Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài

Doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận cấu thành quan trọng của kinh tế nhà nước. Sự tồn tại của khu vực kinh tế nhà nước nói chung và doanh nghiệp nhà nước rói riêng không phải là một vấn đề mới lạ. Trên thế giới hầu như nước nào cũng tồn tại kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước kể cả là các nước tư bản chủ nghĩa. Sự khác nhau chỉ là ở quy mô, tỷ trọng của nó do mục đích và những điều kiện cụ thể của mỗi nước quy định. Ở nước ta sự ra đời và phát triển của hệ thống doanh nghiệp nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng, đây là lực lượng vật chất bảo đảm cho sự thắng lợi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường và góp phần đảm bảo sự ổn định về chính trị, kinh tế – xã hội của đất nước.

Trong công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng từ đại hội Đảng lần thứ VI đến nay, vấn đề quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được chú trọng đến. Đại hội Đảng lần VI đánh dấu bước đột phá trong việc đảm bảo quyền tự chủ của doanh nghiệp nhà nước: “Phải đổi mới cơ chế quản lý, bảo đảm cho các đơn vị kinh tế quốc doanh có quyền tự chủ, thực sự chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, lập lại trật tự, kỉ cương trong hoạt động kinh tế”. Tuy nhiên việc phân định giữa quản lý kinh tế của Nhà nước và quản trị kinh doanh của doanh nghiệp vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội mà nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do “Vai trò của Nhà nước và thị trường chưa được làm rõ và chưa có sự thống nhất”, nhiệm vụ kinh tế của Nhà nước chưa được cụ thể hóa trong công tác chỉ đạo hoạt động và quản lý nền kinh tế của Nhà nước: có những nội dung dàn trải, có những nội dung lại quá đi vào chi tiết, chưa có sự tách bạch vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước với vai trò quản lý chung của Nhà nước.

Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Sự hội nhập này đem lại rất nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít những thách thức với nền kinh tế. Ngày nay nền kinh tế thế giới đang dần dần từng bước trở thành môi trường chung và do đó cạnh tranh kinh tế ngày một quyết liệt hơn, việc phân biệt và làm sáng tỏ vai trò chủ sở hữu của Nhà nước với vai trò quản trị kinh doanh của doanh nghiệp trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là cần thiết được nghiên cứu. Do vậy em đã lựa chọn đề tài “ MÔ HÌNH QUẢN TRỊ: TÁCH QUYỀN CHỦ SỞ HỮU RA KHỎI QUYỀN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Mô Hình Quản Trị

2. Mục đích nghiên cứu

Dựa trên cơ sở của việc nghiên cứu thực trạng mô hình và cơ chế quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp để hệ thống hóa các quan điểm về doanh nghiệp nhà nước, quyền của chủ sở hữu và quyền quản trị kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó khóa luận đưa ra kiến nghị một số những biện pháp trong quản trị doanh nghiệp nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi công cuộc Đổi mới do Đảng khởi xướng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước, đảm bảo tính tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường.

3. Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

Khóa luận lấy vấn đề tách quyền chủ sở hữu và quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước làm đối tượng nghiên cứu. Khóa luận có những nghiên cứu tại một số cơ quan quản lý nhà nước có nhiệm vụ chủ sở hữu các Tổng công ty 91.

Nhiệm vụ của khóa luận là làm rõ các căn cứ lý luận và thực tiễn việc tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp nhà nước. Tổng kết và đánh giá quá trình thực hiện tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp, đảm bảo tính tự chủ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Ngoài ra khóa luận cũng có nhiệm vụ là đưa ra được những kiến nghị tập trung vào các vấn đề như thay đổi hình thức quản trị các hoạt động của doanh nghiệp để nâng cao tính tự chủ trong kinh doanh; đảm bảo quản lý tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước…

4. Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được nghiên cứu dựa trên các nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường.

Nghiên cứu, tham khảo thông tin tư liệu và kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây, nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành để thu thập thêm các thông tin cần thiết.

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến trong khoa học kinh tế như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, đánh giá, so sánh…

5. Kết cấu khóa luận

Khóa luận gồm 101 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận được chia thành 3 chương như sau:

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về quản trị doanh nghiệp nhà nước.

Chương này đã đưa ra một số khái niệm về doanh nghiệp nhà nước cũng như khái quát quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp nhà nước. Chương cũng có những nghiên cứu cơ bản về quyền sở hữu, quyền quản trị doanh nghiệp và mô hình quản trị tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp nhà nước. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc thực hiện tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp, chương đã rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Chương II: Thực trạng của việc tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.

Chương này đưa ra cái nhìn tổng quan về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam: sự hình thành và phát triển cũng như vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế quốc dân. Đồng thời chương đã nghiên cứu quá trình thực hiện tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam dựa trên các quy định của pháp luật. Sau cùng chương nghiên cứu đến thực trạng của vấn đề tại một số Bộ, ngành nước ta và rút ra một số nhận xét.

Chương III: Một số giải pháp để đẩy mạnh việc thực hiện tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước.

Dựa trên các kết quả đã thu được ở chương II, chương cuối cùng này đã đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam để đảm bảo tính tự chủ, đẩy mạnh sự phát triển của các doanh nghiệp nhà nước; đảm bảo và phát triển nguồn vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước.

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.

1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.

1.1 Doanh nghiệp nhà nước

1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước

Tất cả các quốc gia trên thế giới đều có các doanh nghiệp nhà nước mặc dù vài trò của chúng là khác nhau đối với mỗi nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước là những cơ sở sản xuất kinh doanh do nhà nước sở hữu một phần hay toàn phần. Có thể thấy rằng quyền sở hữu thuộc về nhà nước là đặc điểm phân biệt doanh nghiệp nhà nước với những loại hình doanh nghiệp trong khu vực tư nhân khác. Một số quốc gia, tổ chức trên thế giới đã đưa ra những quan điểm về doanh nghiệp nhà nước, ví dụ như:

Năm 1956 khi nước Anh thành lập Ủy ban đặc biệt về quốc hữu hóa công nghiệp đã quy định các doanh nghiệp nhà nước là những doanh nghiệp mà phải hội đủ 3 điều kiện sau: (1) Hội đồng quản trị doanh nghiệp do Chính phủ bổ nhiệm; (2) Ủy ban quốc hữu hóa công nghiệp kiểm tra tài khoản kinh doanh của doanh nghiệp; (3) Thu nhập của doanh nghiệp phần lớn không dựa vào sự cung cấp của Quốc hội hoặc các cơ quan tài chính nhà nước 1.

