Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Pháp luật về Doanh nghiệp xã hội tại một số quốc gia trên thế giới

3.1.1. Ưu đãi về chính sách thuế

Đối với các tổ chức công ích tại Ý, lợi nhuận để tái đầu tư được áp dụng mức thuế là 12,5%, thay vì mức thuế thông thường là 40%.

Tại Tây Ban Nha, các khoản trợ cấp, tài trợ được miễn thuế nếu các khoản thu này không từ hoạt động kinh tế. Thu nhập từ các hoạt động kinh tế khác có liên quan được miễn thuế nếu lợi nhuận từ hoạt động này không vượt quá 20% tổng thu nhập hàng năm của tổ chức. Khoản thu từ hoạt động kinh tế không liên quan được đánh thuế ưu đãi 10%. Các doanh nghiệp này được miễn thuế lợi nhuận đầu tư, VAT, v.v…

Tại Anh, các tổ chức từ thiện tham gia các hoạt động kinh tế thông qua doanh nghiệp thì lợi nhuận sẽ được miễn thuế nếu tổ chức từ thiện sử dụng lợi nhuận để tiếp tục theo đuổi mục đích ban đầu. Bên cạnh đó, tổ chức từ thiện được giảm 80% thuế bất động sản.

Tại Áo, các công ty Trách nhiệm hữu hạn phi lợi nhuận được miễn thuế từ  thu nhập tạo ra từ các hoạt động kinh tế nếu đáp ứng các điều kiện sau:

  • Các mục tiêu cơ bản của hoạt động đó là các mục đích công ích
  • Các hoạt động cần thiết để theo đuổi mục tiêu cơ bản của tổ chức (lợi ích công cộng)
  • Không làm méo mó thị trường cạnh tranh. Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

Tại Cộng hòa liên bang Đức, luật thuế doanh nghiệp cho phép các công ty, tổ chức được miễn thuế thu nhập nếu họ hoạt động vì cộng đồng, từ thiện, đảm bảo không độc quyền và trực tiếp tiến hành các hoạt động. [6]

Tại Mỹ, theo bà Dana Doan, tư vấn chiến lược của Trung tâm phát triển cộng đồng LIN, những nhà đầu tư đổ tiền vào doanh nghiệp xã hội sẽ không phải đóng thuế. Tại Thái Lan, Chính phủ cũng dành 3% từ tiền thuế thu từ thuốc lá và hoạt động vũ trường để đầu tư vào doanh nghiệp xã hội, v.v… [16]

Như vậy, về thuế, kinh nghiệm các nước cho thấy các doanh nghiệp xã hội được miễn hoặc giảm thuế kinh doanh, thuế bất động sản, v.v… Các quốc gia tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xã hội mức ưu đãi về thuế cao nhất, bởi mục đích cộng cộng thiệt thòi hơn các doanh nghiệp truyền thống về khách hàng, v.v… nên các quốc gia cho họ ưu đãi về thuế.

3.1.2. Hỗ trợ về thể chế

Hỗ trợ về thành lập và hoạt động Doanh nghiệp xã hội: Tây Ban Nha đã thành lập mạng lưới “Điểm truy cập và khởi sự doanh nghiệp”, trong đó hỗ trợ các thu tục hành chính và tư vấn thành lập doanh nghiệp cho các đối tượng yếu thế như phụ nữ, thanh niên, có kế hoạch thành lập doanh nghiệp. Ngoài ra, Chính phủ tuyển dụng 100 công chức chuyên hỗ trợ thành lập doanh nghiệp trên mạng Internet và tiến hành cải cách thủ tục “một cửa” nhằm hỗ trợ các Doanh nghiệp xã hội.

