Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ, mang lại những hiệu quả kinh tế xã hội đáng ghi nhận. Cùng với sự phát triển đó, hàng loạt vấn đề về môi trường, y tế, xã hội của nhóm người yếu thế trong xã hội như phụ nữ, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người nhiễm HIV/AIDS v.v… cũng đã bộc lộ và ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi sự chung sức giải quyết của toàn xã hội. Trong hoàn cảnh đó, Doanh nghiệp xã hội ra đời là sự cần thiết để góp phần giải quyết hiệu quả những vấn đề trên.

Chính thức được thừa nhận theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014, các quy định hiện hành của pháp luật đã tạo tiền đề pháp lý cho Doanh nghiệp xã hội được thành lập và hoạt động. Tuy nhiên, một số quy định về Doanh nghiệp xã hội còn chung chung, nhiều bất cập, chưa phát huy hết được những đặc điểm, ưu thế của Doanh nghiệp xã hội đối với xã hội, kinh tế của quốc gia. Trong khi, các quốc gia trên thế giới đã hình thành và phát triển Doanh nghiệp xã hội từ lâu, có nhiều kinh nghiệm về mặt pháp lý mà chúng ta có thể tham khảo và học hỏi. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận cho mình.

2. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Đề tài có mục đích nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay cũng như kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới. Từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay.

2.2. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài có đối tượng nghiên cứu là các quy phạm pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của Doanh nghiệp xã hội được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

2.3. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật về doanh nghiệp xã hội được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, các nghị định, thông tư hướng dẫn đang có hiệu lực thi hành, các chính sách phát triển cho Doanh nghiệp xã hội hiện nay.

3. Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài có sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử (nhìn vấn đề theo chiều dài lịch sử). Ngoài ra, các phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp cũng được sử dụng trong đề tài.

4. Tình hình nghiên cứu đề tài Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Doanh nghiệp xã hội là mô hình doanh nghiệp đã được hình thành từ lâu, và cũng đã phát triển ở Việt Nam trong một thời gian nhất định. Những đóng góp cho xã hội của Doanh nghiệp xã hội là không thể phủ nhận, chính vì vậy nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Doanh nghiệp xã hội đã được một số nghiên cứu đề cập đến. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:

Sách Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Khái niệm, Bối cảnh và Chính sách năm 2012 của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Hội đồng Anh tại Việt Nam và Trung tâm hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP);

Sách: Điển hình Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam năm 2016 của Hội đồng Anh; Nghiên cứu về khía cạnh pháp lý của doanh nghiệp xã hội, đặc biệt là pháp luật về tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế,mới chỉ có một số ít công trình nghiên cứu các vấn đề pháp lý về Doanh nghiệp xã hội. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:

Phan Thị Thanh Thủy với bài viết: Những  vấn đề pháp lý về Doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014 đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6 / 2015.

Phan Thị Thanh Thủy với bài viết: Hình thức pháp lý của doanh nghiệp xã hội: Kinh nghiệm nước Anh và một số gợi mở cho Việt Nam – Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, số 4 / 2015.

Vũ Thị Hòa Như với bài viết: Hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp xã hội, Tạp chí Luật học, số 3/2015.

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến một số khía cạnh nhất định của mô hình phát triển Doanh nghiệp xã hội dưới góc độ pháp lý. Tuy nhiên, còn một số khía cạnh mà những bài viết trên chưa đề cập đến. Chính vì vậy, việc tác giả chọn đề tài “Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam hiện nay” với mong muốn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật DNXH ở Việt Nam và đóng góp những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về Doanh nghiệp xã hội.

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Nghiên cứu đề tài này, Khóa luận có những đóng góp về mặt khoa học trên những khía cạnh chủ yếu sau:

Thứ nhất, tiếp tục kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình đi trước, Khóa luận đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn diện và tập trung pháp luật về doanh nghiệp xã hội.

Thứ hai, nghiên cứu thực trạng pháp luật về Doanh nghiệp xã hội Việt Nam theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, các văn bản pháp luật chuyên ngành  và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Thứ ba, tìm hiểu pháp luật về Doanh nghiệp xã hội của một số quốc gia trên thế giới. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về Doanh nghiệp xã hội và nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động đối với loại hình doanh nghiệp này.

6. Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Khóa luận được bố cục gồm 3 chương:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về doanh nghiệp xã hội
  • Chương 2: Doanh nghiệp xã hội theo quy định của pháp luật Việt Nam
  • Chương 3: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt Nam

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG  VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI

1.1. Khái niệm Doanh nghiệp xã hội

Khi nói về Doanh nghiệp xã hội, tổ chức Schwab về Doanh nghiệp xã hội nêu định nghĩa: Doanh nghiệp xã hội áp dụng các giải pháp thực tiễn, tiên tiến, bền vững nhằm mang lại lợi ích cho xã hội nói chung, đặc biệt là những người nghèo và người yếu thế trong xã hội. Các tổ chức này đưa ra các giải pháp giải quyết các vấn đề xã hội và kinh tế… không phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động và không phụ thuộc vào đó là doanh nghiệp kiếm lợi nhuận hay không [23]. Dễ nhận thấy, định nghĩa của Schwab về Doanh nghiệp xã hội tập trung vào mục đích của doanh nghiệp xã hội là có những giải pháp sáng tạo, bền vững mang lại lợi ích cho xã hội, đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội như người nghèo, phụ nữ, trẻ em… chứ không định nghĩa theo mức lợi nhuận dùng để giải quyết các vấn đề xã hội, kinh tế. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Tại Hàn Quốc, đạo luật khuyến khích Doanh nghiệp xã hội, khoản 1, điều 2 quy định: Doanh nghiệp xã hội là tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ, theo đuổi mục đích xã hội, tăng cường chất lượng cuộc sống của người dân bằng cách cung cấp dịch vụ, tạo công ăn việc làm và các dịch vụ cho những người yếu thế trong xã hội. Theo khoản 2, điều 2, nhóm người yếu thế trong xã hội được hiểu là những người gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội mà họ cần ở mức giá thị trường hoặc phải làm việc trong điều kiện lao động dưới bình thường [25].

Tại Thái Lan: Theo Văn phòng Doanh nghiệp xã hội Thái Lan, Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp hoặc tổ chức được thành lập để giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường. Nguồn thu chính là từ dịch vụ (hơn là được tặng) để tạo ra loại hình tự chủ tài chính. Tiền lãi được tái đầu tư để đạt được các mục đích xã hội.

Tại Philippin: Theo House Bill số 6085, Doanh nghiệp xã hội là là tổ chức, dù là hiệp hội, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần mà lợi nhuận của nó dùng để cung cấp hàng hóa, dịch vụ liên quan đến phát triển cuộc sống cho người dân. [24]

Từ những định nghĩa về Doanh nghiệp xã hội của một số quốc gia châu Á có thể nhận thấy các quốc gia này cũng tập trung vào mục đích của Doanh nghiệp xã hội khi định nghĩa Doanh nghiệp xã hội. Doanh nghiệp xã hội thực hiện các hoạt động sản xuất, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhằm cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các đối tượng yếu thế trong xã hội, gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội, tìm kiếm việc làm như phụ nữ, trẻ em lang thang, cơ nhỡ, bị bạo hành, người nhiễm HIV/AIDS, những người chấp hành xong án phạt tù cần tái hòa nhập cộng đồng, v.v…, nhằm mang lại điều kiện sống tốt hơn, tăng cường chất lượng cuộc sống cho người dân, giúp họ tiếp cận được với các sản phẩm, dịch vụ một cách tốt nhất.

Trong Chiến lược phát triển Doanh nghiệp xã hội năm 2002, Chính phủ Anh định nghĩa: “DNXH là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Cách định nghĩa này rất toàn diện, bám sát những đặc điểm cơ bản của Doanh nghiệp xã hội. Một là, kinh doanh cần được hiểu như một mô hình, phương án, giải pháp kinh doanh. Hai là, mục tiêu xã hội được đặt ra như một sứ mệnh cơ bản và trước tiên của việc thành lập tổ chức đó. Doanh nghiệp xã hội phải là tổ chức được lập ra vì mục tiêu xã hội. Ba là, về nguyên tắc (principally) lợi nhuận được tái phân phối lại cho tổ chức hoặc cộng đồng, không phải cho cá nhân.

OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) định nghĩa: “DNXH là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuổi cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế. Doanh nghiệp xã hội thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn. Ngoài ra, Doanh nghiệp xã hội còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường”.