Tại Pháp thì doanh nghiệp nhà nước được xác định là những doanh nghiệp phải thỏa mãn đủ 3 điều kiện: (1) Tính công hữu của quyền sở hữu doanh nghiệp nhờ đó mà Chính phủ xác lập được địa vị lãnh đạo của Nhà nước đối với doanh nghiệp; (2) Có địa vị pháp nhân độc lập nghĩa là địa vị của nó trong quá trình kinh tế giống như các doanh nghiệp pháp nhân khác; (3) Thực hiện các hoạt động công thương độc lập, quy định nó là tổ chức kinh Lee Kang Woo (2002), Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 1986 – 2000, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. tế có hạch toán lỗ lãi chứ không phải là đơn vị hành chính sự nghiệp của Chính phủ 2.

Trong cuốn “Kinh tế học của sự phát triển” tác giả cũng đã trình bày điều kiện để một doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp nhà nước, đó là các điều kiện sau: (1) Nhà nước là cổ đông chính; (2) Doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất ra hàng hóa dịch vụ để bán; (3) Doanh nghiệp có hạch toán lỗ lãi và gắn với thiếu chi. Nếu như thiếu điều kiện 1 thì đó là doanh nghiệp tư nhân, còn khi thiếu đi điều kiện 2 và điều kiện 3 thì không phải là doanh nghiệp mà đó là cơ quan Nhà nước 3.

Ngoài ra cũng có một số những quan điểm khác về doanh nghiệp nhà nước đó là: (1) Chính phủ là cổ đông chính trong doanh nghiệp hoặc nếu không thì Chính phủ có thể thực hiện việc kiểm soát những chính sách chung mà doanh nghiệp theo đuổi và bổ nhiệm hoặc cách chức ban quản lý doanh nghiệp; (2) Doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ bán cho công chúng, hoặc cho các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước khác; (3) Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về thu chi trong họat động về sản xuất kinh doanh 4.

Tóm lại có thể khái quát một số đặc điểm chung của các doanh nghiệp nhà nước như sau: Nhà nước chiếm trên 50% vốn của doanh nghiệp nhờ đó mà Chính phủ có thể gây ảnh hướng có tính chất chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các doanh nghiệp, các doanh nghiệp đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân, nguồn thu chủ yếu đều từ hoạt động kinh Vũ Minh Trai (2000) Thực trạng và giải pháp sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước thuộc thành phố Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

Malcolm Gillis, Dwight H.Perkins, Michael Roemer,… (1990), Kinh tế học của sự phát triển (Bản tiếng Việt), Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương.

Võ Đại Lược (1997) Đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. doanh và thường phải thực hiện song song các mục tiêu sinh lợi lẫn các mục tiêu kinh tế xã hội.

Xét theo mức độ sở hữu, doanh nghiệp nhà nước có 2 loại đó là: loại doanh nghiệp nhà nước chỉ có một chủ sở hữu vốn duy nhất là Nhà nước; loại doanh nghiệp nhà nước có nhiều chủ sở hữu vốn trong đó Nhà nước nắm giữ một phần sở hữu nhất định (tỷ lệ này tùy thuộc quy định của mỗi nước). Ví dụ

Nhật Bản doanh nghiệp nhà nước có 2 loại là loại doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước và loại doanh nghiệp nhà nước có một phần vốn dưới hình thức công ty cổ phần hỗn hợp giữa nhà nước tư nhân. Còn ở Italia có 2 loại doanh nghiệp nhà nước đó là doanh nghiệp nhà nước với 100% sở hữu Nhà nước và loại doanh nghiệp nhà nước từng phần dưới dạng công ty cổ phần hỗn hợp Nhà nước – tư nhân trong đó Nhà nước nắm giữ trên 25% cổ phần 5.

Xét theo mục tiêu kinh tế – xã hội, doanh nghiệp nhà nước có 2 loại đó là doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận (tức hoạt động công ích); doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận (tức hoạt động kinh doanh). Ngoài ra căn cứ vào sự khác nhau về địa vị pháp luật, doanh nghiệp nhà nước có thể chia thành 3 loại: (1) Doanh nghiệp nhà nước do Chính phủ trực tiếp quản lý, không có đầy đủ địa vị pháp nhân độc lập; (2) Doanh nghiệp nhà nước có đầy đủ địa vị pháp nhân và toàn bộ tài sản thuộc về Nhà nước;

  • Doanh nghiệp nhà nước hỗn hợp có địa vị pháp nhân độc lập và Nhà nước có quyền sở hữu một phần tài sản. Phần lớn ở các nước tư bản, doanh nghiệp nhà nước hỗn hợp là hình thức chủ yếu nhất trong mọi loại hình doanh nghiệp nhà nước. Đặc điểm lớn nhất của loại doanh nghiệp nhà nước này là Nhà nước tham dự cổ phần, nhờ đó có thể khống chế được chúng. Nhưng doanh nghiệp nhà nước này hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc doanh nghiệp tư
  • Nguyễn Ngọc Quang (1996), Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước – cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Nhân, thu lợi ích kinh doanh qua cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Đồng thời bằng chế độ tham dự, Nhà nước có thể triển khai các hoạt động mà Nhà nước cho là có ý nghĩa quan trọng nhất đối với sự phát triển của cả nước, bao gồm những công trình cơ sở hạ tầng như ngân hàng, đường sắt, đường bộ, vận tải biển… và cũng có thể triển khai mở rộng vào trong các ngành công nghiệp mới. Doanh nghiệp nhà nước theo chế độ nhà nước tham dự ngày càng tỏ ra là loại hình doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả nhất 6.

1.2. Khái quát về sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp nhà nước Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

Các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các doanh nghiệp nhà nước được hình thành gắn liền với mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Tuy nhiên doanh nghiệp nhà nước cũng được phát triển rất mạnh ở các nước không có chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong cuốn “Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước” 7 tác giả đã khái quát 5 nguyên nhân chính dẫn đến sự hình thành của doanh nghiệp nhà nước ở các nước như sau:

  • Thứ nhất: Do nhu cầu khôi phục lại những nền kinh tế đã bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh. Các doanh nghiệp nhà nước đã được thành lập nhằm thực hiện những dự án lớn tái thiết đất nước, đòi hỏi vốn lớn mà lực lượng tư nhân không thể đảm trách nổi.
  • Thứ hai: Ở nhiều nước đang phát triển, sau khi giành được độc lập đã thực hiện quốc hữu hóa toàn bộ các xí nghiệp tư bản nước ngoài. Đặc biệt là ở các nước xã hội chủ nghĩa, kinh tế quốc doanh được coi là thành phần kinh tế chính do đó đã tiến hành quốc hữu hóa toàn bộ các doanh nghiệp tư nhân, có quy mô lớn và vừa bất kể là của tư bản nước ngoài hay tư bản trong nước nhằm phát triển sở hữu công cộng.
  • Võ Đại Lược (1997) Đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
  • TS Ngô Quang Minh (2004), Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước .
  • Thứ ba: Cùng với sự phát triển của học thuyết Keynes về vai trò kinh tế của nhà nước, nhiều Chính phủ đã chủ trương thành lập các doanh nghiệp nhà nước để cung cấp các hàng hóa công cộng, tạo công ăn việc làm, phân phối lại thu nhập, xóa bỏ độc quyền, thực hiện công bằng xã hội cũng như tạo thực lực kinh tế mạnh để can thiệp thị trường, điều tiết kinh tế vĩ mô.
  • Thứ tư: Các nước đang phát triển thường muốn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đi tắt đón đầu. Vì vậy mà các Chính phủ có xu hướng thành lập các doanh nghiệp nhà nước như những đàu tàu dẫn dắt nền kinh tế.
  • Thứ năm: Các Chính phủ thường muốn nắm giữ các ngành công nghiệp đặc biệt để thực hiện các mục tiêu hay lợi ích quốc gia như các ngành công nghiệp quốc phòng, năng lượng… các doanh nghiệp tạo ra nguồn tích lũy ngân sách lớn.

2. Những vấn đề cơ bản về quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và quyền quản trị doanh nghiệp. Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

2.1. Một số khái niệm

2.1.1. Quyền sở hữu

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm xã hội. Quan hệ sản xuất dựa trên ba mặt chủ yếu là quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối lưu thông 8. Như vậy quan hệ sở hữu là một trong ba mặt chủ yếu của quan hệ sản xuất, nó giữ vai trò quyết định, thể hiện quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Nó vừa là kết quả, vừa là điều kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất đồng thời cũng có tác dụng thúc đẩy hay kìm hãm lực lượng sản xuất.

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin. Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia.

Quan hệ sở hữu được thể hiện bằng hệ thống pháp luật tạo nên chế độ sở hữu. Chế độ sở hữu bao gồm rất nhiều quyền như quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền điều tiết, quyền thực hiện lợi ích kinh tế… Quyền sở hữu là quyền của chủ sở hữu (có thể là các cá nhân, pháp nhân hay các chủ thể khác) đối với tài sản. Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật 9.

Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản. Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý tài sản nhưng không được phép trái pháp luật, đạo đức xã hội và không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian trừ trường hợp chủ sở hữu chuyển giao việc chiếm hữu cho người khác hoặc pháp luật có các quy định khác 10.

Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở hữu được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác 11.

Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó. Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản 12.

  • Bộ Luật Dân sự năm 2005. Nhà xuất bản Tư pháp
  • Bộ Luật Dân sự năm 2005. Nhà xuất bản Tư pháp
  • Bộ Luật Dân sự năm 2005. Nhà xuất bản Tư pháp
  • Bộ Luật Dân sự năm 2005. Nhà xuất bản Tư pháp

Hai nhóm quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh có thể thống nhất ở một chủ thể, cũng có thể phân chia, tách biệt tương đối ở những chủ thể khác nhau. Việc thừa nhận sự tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu thuộc về Nhà nước và quyền quản lý kinh doanh thuộc về các doanh nghiệp là cơ sở để xử lý vấn đề cải cách quản lý doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế thị trường.

2.1.2. Quyền quản trị doanh nghiệp Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

Quyền quản trị doanh nghiệp được hiểu là bao gồm hai quyền chủ yếu: quyền sử dụng tài sản và quyền định đoạt tài sản.

Đối với quyền sử dụng tài sản thì chủ sở hữu có thể chuyển giao cho người khác thông qua hợp đồng theo quy định của pháp luật, người được chuyển giao có quyền sử dụng tài sản đúng tính năng, công dụng, phương thức và theo hợp đồng đã ký kết 13. Quyền sử dụng tài sản là quyền lợi của người đầu tư đối với tài sản pháp nhân của doanh nghiệp mà họ đầu tư vốn. Đối với quyền sử dụng tài sản ta có một số điểm cần lưu ý như sau:

Thứ nhất: Phân biệt khái niệm về quyền sử dụng tài sản và quyền sở hữu tài sản. Đối với quyền sở hữu tài sản có nghĩa là tài sản thuộc về ai, chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với những tài sản thuộc sở hữu của họ. Đối với quyền sử dụng tài sản được bắt nguồn từ sự đầu tư của chủ sở hữu tài sản và thể hiện quyền lợi của người đầu tư. Khi mà chủ sở hữu tài sản đầu tư vào doanh nghiệp do chính họ quản lý thì không tồn tại sự khác biệt giữa quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng tài sản. Tuy nhiên khi người chủ sở hữu tài sản chỉ đầu tư vào doanh nghiệp thôi mà không trực tiếp nắm quyền điều hành thì có sự phân biệt giữa quyền sử dụng tài sản và quyền sở hữu tài sản. Xét ví dụ là Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nhưng không trực tiếp điều hành. Khi đó quyền sở hữu tài sản Nhà nước thuộc về Bộ Luật Dân sự năm 2005. Nhà xuất bản Tư pháp

Nhà nước. Các cơ quan quản lý Nhà nước hay các tổ chức kinh tế được Nhà nước ủy quyền đầu tư vốn của Nhà nước chính là chủ thể của quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp. Như vậy khái quát rằng quyền sở hữu tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp do Chính phủ thay mặt Nhà nước nắm giữ còn quyền sử dụng tài sản lại do nhiều người được Nhà nước ủy quyền thực hiện. Quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản tại doanh nghiệp là quan hệ giữa người đầu tư với phần vốn của mình trong toàn bộ tài sản của doanh nghiệp

Thứ hai, quyền sử dụng tài sản là quyền và lợi ích tài sản dưới hình thái giá trị. Nhà đầu tư có thể mang các tài sản dưới hình thái vật chất cụ thể để đầu tư vào doanh nghiệp nhưng chúng đã được tính quy đổi thành tiền vốn và trở thành tài sản dưới hình thức giá trị sau khi đầu tư vào doanh nghiệp. Sau khi đã đầu tư vào doanh nghiệp rồi thì chủ đầu tư chỉ có thể chuyển nhượng tài sản theo đúng quy định của pháp luật. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng tài sản là chuyển nhượng quyền và lợi ích tài sản dưới hình thái giá trị chứ không phải là chuyển nhượng tài sản của pháp nhân doanh nghiệp dưới hình thái vật thể. Sự chuyển nhượng quyền sử dụng tài sản được tiến hành giữa các chủ thể sử dụng tài sản và trong quá trình chuyển nhượng, tài sản pháp nhân của doanh nghiệp không thay đổi, có lợi cho việc nâng cao hiệu quả và hiệu suất kinh doanh tài sản nhà nước.