Duy trì và kiểm soát chất lượng hoạt động của Doanh nghiệp xã hội: Luật Doanh nghiệp xã hội của Ý yêu cầu Bộ Lao động và các vấn đề xã hội chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng cơ chế giám sát và xử lý chất lượng hoạt động của Doanh nghiệp xã hội. Luật của Tây Ban Nha cũng yêu cầu Chính phủ phải trình báo cáo về Doanh nghiệp xã hội cho Quốc hội 2 năm/ lần. [14]

3.1.3. Loại hình Doanh nghiệp xã hội – Anh: Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

Hình thức tổ chức và địa vị pháp lý của Doanh nghiệp xã hội ở Anh cũng rất đa dạng và phong phú, có thể chia thành 4 nhóm cơ bản dựa trên tính chất và mức độ liên kết giữa các nhà đầu tư như sau:

  • Nhóm doanh nghiệp xã hội không phải là công ty

Nhóm Doanh nghiệp xã hội không phải là công ty (unincoporated form) được coi là hình thức đơn giản nhất mà Doanh nghiệp xã hội có thể được thiết lập ở Anh. Theo đó Doanh nghiệp xã hội có thể do một thương nhân đơn lẻ (sole trader) hoặc hội hợp danh của các thương nhân đơn lẻ (partnership) thành lập. nên. Trường hợp này Doanh nghiệp xã hội không được coi là công ty, không có sự tồn tại độc lập về mặt pháp lý với thương nhân hoặc các thương nhân thành lập nó; bởi vậy không phải đăng ký kinh doanh. Mặc dù hoạt động kinh doanh hướng tới mục tiêu xã hội nhưng lợi nhuận của Doanh nghiệp xã hội do các thương nhân đơn lẻ làm chủ sẽ bị đánh thuế thu nhập cá nhân, có xem xét giảm trừ. Thông thường các Doanh nghiệp xã hội này được xem xét như là hình thức người chủ Doanh nghiệp xã hội trực tiếp lao động (shelf-employed) và được yêu cầu tự đánh giá, để tính toán thuế thu nhập và các khoản đóng góp cho bảo hiểm nhà nước đối với bất kỳ lợi nhuận nào thu được từ công việc kinh doanh.

Nhóm doanh nghiệp xã hội được thành lập dưới hình thức công ty Nhóm doanh nghiệp xã hội được thành lập dưới hình thức công ty (incorporated forms) là nhóm phổ biến nhất ở Anh hiện này. Bản thân nhóm này cũng thể hiện dưới rất nhiều hình thức pháp lý và tên gọi khác nhau. (i) Nhóm công ty hữu hạn Nhóm công ty hữu hạn (limited company) là nhóm phổ biến nhất của Doanh nghiệp xã hội, được tổ chức dưới hình thức công ty CP hoặc công ty Trách nhiệm hữu hạn. Dưới sự điều chỉnh của Luật Công ty 2006 (Company Act 2006), các công ty hữu hạn bị ràng buộc bởi các quy định ngặt nghèo hơn đối với nhóm Doanh nghiệp xã hội không phải là công ty như yêu cầu cao hơn về trách nhiệm giải trình và sự minh bạch đối với các cổ đông và với xã hội.  Để thành lập một công ty hữu hạn nói chung, doanh nhân phải thực hiện đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh (Companies House) thuộc Bộ Kinh doanh, Đổi mới và Kỹ năng thuộc chính phủ hoàng gia Anh, và đăng ký với Cục thuế và Hải quan hoàng gia (HMRC) để nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Để thành lập Doanh nghiệp xã hội dưới hình thức công ty hữu hạn các thành viên sáng lập của công ty phải thiết lập các điều khoản chỉ rõ mục tiêu hoạt động vì xã hội của công ty trong tài liệu đăng ký kinh doanh. Pháp luật của Anh cũng rất linh hoạt khi cho phép các công ty chuyển đổi hình thức pháp lý, mục tiêu hoạt động, miễn là các thành viên của công ty đồng ý và sự chuyển đổi đó phải được ghi nhận trong điều lệ. Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

