Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo quy định của pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Cơ sở pháp lý chung

Ở mức độ khái quát nhất, cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của Doanh nghiệp xã hội ở nước ta hiện nay được thể hiện chủ yếu ở Luật Doanh nghiệp, các đạo luật về các lĩnh vực, vấn đề xã hội cụ thể và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành luật. Bao gồm:

  • Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014.
  • Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp 2014
  • Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 về đăng ký doanh nghiệp
  • Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT ngày 17/5/2016 quy định các biểu mẫu văn bản sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp xã hội

Các văn bản quy phạm pháp luật về các lĩnh vực, vấn đề xã hội cụ thể như: Luật bảo vệ môi trường 2014, Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) 2006, luật trẻ em 2016, Luật phòng chống ma túy, Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009, v.v..

2.2. Các quy định cụ thể Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

2.2.1. Quy định về bản chất, đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội

Về khái niệm, Doanh nghiệp xã hội được định dựa trên các tiêu chí, điều kiện, khi nào thì một tổ chức trở thành Doanh nghiệp xã hội. Theo điều 10, Luật Doanh nghiệp 2014, Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng, sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký [6]. Từ khái niệm này, có thể nhận thấy doanh nghiệp xã hội theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 có các đặc điểm: phải có hoạt động kinh doanh, mục đích xã hội, tái phân phối lợi nhuận để phục vụ mục tiêu xã hội đã đặt ra.

2.2.2. Quy định về quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp xã hội

Về quyền và nghĩa vụ, doanh nghiệp xã hội vừa có quyền, nghĩa vụ như các doanh nghiệp thông thường, vừa có quyền và nghĩa vụ riêng. Đầu tiên, doanh nghiệp xã hội có các quyền như các doanh nghiệp thông thường khác (điều 7 Luật Doanh nghiệp 2014): (1) Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm; (2) Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh; (3) Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn; (4) Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng; (5) Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu; (6) Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh; (7) Chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh; (8) Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp; (9) Từ chối yêu cầu cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật; (10) Khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; (11) Tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Doanh nghiệp xã hội cũng có các nghĩa vụ như các doanh nghiệp thông thường. Theo điều 8, Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp xã hội có những nghĩa vụ: (1) Đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh với ngành nghề inh doanh có điều kiện và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh; (2) Tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê; (3) Kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; (4) Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, không được phân biệt đối xử và xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người lao động trong doanh nghiệp, không được sử dụng lao động cưỡng bức và lao động trẻ em; hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tham gia đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và bảo hiểm khác cho người lao động; (5) Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ; (6) Thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, công khai thông tin về thành lập và hoạt động, báo cáo…; (7) Chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó; (8) Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bình đẳng giới, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử-văn hóa và danh lam thắng cảnh; (9) Thực hiện nghĩa vụ về đạo đức kinh doanh [6].

Ngoài ra, Doanh nghiệp xã hội có thêm một số quyền và nghĩa vụ riêng, được quy định tại khoản 2, điều 10, Luật Doanh nghiệp 2014. Theo đó, Doanh nghiệp xã hội có thêm các quyền: (1) Chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ và giấy chứng nhận có liên quan theo quy định của pháp luật; (2) Được huy động và nhận tài trợ dưới các hình thức khác nhau từ các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác của Việt Nam và nước ngoài để bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp.

DNXH có thêm các nghĩa vụ: (1) Duy trì mục tiêu và điều kiện của Doanh nghiệp xã hội trong suốt quá trình hoạt động; trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật; (2) Không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký; (3) Trường hợp được nhận các ưu đãi, hỗ trợ, doanh nghiệp xã hội phải định kỳ hằng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động của doanh nghiệp [6]. Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Như vậy, pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội có những quyền và nghĩa vụ như các doanh nghiệp truyền thống, điều này một phần thể hiện sự bình đẳng định giữa Doanh nghiệp xã hội và doanh nghiệp truyền thống. Doanh nghiệp xã hội cũng có những quyền và nghĩa vụ cơ bản như doanh nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, vì mục tiêu hoạt động là vì xã hội nên họ cũng chịu những thiệt thòi nhất định. Chính vì vậy, Nhà nước cũng tạo điều kiện cho họ để họ thực hiện được mục tiêu xã hội đó.

