Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương và thực tiễn tổ chức hoạt động tại phường An Biên quận Lê Chân Thành phố Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

Thuật ngữ “chính quyền địa phương” thường được hiểu là những đơn vị của chính quyền trực tiếp cung cấp dịch vụ cho công dân tại cấp trung gian thấp và thấp nhất. Ở một số nước trên thế giới, các đơn vị chính quyền địa phương đã có quyền tự trị từ rất lâu trước khi các quốc gia đó được thành lập với cơ cấu tổ chức chính quyền như hiện nay và do đó, không cần sự phân cấp thẩm quyền từ cấp chính quyền cao hơn cho các đơn vị này. Tại một số nước có cơ cấu nhà nước đơn nhất, chính quyền địa phương thi hành quyền lực của mình theo nguyên tắc quyền lực của chính quyền cấp dưới do chính quyền Trung ương trực tiếp ủy nhiệm, và cấp trung ương có thể bãi bỏ việc ủy nhiệm đó. Tại một số nước thuộc hệ thống đơn nhất khác, chính quyền địa phương hoạt động theo nguyên tắc thẩm quyền chung và trên nguyên tắc được phép thực thi những thẩm quyền không thuộc chính quyền Trung ương.

Khác với tự quản địa phương của một số nước, chính quyền địa phương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập trên cơ sở các cơ quan quyền lực nhà nước này theo quy định của pháp luật nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước.

Với nội dung khóa luận “Pháp luật về chính quyền địa phương và thực tiễn tổ chức hoạt động tại phường An Biên quận Lê Chân Thành phố Hải Phòng”, em mong muốn góp phần làm rõ hơn về tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở cấp phường tại Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

Chương 1: PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

1.1. Lược sử phát triển của chế định pháp luật về chính quyền địa phương:

Trong hệ thống bộ máy nhà nước ở nước ta, cấp phường (hay cấp xã nói chung) là cấp chính quyền cơ sở có vị trí, vai trò rất quan trọng. Phường là điểm cuối cùng của hệ thống chính quyền nhà nước, là nơi hàng ngày chính quyền gắn bó, tiếp xúc mật thiết với nhân dân, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều bắt nguồn từ đây và cũng chính từ đây các chủ trương, chính sách đó đi vào cuộc sống. Sự hình thành và phát triển của Chính quyền địa phương qua các thời kỳ lịch sử của đất nước có thể phân thành 5 giai đoạn, mỗi giai đoạn như sau:

Giai đoạn thứ nhất: Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1960. Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình xây dựng chính quyền sau khi nước ta giành độc lập. Giai đoạn này Hiến pháp năm 1946 được ban hành và quy định chính quyền địa phương ở Việt Nam gồm có: Hội đồng nhân và Ủy ban hành chính. Hội đồng nhân dân, một thiết chế của chính quyền địa phương được tổ chức ở cấp xã, cấp tỉnh; cấp bộ và cấp huyện không có thiết chế Hội đồng nhân dân. Ủy ban hành chính được tổ chức ở các cấp chính quyền địa phương. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Trong giai đoạn này, đã có sự phân biệt tương đối rạch ròi giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị; cấp huyện là cấp trung gian, không có HĐND; vai trò của Ủy ban hành chính được đề cao; cơ cấu tổ chức gọn nhẹ. Chính quyền lúc bấy giờ gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính, trong đó Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực do dân cử ra, bầu ra Uỷ ban hành chính và Uỷ ban hành chính chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân; các cơ quan chuyên môn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Uỷ ban hành chính.

Giai đoạn thứ hai: Từ 1960 đến 1980, là giai đoạn có khá nhiều nét đặc biệt trong tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương để bảo đảm song song hai nhiệm vụ: vừa xây dựng kinh tế, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vừa thực hiện công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Tổ chức và hoạt động của chính quyền thể hiện rõ nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa; pháp luật đề cao vai trò của Hội đồng nhân dân; cơ cấu tổ chức có xu hướng tăng mạnh so với trước đây; không có sự phân biệt chính quyền đô thị và nông thôn, nhưng ở các khu vực miền núi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống được thành lập các khu tự trị. Cụ thể Hiến pháp năm 1959 quy định: Chính quyền địa phương được tổ chức tại cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và bổ sung quy định thành lập khu tự trị. Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính được tổ chức ở các cấp chính quyền địa phương và khu tự trị.

Tuy nhiên cùng với nó là chế độ bao cấp và sản xuất theo kế hoạch từ trên xuống, dẫn đến nạn quan liêu, tham nhũng trong bộ máy quản lý cấp dưới, quyền làm chủ của nhân dân bị xâm phạm.

