầu tư được thực hiện rất mạnh mẽ. Chính sự phân cấp quản lý đầu tư này đã xóa bỏ những manh mún, chồng chéo trong việc quản lý đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các giai đoạn trước đó, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đăng ký và triển khai dự án đầu tư. Để có thể thực hiện tốt công tác này, bộ máy nhà nước Việt Nam phải có đủ năng lực để thực hiện công tác quản lý, giám sát một cách hiệu quả. Do đó, việc đầu tiên mà Đảng và Nhà nước ta cần thưc hiện đó là phải triển khai và kiện toàn bộ máy quản lý đầu tư nước ngoài tại các địa phương để đáp ứng yêu cầu phân cấp quản lý đầu tư.
Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra, bài trừ tham nhũng trong các quan chức có thẩm quyền tại các cơ quan có thẩm quyền tại trung ương và địa phương để không gây phiền hà, nhũng nhiễu cho các nhà đầu tư và cho các doanh nghiệp.
1.2 Bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
Một trong những mục đích cơ bản của việc ban hành luật Đầu tư là để bảo đảm các cam kết quốc tế về đầu tư mà Việt Nam tham gia. Việc thực thi luật Đầu tư cũng như thực hiện các cam kết quốc tế đã góp phần mở của môi trường đầu tư tại Việt Nam để thu hút vốn đầu tư nước ngoài nói chung và vốn đầu tưu trực tiếp nước ngoài nói riêng. Vì vậy, chúng ta cần phải liên tục rà soát các cam kết của Việt Nam không chỉ trong lĩnh vực đầu tư mà trong tất cả các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Nhờ đó, chúng ta có thể bảo đảm thực hiện các cam kết về đầu tư, về mở cửa thị trường,… đúng theo tiến độ và lộ trình đã cam kết. Có như thế, chúng ta mới có thể giữ được lòng tin của các nhà đầu tư đã và đang thực hiện đầu tư tại Việt Nam và thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư chưa từng thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam, từ đó, góp phần tăng vốn FDI.
1.3 Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư Khóa luận: Giải pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật sẽ là vô nghĩa nếu không có công tác xúc tiến đầu tư. Nếu không có xúc tiến đầu tư, làm sao các nhà đầu tư ở các quốc gia trên thế giới có thể biết đến Việt Nam có một môi trường đầu tư hấp dẫn, với nhiều ưu đãi, hỗ trợ? Kết quả là, những mặt ưu điểm của luật Đầu tư sẽ khó có thể phát huy hết tác dụng trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Do đó, Đảng và Nhà nước phải thực hiện các biện pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường phối hợp hoạt động xúc tiến đầu tư (XTĐT) giữa trung ương và địa phương. Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục rà soát, cập nhật bổ sung danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu đầu tư phát triển và quy hoạch phát triển ngành, địa phương.
Thứ hai, nhanh chóng ban hành Quy chế phối hợp và triển khai các bộ phận XTĐT ở một số địa bàn trọng điểm. Đổi mới phương thức XTĐT, chuyển mạnh sang hình thức vận động đầu tư theo dự án và đối tác trọng điểm, tiếp cận và vận động các công ty, tập đoàn lớn có thực lực về tài chính – công nghệ cao đầu tư vào Việt Nam. Tổ chức hiệu quả các hội thảo XTĐT ở trong và ngoài nước. Nâng cao chất lượng trang thông tin điện tử về Đầu tư nước ngoài bằng một số ngôn ngữ (các thứ tiếng: Anh, Nhật, Hàn, Trung và Nga,…) đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư.
Thứ ba, triển khai đúng tiến độ việc thực hiện Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình XTĐT quốc gia giai đoạn 2007-2010 để có thể bắt đầu thi hành từ ngày 01/01/2008 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Thứ tư, tăng cường các đoàn vận động XTĐT tại một số địa bàn trọng điểm (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, EU và Hoa Kỳ) để kêu gọi đầu tư vào các dự án lớn, quan trọng. Chủ động tiếp cận và hỗ trợ các nhà đầu tư tiềm năng có nhu cầu đầu tư vào Việt Nam.