2.2.3. Quy định về quyền thành lập doanh nghiệp xã hội

Theo  Điều  10  Luật Doanh  nghiệp  năm  2014  thì  Doanh nghiệp xã hội  “là  doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này”. Do vậy, chủ thể có quyền thành lập Doanh nghiệp xã hội chính là chủ thể có quyền thành lập doanh nghiệp nói chung. Pháp luật Việt Nam qui định mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền được đăng kí thành lập doanh nghiệp để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, trừ những trường hợp cấm của pháp luật. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, khoản 2 Điều 18 quy định các đối tượng không được thành lập và quản  lý doanh nghiệp tại Việt Nam, bao gồm:

  1. Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
  2. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;
  3. Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
  4. Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
  5. Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân; Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.
  6. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng [6].

Ngoài ra theo khoản 3, điều 130 Luật Phá sản năm 2014, người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản mà cố ý vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 18, khoản 5 Điều 28, khoản 1 Điều 48 của Luật này thì Thẩm phán xem xét, quyết định về việc không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Tòa án nhân dân có quyết định tuyên bố phá sản [13].

Như vậy, những cá nhân, tổ chức không rơi vào chủ thể trong điều luật trên đều có thể thành lập doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xã hội nói riêng. Điều này thể hiện quyền tự do kinh doanh đã được quy định là quyền công dân trong Hiến pháp 2013, quyền tự do thành lập doanh nghiệp, quyền tự do kinh doanh với doanh nghiệp nói chung và Doanh nghiệp xã hội nói riêng. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thành lập Doanh nghiệp xã hội có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. Đồng thời, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng hạn chế một số chủ thể trong việc thành lập doanh nghiệp. Việc cấm một số đối tượng thành lập doanh nghiệp xuất phát từ yêu cầu bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của xã hội cũng như lợi ích của bản thân các nhà đầu tư.

2.2.4. Quy định về hình thức pháp lý của doanh nghiệp xã hội Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Theo Luật Doanh nghiệp 2014, Doanh nghiệp xã hội có thể hoạt động dưới bốn mô hình cơ bản: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và hai chế độ trách nhiệm tài sản của chủ sở hữu: trách nhiệm tài sản vô hạn (áp dụng cho chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh), trách nhiệm tài sản hữu hạn (áp dụng cho thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ đông công ty cổ phần) [6]. Vì vậy, chủ sở hữu khi thành lập phải lựa chọn một trong các mô hình được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 để đăng kí với cơ quan đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và đầu tư.

2.2.5. Quy định về điều kiện, thủ tục thành lập doanh nghiệp xã hội

DNXH muốn thành lập phải tuân theo các thủ tục thành lập doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn. Phụ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp (Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần). Thủ tục này được quy định trong Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định về đăng ký doanh nghiệp, Nghị định 96/2015/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của doanh nghiệp và Thông tư 20/2015/TT-BKHĐT quy định về hướng dẫn đăng ký, áp dụng chung cho doanh nghiệp. Trình tự, thủ tục bao gồm:

Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầy đủ các thông tin cần thiết để lập hồ sơ thành lập doanh nghiệp.

Bước 1: Lựa chọn loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty Trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên, Công ty Trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên, Công ty cổ phần.

Bước 2: Chuẩn bị bản sao chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của những thành viên (cổ đông). Việc chọn lựa ai sẽ là thành viên (cổ đông) của công ty sẽ do chủ doanh nghiệp quyết định, tuy nhiên số lượng thành viên và cổ đông sẽ được quy định bởi loại hình doanh nghiệp. Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Bước 3: Lựa chọn đặt tên doanh nghiệp, tên doanh nghiệp gồm hai phần là loại hình doanh nghiệp và tên riêng của doanh nghiệp; tránh trường hợp tên doanh nghiệp bị trùng, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Doanh nghiệp xã hội cần bổ sung thêm cụm từ “xã hội” vào tên riêng của doanh nghiệp.