Tổ chức hỗ trợ sáng kiến vì cộng đồng – CSIP của Việt Nam đưa ra quan điểm: “DNXH là một khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các doanh nhân xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích và điều kiện hoạt động cụ thể. Doanh nghiệp xã hội lấy lợi ích xã hội làm mục tiêu chủ đạo, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân nhằm đạt được cả mục tiêu xã hội/ môi trường và mục tiêu kinh tế”. [22]

Trước hết, CSIP gắn Doanh nghiệp xã hội với doanh nhân xã hội để nhấn mạnh vai trò của người sáng lập tổ chức là những người kết hợp hài hòa được sáng kiến xã hội và tinh thần doanh nhân. Thứ hai, Doanh nghiệp xã hội có thể đang hoặc sẽ hoạt động dưới nhiều hình thức tổ chức và địa vị pháp lý khác nhau, vốn phù hợp với thực trạng phong phú của khu vực xã hội dân sự ở Việt Nam, trong đó nổi bật là vai trò đổi mới của các NGOs; đồng thời mở ra khả năng chuyển đổi thành Doanh nghiệp xã hội từ các mô hình tổ chức khác như Quỹ tín dụng vi mô, Quỹ từ thiện, Hợp tác xã thậm chí có thể bao gồm các một số loại hình từ Tổ chức xã hội, Tổ chức sự nghiệp, Doanh nghiệp dịch vụ công ích của khu vực nhà nước. Thứ ba, các tiêu chí chủ đạo để xác định DXNH trong khái niệm của CSIP dường như tiếp thu trường phái định nghĩa của OECD khi yêu cầu Doanh nghiệp xã hội phải theo đuổi đồng thời cả hai mục tiêu xã hội (chủ đạo) và kinh tế. Tương tự như OECD, vấn đề phân phối lợi nhuận không được đề cập rõ ràng trong định nghĩa của CSIP.

Như vậy, có thể nhận thấy điểm chung của các định nghĩa trên là tập trung vào mục tiêu của Doanh nghiệp xã hội là giải quyết các vấn đề môi trường, xã hội, thay vì tối đa hóa lợi nhuận. Các Doanh nghiệp xã hội thực hiện các hoạt động kinh doanh như mua bán hang hóa, cung cấp dịch vụ, nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường, đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội như người nghèo, phụ nữ, trẻ em, v.v… Từ đó, người dân nói chung và những người yếu thế trong xã hội nói riêng được tiếp cận, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ một cách tốt nhất, cải thiện chất lượng của họ. Hơn nữa, hình thức pháp lý của Doanh nghiệp xã hội rất đa dạng và phong phú, có những định nghĩa quy định một tổ chức là Doanh nghiệp xã hội chỉ dựa trên mục đích hoạt động mà không phụ thuộc vào hình thức pháp lý là gì.

1.2. Lịch sử phát triển Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

1.2.1. Trên thế giới

Theo nghiên cứu của MacDonald M. & Howarth C. (2008), mô hình DNXH đầu tiên xuất hiện tại London vào năm 1665, khi Đại dịch (Great Plague) hoành hành đã khiến nhiều gia đình giàu có, vốn là các chủ xưởng công nghiệp và cơ sở thương mại rút khỏi thành phố, để lại tình trạng thất nghiệp tăng nhanh trong nhóm dân nghèo lao động. Trong bối cảnh đó, Thomas Firmin đã đứng ra thành lập một xí nghiệp sản xuất và sử dụng nguồn tài chính cá nhân cung cấp nguyên liệu cho nhà máy để tạo và duy trì việc làm cho 1,700 công nhân. Ngay từ khi thành lập, ông tuyên bố xí nghiệp không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và số lợi nhuận sẽ được chuyển cho các quỹ từ thiện.

Đến cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, số lượng không nhiều các Doanh nghiệp xã hội ở Anh có thể được phân thành hai nhóm:

Một số người giàu có thay đổi quan điểm của họ trong hoạt động từ thiện. Thay cho những khoản đóng góp vật chất dễ gây nên tâm lý ỷ lại, lười biếng và ‘nhàn cư vi bất thiện’ ở tầng lớp dân nghèo, họ chuyển sang các chương trình cung cấp việc làm để nhóm này học việc và có thể duy trì công việc cũng như thu nhập của mình, trở thành ‘những thành viên hữu ích của quốc gia’. Trường dạy xe sợi, dệt vải, mô hình Doanh nghiệp xã hội đầu tiên trong lĩnh vực giáo dục, được mở ở Liverpool năm 1790. Trường giáo dưỡng, tái hòa nhập trẻ phạm tội của tư nhân, đã được Nhà nước công nhận và tài trợ. Hàng loạt sáng kiến xã hội khác như đào tạo nghề đi biển, nghề mộc cho trẻ em, sử dụng nguồn thu từ các hàng cà phê cũng được ghi nhận trong thời gian này. Đặc biệt, các dự án cung cấp nhà ở xã hội đầu tiên đã đi theo mô hình Doanh nghiệp xã hội với mức lợi nhuận tối đa 5% được các nhà đầu tư chấp nhận. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Xuất hiện các mô hình cho phép người lao động có nhiều quyền hơn trong ký kết hợp đồng lao động và lần đầu tiên họ có khả năng làm chủ kế hoạch kinh doanh cũng như phân phối lợi nhuận. Hợp tác xã (Co-op), hội ái hữu (Provident Society), làng nghề (Industrial Society) đã thực hiện phân phối lợi nhuận và cung cấp phúc lợi cho toàn bộ cộng đồng, cũng như trao quyền biểu quyết về quản lý tổ chức và kinh doanh cho tất cả thành viên.