2. Về phía doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài
Đầu tiên, trước khi quyết định đầu tư và triển khai dự án đầu tư các doanh nghiệp và nhà đầu tư cần phải nghiên cứu để hiểu rõ các quy định của Việt Nam về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Có thế, họ mới hiểu được những quyền lợi họ được hưởng và nghĩa vụ họ cần phải thực hiện khi tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện đầu tư, các doanh nghiệp và nhà đầu tư phải liên tục cập nhất những thay đổi về chính sách, pháp luật đầu tư tại Việt Nam để có những điều chỉnh và thay đổi phù hợp với các quy định của pháp luật.
Các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam phải luôn luôn tuân thủ theo quy định của pháp luật Việt Nam để bảo đảm cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền dễ dàng quản lý và kiểm soát.
III. Giải pháp đề xuất nhằm hạn chế tác động tiêu cực của Luật Đầu tư năm 2005 vào đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Khóa luận: Giải pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
1. Về phía nhà nước
1.1 Hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật
Có thể nói rằng, phần lớn những tác động tiêu cực của Luật Đầu tư năm 2005 lên đầu tư trực tiếp nước ngoài đều là do những vướng mắc, chồng chéo trong bản thân Luật đầu tư và nghị định hướng dẫn thi hành cùng với các văn bản pháp luật khác có liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Do đó, việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, là biện pháp cơ bản, cốt lõi để hạn chế những tác động tiêu cực này. Theo đó, chúng ta cần thực hiện những điểm sau:
- Tiếp tục rà soát pháp luật, chính sách để sửa đổi, điều chỉnh hoặc loại bỏ những mâu thuẫn, vướng mắc nhằm tạo sự đồng bộ và thống nhất trong hệ thống pháp luật, chính sách. Theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp để kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh.
- Xây dựng văn bản hướng dẫn các địa phương và doanh nghiệp về lộ trình cam kết mở cửa về Đầu tư nước ngoài làm cơ sở xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Chấn chỉnh tình trạng ban hành và áp dụng các ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trái với quy định của pháp luật. Tăng cường tập huấn, phổ biến nội dung và lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam.
1.2 Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính
Tiếp tục tập trung hoàn thiện cơ chế “liên thông – một cửa” ở các cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư và quản lý đầu tư.
Tăng cường năng lực quản lý Đầu tư nước ngoài của các cơ quan chức năng và cơ chế phối hợp, giám sát và kiểm tra hoạt động đầu tư; giải quyết kịp thời các thủ tục về đất đai, thuế, xuất nhập khẩu, hải quan,… nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động Đầu tư nước ngoài, qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam.
Nâng cao trình độ toàn diện của đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại luật Đầu tư và quy định mới về phân cấp quản lý Đầu tư nước ngoài.
1.3 Về quản lý nhà nước với đầu tư
Cần phải thực hiện các biện pháp sau: Khóa luận: Giải pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Thứ nhất, phối hợp hỗ trợ, thúc đẩy nhanh việc giải ngân vốn đăng ký của các dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, đặc biệt chú trọng đến công tác thúc đẩy triển khai các dự án quy mô vốn đầu tư lớn được cấp Giấy chứng nhận đầu tư trong vài năm gần đây bằng cách tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, về giải phóng mặt bằng, v.v. giúp cho các dự án này triển khai nhanh chóng.
Thứ hai, thường xuyên phối hợp với địa phương hỗ trợ giải quyết về luật pháp, chính sách, vướng mắc của các doanh nghiệp trong việc hình thành và hoạt động. Đồng thời, có kế hoạch nắm bắt cụ thể tình hình triển khai của các dự án Đầu tư nước ngoài có quy mô vốn đầu tư lớn (từ khi hình thành dự án đến khi hoạt động).
Thứ ba, nghiên cứu xây dựng, củng cố hệ thống quản lý thông tin Đầu tư nước ngoài, tiến đến dần kết nối các đầu mối quản lý đầu tư trong cả nước để đảm bảo tốt chính sách hậu kiểm, tăng cường cơ chế phối hợp quản lý Đầu tư nước ngoài giữa Trung ương với địa phương và các Bộ, ngành liên quan.