Bước 4: Xác định địa chỉ trụ sở thuộc quyền sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp. Bước 5: Xác định vốn điều lệ để đưa ra kinh doanh. Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty.

Bước 6: Xác định chức danh người đại diện theo pháp luật của công ty.  Bước 7: Xác định ngành nghề kinh doanh chuẩn hoá theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh.

Giai đoạn 2: Soạn thảo và nộp hồ sơ thành lập công ty

Bước 1: Soạn thảo hồ sơ công ty, chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ quy định tại Điều 19, 20, 21, 22 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký doanh nghiệp

Bước 2: Nộp hồ sơ đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Sau 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, nếu hồ sơ hợp lệ thì sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Giai đoạn 3: Làm con dấu pháp nhân

Giai đoạn 4: Thủ tục sau thành lập công ty Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Một doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề không có điều kiện sau khi có Đăng ký kinh doanh và con dấu là có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình theo quy định tại Điều 8 Luật Doanh nghiệp 2014.

Tuy nhiên theo quy định pháp luật, sau khi có Đăng ký kinh doanh Doanh nghiệp cần thực hiện các công việc như sau:

Bước 1: Tiến hành đăng ký khai thuế ban đầu với cơ quan thuế tại nơi đăng ký kinh doanh trong thời hạn quy định.

Bước 2: Tiến hành đăng ký kê khai thuế qua mạng điện tử thông qua dịch vụ chữ ký số, “Từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 tất cả các doanh nghiệp trong cả nước phải kê khai, nộp tờ khai thuế qua mạng, nội dung này được quy định trong Luật số 21/2012/QH13 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế”.

Bước 3: Nộp thuế môn bài, nộp thông báo áp dụng phương pháp tính thuế GTGT.

Ngoài những trình tự, thủ tục tương tự với doanh nghiệp thông thường kể trên, việc đăng ký Doanh nghiệp xã hội có một số điểm khác biệt. Thứ nhất, Doanh nghiệp xã hội cần công khai Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường của doanh nghiệp xã hội. Doanh nghiệp xã hội phải thông báo Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường cho cơ quan đăng ký kinh doanh để công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp khi thành lập doanh nghiệp hoặc trong quá trình hoạt động. Trường hợp nội dung Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường có sự thay đổi, doanh nghiệp xã hội phải thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh về nội dung thay đổi trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày quyết định thay đổi để công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Kèm theo thông báo phải có Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường đã được sửa đổi, bổ sung. Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường của doanh nghiệp xã hội phải bao gồm các nội dung sau đây. Một là các vấn đề xã hội, môi trường; phương thức mà doanh nghiệp dự định thực hiện nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường đó. Hai là thời hạn thực hiện các hoạt động nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường. Ba là mức tỷ lệ phần trăm (%) lợi nhuận giữ lại hằng năm được tái đầu tư để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường. Bốn là nguyên tắc và phương thức sử dụng các khoản viện trợ, tài trợ từ tổ chức và cá nhân; nguyên tắc và phương thức xử lý các khoản viện trợ, tài trợ còn dư khi doanh nghiệp giải thể hoặc chuyển đổi thành doanh nghiệp thông thường (nếu có). Năm là họ, tên, chữ ký của chủ doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân; thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; thành viên, cổ đông là cá nhân, người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của thành viên, cổ đông là tổ chức đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần [3].

Thứ hai là về tên Doanh nghiệp xã hội. Theo điều 4, nghị định 96/2015, ngày 19/10/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật doanh nghiệp, tên Doanh nghiệp xã hội có thể bổ sung thêm cụm từ “xã hội” vào tên riêng của doanh nghiệp. [3]. Ví dụ: Doanh nghiệp xã hội KOTO, doanh nghiệp xã hội VietHealth v.v…

2.2.6. Quy định về quản trị doanh nghiệp Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về quản trị doanh nghiệp dành riêng cho Doanh nghiệp xã hội. Các quy định của pháp luật về quản trị doanh  nghiệp thông thường được áp dụng cho quản trị Doanh nghiệp xã hội và dựa trên hình thức tổ chức doanh  nghiệp mà doanh nhân xã hội lựa chọn.