Ngoài ra, trên thực tế nhiều thư viện và bảo tàng ở châu Âu và Bắc Mỹ từ lâu đã có truyền thống thực hiện kinh doanh, bán hàng lưu niệm, đấu giá nhằm mục đích gây quỹ cho các lĩnh vực hoạt động chính của mình. Mặc dù không điển hình, nhưng đây cũng có thể được coi như những hoạt động mang tinh thần doanh nhân xã hội xuất hiện từ rất sớm. Họ hướng đến kinh doanh như một công cụ để tăng cường tính bền vững của tổ chức, cũng như giải pháp xã hội mà dựa vào đó tổ chức được thành lập.

Sang thế kỷ 20, hoạt động của các Doanh nghiệp xã hội có phần giảm sút khi chủ thuyết kinh tế Keynes lên ngôi từ sau cuộc Đại suy thoái (1929-1933), cổ vũ cho vai trò can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế; và cũng nhờ đó, một loạt mô hình Nhà nước phúc lợi đã ra đời ở Tây Âu và Bắc Mỹ sau Thế chiến II. Các Doanh nghiệp xã hội chỉ thực sự phát triển mạnh để hình thành nên một phong trào rộng khắp có diện mạo như ngày nay kể từ khi Thủ tướng Anh Margaret Thatcher lên nắm quyền, năm 1979. Bà chủ trương thu hẹp lại vai trò của Nhà nước và cho rằng Nhà nước không nên trực tiếp tham gia cung cấp phúc lợi xã hội.

Trong ba thập niên trở lại đây, phong trào Doanh nghiệp xã hội đã phát triển mạnh ra khỏi biên giới các quốc gia và trở thành một vận động xã hội có quy mô và tầm ảnh hưởng toàn cầu. Nội dung, tiêu chí cụ thể để định nghĩa, phân loại Doanh nghiệp xã hội lại có nhiều quan điểm khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển, đặc điểm kinh tế – xã hội của từng nước, và thậm chí là mục tiêu chính sách của từng chính phủ. Mặc dù vậy, qua các tài liệu nghiên cứu, có thể nói Doanh nghiệp xã hội đang hoạt động mạnh mẽ ở tất cả các khu vực trên thế giới từ Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc đến Mỹ La-tinh, Trung Đông, châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á.

Không ít quốc gia đã ban hành văn bản pháp lý riêng về Doanh nghiệp xã hội và tạo lập được các mạng lưới có tổ chức để tập hợp, chia sẻ và kết nối lên tới hàng nghìn Doanh nghiệp xã hội ở phạm vi trong nước cũng như quốc tế. [22]

1.2.2. Ở Việt Nam Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Có thể chia quá trình phát triển của các Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam thành ba giai đoạn chính như sau:

  • Trước Đổi mới (1986), Doanh nghiệp xã hội gắn với sở hữu tập thể, hoạt động dưới hình thức các Hợp tác xã phục vụ nhu cầu của nhóm cộng đồng yếu thế;
  • Từ 1986-2010, Doanh nghiệp xã hội gắn với các NGO và nguồn vốn tài trợ chủ yếu từ các tổ chức nước ngoài;
  • 2010 – nay, Doanh nghiệp xã hội hoạt động theo nguyên tắc thị trường; nguồn vốn chuyển dịch từ tài trợ bên ngoài sang nguồn thu từ các hoạt động kinh doanh.

1.2.2.1.Trước Đổi mới (1986) 

Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nhà nước là chủ thể duy nhất có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ xã hội được phân phối tới người dân. Sự hình thành và hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội như Hội Phụ nữ,

Đoàn Thanh niên… luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, gắn chặt với hệ thống quản lý nhà nước và là nơi duy nhất qua đó cá nhân có thể tham gia vào hoạt động cộng đồng. Trong thời kỳ này, các loại hình tổ chức xã hội độc lập với nhà nước như các tổ chức NGO không được phép hoạt động ở Việt Nam. Bên cạnh đó, chỉ có kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể được công nhận là hai thành phần kinh tế chủ đạo của đất nước. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Trong bối cảnh ấy, hợp tác xã (HTX) là hình thức tổ chức kinh tế-xã hội phù hợp duy nhất được thành lập để đáp ứng một số nhu cầu đặc biệt của xã viên theo tinh thần cộng đồng: hợp tác, chia sẻ và cùng hưởng lợi. Hợp tác xã được coi là một tổ chức thuộc sở hữu cộng đồng, đồng thời là một đơn vị kinh tế độc lập. Chính vì vậy, Hợp tác xã có thể được coi là mô hình doanh nghiệp xã hội sớm nhất ở Việt Nam. Về mặt chính sách, nhà nước cũng có nhiều chính sách khuyến khích sự phát triển của Hợp tác xã ngay từ những năm đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc.