Đối với quyền định đoạt: Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải tuân theo thủ tục, trình tự đó. Chủ sở hữu có thể ủy quyền định đoạt cho người khác và Nguyễn Đặng Tường Anh (2007), Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp – Mô hình quản trị mới trong doanh nghiệp nhà nước, Đại học Ngoại Thương. Khi đó người được ủy quyền phải thực hiện việc định đoạt phù hợp với ý chí và lợi ích của chủ sở hữu 15.

2.2. Mối quan hệ giữa quyền chủ sở hữu và quyền quản trị doanh nghiệp Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

Khi một nhà đầu tư mang tài sản của mình đầu tư vào một doanh nghiệp thì nhà đầu tư đó (tức là chủ sở hữu của tài sản đầu tư) được hưởng những quyền lợi theo mức vốn mà mình góp vào doanh nghiệp. Nhà đầu tư có một số quyền và lợi ích như sau:

  • Nhà đầu tư có quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh, tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư 16. Quyền và lợi ích của nhà đầu tư gắn liền với mức vốn góp mà họ đầu tư vào doanh nghiệp, phần lãi mà nhà đầu tư được hưởng dựa theo mức vốn đã mang đầu tư vào doanh nghiệp.
  • Nhà đầu tư có thể thực hiện các quyền của mình trong việc đưa ra các quyết định quan trọng của doanh nghiệp như là tiếp cận, sử dụng các nguồn lực, xuất nhập khẩu, mua bán ngoại tệ, chuyển nhượng hay điều chỉnh vốn…
  • Nhà đầu tư có quyền chọn người đại diện cho mình, chọn người kinh doanh doanh nghiệp theo đúng các quy định của pháp luật. Khi doanh nghiệp thua lỗ hay phá sản, mỗi nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản thua lỗ hay khoản nợ của doanh nghiệp trong phần vốn góp mà mình đã đầu tư vào doanh nghiệp.

Khi Nhà nước là người đầu tư, mang tài sản của Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp thì được thực hiện quyền của mình nhưng không được làm ảnh hưởng đến quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp. Phần tài sản của Nhà nước sau khi đã đầu tư vào doanh nghiệp được phân biệt khác với những tài sản Nhà nước khác, Nhà nước không còn trực tiếp chi phối các tài Bộ Luật Dân sự năm 2005. Nhà xuất bản Tư pháp

Luật Đầu tư. Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia sản đó. Tài sản của Nhà nước cùng với tài sản của các chủ đầu tư khác hình thành nên tài sản pháp nhân của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền và trách nhiệm đối với tài sản pháp nhân đó. Người đầu tư không thể trực tiếp can thiệp vào quyền tài sản pháp nhân của doanh nghiệp cũng như không thể tùy tiện can thiệp vào quyền quản trị doanh nghiệp trong kinh doanh của doanh nghiệp 17.

Như đã phân tích ở trên, ngay cả khi người đầu tư góp các tài sản hiện vật vào doanh nghiệp thì tài sản đó trở thành tài sản pháp nhân của doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền xử lý. Nhà đầu tư chỉ có quyền sử dụng các tài sản dưới hình thái giá trị theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp có quyền đưa các tài sản hiện vật góp vốn của nhà đầu tư vào sản xuất, đầu tư ra bên ngoài hay bán chúng để tăng vốn sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp độc lập thực hiện quyền kinh doanh mà chủ sở hữu không thể gây trở ngại hay làm ảnh hưởng tới quyền tài sản pháp nhân và quyền quản trị doanh nghiệp của doanh nghiệp.

Theo quy định của pháp luật, nhà đầu tư có quyền chuyển nhượng toàn bộ hay từng phần quyền sử dụng tài sản của mình tuy nhiên sự chuyển nhượng này chỉ được tiến hành giữa những người đầu tư với nhau, nó chỉ làm thay đổi tỷ lệ góp vốn giữa những người đầu tư mà không làm thay đổi tổng giá trị tài sản pháp nhân của doanh nghiệp. Nhằm tăng giá trị vốn đầu tư vào doanh nghiệp, nhà đầu tư tác động vào các chính sách kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tác động vào các chính sách kinh doanh của doanh nghiệp chính là nhà đầu tư đã thực hiện quyền của chủ sở hữu về quyền sử dụng tài sản đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Nguyễn Đặng Tường Anh (2007), Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp – Mô hình quản trị mới trong doanh nghiệp nhà nước, Đại học Ngoại Thương

3. MÔ HÌNH TÁCH QUYỀN CHỦ SỞ HỮU RA KHỎI QUYỀN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

3.1 Quyền sở hữu tách khỏi quyền sử dụng Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

Khi nghiên cứu về loại hình tư bản trong giai đoạn tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản, Mác-Anghen đã cho biết: tư bản công nghiệp không phải là loại hình tồn tại duy nhất của tư bản mà ở đó còn có tư bản cho vay, tư bản ruộng đất…đó chính là do sự phân công trong lao động tạo thành. Tư bản cho vay có đặc trưng là quyền sở hữu tư bản tách rời quyền sử dụng tư bản. Thực chất của việc cho vay là nhường lại quyền sử dụng tư bản cho người khác. Xét cùng một tư bản nhưng đối với người cho vay nó là tư bản sở hữu nhưng đối với người đi vay thì đó lại là tư bản hoạt động, mà chức năng của nó là tạo ra lợi nhuận.

Việc tách tư bản tiền tệ ra khỏi tư bản sản xuất thành tư bản cho vay và phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng tiền tệ, thông qua hệ thống tín dụng, ngân hàng đã cho phép tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh và từ đó tạo động lực mạnh mẽ phát triển nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường. Trong giai đoạn tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản, Mác-Anghen cũng nghiên cứu tư bản ruộng đất và chỉ rõ tư bản kinh doanh trên khu vực ruộng đất thuộc quyền chiếm hữu của chủ ruộng đất làm xuất hiện phạm trù địa tô tư bản chủ nghĩa. Như thế địa tô tư bản chủ nghĩa đã phản ánh quyền sở hữu ruộng đất tách khỏi quyền sử dụng ruộng đất 18. Chính khả năng cho phép “tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng” của lý luận Mác Xít nêu trên đây đã thực sự trở thành một trong những nguyên tắc và là chìa khóa quan trọng để định hướng cải cách doanh nghiệp nhà nước, áp dụng mô Dương Hoàng Oanh (2002) Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc từ 1978 đến nay, Viện Kinh tế thế giới. Hình quản trị tách quyền sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước.