Thứ nhất, đối với trường hợp lựa chọn thành lập công ty cổ phần thì áp dụng chế độ quản trị doanh nghiệp theo quy định của pháp luật dành cho công ty cổ phần. Công ty cổ phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc; đối với Công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát.

Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty cổ phần. Đại hội đồng cổ đông họp thường niên hoặc bất thường; ít nhất mỗi năm họp một lần. Đại hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Đại hội đồng cổ đông thường niên thảo luận và thông qua các vấn đề: báo cáo tài chính hàng năm; báo cáo của Hội đồng quản trị đánh giá thực trạng công tác quản lý kinh doanh ở công ty; báo cáo của Ban kiểm soát về quản lý công ty của Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; mức cổ tức đối với mỗi cổ phần của từng loại; các vấn đề khác thuộc thẩm quyền.

Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.

Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị có không ít hơn ba thành viên, không quá mười một thành viên, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Số thành viên Hội đồng quản trị phải thường trú ở Việt Nam do Điều lệ công ty quy định. Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là năm năm. Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không quá năm năm; thành viên Hội đồng quản trị có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.

Hội đồng quản trị bổ nhiệm một người trong số họ hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty; chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao. Nhiệm kỳ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không quá năm năm; có thể được bổ nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Ban kiểm soát có từ ba đến năm thành viên nếu Điều lệ công ty không có quy định khác; nhiệm kỳ của Ban kiểm soát không quá năm năm; thành viên Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.

Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc, Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty được quy định tại Điều lệ công ty. Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú ở Việt Nam; trường hợp vắng mặt trên 30 ngày ở Việt Nam thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nhiệm vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty.

Thứ hai, công ty Trách nhiệm hữu hạn bao gồm hai loại: công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên có hai mô hình tổ chức hoạt động, bao gồm: Mô hình tổ chức hoạt động dành cho cá nhân làm chủ sở hữu và mô hình tổ chức hoạt động dành cho một tổ chức làm chủ sở hữu.

Mô hình công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu bao gồm: Chủ tịch công ty (chính là chủ sở hữu công ty) là người có quyền điều hành cao nhất trong mọi hoạt động của công ty cũng như có thể quyết định thực hiện các thủ tục thay đổi loại hình công ty, phương hướng hoạt động, cơ cấu bổ nhiệm nhân sự, v.v… Giám đốc hoặc tổng giám đốc (Đối với công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên, giám đốc hay tổng giám đốc của doanh nghiệp có thể là do chủ tịch công ty kiêm nhiệm hay thuê người khác làm), quyền và nghĩa vụ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc được quy định tại hợp đồng với công ty và theo điều lệ công ty quy định. Các phòng ban phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp như: phòng kinh doanh, phòng kế toán, phòng hành chính nhân sự, v.v… Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Đối với công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên trở lên do một tổ chức làm chủ sở hữu, sẽ có 2 trường hợp tương ứng với 2 mô hình cơ cấu tổ chức quản lý khi thành lập doanh nghiệp với hình thức Trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Trường hợp thứ nhất, chủ sở hữu công ty bổ nhiệm một người đại diện theo ủy quyền, công ty Trách nhiệm hữu hạn bao gồm chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc, kiểm soát viên và các phòng ban. Chủ tịch công ty là người được chủ sở hữu công ty bổ nhiệm đại diện theo ủy quyền. Giám đốc hoặc tổng giám đốc có thể do người chủ tịch công ty kiêm nhiệm hoặc thuê người khác với ràng buộc quy định quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng và điều lệ của công ty. Kiểm soát viên kiểm tra tính trung thực, cẩn trọng của chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc, thẩm định báo cáo tài chính, v.v… và các phòng phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp như: phòng kinh doanh, phòng kế toán, phòng hành chính nhân sự, v.v…