Giai đoạn thứ ba: Từ 1980 đến 1992, là giai đoạn tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa trong cả nước. Hiến pháp năm 1980 quy định số cấp chính quyền địa phương vẫn giữ nguyên 03 cấp; nhưng bỏ quy định thành lập khu tự trị và đổi tên Ủy ban hành chính thành Ủy ban nhân dân. Đặc trưng của giai đoạn này là việc tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương theo mô hình của Liên-Xô (cũ); chỉ các cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra mới được thừa nhận là cơ quan quyền lực nhà nước; triệt để tuân thủ nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa; tổ chức chính quyền ở các cấp cơ bản giống nhau… Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên Chính quyền địa phương giai đoạn này không được phát huy, dân chủ trở nên hình thức. Tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương đều rập khuôn theo chính quyền Trung ương. Tình hình đó dẫn đến chính quyền cấp phường rơi vào tình trạng lúng túng về phương thức hoạt động. Để khắc phục những khiếm khuyết đó, Nhà nước đã có những văn bản quy định nhiệm vụ, chức năng của các cấp chính quyền địa phương. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Giai đoạn thứ tư: Từ 1992 đến 2013. Với sự nhận thức mới về bộ máy nhà nước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên các cấp Chính quyền địa phương đã chủ động, sáng tạo hơn, phát huy dân chủ nhiều hơn trong tổ chức và hoạt động. Hiến pháp năm 1992 quy định về tổ chức chính quyền địa phương có 03 cấp: Cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 đã cụ thể hóa “Hiến pháp 92” về quy định các cấp chính quyền địa phương khác nhau về phạm vi, mức độ cụ thể về các nhiệm vụ, quyền hạn; Hội đồng nhân dân các cấp có chức năng quyết định, giám sát; Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước tại các địa phương trên địa bàn quản lý. Điểm khác biệt của các cấp chính quyền địa phương thể hiện rõ nét tại cấp huyện là cấp trung gian và cấp phường (xã, phường, thị trấn) có sự lồng ghép một số lĩnh vực quản lý nhà nước gần nhau.

Giai đoạn thứ năm: Từ năm 2013 đến nay.Với Hiến pháp mới 2013 và sự ra đời của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019 (sau đây gọi chung là Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Chính quyền địa phương đã có nhiều đổi mới cả về tổ chức và hoạt động. Việc phân cấp, phân quyền và ủy quyền tuy vẫn còn nhiều lúng túng và có nhiều vấn đề cần rút kinh nghiệm, chỉnh sửa, bổ sung, song đã cơ bản bảo đảm thiết lập các nguyên tắc về tính chất, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương và các cơ quan trong bộ máy chính quyền địa phương tương đối ổn định, phù hợp với tính chất có hiệu lực lâu dài của Hiến pháp, khắc phục những vướng mắc, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong thời gian qua và là cơ sở Hiến định để cụ thể hóa trong Luật tổ chức chính quyền địa phương đồng thời đã phần nào “cởi trói” cho chính quyền địa phương, nhất là đối với cấp phường nói riêng và cấp xã nói chung.

Như vậy, qua các giai đoạn phát triển, mô hình tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương ở nước ta mang những đặc trưng riêng. Thực tiễn cũng đã chỉ ra được những điểm hợp lý, những bài học kinh nghiệm rất có giá trị cho quá trình nghiên cứu, xây dựng một mô hình tổ chức Chính quyền địa phương hoạt động có hiệu lực, hiệu quả trong thời gian tới.

1.2. Khái niệm về chính quyền địa phương: Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

1.2.1. Khái niệm chính quyền địa phương:

Ở nước ta từ trước đến nay, thuật ngữ “chính quyền địa phương” được sử dụng tương đối rộng rãi và phổ biến trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các sách báo chính trị pháp lý, cũng như các bài phát biểu của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương.

Trong Hiến pháp năm 1992, chương nói về chính quyền địa phương có tên gọi là: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

Đến Hiến pháp năm 2013, tên gọi của chương này được đổi tên thành Chính quyền địa phương. Theo quy định tại Điều 111 Hiến pháp năm 2013: Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật quy định.

Như vậy, Hiến pháp đã chỉ rõ: Chính quyền địa phương, về cơ bản bao gồm 2 cơ quan: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, trong đó:

  • Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.
  • Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

Tuy nhiên, Hiến pháp đã nêu rõ: cấp chính quyền địa phương được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định. Điều đó có nghĩa là, ở đâu được coi là cấp chính quyền thì chính quyền ở đó bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, còn ở đâu không được coi là cấp chính quyền thì sẽ có cơ quan hành chính thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính và dịch vụ công tại địa bàn. Với cách quy định này, Hiến pháp đã mở ra những khả năng đổi mới một bước quan trọng trong tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở kế thừa kết quả thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường theo tinh thần Nghị quyết số 26 của Quốc hội và thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian vừa qua. Quy định của Hiến pháp về chính quyền địa phương đã được Nhà nước cụ thể hóa trong các luật: Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Luật sửa dổi, bổ sung Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2019; Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015…

Tại điểm 2 và 3 Điều 4 Tổ chức chính quyền địa quy định tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính như sau:

  • Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã.
  • Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc Trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, phường, thị trấn.

Như vậy chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh; chính quyền địa phương ở huyện; chính quyền đị phương ở xã. Trong đó: Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương (hoặc thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); chính quyền địa phương ở Quận; chính quyền địa phương ở phường.

Tại điều Điều 72. Luật tổ chức chính quyền địa phương còn quy định. Chính quyền địa phương ở hải đảo:

Tùy theo điều kiện địa lý, dân cư, yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, các đảo, quần đảo có thể được tổ chức thành các đơn vị hành chính quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 2 của Luật tổ chức chính quyền đại phương.

  • Việc tổ chức đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt tại địa bàn hải đảo thực hiện theo quy định tại Chương V của Luật tổ chức chính quyền địa phương.
  • Tại đơn vị hành chính cấp huyện ở hải đảo tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Trường hợp đơn vị hành chính cấp huyện ở hải đảo chia thành các đơn vị hành chính cấp xã thì tại đơn vị hành chính cấp xã tổ chức cấp chính quyền địa phương, trừ trường hợp cụ thể Quốc hội quy định không phải là cấp chính quyền địa phương. Cấp chính quyền địa phương tại đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện ở hải đảo gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
  • Việc tổ chức các cơ quan thuộc chính quyền địa phương ở địa bàn hải đảo thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Tại Điều 73 Luật tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt:

Việc tổ chức chính quyền địa phương, nhiệm vụ, quyền hạn và nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt động của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi thành lập đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt đó.