3.2 Mô hình tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp nhà nước Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

3.2.1 Quyền quản trị doanh nghiệp trong doanh nghiệp nhà nước và tính tất yếu của nó

Trong các nền kinh tế, mọi Nhà nước đều có chức năng kinh tế và chức năng này được thể hiện ở mức độ khác nhau tùy từng giai đoạn phát triển. Ở bất kỳ nước nào, dù là quốc gia kém phát triển, đang phát triển hay phát triển chức năng kinh tế của Nhà nước luôn gắn liền và thể hiện thông qua các hoạt động kinh tế của Nhà nước trên cơ sở tiềm năng vật chất của Nhà nước 19. Nhà nước có tư cách là người đầu tư vốn, tài sản để thành lập và tổ chức quản lý các doanh nghiệp Nhà nước. Trong nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu đó là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân (bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân), sở hữu hỗn hợp 20. Phần vốn và tài sản mà Nhà nước đem đầu tư vào doanh nghiệp là thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thay mặt nhân dân làm chủ sở hữu phải bảo đảm, phát triển phần vốn và tài sản đó. Nhà nước do nhân dân lập ra có chức năng quản lý toàn bộ nền kinh tế – xã hội, định hướng cho xã hội phát triển, thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đảm bảo thực hiện tốt quyền quản lý kinh tế – xã hội của mình. Đối với hoạt động trực tiếp quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh, Nhà nước giao cho doanh nghiệp nhà nước và đó chính là quyền mà các doanh nghiệp nhà nước đang cần: quyền quản trị doanh nghiệp.

  • Hoàng Hà (2005), Quá trình đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từ 1986 đến nay – Thực trạng và giải pháp. Đại học Kinh tế Quốc dân.
  • Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin. Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia

Trước hết quyền quản trị doanh nghiệp của doanh nghiệp nhà nước được hiểu là việc doanh nghiệp nhà nước thực hiện nguyên tắc tự chủ và tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của mình theo cơ chế thị trường, có năng lực và động cơ thích ứng với thị trường để đứng vững trong cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Các công việc trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm tất cả các khâu từ khâu quản lý sản xuất cho đến khâu phân phối sản phẩm. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các doanh nghiệp nhà nước tự điều hành, tự quản lý mọi công việc đồng nghĩa với việc có quyền quản lý sản xuất kinh doanh và quyền phân phối các sản phẩm. Quyền quản trị doanh nghiệp trong doanh nghiệp nhà nước chính là sự kết hợp của quyền quản lý sản xuất kinh doanh và quyền phân phối sản phẩm. Nó là hệ thống các quyền năng pháp lý do Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự chủ trong đầu tư vốn để thành lập doanh nghiệp mới với mô hình tổ chức kinh doanh linh hoạt, tự chủ trong việc lựa chọn đối tác, khách hàng, trong việc cạnh tranh, giải quyết các tranh chấp phát sinh…

Trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp, doanh nghiệp nhà nước không có quyền tự chủ kinh doanh, với chính sách cấp phát – giao nộp, các doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện vốn được Nhà nước cấp, vật tư được nhận theo chỉ tiêu, sản phẩm sản xuất ra được giao nộp theo địa chỉ và giá cả do Nhà nước quy định. Các điều kiện vật chất để sản xuất đều được Nhà nước đảm bảo cân đối theo các định mức cụ thể và doanh nghiệp chỉ là một đơn vị gia công sản phẩm, dịch vụ cho Nhà nước. Trong điều kiện như vậy các doanh nghiệp nhà nước không có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh. Quyền quản trị doanh nghiệp trong doanh nghiệp nhà nước chứa định tính sáng tạo, tính dám chịu trách nhiệm và chấp nhận rủi ro của các doanh nghiệp nhà nước mà chỉ trong nền kinh tế thị trường mới có 21. Ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, giữa các doanh nghiệp luôn luôn có sự cạnh tranh bình đẳng với nhau và do vậy quyền quản trị doanh nghiệp của doanh nghiệp nhà nước là một đòi hỏi tất yếu mang tính khách quan đem lại hiệu quả kinh tế cho nền kinh tế nhà nước.

3.2.2 Nội dung quyền quản trị doanh nghiệp trong doanh nghiệp nhà nước Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

Quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp nhà nước là một tất yếu khách quan, vì vậy cần phải thực hiện tách quyền sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp; Nhà nước là người bỏ vốn đầu tư, là chủ sở hữu của tài sản còn doanh nghiệp nhà nước là người quản lý sản xuất kinh doanh số vốn đầu tư đó. Trong nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp nhà nước cũng như các loại hình doanh nghiệp khác có các chức năng quản lý sau:

  • Chức năng kế hoạch và điều hành sản xuất kinh doanh
  • Chức năng kỹ thuật và ứng dụng công nghệ mới sản xuất
  • Chức năng thương mại, bao gồm việc khai thác và tìm kiếm thị trường đảm bảo đầu vào cho quá trình sản xuất và đầu ra cho sản phẩm
  • Chức năng tài chính bao gồm các hoạt động tạo vốn, quản lý vốn, trả công lao động và chấp hành kỷ luật tài chính của nhà nước
  • Chức năng nhân sự: là việc tuyển dụng, đào tạo và bố trí cán bộ công nhân viên vào các hoạt động của doanh nghiệp
  • Chức năng hạch toán, kiểm tra và phân tích kinh tế
  • Chức năng hành chính, pháp chế và bảo vệ doanh nghiệp
  • Chức năng tổ chức đời sống cho cán bộ công nhân viên
  • Nguyễn Đặng Tường Anh (2007), Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp – Mô hình quản trị mới trong doanh nghiệp nhà nước, Đại học Ngoại Thương

Do vậy để đảm bảo tính độc lập, tự chủ kinh doanh của mình, doanh nghiệp nhà nước cần có các quyền:

Một là: Tự quyết định kế hoạch kinh doanh trên cơ sở khai thác nhu cầu thị trường. Tính tự chủ của doanh nghiệp được biểu hiện tập trung và đầy đủ nhất ở quyền tự quyết định kế hoạch kinh doanh của mình. Doanh nghiệp là một hệ thống mở, thị trường là môi trường cơ bản có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp do vậy doanh nghiệp nhà nước phải nhận thức và vận dụng đầy đủ các quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, lưu thông tiền tệ… Doanh nghiệp nhà nước chủ động tìm kiếm khách hàng, xây dựng kế hoạch theo phương châm sản xuất kinh doanh để sinh lời, điều chỉnh kế hoạch của mình trong quá trình vận hành doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhà nước được chủ động lựa chọn ngành nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư; chủ động mở rộng quy mô và ngành, nghề kinh doanh; được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạo mọi điều kiện thuận lợi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích.