Đến năm 1987, số lượng các Hợp tác xã trên cả nước lên tới gần 74,000 hoạt động trên nhiều lĩnh vực, góp phần đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cộng đồng.

Trong số các Hợp tác xã ra đời trong giai đoạn này, một số không nhỏ được thành lập để tạo việc làm, hỗ trợ cuộc sống cho những đối tượng yếu thế của xã hội, chủ yếu là người khuyết tật. Hầu hết các Hợp tác xã của người khuyết tật hoạt động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, như mây tre, đan thêu, may mặc… bởi đây được coi là những việc làm phù hợp với sức khỏe và điều kiện lao động của họ.

1.2.2.2 .Giai đoạn từ năm 1986-2010 

Các hoat động kinh doanh vì mục tiêu xã hội với đầy đủ các đặc điểm cơ bản của mô hình Doanh nghiệp xã hội chỉ bắt đầu phát triển kể từ khi chính sách Đổi Mới được thực hiện vào năm 1986. Đây là cột mốc đánh dấu sự thừa nhận các thành phần kinh tế mới là kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ. Nhờ đó, vai trò chủ động của cá nhân và cộng đồng trong việc cung cấp và trao đổi các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người dân đã được công nhận và phát triển.

Sau khi lệnh cấm vận của Hoa Kỳ được dỡ bỏ vào năm 1994, hàng trăm các tổ chức nhân đạo phát triển quốc tế đã vào Việt Nam, mang theo một nguồn viện trợ nhân đạo không hoàn lại và vốn ODA rất lớn. Chỉ tính riêng giai đoạn 2005-2010, tổng số vốn ODA cam kết cho Việt Nam là 31 tỷ đô la Mỹ. Đây là giai đoạn nhà nước có nhiều chính sách cởi mở, tạo lập khung khổ pháp lý cho sự phát triển các tổ chức kinh tế và xã hội ngoài nhà nước.

Nghị định số 71/1998/NĐ-CP về quy chế dân chủ ở cơ sở và các văn bản pháp qui ra đời năm 1998 lần đầu tiên chính thức khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội và công dân trong quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát thực hiện chính sách tại cộng đồng. Để thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng và phát triển cộng đồng, nhà nước đã có những bước đi tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các tổ chức khác nhau, đặc biệt thông qua việc tăng cường sức mạnh các tổ chức chính trị xã hội (mass organizations). Nghị định 35-HĐBT (1992) đã đưa ra một số giải pháp thúc đẩy việc cá nhân thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ. Nghị định 177/1999/NĐ-CP và sau đó là Nghị định 148/2007/NĐ-CP đã đưa ra các cơ sở cho việc thành lập các quỹ xã hội, quỹ từ thiện… Vai trò của các tổ chức cộng đồng được đặc biệt chú trọng trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản cho cộng đồng như quản lý tài nguyên nước, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc y tế ban đầu, giáo dục phổ cập, bảo vệ môi trường. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Nhà nước đặc biệt chú trọng và khuyến khích sự hợp tác giữa các tổ chức NGO trong nước, nước ngoài và chính quyền địa phương. Các chính sách trên đã giúp các tổ chức và doanh nghiệp phát triển cộng đồng có điều kiện để phát triển. Số liệu thống kê cho thấy có tới hơn 1,000 tổ chức NGO, 320 hiệp hội hoạt động cấp quốc gia và 2,150 hội hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện và tự chủ ở trung ương và địa phương. Hầu hết tất cả các tổ chức này nhận hỗ trợ tài chính từ các tổ chức NGO quốc tế và nhà tài trợ để duy trì hoạt động và cung cấp dịch vụ cho cộng đồng. Ngoài ra, ở Việt Nam còn có hàng nghìn tổ chức có tính cộng đồng như nhà văn hóa, câu lạc bộ và mảng phụ trách hoạt động kinh doanh thuộc các tổ chức chính trị – xã hội quần chúng (ví dụ: hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội người tàn tật, v.v.) và hàng nghìn đơn vị sự nghiệp đang thực hiện chức năng cung cấp phúc lợi xã hội của nhà nước (mang lại các dịch vụ công cộng như quản lý chất thải, nguồn nước, v.v.). Các tổ chức này đều có một số đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội và có khả năng chuyển thành Doanh nghiệp xã hội trong tương lai [22].