Trên đây khóa luận đã trình bày khái niệm về chính quyền địa phương và các cấp chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính của nước ta. Sau đây khóa luận sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu, phân tích chính quyền địa phương cấp phường.  

1.2.2. Khái niệm chính quyền địa phương cấp phường: Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Chính quyền địa phương cấp phường là chính quyền cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền nhà nước từ trung ương đến địa phương, bao gồm Hội đồng nhân dân cấp phường là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và lợi ích của nhân dân ở cơ sở do nhân ở phường trực tiếp bầu ra và Uỷ ban nhân dân cấp phường do Hội đồng nhân dân thành lập nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương và hướng dẫn nhân dân thực hiện các hoạt động tự quản ở cơ sở trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhân dân địa phương và lợi ích chung của cả nước.

Chính quyền địa phương cấp phường gồm hai phân hệ cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương là Hội đồng nhân dân phường và cơ quan hành chính nhà nước là Uỷ ban nhân dân phường. Cơ quan hành chính địa phương cấp phường, gọi là Uỷ ban nhân dân phường, do Hội đồng nhân dân phường bầu ra nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hoà giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước; đứng đầu là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường.

Trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước ta, khái niệm chính quyền địa phương được sử dụng để chỉ tổ chức và hoạt động của hai cơ quan là HĐND và UBND. Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp 2013 cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định. Và căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 thì Hội đồng nhân dân phường là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở địa phương cấp phường, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân ở phường đó bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương đó và cơ quan nhà nước cấp trên.

HĐND phường quyết định các vấn đề của địa phương đó theo luật định; giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân ở địa phương đó. Uỷ ban nhân dân phường do Hội đồng nhân dân phường bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đó, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên (UBND quận). Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Ngoài ra, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân phường thực hiện chế độ thông báo tình hình địa phương mình cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân cùng cấp, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, động viên nhân dân cùng nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh ở địa phương.

1.3. Vị trí, vai trò của tổ chức chính quyền địa phương cấp phường:

Chính quyền địa phương cấp phường ở Việt Nam có vai trò hai mặt. Một mặt với tư cách là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất, chính quyền cấp phường thay mặt nhà nước tổ chức quyền lực, thực thi nhiệm vụ quản lý trên địa bàn lãnh thổ của phường đó. Mặt khác, Chính quyền địa phương ở phường do nhân dân phường đó bầu ra để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân phường trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Vai trò này thể hiện trên nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước. Trong đó, tập trung thống nhất là yếu tố có tính chủ đạo. Tư tưởng cơ bản trong tổ chức chính quyền địa phương theo nguyên tắc đó vừa đảm bảo sự tập trung thống nhất, vừa phát huy vai trò chủ động, tích cực của cấp phường.

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định. (Điều 111). Theo đó, chính quyền cấp phường bao gồm: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp phường. Đây là cấp chính quyền có số lượng lớn nhất và có đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội đa dạng nhất trong các loại hình đơn vị hành chính ở nước ta hiện nay. Chính quyền cấp phường là cầu nối giữa nhà nước với các tổ chức và cá nhân trong phường, đại diện cho nhà nước, để thực thi quyền lực nhà nước, triển khai, tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước ở phường.

  • Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp phường: Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Theo quy định của Hiến pháp Việt Nam năm 2013: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương theo quy định của pháp luật; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Bên cạnh đó, theo Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015: Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Như vậy, Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 đã khẳng định vị trí quan trọng của Hội đồng nhân dân trong bộ máy nhà nước ở địa phương.

Theo đó, Hội đồng nhân dân vừa là cơ quan quyền lực Nhà nước, vừa là cơ quan có tính chất đại diện của nhân dân địa phương. Hai tính chất này gắn bó hữu cơ với nhau, làm nên bản chất, vị trí và vai trò quan trọng của Hội đồng nhân dân. Tính đại diện của Hội đồng nhân dân thể hiện ở chỗ nó là cơ quan duy nhất ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra để đại diện cho tiếng nói, tâm tư, nguyện vọng của họ. Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức Chính quyền địa phương 2015 đã quy định trực tiếp Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ba yếu tố quan trọng nhất của nhân dân là ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ. Cả ba yếu tố quan trọng này là nguồn gốc tạo quyền lực cho Hội đồng nhân dân, là điều kiện bảo đảm cho Hội đồng nhân dân hoạt động hiệu quả. Tính quyền lực nhà nước của Hội đồng nhân dân thể hiện qua việc nhân dân trực tiếp trao quyền thay mặt mình bằng bầu ra Hội đồng nhân dân để thực hiện quyền lực Nhà nước và quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương.