Hai là: Quyền tự chủ về tài chính. Các doanh nghiệp nhà nước được chủ động trong việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, giải quyết được những lợi ích kinh tế cho xã hội, doanh nghiệp và người lao động. Doanh nghiệp tính toán, so sánh giữa lợi nhuận và các khoản thu nhập với chi phí sản xuất đã bỏ ra. Đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có rất nhiều loại chi phí như: chi phí mua sắm, cải tạo, mở rộng thiết bị nhà xưởng; chi phí vận hành máy móc, trang thiết bị; chi phí sửa chữa, bảo hành dây chuyền sản xuất; chi phí quảng cáo, tiếp thị sản phẩm… nên nếu doanh nghiệp được chủ động hơn trong việc quyết định các yếu tố chi phí sản xuất sẽ giúp cho doanh nghiệp năng động hơn, tận dụng được các cơ hội trong sản xuất kinh doanh, hạn chế được các rủi ro có thể gặp phải và từng bước mở rộng được thị trường của mình. Doanh nghiệp nhà nước hạch toán kinh doanh theo nguyên tắc tự cấp phát, tự hoàn vốn và có doanh lợi, thực hiện tái sản xuất mở rộng và chủ động huy động vốn sản xuất kinh doanh từ các nguồn khác nhau.

Ba là: Quyền tự chủ về đổi mới kỹ thuật, ứng dụng công nghệ tiên tiến. Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, cạnh tranh là một tất yếu và luôn luôn diễn ra để loại bỏ những doanh nghiệp lạc hậu và hội nhập những doanh nghiệp có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường. Các doanh nghiệp nhà nước cần được chủ động nghiên cứu, đưa các tiến bộ kỹ thuật và khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại vào quá trình sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao của thị trường cả về số lượng và chất lượng.

Bốn là: Quyền tự chủ về lao động, tiền lương và phân phối thu nhập. Doanh nghiệp nhà nước được tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu của công việc kinh doanh. Với quyền này doanh nghiệp nhà nước tự quyết định tổ chức một bộ máy quản lý như thế nào sao cho phù hợp và hợp lý nhất, không trùng lặp, chồng chéo giữa các bộ phận, các ban ngành, để doanh nghiệp hoạt động một cách có hiệu quả nhất. Doanh nghiệp có quyền thuê cán bộ quản lý, thuê người lao động, có quyền tự bổ nhiệm, bãi nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật các cán bộ quản lý điều hành cũng như công nhân viên, đội ngũ người lao động trong doanh nghiệp. Đối với các kết quả làm ra doanh nghiệp nhà nước được tự quyết định về các mức lương, thưởng, mức trợ cấp cũng như các lợi ích vật chất khác đối với các cán bộ quản lý và người lao động. Các chế độ phúc lợi mà doanh nghiệp tự quyết định sẽ là chính sách trực tiếp và thiết thực nhất đối với con người để doanh nghiệp có thể thu hút được người tài về phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như khuyến khích các cá nhân, tập thể người lao động gắn bó với doanh nghiệp lâu dài hơn, tạo ra năng suất lao động cao hơn. Quyền tự chủ về phân phối kết quả làm ra là rất quan trọng đối với doanh nghiệp vì như vậy doanh nghiệp có thể gắn bó trực tiếp với người lao động, hiểu rõ các năng lực cũng như những nhu cầu của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp để từ đó có những quyết sách bố trí công việc cho phù hợp. Khi mà lợi ích của người lao động được doanh nghiệp đáp ứng một cách thỏa đáng thì lợi nhuận mà họ mang lại cho doanh nghiệp mới có thể nhiều hơn được.

Năm là: Quyền tự chủ về liên doanh liên kết. Liên doanh liên kết thể hiện mối quan hệ hợp tác sản xuất kinh doanh theo chiều ngang trong đó liên doanh là sự liên kết giữa các chủ thể kinh doanh khác nhau để hình thành một tổ chức kinh tế mới. Chính liên doanh liên kết sẽ tạo ra khả năng phát huy vai trò của doanh nghiệp nhà nước cũng như hạn chế tính tự phát của kinh tế tư nhân. Các doanh nghiệp nhà nước được tự do lựa chọn hình thức và đối tượng để liên doanh liên kết theo nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện và đảm bảo lợi ích của các bên. Doanh nghiệp nhà nước được tự do hợp tác, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước để tranh thủ khoa học kỹ thuật tiên tiến, thu hút vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

4. KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC TRONG VIỆC THỰC HIỆN TÁCH QUYỀN CHỦ SỞ HỮU RA KHỎI QUYỀN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

4.1 Lý do lựa chọn nghiên cứu Trung Quốc

Trung Quốc là một trong những nước xã hội chủ nghĩa đi đầu trong công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước, thực hiện việc tách bạch giữa quyền chủ sở hữu và quyền quản trị doanh nghiệp, trao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp nhà nước. Hơn nữa, so sánh với Trung Quốc thì Việt Nam cũng có những điểm tương đồng lớn trong việc cải cách doanh nghiệp nhà nước, trao quyền quản trị cho doanh nghiệp:

Trong một thời gian dài, cả Trung Quốc và Việt Nam đều đã theo đuổi thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ bắt nguồn từ mô hình của Liên Xô trước đây. Trước khi tiến hành cải cách, cả hai nước đều lâm vào tình trạng khủng hoẳng do Việt Nam bị chiến tranh kéo dài tàn phá, Trung Quốc chịu đựng những phá hoại của 10 năm biến động “đại cách mạng văn hóa”.

Mục tiêu cải cách kinh tế của Trung Quốc là xây dựng và phát triển “thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”, còn ở Việt Nam là xây dựng và phát triển “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Như vậy cả hai quốc gia đều lấy việc phát triển sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường làm mục tiêu quan trọng.

Việc tiến hành cải cách, đổi mới đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản ở mỗi nước. Như vậy việc cải cách doanh nghiệp nhà nước, áp dụng việc trao tự chủ cho doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước đã tạo ra nhiều điểm tương đồng. Từ đó càng thấy được ý nghĩa thiết thực những bài học kinh nghiệm của Trung Quốc đối với nước ta trong việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Đó là lý do em lựa chọn Trung Quốc để nghiên cứu và rút ra bài học cho Việt Nam.

4.2 Tiến trình cải cách thực hiện quản trị doanh nghiệp Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

Trung Quốc, việc tách quyền chủ sở hữu và quyền quản trị doanh nghiệp nhằm thực hiện quyền tự chủ của doanh nghiệp nhà nước đã được thực hiện từng bước, qua từng thời kỳ phát triển khác nhau. Kể từ năm 1978 cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc đã trải qua các giai đoạn như: giảm sự can thiệp hành chính, nới quyền, giảm thuế để lại lợi nhuận, mở rộng quyền tự chủ kinh doanh, chuyển đổi cơ cấu kinh doanh, từng bước phân tách quyền sở hữu với quyền kinh doanh và xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại.