Thứ tư, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm soát sau cấp phép nhằm hướng dẫn việc thực hiện đúng pháp luật và ngăn chặn các vi phạm pháp luật. Tiếp tục rà soát các dự án để có hình thức xử lý phù hợp, hỗ trợ dự án nhanh chóng triển khai sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Thực hiện việc thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án không triển khai đúng tiến độ cam kết để dành quỹ đất cho các dự án mới. Chủ trì tổ chức các đoàn kiểm tra tình hình triển khai quy hoạch đầu tư, quy hoạch KCN, KKT và tình hình sử dụng vốn hỗ trợ ngân sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, KKT.
Thứ năm, tổ chức hướng dẫn các địa phương xây dựng Đề án quy hoạch phát triển KCN và phối hợp với các đơn vị nghiên cứu phương án điều chỉnh Quy hoạch phát triển các KCN cả nước với biện pháp bảo vệ môi trường.
Thứ sáu, phối hợp với các đơn vị, cơ quan theo dõi, giải quyết kịp thời các vấn đề đình công, bãi công của công nhân trong KCN, đặc biệt là trong các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động và các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài.
Thứ bảy, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các cam kết song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết cho cơ quan quản lý nhà nước các cấp và các doanh nghiệp nhằm chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Về phía doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài Khóa luận: Giải pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
2.1 Thông báo khi có vướng mắc phát sinh
Thứ nhất, trong quá trình hoạt động và triển khai dự án đầu tư, nếu có bất kỳ vướng mắc gì liên quan đến hệ thống pháp lý, đặc biệt là các quy định của Luật Đầu tư và các văn bản khác có liên quan, doanh nghiệp phải ngay lập tức thông báo cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền, để nhà nước có các biện pháp sửa đổi các quy định chưa hợp lý hoặc bổ sung các quy định còn thiếu.
2.2 Tham gia vào quá trình ban hành các quy định pháp lý
Chính các doanh nghiệp và nhà đầu tư là đối tượng trực tiếp chịu tác động của các quy định về pháp luật đầu tư tại Việt Nam. Họ cũng là người hiểu rõ nhất những vướng mắc trong các văn bản pháp luật hiện hành. Do đó, doanh nghiệp và nhà đầu tư cần phải tích cực tham gia góp ý với nhà nước về công tác xây dựng và ban hành các quy định pháp lý. Tránh tình trạng để luật và văn bản sau khi được ban hành và có hiệu lực mới phát hiện ra sự vô lý, không phù hợp.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Luật Đầu tư năm 2005 có nhiều quy định đổi mới và tiến bộ, phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Sau hai năm Luật có hiệu lực thi hành, chúng ta không thể phủ nhận những tác động tích cực của nó vào đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Luật Đầu tư năm 2005 là một trong các nhân tố giúp cho lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam tăng trưởng trở lại sau một thời gian dài suy giảm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật đã có những tác động tiêu cực đến hoạt động FDI, khiến cho các nhà đầu tư không khỏi hoang mang và lo lắng. Trong đó, nổi bật nhất là những quy định còn nhiều vướng mắc và không thống nhất với các văn bản có liên quan. Đây là điều khó tránh khỏi với một quốc gia đang trong quá trình phát triển đất nước, đang trong quá trình hội nhập, tham gia vào nền kinh tế thế giới, với một hệ thống luật pháp đang trong quá trình hoàn thiện. Khóa luận: Giải pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Dựa trên những nghiên cứu đó, em cũng đã đề xuất một số giải pháp cơ bản để góp phần tăng cường vai trò của Luật Đầu tư năm 2005 đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Những giải pháp này có thể chia thành hai nhóm: nhóm giải pháp phát huy tối đa những tác động tích cực của Luật Đầu tư năm 2005 và nhóm giản pháp hạn chế tới mức có thể những tác động tiêu cực của Luật này vào Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Cả hai nhóm giải pháp đều yêu cầu phải có sự tham gia, phối hợp hoạt động của cả các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam – đối tượng trực tiếp chịu tác động của những thay đổi trong quy định về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Tác động luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