Với tư cách là cơ quan đại diện, nếu thực hiện tốt chức năng của mình, Hội đồng nhân dân sẽ phát huy được vai trò trong việc tiếp thu, phản ánh những vấn đề từ thực tiễn cuộc sống đến các cấp chính quyền; giám sát được các hoạt động của các cơ quan hữu quan liên quan. Tuy nhiên việc thực hiện chức năng này trên thực tế là rất hạn chế do đa phần đại biểu Hội đồng nhân dân là kiêm nhiệm, nếu đại biểu Hội đồng nhân dân làm việc chuyên trách và được đảm bảo các điều kiện hoạt động cần thiết thì những nhiệm vụ trên sẽ được quan tâm thực hiện thường xuyên, có hiệu quả hơn. Đây là vấn đề cần được quan tâm đúng mức để hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân tương xứng với vị trí, vai trò của mình.

Tóm lại: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

  • Vị trí, vai trò của Uỷ ban nhân dân cấp phường:

Xét về địa vị pháp lý của Uỷ ban nhân dân, chúng ta có thể đề cập đến với hai tư cách: là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. Với tư cách là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn. Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở.

Có thể thấy rằng, cũng như các cơ quan Nhà nước khác, trong mọi hoạt động của mình, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân phường phải chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng và chịu sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở ở phường mà thường xuyên và trực tiếp là Ban Chấp hành Đảng bộ cấp phường. Ban Chấp hành Đảng bộ phường thực hiện vai trò lãnh đạo đối với Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân phường bằng chủ trương, nghị quyết và các biện pháp lớn, bằng việc thực hiện quyền kiểm tra việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Sự lãnh đạo của cấp uỷ ở phường còn được thực hiện thông qua những đảng viên phụ trách và các đồng chí đảng viên đảm nhiệm các chức vụ cũng như tham gia các vị trí công tác trong Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Căn cứ vào Nghị quyết của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân phường xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách hàng năm báo cáo Ban Chấp hành Đảng bộ xem xét, cho ý kiến trước khi trình Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định. Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân phường định kỳ báo cáo với Ban Chấp hành Đảng bộ về tình hình, kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và kết quả tổ chức thực hiện các chủ trương lớn mà Đảng bộ đề ra.

Nhận thức được vai trò quan trọng của chính quyền trong quản lý, điều hành các quá trình kinh tế – xã hội và an ninh, trật tự, trong đó có quản lý phát triển xã hội trên địa bàn, Đảng và Nhà nước ta luôn có sự quan tâm đặc biệt đến công tác kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở nói chung và chính quyền phường nói riêng. Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã từng bước đạt được những kết quả nhất định, đời sống người dân ngày càng được nâng lên, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được cải thiện, các vấn đề xã hội ở phường đang dần được giải quyết.

Như vậy, có thể thấy Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, có vai trò vô cùng quan trọng trong bộ máy chính quyền địa phương. Ủy ban nhân dân do cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp lập ra vì vậy chúng được xác định là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực trong phạm vi địa giới hành chính nhất định.

1.4. Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp phường theo pháp luật hiện hành: Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

1.4.1. Hội đồng nhân dân cấp phường:

  • Tổ chức, cơ cấu:

Theo Điều 60 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân phường như sau:

  • Hội đồng nhân dân phường gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở phường bầu ra.

Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân phường được thực hiện theo nguyên tắc sau đây:

Phường có từ mười nghìn dân trở xuống được bầu hai mươi mốt đại biểu;

Phường có trên mười nghìn dân thì cứ thêm năm nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi đại biểu.

Thường trực Hội đồng nhân dân phường gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và các Ủy viên là Trưởng ban của Hội đồng nhân dân phường. Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Hội đồng nhân dân phường thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế – xã hội. Ban của Hội đồng nhân dân phường gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân phường quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân phường hoạt động kiêm nhiệm.

  • Chức năng, nhiệm vụ:

Theo Điều 61 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân phường như sau:

Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân phường.

Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân phường; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Ủy viên Ủy ban nhân dân phường.

Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hằng năm của phường trước khi trình Ủy ban nhân dân quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt. Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách phường; điều chỉnh dự toán ngân sách phường trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách phường. Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án trên địa bàn phường theo quy định của pháp luật.”.4. Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp, Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân phường bầu theo quy định tại Điều 88 và Điều 89 của Luật này.

Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân phường và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân phường xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường.

Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định nhiệm vụ, chức năng của Thường trực Hội đồng nhân dân: Triệu tập các kỳ họp của Hội đồng nhân dân; phối hợp với Uỷ ban nhân dân trong việc chuẩn bị kỳ họp của Hội đồng nhân dân; đôn đốc, kiểm tra Uỷ ban nhân dân và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân; xem xét kết quả giám sát của các Ban của Hội đồng nhân dân khi xét thấy cần thiết và báo cáo Hội đồng nhân dân tại kỳ họp gần nhất; giữ mối liên hệ với đại biểu Hội đồng nhân dân; tổng hợp chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân để báo cáo Hội đồng nhân dân; yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân giải trình các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân; tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân theo quy định của pháp luật; đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của Nhân dân để báo cáo tại kỳ họp Hội đồng nhân dân; phê chuẩn danh sách Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân trong số đại biểu Hội đồng nhân dân và việc cho thôi làm Ủy viên của Ban của Hội đồng nhân dân theo đề nghị của Trưởng ban của Hội đồng nhân dân; trình Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo quy định của pháp luật; quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân; báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân cùng cấp lên Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp; giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; mỗi năm hai lần thông báo cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của Hội đồng nhân dân.

Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương, nhiệm vụ, quyền hạn của các Ban của Hội đồng nhân dân được quy định như sau: Tham gia chuẩn bị nội dung kỳ họp của Hội đồng nhân dân liên quan đến lĩnh vực phụ trách; thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án liên quan đến lĩnh vực phụ trách do Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân phân công; giám sát hoạt động của Uỷ ban nhân dân và các công chức chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp phường trong các lĩnh vực phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi phụ trách; tổ chức khảo sát tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực phụ trách do Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân phân công; báo cáo kết quả hoạt động giám sát với Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân. Ban của Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân; trong thời gian Hội đồng nhân dân không họp thì báo cáo công tác trước Thường trực Hội đồng nhân dân. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Các Ban của Hội đồng nhân dân phường, gồm ban Pháp chế và ban Kinh tế – Xã hội: Các Ban bao gồm trưởng ban và các thành viên do Hội đồng nhân dân bầu ra và phải là thành viên của Hội đồng nhân dân. Các ban có nhiệm vụ giúp thường trực Hội đồng nhân dân chuẩn bị kỳ họp, thẩm tra các báo cáo do Hội đồng nhân dân hay thường trực Hội đồng nhân dân giao cho, giúp thường trực Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức chức kinh tế, xã hội và các lực lượng vũ trang Nhân dân thực hiện Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Các Ban của Hội đồng nhân dân phối hợp công tác và trao đổi kinh nghiệm hoạt động về vấn đề liên quan. Ban của Hội đồng nhân dân cử thành viên tham gia hoạt động của thường trực Hội đồng nhân dân.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp Hội đồng nhân dân, tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân không tham dự kỳ họp, phiên họp thì phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân không tham dự các kỳ họp liên tục trong 01 năm mà không có lý do thì Thường trực Hội đồng nhân dân phải báo cáo Hội đồng nhân dân để bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân đó. (Điều 93 Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

Đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu cử bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc cử tri và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân nơi mình là đại biểu, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri.

  • Hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân phường: 

Hội đồng nhân dân phường hoạt động thông qua các kỳ họp chuyên đề và kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân phường. Kỳ họp thường lệ Hội đồng nhân dân diễn ra 2 kỳ/1 năm, được triệu tập bởi thường trực Hội đồng nhân dân. Kỳ họp là hoạt động quan trọng và thường xuyên nhất của Hội đồng nhân dân, là nơi thể hiện tập trung nhất quyền lực Nhân dân và là nơi thảo luận, quyết định những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân. Kỳ họp làm việc tập thể và quyết định theo đa số (hơn 50%) trừ việc bãi nhiệm, miễn nhiệm đại biểu giữ chức trách do Hội đồng bầu ra là cần 2/3 số người tán thành.

Hội đồng nhân dân quyết định kế hoạch tổ chức các kỳ họp thường lệ vào kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân đối với năm bắt đầu nhiệm kỳ và vào kỳ họp cuối cùng của năm trước đó đối với các năm tiếp theo của nhiệm kỳ theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân họp chuyên đề khi Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu. Cử tri ở phường có quyền làm đơn yêu cầu Hội đồng nhân dân phường họp, bàn và quyết định những công việc của phường. Khi trong đơn yêu cầu có chữ ký của trên mười phần trăm tổng số cử tri của phường theo danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân phường tại cuộc bầu cử gần nhất thì Thường trực Hội đồng nhân dân phường có trách nhiệm tổ chức kỳ họp Hội đồng nhân dân bất thường để bàn về nội dung mà cử tri kiến nghị. Đơn yêu cầu của cử tri được xem là hợp lệ khi có kèm theo đầy đủ chữ ký, họ tên, ngày, tháng, năm sinh và địa chỉ của từng người ký tên. Những người ký tên trong đơn yêu cầu được cử một người làm đại diện tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân bàn về nội dung mà cử tri kiến nghị. Hội đồng nhân dân họp công khai. Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp hoặc yêu cầu của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân thì Hội đồng nhân dân quyết định họp kín. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Chương trình kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới do Thường trực Hội đồng nhân dân khóa trước dự kiến. Các Ban của Hội đồng nhân dân khóa trước thẩm tra các nội dung trong dự kiến chương trình kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới, báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân khóa trước để xem xét tại kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa mới.

HĐND quyết định chương trình kỳ họp. Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các Ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp, Hội đồng nhân dân quyết định sửa đổi, bổ sung chương trình kỳ họp đã được thông qua.

Thường trực Hội đồng nhân dân không phải là cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân nhưng có vai trò quan trọng trong việc điều hòa, phối hợp hoạt động giữa các ban Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân. Thường trực Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của Hội đồng nhân dân, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và luật tại địa phương, trình Hội đồng nhân dân về việc bỏ phiếu bất tín nhiệm với người giữ trọng trách do Hội đồng nhân dân bầu ra, tổ chức tiếp dân, giữ mối quan hệ với Ban thường vụ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, điều hòa hoạt động của các ban thuộc Hội đồng nhân dân và tập hợp các chất vấn của đại biểu trình Hội đồng nhân dân,…

Sau mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và cùng với Nhân dân thực hiện các nghị quyết đó.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định của pháp luật. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết. Người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho đại biểu Hội đồng nhân dân về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn do pháp luật quy định.

Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đúng pháp luật, đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó giải quyết. (Điều 95 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Ủy viên Uỷ ban nhân dân. Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn.

Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, đại biểu Hội đồng nhân dân gửi chất vấn đến Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân tại kỳ họp đó. Trong trường hợp cần điều tra, xác minh thì Hội đồng nhân dân có thể quyết định cho trả lời tại kỳ họp sau của Hội đồng nhân dân hoặc cho trả lời bằng văn bản gửi đến đại biểu đã chất vấn và Thường trực Hội đồng nhân dân.

Trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp để chuyển đến người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn. (Điều 96 Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật. (Điều 98 Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

  • Nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân phường: 

Nhiệm kỳ của mỗi khóa Hội đồng nhân dân là 05 năm, kể từ kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa đó đến kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa sau. Chậm nhất là 45 ngày trước khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, Hội đồng nhân dân khóa mới phải được bầu xong.

Việc rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Nhiệm kỳ của đại biểu Hội đồng nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu bổ sung bắt đầu làm nhiệm vụ đại biểu từ ngày khai mạc kỳ họp tiếp sau cuộc bầu cử bổ sung đến ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khóa sau.

Nhiệm kỳ của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khóa mới bầu ra Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân khóa mới.

1.4.2. Ủy ban  nhân dân cấp phường: Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

  • Tổ chức, cơ cấu:

Theo Điều 62 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân phường như sau:

  • Ủy ban nhân dân phường gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an.
  • Ủy ban nhân dân phường loại I, loại II có không quá hai Phó Chủ tịch; phường loại III có một Phó Chủ tịch.”.

Người đứng đầu Ủy ban nhân dân cấp phường là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân phường (phường, thị trấn) đó bầu ra bằng hình thức bỏ phiếu kín. Thông thường, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường đồng thời là Phó Bí thư Đảng ủy phường đó. Bộ máy giúp việc của Uỷ ban nhân dân cấp phường gồm có các Công chức: Tư pháp – Hộ tịch; Địa chính – Xây dựng – Đô thị – Môi trường; Tài chính – Kế toán; Văn phòng – Thống kê; Văn hóa – Xã hội; Chỉ huy trưởng Quân sự; Trưởng Công an.

  • Chức năng, nhiệm vụ: Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Theo Điều 63 Luật tổ chức chính quyền địa phương: Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân phường được quy định như sau:

  • Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân phường quyết định các nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 61 của Luật tổ chức chính quyền địa phương và tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường.
  • Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương.
  • Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền.

UBND phường là cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân Quận. Uỷ ban nhân dân phường thực hiện nhiệm vụ tương đối toàn diện, trên mọi mặt của đời sống nhân dân trong phường: kinh tế; xây dựng, giao thông vận tải; giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá và thể dục thể thao; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi hành pháp luật ở địa phương; chính sách tôn giáo; thi hành pháp luật. Uỷ ban nhân dân phường mỗi tháng họp ít nhất một lần. Các quyết định của Uỷ ban nhân dân phải được quá nửa tổng số thành viên Uỷ ban nhân dân biểu quyết tán thành.

UBND phường là cơ quan có vai trò quan trọng trong bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương. Đây là cầu nối đảm bảo tính thống nhất cũng như toàn diện trong công tác quản lý hành chính nhà nước từ Trung ương tới địa phương. Theo quy định của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015: Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Uỷ ban nhân dân gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên, số lượng cụ thể Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp do Chính phủ quy định. Như vậy Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đồng thời là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Uỷ ban nhân dân có chức năng chủ yếu là quản lý hành chính nhà nước. Hoạt động quản lý của Uỷ ban nhân dân mang tính thống nhất và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với mọi đối tượng nhưng giới hạn trong phạm vi một địa phương, một vùng lãnh thổ nhất định. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Theo Luật Tổ chức Chính quyền địa phương quy định: Hội đồng nhân dân bầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân theo giới thiệu của Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân được bầu tại kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân phải là đại biểu Hội đồng nhân dân. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân được bầu trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân bầu Phó Chủ tịch UBND, Ủy viên Uỷ ban nhân dân theo giới thiệu của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Ủy viên Uỷ ban nhân dân không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân.

Như vậy, Chủ tịch, Phó chủ tịch và các ủy viên của Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra tại kì họp thứ nhất của mỗi khóa theo thể thức bỏ phiếu kín, phải được quá ván tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân có mặt biểu quyết tán thành. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân được bầu trong số các đại biểu Hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Trong nhiệm kỳ nếu khuyết Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thì Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp giới thiệu người ứng cử để Hội đồng nhân dân bầu, người này không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân. Còn Phó chủ tịch và các ủy viên Uỷ ban nhân dân được bầu theo sự giới thiệu của chủ tịch Uỷ ban nhân dân và không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân. Kết quả bầu các thành viên của Uỷ ban nhân dân phải được chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn. Nhiệm kì hoạt động của Uỷ ban nhân dân là 5 năm.

Số lượng thành viên trong Uỷ ban nhân dân được quy định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và khoản 2 Điều 3 Nghị định số 08/2016/NĐ-CP ngày 25/1/2016 và Nghị định 69/2020/NĐ-CP ngày 24/6/2020 của Chính phủ về việc quy định số lượng Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và quy trình, thủ tục bầu, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, điều động, cách chức thành viên Uỷ ban nhân dân. Theo đó, ủy viên Uỷ ban nhân dân cấp phường gồm có Ủy viên phụ trách quân sự và Ủy viên phụ trách công an.

  • Hình thức hoạt động:

UBND làm việc theo chế độ lãnh đạo tập thể và có phân công cá nhân chịu trách nhiệm. Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước.