Từ 1978 – 1984: Để khắc phục sự khống chế quá chặt chẽ của thể chế truyền thống và căn bệnh thống nhất quá mức đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, Chính phủ Trung Quốc đã xác định phương châm lấy việc mở rộng quyền tự chủ của doanh nghiệp làm khâu đột phá trong cải cách doanh nghiệp nhà nước. Trọng điểm cải cách của thời kỳ này là nông nghiệp, đồng thời thực hiện thí điểm việc mở rộng quyền tự chủ trong các doanh nghiệp, khuyến khích việc kinh doanh dưới nhiều hình thức sở hữu. Đây được gọi là giai đoạn “mở rộng quyền chuyển nhượng” 22

Dựa trên việc tổng kết kinh nghiệm thực tế, tháng 5/1984 Quốc vụ viện Trung Quốc ban hành “Quy định tạm thời về việc mở rộng hơn nữa quyền tự chủ của doanh nghiệp trên 10 phương diện: Về kế hoạch sản xuất kinh doanh; về tiêu thụ sản phẩm; về giá thành sản phẩm; về mua bán vật tư; về sử dụng vốn; về xem xét xử lý tài sản; về thiết lập cơ cấu sản xuất; về quản lý nhân sự; về sử dụng lao động và về lương, thưởng, hợp tác kinh doanh”. Đến tháng 10/1984 Hội nghị Trung ương 3 khóa XII Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã thông qua “Quyết định cải cách thể chế kinh tế” trong đó lần đầu tiên đã nêu rõ doanh nghiệp nhà nước cần thực hiện việc tách quyền sở hữu và quyền kinh doanh, làm cho doanh nghiệp trở thành người sản xuất hàng hóa và người kinh doanh xã hội chủ nghĩa “tự chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi…” 23. Việc mở rộng quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1: Gia tăng tự chủ đối với các doanh nghiệp nhà nước trong thập niên 1980 (%)

  • Tiến sĩ Võ Đại Lược, Giáo sư, Tiến sĩ Cốc Nguyên Dương (1997), Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc – So sánh với Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
  • Dương Hoàng Oanh (2002) Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc từ 1978 đến nay, Viện Kinh tế Thế giới.

Ghi chú: Dựa trên mẫu điều tra năm 1991 đối với các doanh nghiệp nhà nước của Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc

a: Tỷ lệ lợi nhuận có thể giữ lại nếu lợi nhuận không vượt quá mức cơ bản đặc biệt.

  • Tỷ lệ lợi nhuận có thể giữ lại nếu lợi nhuận vượt quá mức cơ bản
  • Tỷ trọng của các xí nghiệp (có hệ thống trách nhiệm quản lý) trong mẫu điều tra.

Nguồn: Trung Quốc 2020, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 2001

Từ 1984 – 1991: Cuộc cải cách bước vào giai đoạn thực hiện chế độ trách nhiệm khoán kinh doanh dưới nhiều hình thức, trao quyền tự chủ kinh doanh cho người kinh doanh, đưa doanh nghiệp hướng tới thị trường đồng thời là điều chỉnh, xem xét lại nền kinh tế quốc dân. áp dụng chế độ khoán với một số hình thức chủ yếu như:24

Tiến sĩ Võ Đại Lược, Giáo sư, Tiến sĩ Cốc Nguyên Dương (1997), Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc – So sánh với Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

  • Hình thức khoán cơ số lợi nhuận nộp lên trên, chia phần thu vượt. Sau khi hoàn thành kế hoạch lợi nhuận đã được giao, doanh nghiệp nhà nước có thể giữ lại 70 – 80% phần lợi nhuận vượt so với kế hoạch. Hình thức khoán này có rủi ro tương đối ít đối với cả hai bên giao và bên nhận khoán nhưng tác dụng khích lệ đối với doanh nghiệp cũng không lớn.
  • Hình thức khoán cố định mức lợi nhuận nộp lên trên: Lợi nhuận nộp lên trên được khoán cố định và do đó toàn bộ phần lợi nhuận vượt lên doanh nghiệp được phép giữ lại. Với hình thức khoán này có lợi cho doanh nghiệp tuy nhiên Nhà nước không thể tăng thu ngân sách cùng với sự tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
  • Hình thức khoán lợi nhuận gia tăng nộp lên trên: Lợi nhuận nộp lên trên được khoán theo mức quy định và tăng dần lên theo từng năm, phần vượt mức khoán này doanh nghiệp được giữ lại toàn bộ. Đây là hình thức khoán làm cho nguồn thu vào ngân sách Nhà nước ổn định tuy nhiên việc xác định tỷ lệ gia tăng hàng năm là rất khó.
  • Hình thức khoán chỉ tiêu bù lỗ: Đối với những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, nhà nước sẽ giảm dần việc bù lỗ kinh doanh theo kế hoạch và phần lỗ còn lại thì doanh nghiệp phải chịu. Với hình thức khoán chỉ tiêu bù lỗ này thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được nâng cao.
  • Một số những hình thức khoán khác như: khoán đầu ra, đầu vào cho toàn ngành, khoán cho thuê… Chế độ khoán đã tăng cường quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp, đã có vai trò nhất định trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất, đảm bảo sự tăng trưởng ổn định của ngân sách Nhà nước. Nhà nước đã từng bước chuyển quản lý trực tiếp kế hoạch mang tính pháp lệnh sang phương thức quản lý chủ yếu bằng hình thức gián tiếp, giúp doanh nghiệp tự chủ kinh doanh trên các mặt như sắp xếp nhân sự, giữ lại một phần lợi nhuận của mình, hay tự chủ đầu tư… Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề chưa được xử lý khi Trung Quốc áp dụng chế độ khoán, cụ thể như chỉ tiêu khoán mỗi nơi một kiểu, không hình thành nên hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn thống nhất để kiểm tra; doanh nghiệp thiếu sức sống vẫn hưởng lãi mà không chịu trách nhiệm về những thua lỗ của mình; mục tiêu chủ yếu của bên nhận là hoàn thành chỉ tiêu được khoán mà không chú trọng đến sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp, dẫn đến hành vi “chộp giật” của các doanh nghiệp, làm suy yếu động lực phát triển của các doanh nghiệp; Chính phủ vẫn còn đảm đương hai chức năng đó là người chịu trách nhiệm quản lý nhà nước và là người sở hữu tài sản Nhà nước, dẫn đến doanh nghiệp vẫn chưa thoát khỏi được sự can thiệp hành chính của Nhà nước…