Công ty vì lợi ích cộng đồng Công ty vì lợi ích cộng đồng (Community Interest Company – CIC): là một loại hình công ty được thiết kế đặc biệt cho Doanh nghiệp xã hội và được Chính phủ Anh giới thiệu ra công chúng năm 2005 bằng Bộ quy định về Công ty vì lợi ích cộng đồng 2005 (The Community Interest Company Regulations 2005 – CIC Regs). Tuy nhiên các Doanh nghiệp xã hội không bắt buộc phải lựa chọn mô hình pháp lý của CIC để tạo dựng doanh nghiệp của mình. Theo CIC Regs 2005, các CIC là các doanh nghiệp cộng đồng (community enterprise) phải được tổ chức dưới hình thức công ty hữu hạn, có thể là công ty Trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty CP quy định trong Luật Công ty 1985, và cam kết dành lợi nhuận và tài sản của mình để phục vụ lợi ích cộng đồng trong điều lệ hoạt động bằng văn bản (Điều 32 Luật Công ty 2004). Để theo đuổi mục tiêu này, CIC phải có một khoản tài sản đảm bảo được gọi là “tài sản khóa” (lock assets) để hạn chế chuyển tài sản ra ngoài công ty, và đặc biệt là để đảm bảo rằng số tài sản này tiếp tục được dùng cho lợi ích cộng đồng. CIC Regs 2005 cũng ấn định mức trần tối đa của các khoản thanh toán cổ tức và và lợi nhuận mà công ty có thể phân bổ. Các CIC cũng bị cấm thành lập vì mục đích chính trị (Điều 3) hoặc thành lập để phục vụ quá mức đối với một nhóm nhất định (Điều 4 và 5), đặc biệt các CIC không phải là một tổ chức từ thiện, không được thực hiện các hành vi bất hợp pháp (Điều 5 và 6). Có thể thấy rằng cấu trúc, hoạt động của CIC quy định trong đã chuyển những thông điệp rõ ràng đến các nhà đầu tư rằng doanh nghiệp phải vận hành vì lợi ích cộng đồng và mục tiêu xã hội và được bảo vệ bởi các quy định tương ứng. Để bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền tự do kinh doanh, pháp luật của Anh cũng cho phép một CIC có thể chuyển đổi hình thức hoạt động thành một tổ chức từ thiện hoặc trở thành một hợp tác xã (HTX) vì lợi ích cộng đồng hặc tự nguyện giải thể; tuy nhiên các CIC có thể không được chuyển đổi thành các công ty hữu hạn thông thường.

Công ty hợp danh hữu hạn Công ty hợp danh hữu hạn (limited liability partnerships – LLP) hoạt động theo Luật Công ty hợp danh hữu hạn năm 2000 (Limited Liability Partnerships Act 2000). Đây là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân tương tự như các công ty hữu hạn trong Luật Công ty 2006. Không giống hình thức hợp danh cơ bản (standard partnership) do các doanh nhân đơn lẻ thành lập, các thành viên của LLP được hưởng trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của công ty nhưng công ty phải minh bạch đối với mục đích thuế. Thành viên góp vốn (non-coperate partner) phải đăng ký tự đánh giá tài sản và trả thuế thu nhập cá nhân trên phần lợi nhuận được chia như các thương nhân đơn lẻ, trong khi đó phần lợi nhuận chia cho những thành viên hợp danh (corporate partner) sẽ phải chịu thuế doanh thu. Mặc dù không được thiết kế một cách đặc biệt cho Doanh nghiệp xã hội như các CIC, mô hình LLP cho nhà đầu tư nhiều tự do hơn mô hình công ty hữu hạn trong việc lựa chọn đối tác, thiết lập các thương vụ kinh doanh theo mong muốn, quyết định cách thức vận hành doanh nghiệp và cách thức phân phối lợi nhuận. Để thành lập một LLP, chỉ cần các đối tác cùng quyết định bằng văn bản rằng phần lớn lợi nhuận của công ty được cống hiến cho mục tiêu xã hội. Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

  • Các hợp tác xã và các hiệp hội vì lợi ích cộng đồng

Theo pháp luật hiện hành, kể từ 01/8/2014, ở Anh có hai hình thức pháp lý của Doanh nghiệp xã hội trong lĩnh vực làng nghề và hội ái hữu là các Hợp tác xã (Co-operative Societies) và các hội vì lợi ích cộng đồng (Community Benefit Societies hoặc Ben Comms). Tiền thân của các Doanh nghiệp xã hội loại này chính là các làng nghề và hội ái hữu (Industrial and Provident Societies-IPS) trước đây. Các Hợp tác xã và các hiệp hội này hoạt động trên nguyên tắc dân chủ và sở hữu tập thể và có thể chuyển đổi thành hình thức công ty hữu hạn và ngược lại, nhưng phải tuân thủ các quy định của các luật có liên quan.