Trường hợp thứ hai, chủ sở hữu công ty bổ nhiệm ít nhất 2 người đại diện theo ủy quyền, công ty Trách nhiệm hữu hạn bao gồm: hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc, kiểm soát viên, các phòng ban. Hội đồng thành viên bao gồm tất cả những người được bổ nhiệm đại diện theo ủy quyền. Giám đốc hoặc tổng giám đốc do công ty thuê, thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng hợp đồng ký kết cũng như theo điều lệ của công ty. Kiểm soát viên kiểm tra tính trung thực, cẩn trọng của hội đồng thành viên, giám đốc / tổng giám đốc, thẩm định báo cáo tài chính. Các phòng phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp như: phòng kinh doanh, phòng kế toán, phòng hành chính nhân sự, v.v…

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ mười một thành viên trở lên phải thành lập Ban kiểm soát; trường hợp có ít hơn mười một thành viên, có thể thành lập Ban kiểm soát phù hợp với yêu cầu quản trị công ty. Quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn, điều kiện và chế độ làm việc của Ban kiểm soát, Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định.

Hội đồng thành viên gồm các thành viên, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty. Điều lệ công ty quy định cụ thể định kỳ họp Hội đồng thành viên, nhưng ít nhất mỗi năm phải họp một lần. Hội đồng thành viên quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty; quyết định tăng hoặc giảm vốn điều lệ, quyết định thời điểm và phương thức huy động thêm vốn; quyết định phương thức đầu tư và dự án đầu tư có giá trị trên 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty; quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và chuyển giao công nghệ…

Hội đồng thành viên bầu một thành viên làm Chủ tịch. Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty. Chủ tịch Hội đồng thành viên chuẩn bị hoặc tổ chức việc chuẩn bị chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng thành viên; chuẩn bị hoặc tổ chức việc chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu họp Hội đồng thành viên hoặc để lấy ý kiến các thành viên; triệu tập và chủ trì cuộc họp Hội đồng thành viên hoặc tổ chức việc lấy ý kiến các thành viên; giám sát hoặc tổ chức giám sát việc thực hiện các quyết định của Hội đồng thành viên, v.v … Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng thành viên; quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty; tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty, v.v…

Đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh và là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Cơ cấu tổ chức và quản lý của công ty hợp danh bao gồm hội đồng thành viên, thành viên hợp danh, giám đốc hoặc tổng giám đốc. Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, bao gồm tất cả các thành viên. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội đồng thành viên. Hội đồng thành viên có quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty theo nguyên tắc đa số (mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết như nhau không phụ thuộc vào phần vốn góp).

Tất cả các thành viên hợp danh đều là người đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty. Khi một số hoặc tất cả thành viên hợp danh cùng thực hiện một số công việc kinh doanh thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số.

Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc nếu điều lệ công ty không có quy định khác thì Chủ tịch Hội đồng thành viên đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty. Giám đốc thực hiện chức năng quản lý hoạt động kinh doanh của công ty cùng với các thành viên hợp danh.

2.2.7. Các chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Theo nghị định 96/2015 ngày 19/10/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật doanh nghiệp, Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thành lập doanh nghiệp xã hội có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; Doanh nghiệp xã hội được hưởng các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật [3].

Doanh nghiệp xã hội được tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài để thực hiện mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường theo quy định của pháp luật về tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài. Ngoài khoản viện trợ này, doanh nghiệp xã hội được tiếp nhận bằng tài sản, tài chính hoặc hỗ trợ kỹ thuật từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước và tổ chức nước ngoài đã đăng ký hoạt động tại Việt Nam để thực hiện mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội, môi trường (điểm c Khoản 2 Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014; Điều 3 Nghị định 96/2015/NĐ-CP) [3].