Uỷ ban nhân dân do HĐND bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương và cũng chính là cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương, đóng vai trò cơ quan chỉ đạo, bao quát tất cả các công việc từ ra quyết định đến thực hiện quyết định và quản lý hành chính Nhà nước. Nhưng do phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân là theo kỳ họp, nên phải lập ra Uỷ ban nhân dân – cơ quan đảm nhiệm các chức năng tổ chức hoạt động thường xuyên của Hội đồng nhân dân và tổ chức thực hiện các nghị quyết của cơ quan này. Uỷ ban nhân dân, vì vậy, gắn liền với Hội đồng nhân dân, là hình thức làm việc của Hội đồng nhân dân giữa hai kỳ họp. Hiện tại, chức năng chủ yếu của Uỷ ban nhân dân là tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính Nhà nước ở địa phương sự theo phân cấp. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương quy định: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình… cùng với tập thể Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt động của Uỷ ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước cơ quan Nhà nước cấp trên. Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Mỗi thành viên của Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm cá nhân về phần công tác của mình trước Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp và cùng với các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Uỷ ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân cấp mình và trước cơ quan Nhà nước cấp trên. Trách nhiệm ở đây thuộc phạm trù trách nhiệm chính trị thể hiện dưới các hình thức chế tài miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức.

Với vai trò là người lãnh đạo và điều hành công việc của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có nhiệm vụ đôn đốc, kiểm tra công tác của các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân; phân công công tác cho các Phó chủ tịch và các thành viên; quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân vừa phải chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình vừa phải chịu trách nhiệm cùng với tập thể Uỷ ban nhân dân về hoạt động của Uỷ ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân phường và cơ quan nhà nước cấp trên. Sự điều hành của Chủ tịch UBND phải đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động quản lí hành chính của Uỷ ban nhân dân.

Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân là người giúp việc cho Chủ tịch, thực hiện những công việc được Chủ tịch phân công phụ trách liên quan tới một lĩnh vực nhất định. Các Phó chủ tịch chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ của mình trước Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và cùng với tập thể Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.

Uỷ viên Uỷ ban nhân dân phường gồm ủy viên phụ trách quân sự và ủy viên phụ trách công an. Các ủy viên ủy ban phải chịu trách nhiệm cá nhân về công việc được phân công trước chủ tịch Uỷ ban nhân dân và cùng với tập thể Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.

Các công chức chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân: Tư pháp – Hộ tịch; Tài chính – Kế toán; Văn hóa – Xã hội; Địa chính – Xây dựng – Đô thị và Môi trường được giao phụ trách quản lý từng lĩnh vực chuyên môn.

Các phiên họp của Uỷ ban nhân dân là hình thức hoạt động chủ yếu và cũng là quan trọng nhất của Uỷ ban nhân dân. Thông qua các phiên họp, phần lớn nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân được thực hiện. Uỷ ban nhân dân họp thường kỳ mỗi tháng một lần. Các kỳ họp do chủ tịch Uỷ ban nhân dân triệu tập và chủ trì.

Nhằm đảm bảo tính dân chủ và phát huy hiệu quả của các buổi họp, các thành viên của Uỷ ban nhân dân phải tham dự đầy đủ, trường hợp vắng mặt phải được sự đồng ý của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Uỷ ban nhân dân quyết định các vấn đề tại phiên họp bằng hình thức biểu quyết. Thành viên Uỷ ban nhân dân có quyền biểu quyết tán thành, không tán thành hoặc không biểu quyết. Quyết định của Uỷ ban nhân dân phải được quá nửa tổng số thành viên Uỷ ban nhân dân biểu quyết tán thành. Trường hợp số tán thành và số không tán thành ngang nhau thì quyết định theo ý kiến biểu quyết của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Phiên họp Uỷ ban nhân dân chỉ được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên Uỷ ban nhân dân tham dự. Chương trình, thời gian họp và các tài liệu trình tại phiên họp phải được gửi đến các thành viên Uỷ ban nhân dân chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày bắt đầu phiên họp thường kỳ và chậm nhất là 01 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp bất thường.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân chủ tọa phiên họp Uỷ ban nhân dân, bảo đảm thực hiện chương trình phiên họp và những quy định về phiên họp. Khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân vắng mặt, một Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phân công chủ tọa phiên họp. Đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân được mời tham dự phiên họp Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội ở địa phương, đại diện các Ban của Hội đồng nhân dân được mời tham dự phiên họp Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn về các vấn đề có liên quan. Chủ tịch Ủy ban Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam thường được mời tham dự các phiên họp thường kỳ của Uỷ ban nhân dân, còn người đứng đầu các đoàn thể nhân dân địa phương thì tùy theo tình hình thực tế có thể được mời dự họp. Các đại biểu được mời có quyền phát biểu ý kiến nhưng không có quyền biểu quyết. Việc tham dự của những đại biểu đó sẽ giúp Uỷ ban nhân dân nắm vững thực tế để ra các quyết định, chỉ thị đúng đắn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức đoàn thể đó tham gia xây dựng chính quyền, thực hiện các chủ trương chính sách, pháp luật của nhà nước, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các đại biểu và cán bộ viên chức. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Tại phiên họp Uỷ ban nhân dân thảo luận tập thể và quyết định theo đa số những vấn đề liên quan đến chương trình làm việc của Uỷ ban nhân dân trong cả nhiệm kỳ và hằng năm; thông qua các dự án về kế hoạch, ngân sách quỹ dự trữ của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp; kiểm điểm việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;… Các quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân được thể hiện dưới hình thức văn bản

Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định phạm vi, trách nhiệm giải quyết công việc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân: Chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định của Luật này; cùng các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Uỷ ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân cùng cấp, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, trước Nhân dân địa phương và trước pháp luật. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân trực tiếp chỉ đạo giải quyết hoặc giao Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân chủ trì, phối hợp giải quyết những vấn đề liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực ở địa phương. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có thể thành lập các tổ tư vấn để tham mưu, giúp Chủ tịch giải quyết công việc. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ủy nhiệm một Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thay mặt Chủ tịch điều hành công việc Uỷ ban nhân dân khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân vắng mặt. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thay mặt Uỷ ban nhân dân ký quyết định của Uỷ ban nhân dân; ban hành quyết định, chỉ thị và hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành văn bản đó ở địa phương. Là người lãnh đạo, điều hành công việc của Uỷ ban nhân dân cấp phường, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quy định chương trình hoạt động của Uỷ ban nhân dân và phân công công việc cho các thành viên của Uỷ ban nhân dân và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ của các chủ thể đó. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp phường chịu trách nhiệm cá nhân về các quyết định của mình và cùng với tập thể Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm đối với các quyết định thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp phường.

Các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường phân công phụ trách các lĩnh vực nhất định, đồng thời phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Uỷ ban nhân dân trong việc quản lý các lĩnh vực được giao. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Bên cạnh các phiên họp thì hoạt động của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cũng là một hình thức hoạt động thường xuyên của Uỷ ban nhân dân. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân lãnh đạo công tác của Uỷ ban nhân dân, các thành viên của Uỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân; đôn đốc, kiểm tra công tác của các cán bộ, công chức chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân trong việc thực hiện Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cùng cấp; quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp mình; áp dụng các biện pháp nhằm cải tiến lề lối làm việc, quản lý và điều hành bộ máy hành chính hoạt động có hiệu quả, ngăn ngừa và đấu tranh chống các biểu hiện quan liêu, vô trách nhiệm, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, công chức và trong bộ máy chính quyền địa phương; tổ chức việc tiếp dân, xét và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân trong các phiên họp với vai trò chủ tọa có trách nhiệm hướng cuộc họp vào những vấn đề nằm trong chương trình họp, đồng thời chịu trách nhiệm tổ chức triển khai, giám sát việc thực hiện những quyết định đã được thông qua trong các phiên họp. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có quyền chỉ đạo và áp dụng các biện pháp để giải quyết các công việc đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, cháy, nổ, dịch bệnh, an ninh, trật tự và báo cáo Uỷ ban nhân dân trong phiên họp gần nhất.

Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Uỷ ban nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ được giao; cùng các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Uỷ ban nhân dân. Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tham dự đầy đủ các phiên họp Uỷ ban nhân dân; thảo luận và biểu quyết những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân đồng thời ký quyết định, chỉ thị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân khi được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ủy nhiệm.

Ủy viên Uỷ ban nhân dân được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phân công phụ trách lĩnh vực cụ thể và chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ được giao; cùng các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Uỷ ban nhân dân; báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân khi được yêu cầu. Ủy viên Uỷ ban nhân dân là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước cơ quan quản lý nhà nước cấp trên về ngành, lĩnh vực đồng thời tham dự đầy đủ các phiên họp Uỷ ban nhân dân; thảo luận và biểu quyết những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân.

Đây cũng là một hình thức hoạt động khá thường xuyên và có tác dụng lớn đến hiệu quả hoạt động của Uỷ ban nhân dân. Các ủy viên Uỷ ban nhân dân phụ trách Công an, quân sự trực tiếp thực hiện công tác quản lý ngành, lĩnh vực thuộc Uỷ ban nhân dân. Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp phường thường được Chủ tịch giao phụ trách từng lĩnh vực cụ thể như Phó Chủ tịch phụ trách công tác văn hóa – xã hội; Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế. Các ủy viên có trách nhiệm báo cáo công tác và chịu sự chỉ đạo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, chịu trách nhiệm cá nhân trước Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và trước Hội đồng nhân dân cùng cấp về công việc được phân công. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

Các công chức chuyên môn trực thuộc Uỷ ban nhân dân là cơ quan tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân phường thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Uỷ ban nhân dân và theo quy định của pháp luật. Các công chức chuyên môn của Uỷ ban nhân dân phường chịu trách nhiệm về hoạt động quản lý nhà nước đối với lĩnh vực do mình phụ trách; báo cáo công tác và chịu trách nhiệm cá nhân trước Uỷ ban nhân dân và cơ quan chuyên môn cấp trên trực tiếp, trường hợp cần thiết phải báo cáo trước Hội đồng nhân dân về lĩnh vực mình phụ trách..

Như vậy, Uỷ ban nhân dân phường được tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc tập trung dân chủ, là cơ quan gần dân nhất, hoạt động và làm việc theo chế độ tập thể quyết định, cá nhân phụ trách, đảm bảo sự thống nhất trong quá trình quản lý hành chính nhà nước ở địa phương.

  • Nhiệm kỳ Uỷ ban nhân dân phường:

Theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương: Nhiệm kỳ của Ủy ban nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, Ủy ban nhân dân tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khóa mới bầu ra Ủy ban nhân dân khóa mới. Khóa luận: Pháp luật về chính quyền địa phương phường An Biên.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng tổ chức hoạt động chính quyền địa phương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464