Các tổ chức từ thiện có hoạt động kinh doanh không vì lợi nhuận Các tổ chức từ thiện có hoạt động kinh doanh không vì lợi nhuận (Group structure with charity status) là một trong những hình thức pháp lý khá phổ biến của Doanh nghiệp xã hội ở Anh. Theo xu thế phát triển của xã hội, rất nhiều tổ chức từ thiện nhận thức được tính thụ động, kém bền vững của phương thức gây quỹ truyền thống qua các khoản hiến tặng, tài trợ. Do đó họ đang nỗ lực tách khỏi sự phụ thuộc này, chuyển sang tự kinh doanh để tồn tại bền vững. Để giải quyết vấn đề chuyển đổi của các tổ chức từ thiện sang Doanh nghiệp xã hội, Luật Từ thiện 2006 (Charity Act 2006) quy định rằng các tổ chức từ thiệt có 60 đăng ký (registed charities) được quyền chuyển đổi toàn bộ, hay một phần tổ chức thành Doanh nghiệp xã hội hoặc thành lập Doanh nghiệp xã hội dưới hình thức công ty hữu hạn, bao gồm cả CIC, các HTX hoặc hội ái hữu (Chương 8). Trong Luật Công ty 2006, Bộ quy định về Công ty vì lợi ích cộng đồng 2005 và Luật các Hợp tác xã và Hội vì lợi ích cộng đồng 2014 đều có những quy định về chuyển đổi mục tiêu và hình thức hoạt động của doanh nghiệp. [19] Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

  • Như vậy, có thể tóm tắt lại bốn loại hình Doanh nghiệp xã hội đang tồn tại ở nước Anh bao gồm:

Nhóm Doanh nghiệp xã hội không phải là công ty: Doanh nghiệp xã hội không được coi là công ty, không có sự tồn tại độc lập về mặt pháp lý với thương nhân hoặc các thương nhân thành lập nó; bởi vậy không phải đăng ký kinh doanh.

Các Hội ái hữu và Làng nghề (Industrial and Provident Society – IPS): chủ yếu bao gồm các Hợp tác xã và các dạng hợp tác vì lợi ích cộng đồng khác hoạt động trên nguyên tắc dân chủ và sở hữu tập thể.

Công ty CP hoặc công ty Trách nhiệm hữu hạn (Company Limited by Shares or Guarantee): Đây là hình thức công ty phổ biến và nhiều Doanh nghiệp xã hội cũng chọn loại hình này bởi tính linh hoạt của nó. Tuy nhiên, để xác định đây là Doanh nghiệp xã hội, công ty phải thể hiện rõ mục tiêu vì lợi ích cộng đồng trong Điều lệ và phải cam kết tái đầu tư lợi nhuận cho các mục tiêu xã hội.

Các tổ chức từ thiện, trong đó có hoạt động kinh doanh không vì lợi nhuận (Group structure with charity status): đây là hình thức Doanh nghiệp xã hội phổ biến nhất ở Anh vì ngày càng nhiều tổ chức từ thiện chuyển đổi mô hình gây quỹ truyền thống nhằm đảm bảo tính bền vững. Ngoài ra, chính sách ưu đãi miễn giảm thuế đối với các tổ chức từ thiện phi lợi nhuận cũng đóng vai trò quan trọng để các Doanh nghiệp xã hội lựa chọn loại hình này.

  • Hoa Kỳ:

Về các loại hình hoạt động, Doanh nghiệp xã hội ở Mỹ cũng hoạt động dưới nhiều hình thức đa dạng như:

  • Tổ chức phi lợi nhuận (hoạt động theo qui định tại khoản 501(c)(3) của Luật thu nhập;
  • Doanh nghiệp tư nhân (Sole proprietorship)
  • Công ty cổ phần (Corporation)
  • Công ty hợp doanh (Partnership)
  • Công ty Trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability Company)
  • Công ty Trách nhiệm hữu hạn lợi nhuận thấp (Low-Profit Limited Liability Companies – L3C). [22]