Cùng với quá trình mở cửa và đổi mới toàn diện, Nhà nước cũng thực hiện cải cách trong lĩnh vực dịch vụ công theo hướng xã hội hóa, kêu gọi sự đầu tư và tham gia của các thành phần kinh tế, các cá nhân và tập thể vào việc chia sẻ gánh nặng cung cấp các dịch vụ công, đặc biệt trong lĩnh vực giảm nghèo, giáo dục và chăm sóc y tế.

1.2.2.3. Từ 2010 – nay  Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Trong giai đoạn này, nguồn vốn trong nền kinh tế Việt Nam đã dồi dào và chủ động hơn trước, tình trạng nghèo đói đã được cải thiện đáng kể trong số đông dân cư. Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến việc thay đổi chính sách hỗ trợ nhân đạo và phát triển xã hội của các quốc gia và tổ chức quốc tế tại Việt Nam. Nếu chúng ta tiếp tục phụ thuộc vào các nguồn vốn viện trợ bên ngoài, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt vốn nghiêm trọng cho các hoạt động phát triển cộng đồng trong thời gian tới. Trong khi đó, việc huy động tài trợ và vốn từ cộng đồng ở Việt Nam còn khá hạn chế. Một nghiên cứu gần đây của Quĩ Châu Á (2011) về đóng góp từ thiện ở Việt Nam cho thấy tiềm lực đóng góp của người dân và doanh nghiệp khá lớn, tuy nhiên do thiếu những kênh từ thiện chính thức và thiếu những chính sách phù hợp, đa phần hoạt động từ thiện có tính tự phát, qui mô nhỏ và phạm vi hạn chế trong cộng đồng nhỏ. Thiếu nguồn vốn cho hoạt động là một áp lực lớn tới hàng ngàn tổ chức NGO Việt Nam và các dự án phát triển cộng đồng trong thời gian không xa. Trong bối cảnh đó, Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP) cùng các đối tác như Hội đồng Anh (British Council), Trung tâm Spark đã tích cực tuyên truyền, giới thiệu Doanh nghiệp xã hội như một hướng giải quyết mới. Các Doanh nghiệp xã hội hiện đang góp phần giải quyết các vấn đề của xã hội như bảo vệ môi trường, đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật, phụ nữ nghèo, HIV/AIDS, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, sức khỏe tâm lý, chăm sóc trẻ em bị bệnh tự kỷ… và bước đầu có được thành quả đáng ghi nhận.

  • Các Doanh nghiệp xã hội ở giai đoạn mới này xuất phát từ 3 nhóm chính sau đây:

Các tổ chức NGO: chuyển đổi chiến lược hoạt động của tổ chức, hoặc thành lập một Doanh nghiệp xã hội thành viên nhằm: Tìm kiếm thu nhập để làm tăng nguồn quỹ tài trợ; và sử dụng và quản lý nguồn lực trong lĩnh vực cung cấp phúc lợi xã hội hiệu quả hơn dựa trên cơ chế mang tính thị trường. mô hình tổ chức thay thế phù hợp với bối cảnh chuyển đổi hiện nay. Doanh nghiệp xã hội giải quyết được cả hai mục đích xã hội và kinh tế, trong đó mục tiêu xã hội là mục tiêu chủ đạo, đạt được mục tiêu kinh tế là phương tiện để đạt được mục tiêu xã hội ở qui mô lớn hơn một cách bền vững.

Nhóm các doanh nghiệp theo đuổi các giá trị kép (shared value): ở đó việc tạo ra các giá trị kinh tế được thực hiện theo cách mà nó cũng đồng thời tạo ra các giá trị cho xã hội, thông qua việc đáp ứng được nhu cầu và các thách thức xã hội.