  • Nguồn tài trợ, viện trợ: Viện trợ phi chính phủ nước ngoài
  • Hình thức hỗ trợ: Tài sản, tài chính hoặc hỗ trợ kỹ thuật từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước và tổ chức nước ngoài – Quy trình:

Việc tiếp nhận tài trợ phải lập thành văn bản, bao gồm thông tin về cá nhân, tổ chức tài trợ, loại tài sản, giá trị tài sản hoặc tiền tài trợ, thời điểm thực hiện tài trợ, yêu cầu đối với doanh nghiệp tiếp nhận tài trợ, họ, tên và chữ ký của người đại diện có thẩm quyền của các bên.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày văn bản tiếp nhận tài trợ được ký kết, doanh nghiệp phải thông báo cho Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc cơ quan quản lý viện trợ, tài trợ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính.

2.3. Quy định về tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp xã hội Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Trong điều kiện chưa có một văn bản pháp luật riêng biệt, các Doanh nghiệp xã hội vẫn chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật về doanh nghiệp nói chung.  Do vậy, các quy định về tổ chức lại, giải thể, phá sản Doanh nghiệp xã hội tương tự như doanh nghiệp thông thường.

Thứ nhất, tổ chức lại Doanh nghiệp xã hội bao gồm các hình thức: chia, tách, hợp  nhất, sáp nhập và chuyển đổi hình thức pháp lí của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp xã hội được chia, tách, hợp nhất, sáp nhập trong các trường hợp sau đây: (1) Doanh nghiệp xã hội được chia hoặc tách thành các doanh nghiệp xã hội; (2) Các doanh nghiệp xã hội hợp nhất thành doanh nghiệp xã hội; (3) Sáp nhập doanh nghiệp vào doanh nghiệp xã hội [3]. Ngoài ra, các Doanh nghiệp xã hội còn được chuyển đổi hình thức pháp lý.

Về chia doanh nghiệp, đối tượng áp dụng là công ty Trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Các doanh nghiệp có thể được chia thành một số doanh nghiệp cùng loại. Hậu quả pháp lý của việc chia doanh nghiệp là công ty bị chia chấm dứt tồn tại sau khi các công ty mới được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Các công ty mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị chia hoặc thỏa thuận với chủ nợ, khách hàng và người lao động để một trong số các công ty đó thực hiện các nghĩa vụ này. Thủ tục chia doanh nghiệp gồm ba bước: Thông qua quyết định chia doanh nghiệp, tiến hành thông báo nghị quyết chia doanh nghiệp và hoàn tất thủ tục đăng ký doanh nghiệp hoặc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp [6]. Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Về tách doanh nghiệp, đối tượng áp dụng là công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể tách doanh nghiệp bằng cách chuyển một phần tài sản của công ty hiện có (công ty bị tách) để thành lập một hoặc một số công ty mới (công ty được tách); chuyển toàn bộ phần vốn góp, cổ phần của một hoặc một số thành viên, cổ đông cùng với tài sản tương ứng với giá trị cổ phần, phần vốn góp của họ được chuyển sang cho các công ty mới; hoặc kết hợp cả hai hình thức trên. Hậu quả pháp lý là công ty bị tách phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ và số lượng thành viên tương ứng với phần vốn góp, cổ phần và số lượng thành viên giảm xuống đồng thời với đăng ký doanh nghiệp các công ty mới. Sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị tách và công ty được tách phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị tách. Thủ tục tách doanh nghiệp tương tự thủ tục chia doanh nghiệp.

Về hợp nhất doanh nghiệp, đối tượng áp dụng là công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh. Hai hoặc một số công ty (công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất.

Hậu quả pháp lý là sau khi đăng ký doanh nghiệp, các công ty bị hợp nhất chấm dứt tồn tại, công ty hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác của các công ty bị hợp nhất. Hợp nhất doanh nghiệp trải qua ba bước: Chuẩn bị hợp đồng hợp nhất, thông báo hợp đồng hợp nhất và hoàn tất thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp [6].

Về sáp nhập doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp, đối tượng áp dụng là công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh. Một hoặc một số công ty (công ty sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Hậu quả pháp lý là sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; công ty nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị sáp nhập. Sáp nhập doanh nghiệp tương tự như hợp nhất doanh nghiệp. [6].