3.1.4. Chiến lược phát triển Doanh nghiệp xã hội – Vương quốc Anh: Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

Năm 2002, chính phủ Anh lần đầu tiên đưa ra Chiến lược phát triển Doanh nghiệp xã hội và thành lập bộ phận Doanh nghiệp xã hội (SEnU) trực thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp (DTI) để điều phối các hoạt động ở Anh và xứ Wales. Năm 2006, bộ phận này trở thành một phần của Văn phòng Khu vực thứ Ba (Office of the Third Sector), thuộc Văn phòng Nội các

(Cabinet office). Năm 2010, Văn phòng Khu vực thứ Ba trở thành Văn phòng Xã hội Dân sự (Office for Civil Society) thuộc Văn phòng Nội các, chịu trách nhiệm cho các tổ chức tình nguyện, từ thiện và Doanh nghiệp xã hội.

Cụ thể, Năm 2002, chính phủ Anh lần đầu đưa ra Chiến lược phát triển Doanh nghiệp xã hội (Social enterprise: a strategy for success). Chiến lược phát triển Doanh nghiệp xã hội đặt ra 3 mục tiêu chính với các chính sách thực hiện như sau:

Xây dựng một môi trường thuận lợi thông qua việc: củng cố vai trò và sự tham gia chính thức của chính phủ; đảm bảo rằng các qui định luật pháp không làm cản trở sự phát triển Doanh nghiệp xã hội; thúc đẩy sự tham gia của Doanh nghiệp xã hội trong quá trình mua sắm dịch vụ công. Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

Làm cho Doanh nghiệp xã hội trở thành những doanh nghiệp tốt hơn. Chính phủ cam kết làm việc với các tổ chức nâng cao năng lực (tư nhân hay nhà nước) để hỗ trợ năng cao năng lực kinh doanh cho Doanh nghiệp xã hội. Ngoài ra, Chính phủ cũng có những giải pháp cụ thể để đảm bảo nguồn vốn tài chính cho Doanh nghiệp xã hội. Chuyển đổi từ việc Doanh nghiệp xã hội phụ thuộc vào vốn tài trợ sang tự chủ tài chính từ hoạt động kinh doanh.

Tạo ra các giá trị cho Doanh nghiệp xã hội thông qua: nghiên cứu xác định qui mô và ảnh hưởng của Doanh nghiệp xã hội; thừa nhận chính thức và truyền thông rộng rãi những đóng góp của Doanh nghiệp xã hội; xây dựng hệ thống đánh giá để tạo dựng uy tín và niềm tin về những giá trị xã hội và kinh tế mà Doanh nghiệp xã hội mang lại.

Năm 2005, Chính phủ Anh đưa ra một hình thức công ty mới: Công ty vì lợi ích cộng đồng (Community Interest Company – CIC). CIC là loại hình công ty dành cho các Doanh nghiệp xã hội mong muốn sử dụng tài sản và lợi nhuận của mình cho các mục tiêu xã hội. CIC dễ thành lập, với những đặc tính linh hoạt tương tự như các loại hình công ty khác, tuy nhiên nó cũng mang những đặc điểm riêng để đảm bảo CIC phục vụ cho lợi ích cộng đồng. [22]

Năm 2006, Chính phủ Anh đưa ra Kế hoạch hành động về Doanh nghiệp xã hội, trong đó có sự tham gia liên ngành của 12 bộ, ngành khác nhau như: Bộ Kinh doanh, Doanh nghiệp và Cải cách thể chế; Bộ Y tế; Bộ Trẻ em, trường học và gia đình, cũng như Văn phòng Khu vực thứ Ba để thúc đẩy và hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội. Chính sách hỗ trợ của chính phủ Anh bao gồm:

Nuôi dưỡng văn hóa Doanh nghiệp xã hội thông qua các chương trình đào tạo DNXH, thúc đẩy truyền thông, nghiên cứu và đánh giá tác động xã hội (SROI);

Tăng cường tư vấn và thông tin cho việc thành lập và phát triển Doanh nghiệp xã hội: chính phủ dành nguồn lực cho các hoạt động như hỗ trợ phát triển kinh doanh (6 triệu bảng), xây dựng năng lực tư vấn và hỗ trợ chuyên sâu (6 triệu bảng) và hỗ trợ hiện đại hóa Doanh nghiệp xã hội trong thời kỳ khủng hoảng (8 triệu bảng);