Nhóm các Doanh nghiệp xã hội mới: Nhiều cá nhân đã khởi nghiệp bằng cách thành lập các Doanh nghiệp xã hội, có thể hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau (NGO hoặc công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần). [22]

1.3. Đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Như được đề cập ở trên, cách định nghĩa về Doanh nghiệp xã hội rất phong phú, tùy thuộc trình độ phát triển của mỗi nước và khu vực, cũng như đặc thù và ưu tiên của từng tổ chức. Tuy nhiên, có thể tổng hợp một số đặc điểm cơ bản của DNXH được thừa nhận rộng rãi như sau:

1.3.1. Phải có hoạt động kinh doanh

DNXH không thể không có các hoạt động kinh doanh. Chính hoạt động kinh doanh là nét đặc thù cũng như thế mạnh của Doanh nghiệp xã hội so với các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, các quỹ từ thiện chỉ đơn thuần nhận tài trợ và thực hiện các chương trình xã hội. Do đó, giải pháp kinh doanh là một nửa không thể thiếu của mô hình Doanh nghiệp xã hội. Hơn thế nữa, Doanh nghiệp xã hội phải cạnh tranh bình đẳng, công bằng với các doanh nghiệp thông thường trong cùng lĩnh vực, khác với các Quỹ từ thiện có thể kêu gọi lòng hảo tâm để nhà tài trợ đóng góp hoặc mua sản phẩm gây quỹ cho tổ chức.

DNXH phải cung cấp các sản phẩm, hàng hóa và cung ứng dịch vụ với chất lượng tốt và ở mức giá cạnh tranh so với thị trường. Việc cạnh tranh bình đẳng và công bằng, tuy là một thử thách lớn, nhưng lại đem lại cho Doanh nghiệp xã hội vị thế độc lập và tự chủ trong tổ chức và hoạt động của mình. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh có thể không bù đắp tất cả chi phí cho mục tiêu xã hội, nhưng ít nhất việc bù đắp một phần, thường là từ 50-70% nguồn vốn (phần còn lại các Doanh nghiệp xã hội vẫn có thể dựa vào nguồn tài trợ), sẽ giúp Doanh nghiệp xã hội độc lập hơn trong quan hệ với các nhà tài trợ để theo đuổi sứ mệnh xã hội của riêng mình và quan trọng hơn là tạo điều kiện để Doanh nghiệp xã hội mở rộng được quy mô các hoạt động xã hội của họ (như tăng số lượng học viên, phạm vi làng xã tham gia). Sự độc lập và tự chủ gắn chặt với tính bền vững của giải pháp kinh doanh cũng như Doanh nghiệp xã hội.

1.3.2. Đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

DNXH có mục tiêu xã hội hay các Doanh nghiệp xã hội hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. Các vấn đề xã hội, môi trường và cộng đồng có thể kể đến như bảo vệ môi trường, bảo vệ và đáp ứng các quyền cơ bản của con người thông qua các hoạt động tạo công ăn việc làm, cung cấp các sản phẩm cần thiết cho những nhóm người khó hòa nhập, dễ bị tổn thương như phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ nông thôn, người nghèo, trẻ em dân tộc, lang thang cơ nhỡ, bị bạo hành, người nhiễm HIV / AIDS,  cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, nước sạch, xử lý rác thải, ô nhiễm, v.v…

Ví dụ như tạo công ăn việc làm cho người nghèo, trẻ em lang thang cơ nhỡ, trẻ em đường phố, từng bị lạm dụng, bạo hành… xây dựng chuỗi nhà hàng, cung cấp các suất ăn miễn phí, giá rẻ cho người có thu nhập thấp, trẻ em lang thang…; Sử dụng một phần lợi nhuận xây dựng các chương trình đào tạo dạy nghề, tạo cơ hội việc làm cho những đối tượng trên. Một ví dụ khác là Doanh nghiệp xã hội sử dụng trên 51% lợi nhuận để tái chế rác thải, xử lý rác thải, cung cấp xe cấp cứu cho bệnh viện, v.v…

DNXH phải lấy mục tiêu xã hội làm sứ mệnh hoạt động tối thượng ngay từ khi thành lập, và điều này phải được tuyên bố một cách công khai, rõ ràng, minh bạch. Nói cách khác, mỗi Doanh nghiệp xã hội được lập ra vì mục tiêu xã hội cụ thể của mình. Điểm khác biệt với các doanh nghiệp thông thường là các doanh nghiệp thông thường đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Ngược lại, Doanh nghiệp xã hội sử dụng hình thức kinh doanh như một công cụ, phương thức đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu xã hội của mình. Tiêu chí này góp phần giúp chúng ta có cơ sở để phân biệt Doanh nghiệp xã hội với các doanh nghiệp thông thường khác. Đối với Doanh nghiệp xã hội thì yếu tố “sinh lợi” không phải là yếu tố quyết định đến sự ra đời của doanh nghiệp, mà chính từ các vấn đề đang tồn tại trong xã hội. Các vấn đề xã hội trở thành động lực để doanh nhân xã hội tìm kiếm và quyết định mô hình kinh doanh phù hợp, suy cho cùng thì doanh nhân xã hội sử dụng phương thức kinh doanh để giải quyết vấn đề xã hội mà họ đã phát hiện ra. Khi vấn đề xã hội được giải quyết thì mục đích của Doanh nghiệp xã hội đã đạt được, dù có thể chính Doanh nghiệp xã hội không thu về được lợi nhuận, thậm chí bị thua lỗ [15].