Về chuyển đổi hình thức pháp lý của công ty, công ty Trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển đổi thành công ty cổ phần và ngược lại, doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi thành công ty Trách nhiệm hữu hạn. Hậu quả pháp lý là sau khi đăng ký kinh doanh, công ty được chuyển đổi chấm dứt sự tồn tại; công ty chuyển đổi được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ về tài sản khác của công ty được chuyển đổi [6]. Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Mặt khác, Doanh nghiệp xã hội có thể từ bỏ mục tiêu xã hội của mình để chuyển sang hoạt động như một doanh nghiệp thông thường. Theo quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì: Trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật [6, Điều 10]. Như vậy, đối với  trường  hợp  các  doanh  nghiệp thông thường muốn chuyển thành Doanh nghiệp xã hội hoặc Doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì phải báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cho đến hiện nay chưa có quy định cụ thể nào về trình tự, thủ tục, nội dung thông báo hoặc thay đổi hoạt động của các Doanh nghiệp xã hội được tiến hành như thế nào.

Thứ hai, giải thể Doanh nghiệp xã hội cũng như giải thể doanh nghiệp thông thường là việc chấm dứt sự tồn tại, hoạt động của doanh nghiệp. Các trường hợp giải thể Doanh nghiệp xã hội bao gồm: Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn; Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty Trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần; Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài. Thủ tục giải thể doanh nghiệp bao gồm các bước: Thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp, thanh lí tài sản, gửi quyết định giải thể doanh nghiệp đến các cơ quan, tổ chức liên quan (Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp), thông báo tình trạng doanh nghiệp, thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp và gửi đề nghị giải thể đến cơ quan đăng ký kinh doanh.

Bên cạnh các quy định tương tự doanh nghiệp thông thường, nghị định 96/ 2015 ngày 19/10/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp bổ sung một số quy định về giải thể Doanh nghiệp xã hội. Một là, số dư tài sản hoặc tài chính còn lại đối với nguồn tài sản, tài chính mà Doanh nghiệp xã hội đã nhận phải được trả lại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã viện trợ, tài trợ hoặc chuyển cho các doanh nghiệp xã hội khác, tổ chức khác có mục tiêu xã hội tương tự. Hai là, trường hợp doanh nghiệp xã hội còn số dư tài sản hoặc tài chính đối với nguồn viện trợ, tài trợ đã nhận, thì hồ sơ giải thể phải có Thỏa thuận với cá nhân, tổ chức liên quan về xử lý số dư tài sản hoặc tài chính đối với nguồn viện trợ, tài trợ mà doanh nghiệp xã hội đã nhận [3]. Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

Thứ ba, Doanh nghiệp xã hội có thể thực hiện các thủ tục phá sản tương tự các doanh nghiệp thông thường. Các doanh nghiệp phá sản bởi lí do duy nhất đó là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn. Thủ tục phá sản doanh nghiệp bao gồm: Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản; Hòa giải và Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; Mở thủ tục phá sản; Hội nghị chủ nợ; Phục hồi doanh nghiệp; Ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản; Thi hành Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản [13].

Quy định về các chính sách xã hội của luật chuyên ngành DNXH không những chịu sự điều chỉnh của luật doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn mà còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành như bộ luật lao động, luật bảo hiểm xã hội, luật bảo hiểm y tế, luật bảo vệ môi trường, luật trẻ em, luật phòng chống HIV/AIDS, luật khám bệnh, chữa bệnh, v.v… và các văn bản hướng dẫn. Khi tham gia kinh doanh ở các lĩnh vực cụ thể, Doanh nghiệp xã hội chịu sự điều chỉnh của luật chuyên ngành. Đó là các quy định về điều kiện thành lập, quyền, nghĩa vụ, những việc bị cấm, ưu đãi, cơ chế quản lý, giám sát, báo cáo, trách nhiệm của Doanh nghiệp xã hội trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em, người nhiễm HIV / AIDS, chế độ tuyển dụng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho những người lao động trong Doanh nghiệp xã hội. Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định

  1. Pingback: Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464