Cải thiện tiếp cận nguồn vốn tài chính và đa dạng hóa các hình thức đầu tư. Ước tính khoảng 315 triệu bảng Anh đã được dành cho Doanh nghiệp xã hội thông qua: 215 triệu bảng Anh để Doanh nghiệp xã hội nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ công; 10 triệu bảng để xây dựng Qũy đầu tư mạo hiểm; Chương trình Đầu tư xã hội (impact investment): cung cấp vốn và tăng khả năng thanh toán cho các tổ chức trung gian hiện đang đầu tư và các Doanh nghiệp xã hội; Khuyến khích đầu tư vào Doanh nghiệp xã hội; Tập huấn về quản lý tài chính.

Tạo điều kiện hợp tác giữa Doanh nghiệp xã hội với Chính phủ: thực hiện một nghiên cứu để xác định những lĩnh vực mà Doanh nghiệp xã hội có thể đóng góp như y tế, phát triển cộng đồng, phát triển kinh doanh ở những vùng khó khăn và tái hòa nhập người mãn hạn tù. Trên cơ sở đó, Chính phủ xây dựng các chương trình hợp tác chiến lược với Doanh nghiệp xã hội. [14]

3.1.5. Cơ quan điều phối Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

Một số nước EU nỗ lực hỗ trợ phát triển Doanh nghiệp xã hội thông qua việc thành lập cơ quan điều phối. Các nước quan tâm đến việc phát triển Doanh nghiệp xã hội đã thiết lập một mạng lưới và cơ quan điều phối có vai trò:

  • Hợp tác với chính phủ trong việc xây dựng chính sách phát triển
  • Đề ra các biện pháp hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội phát triển
  • Ý: Chính phủ thành lập một cơ quan có quyền đề xuất các văn bản chính sách và giám sát dữ liệu về phát triển Doanh nghiệp xã hội.
  • Tây Ban Nha thành lập Hội đồng phát triển kinh tế xã hội nhằm phát triển Doanh nghiệp xã hội. Cơ quan này có trách nhiệm điều phối các cơ quan chính phủ xây dựng các văn bản, thể chế hóa các văn bản liên quan đến phát triển kinh tế xã hội và kinh phí hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội.
  • Vương quốc Anh: Văn phòng khu vực thứ ba được đổi tên thành văn phòng xã hội dân sự, chịu trách nhiệm hỗ trợ phát triển Doanh nghiệp xã hội. [14]

3.2. Một số hạn chế của pháp luật Việt Nam về Doanh nghiệp xã hội Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

3.2.1. Về các tiêu chí của Doanh nghiệp xã hội

Theo điều 10, Luật Doanh nghiệp 2014, có hai tiêu chí để xác định thế nào là Doanh nghiệp xã hội. Thứ nhất, Doanh nghiệp xã hội phải có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. Thứ hai, Doanh nghiệp xã hội phải sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký [6].

Tuy nhiên, hai tiêu chí này chưa có văn bản luật nào quy định một cách rõ ràng. Thứ nhất, Doanh nghiệp xã hội có “mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết những vấn đề xã hội, môi trường”, những mục tiêu này còn chung chung, chưa có quy định cụ thể, chi tiết. Liệu những mục tiêu này có thể bao gồm những mục tiêu nhỏ hơn không, có thể phân loại thành các nhóm nhỏ hơn không? Việc quy định chung chung như vậy sẽ gây khó khăn trong quá trình xác định doanh nghiệp nào là doanh nghiệp xã hội. Vì lý do này, có thể các oanh nghiệp, tổ chức sẽ không muốn chuyển đổi sang doanh nghiệp xã hội. Do chưa có tiêu chí cụ thể xác định thế nào là Doanh nghiệp xã hội, nên có tình trạng, một số doanh nghiệp tự tuyên bố đi theo con đường này thực chất chỉ để thông qua đó, cắt giảm các chi phí truyền thông, marketing, quảng cáo và bán hàng, trong khi hoạt động không khác gì doanh nghiệp thông thường.