1.3.3. Tái phân phối lợi nhuận Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

Mô hình Doanh nghiệp xã hội đòi hỏi lợi nhuận phải được tái phân phối trở lại cho hoạt động của tổ chức hoặc cho cộng đồng là đối tượng hưởng lợi. Thực chất, hai đặc điểm ở trên về hoạt động kinh doanh và mục tiêu xã hội là những nét cơ bản nhất về Doanh nghiệp xã hội. Yêu cầu tái phân phối lợi nhuận chỉ là tiêu chí để giúp phân định rõ đặc điểm ‘vì lợi nhuận’ hay ‘vì xã hội’ mà thôi. Nguyên tắc cơ bản của Doanh nghiệp xã hội là không được phân phối lợi nhuận cho cá nhân.

DNXH khi hoạt động kinh doanh phát sinh lợi nhuận không phân phối như các doanh nghiệp thông thường. Lợi nhuận mà doanh nghiệp có được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được dùng để tái đầu tư vào doanh nghiệp với mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội mà Doanh nghiệp xã hội đang theo đuổi. Tiêu chí sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư phục vụ các mục tiêu xã hội là điểm phân biệt Doanh nghiệp xã hội với các doanh nghiệp thông thường, thể hiện rõ nét tiêu chí “vì xã hội”. [22]

1.3.4. Sở hữu mang tính xã hội

Một đặc điểm khác tuy không phổ biến nhưng được một số định nghĩa Doanh nghiệp xã hội đề cập là cấu trúc sở hữu và quản lý của Doanh nghiệp xã hội có sự tham gia của cộng đồng hoặc các bên liên quan, các bên hưởng lợi… Điều này cho phép Doanh nghiệp xã hội có tính tự chủ cao. Đây là trường hợp của các Hợp tác xã hoạt động theo mô hình Doanh nghiệp xã hội rất hiệu quả ở một số nước.

Trên thực tế, hầu hết các Doanh nghiệp xã hội đều có cấu trúc quản lý cởi mở và dân chủ. Yêu cầu gắn kết với cộng đồng, các bên hưởng lợi và một số lượng đối tác đông đảo, trong khi mục đích xã hội được đặt ở vị trí tối cao, khiến các Doanh nghiệp xã hội sẵn sàng chia sẻ ‘quyền lực’ của mình với tất cả các bên liên quan.

Đáng chú ý, ở nhiều Doanh nghiệp xã hội khái niệm đối nhân – đối vốn không được áp dụng như tại các công ty cổ phần hay Trách nhiệm hữu hạn truyền thống. Tại không ít Doanh nghiệp xã hội, Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng sáng lập viên đã áp dụng nguyên tắc ‘mỗi thành viên – một phiếu bầu / quyền biểu quyết như nhau’ trong mọi quyết định của tổ chức, mà không dựa vào tỷ lệ góp vốn của họ. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

1.3.5. Phục vụ nhu cầu của Nhóm đáy (BoP)

Một trong những sứ mệnh đặc thù của Doanh nghiệp xã hội là phục vụ nhu cầu của Nhóm đáy. Đây là đối tượng những người nghèo và yếu thế nhất trong xã hội. Và vì chiếm số đông nhất nhưng ở dưới đáy cùng của xã hội nên được gọi là ‘Nhóm đáy’ của Kim tự tháp (Bottom of Pyramid – BoP). Đáng chú ý, nhóm đối tượng bị lề hóa, bao gồm người dân ở vùng sâu vùng xa, người khuyết tật, người bị nhiễm HIV/AIDS, trẻ em đường phố, thất học, phạm nhân mãn hạn tù… tuy không hoàn toàn nằm trong Nhóm đáy nhưng có tỷ lệ và nguy cơ cao rơi vào Nhóm đáy, do đó cũng là một địa bàn trọng yếu của các Doanh nghiệp xã hội. [22]

Trong khi khu vực nhà nước không kham nổi gánh nặng phúc lợi xã hội của Nhóm đáy, khu vực doanh nghiệp tư nhân chưa có nhiều hoạt động, chương trình nhằm mang lại lợi ích cho các đối tượng này, thay vào đó họ thường lấy các nhóm có khả năng chi trả cao hơn làm khách hàng mục tiêu để thu được lợi nhuận tối đa thì Doanh nghiệp xã hội đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề môi trường, xã hội còn bỏ ngỏ. Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định

One thought on “Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464