1992 đến nay: Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp cải cách doanh nghiệp nhà nước triệt để hơn, nhằm thực hiện đầy đủ quyền tự chủ kinh doanh, Trung Quốc đã đi sâu vào cải cách toàn diện doanh nghiệp, thực hiện hàng loạt quyền lợi của doanh nghiệp đã được quy định trong “Luật doanh nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu toàn dân của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”. Năm 1992, Trung Quốc đã ban hành văn bản khung quy định 14 quyền tự chủ 25 cho doanh nghiệp đó là:

  • Quyền quyết định sản xuất kinh doanh
  • Quyền định giá sản phẩm, dịch vụ lao động
  • Quyền bán sản phầm trực tiếp
  • Quyền mua nguyên vật liệu
  • Quyền xuất nhập khẩu
  • Quyền quyết định gom vốn đầu tư
  • Quyền xử lý vốn để lại doanh nghiệp
  • Quyền xử lý tài sản
  • Quyền liên doanh, sáp nhập
  • Quyền sử dụng lao động
  • Quyền quản lý nhân sự
  • Quyền phân phối tiền lương, tiền thưởng
  • Quyền bố trí cơ cấu trong doanh nghiệp
  • Quyền từ chối cắt đặt, chia chác

Hình 1 : Các quyền kinh doanh của doanh nghiệp

4.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

Cải cách của Trung Quốc đã tạo ra một sự chuyển biến lớn trong sự phát triển kinh tế của quốc gia này. Tác giả Su San L.Shirk đã có một số nhận định về phương pháp cải cách kinh tế từng bước của Trung Quốc. Quyết định của các nhà lãnh đạo Trung Quốc về việc duy trì thể chế chính trị cũ và chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đã làm kéo dài thời kỳ chuyển đổi. Một sai lầm dễ nhận thấy là chiến lược cải cách từng bước của Trung Quốc đã làm kéo dài tình trạng kém hiệu quả của các ngành trong khu vực quốc doanh. Hơn nữa sự tồn tại của hệ thống song hành đã kích thích mạnh mẽ các quan chức tham nhũng thông qua việc buôn bán chứng khoán giữa hệ thống kinh tế kế hoạch và hệ thống kinh tế thị trường.

Tuy nhiên phương pháp cải cách kinh tế từng bước đã mang lại nhiều kết quả kinh tế khả quan hơn sự đánh giá của các nhà kinh tế học phương Tây. Một trong những kết quả tích cực đó là sự định hướng lại quyền ưu tiên của các viên chức, những nhà quản lý và cả các công nhân trong những ngành thuộc khu vực quốc doanh.

Từ việc nghiên cứu quá trình thực hiện cải cách, tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị kinh doanh trong các doanh nghiệp nhà nước rút ra một số bài học cho Việt Nam như sau:

  • Xác định rõ ràng vai trò và tác dụng của Nhà nước tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong đó có bao gồm doanh nghiệp nhà nước. Trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, tùy theo điều kiện kinh tế xã hội biến đổi khác nhau mà chức năng quản lý nhà nước và chủ sở hữu của Nhà nước sẽ được thực hiện một cách thống nhất, tách biệt nhau hay là ủy quyền cho các doanh nghiệp thực hiện.
  • Lê Đăng Doanh (1996), Cơ sở khoa học và thực tiễn của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam, Đại học Kinh tế Quốc dân.

Doanh nghiệp nhà nước cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, sự hoạt động của nó phải tuân thủ theo các quy luật của nền kinh tế thị trường và các quy định của pháp luật. Trong mọi loại hình kinh tế, doanh nghiệp nhà nước luôn tồn tại, hoạt động theo chế độ công ty mà không bị phụ thuộc vào chế độ chính trị của Nhà nước đó. Trong doanh nghiệp nhà nước, với vai trò của một nhà đầu tư, Nhà nước cũng phải tuân theo các quy định dành cho nhà đầu tư và được hưởng quyền, lợi ích tương ứng với số vốn góp mà thôi.

Có những phân biệt rõ ràng về quyền của chủ sở hữu và người quản trị doanh nghiệp. Những quan niệm rành mạch về quyền chủ sở hữu và quyền quản trị doanh nghiệp là tiền đề để thực hiện thành công mô hình tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước:

  • Khái niệm quyền tài sản của doanh nghiệp được đề cập và chấp nhận. Khi doanh nghiệp thực hiện quyền tài sản không bị coi là làm thất thoát tài sản của doanh nghiệp.
  • Vai trò của người trực tiếp quản lý doanh nghiệp với nhiệm vụ quản trị doanh nghiệp được cụ thể hóa thông qua các hợp đồng lao động. Nhà nước không có quyền tự ý bãi nhiễm hay đưa ra các xử trí với Giám đốc, tất cả phải tuân theo quy định trong hợp đồng giữa Nhà nước và Giám đốc.
  • Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước được đánh giá bằng hệ thống các chỉ tiêu tổng hợp như là thu nhập, tạo việc làm, nâng cao đời sống người lao động, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng…
  • Các yêu cầu của Nhà nước với tư cách là nhà đầu tư cũng được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu và được công khai với mọi thành viên trong ban lãnh đạo, điều hành doanh nghiệp. Việc đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ điều hành là dựa trên các tiêu chí này chứ không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người đầu tư.

Tóm lại, chương I của khóa luận đã trình bày được nguyên nhân của sự hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp nhà nước; đưa ra một số khái niệm của các quốc gia khác nhau về doanh nghiệp nhà nước với đặc điểm chung là Nhà nước chiếm trên 50% vốn của doanh nghiệp nhờ đó mà Chính phủ có thể gây ảnh hưởng có tính chất chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với doanh nghiệp, các doanh nghiệp đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân, nguồn thu chủ yếu đều từ hoạt động kinh doanh và thường xuyên phải thực hiện song song các mục tiêu sinh lợi lẫn các mục tiêu kinh tế xã hội. Đồng thời, chương I của khóa luận đã đưa ra khái niệm về quyền sở hữu, quyền quản trị doanh nghiệp và mối quan hệ giữa chúng cũng như tính tất yếu của việc tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước cũng như những loại hình doanh nghiệp khác cần được đảm bảo quyền tự chủ trong hoạch định kế hoạch sản xuất kinh doanh, tài chính, chế độ nhân sự – tiền lương, phân phối sản phẩm sau sản xuất… Trên cơ sở nghiên cứu điển hình Trung Quốc trong việc thực hiện tách quyền chủ sở hữu ra khỏi quyền quản trị doanh nghiệp trong doanh nghiệp nhà nước, chương I đã rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Khái quát về phát triển DN nhà nước Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Tách quyền chủ sở hữu ra khỏi các DN nhà nước

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh tách quyền tại các DN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464