Thứ hai, về việc sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hang năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, môi trường đã đăng ký. Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định cụ thể, rõ ràng về việc làm thế nào để xác định. 51% tổng lợi nhuận này là do doanh nghiệp tự báo cáo hay có sự kiểm tra, giám sát của cơ quan, tổ chức nào? Cơ chế giám sát các nguồn tài chính ra vào doanh nghiệp, thủ tục thanh toán các hợp đồng, thanh toán không dung tiền mặt, v.v… chưa được quy định rõ dẫn đến sự thiếu rõ ràng, minh bạch trong việc xác định lượng vốn tái đầu tư của doanh nghiệp

3.2.2. Về loại hình Doanh nghiệp xã hội Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

Về các loại hình của Doanh nghiệp xã hội, pháp luật Việt Nam chỉ quy định có bốn loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp tư nhân, công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty cổ phần. Việc quy định này chưa phù hợp với đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội cũng như chưa tạo ra những điều kiện thuận lợi cho Doanh nghiệp xã hội hoạt động. Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới cho thấy pháp luật cho phép Doanh nghiệp xã hội được thành lập dưới các loại hình khác với các doanh nghiệp truyền thống như hợp tác xã hay hội làng nghề, hội ái hữu, v.v…

Theo Luật doanh nghiệp 2014, Doanh nghiệp xã hội không được thành lập theo hình thức hợp tác xã. Quy định này đã bỏ qua các đặc tính ưu việt rất phù hợp với các mục tiêu xã hội của các hợp tác xã đó là tính chất sở hữu tập thể, tinh thần cộng đồng. Ở nước ta, các hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, có tính chất tương tự như hội làng nghề, hội ái hữu ở Anh, chưa được pháp luật nhìn nhận như những mô hình pháp lý của Doanh nghiệp xã hội.

Đối với Doanh nghiệp xã hội thì phải cần yếu tố về hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nên cách thiết kế bốn loại hình doanh nghiệp như vậy sẽ rất khó khăn trọng việc đảm bảo tính chất căn bản của Doanh nghiệp xã hội. Việc quy định như tại Luật Doanh nghiệp tuy tạo điều kiện thuận lợi cho việc thống nhất quản lý nhà nước về doanh nghiệp, nhưng lại gây ra một sự khó khăn lớn trong cộng đồng  Doanh nghiệp xã hội bởi lẽ có một số lượng các Doanh nghiệp xã hội thực tế đang tồn tại dưới các hình thức linh hoạt có tính tương tác cao như các Hợp tác xã, các tổ chức phi chính phủ, trung tâm, hiệp hội, câu lạc bộ, quỹ, v.v sẽ phải giải quyết rất nhiều vấn đề về vốn, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động để chuyển đổi sang Doanh nghiệp xã hội.

3.2.3. Hệ thống văn bản pháp luật dành cho Doanh nghiệp xã hội

Hiện nay, mới chỉ có Luật doanh nghiệp 2014 và nghị định 96/2015 có quy định trực tiếp về Doanh nghiệp xã hội. Các văn bản bao gồm tiêu chí để xác định thế nào là Doanh nghiệp xã hội, quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp xã hội, cam kết thực hiện mục tiêu xã hội của Doanh nghiệp xã hội, chuyển đổi Doanh nghiệp xã hội, hệ thống pháp luật quy định về Doanh nghiệp xã hội còn khá đơn giản và chưa có hướng dẫn chi tiết về Doanh nghiệp xã hội. Vấn đề về quản trị Doanh nghiệp xã hội, thủ tục hành chính, ưu đãi dành cho Doanh nghiệp xã hội vẫn còn thiếu. Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

Cụ thể, còn nhiều quy định về doanh nghiệp xã hội chưa được đề cập đến hoặc đề cập một cách chung chung như tiêu chí của Doanh nghiệp xã hội (mục tiêu giải quyết các vấn đề môi trường, xã hội, sử dụng 51% tổng doanh thu, cơ chế kiểm tra giám sát, phối hợp, phát hiện của cộng đồng, hiệu quả đầu tư của Doanh nghiệp xã hội, thủ tục thành lập doanh nghiệp, vốn của doanh nghiệp, tài trợ cho doanh nghiệp, thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp thông thường sang Doanh nghiệp xã hội và ngược lại, quản trị doanh nghiệp, các loại thuế và cách thức nộp thuế.

3.2.4. Về các chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội

Về thuế, theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành chỉ có quy  định: Miễn thuế đối với phần thu nhập không chia của cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, y tế và lĩnh vực xã hội hóa khác để lại để đầu tư phát triển cơ sở đó theo quy định của luật chuyên ngành về lĩnh vực giáo dục – đào tạo, y tế và lĩnh vực xã hội hóa khác. Hiện hành mới có Luật Giáo dục đại học quy định cụ thể về phần thu nhập không chia của cơ sở giáo dục đại học tư thục. Vậy việc xác định phần thu nhập không chia dùng để tái đầu tư của các cơ sở xã hội hóa trong khi các luật chuyên ngành chưa có quy định cụ thể. Các quy định về thuế chưa được hướng dẫn cụ thể và cũng chưa có nhiều ưu đãi dành cho mô hình doanh nghiệp này.

Về các cơ quan hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội, theo kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, các chính phủ thành lập cơ quan điều phối, cơ quan phụ trách, hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội về thủ tục hành chính, đề xuất với Chính phủ những các quy định, mô hình, chính sách, ưu đãi dành cho Doanh nghiệp xã hội. Hiện nay, Việt Nam chưa có những cơ quan, tổ chức nhằm hỗ trợ cho Doanh nghiệp xã hội.

3.2.5. Cơ chế mở cho Doanh nghiệp xã hội Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

Trong giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội mạnh mẽ và các nhu cầu của xã hội, đặc biệt là nhu cầu của những người yếu thế ngày càng tăng cao, nhu cầu đầu tư vào những lĩnh vực mà Nhà nước hoặc các doanh nghiệp thông thường không muốn khai thác hoặc khai thác chưa hiệu quả, nhu cầu thành lập, mở rộng, phát triển Doanh nghiệp xã hội ngày càng tăng. Do đó, xu hướng mở của các Doanh nghiệp xã hội hiện nay là vô cùng cần thiết. Theo đó, Doanh nghiệp xã hội được thiết kế theo mô hình mở, sẵn sàng tiếp nhận người tham gia, tiếp nhận nguồn vốn, viện trợ, tài trợ. Hơn nữa, các quy định về nội dung về thủ tục hành chính về các vấn đề như thành lập Doanh nghiệp xã hội, đăng ký Doanh nghiệp xã hội, mở rộng, thay đổi lĩnh vực kinh doanh, thay đổi quy mô hoạt động, địa bàn hoạt động, chuyển đổi giữa doanh nghiệp truyền thống và Doanh nghiệp xã hội… cần đơn giản hóa, rút gọn.

Tuy nhiên, trong pháp luật Việt Nam hiện hành, các quy định về thành lập, đăng ký Doanh nghiệp xã hội, chuyển đổi giữa doanh nghiệp truyền thống và Doanh nghiệp xã hội đã có nhưng còn rất sơ lược hoặc còn cồng kềnh, nặng nề, chưa mang đến thuận lợi, dễ dàng cho Doanh nghiệp xã hội. Điều này có thể là những thuận lợi cho các cơ quan chức năng, những người có thẩm quyền trong việc quản lý, điều hành Doanh nghiệp xã hội nhưng lại tạo những khó khăn cho Doanh nghiệp xã hội. Điều này có thể là lý do cản trở sự hình thành, mở rộng và phát triển Doanh nghiệp xã hội trong tương lai, các tổ chức, doanh nghiệp sẽ rất ngại đầu tư vào các lĩnh vực mà Nhà nước và tư nhân chưa khai thác dưới hình thức Doanh nghiệp xã hội. Vì vậy, những người yếu thế cũng như nền kinh tế – xã hội nói chung cũng sẽ bị ảnh hưởng theo.

3.3. Đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về Doanh nghiệp xã hội Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

3.3.1. Xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về Doanh nghiệp xã hội

  • Về hệ thống các văn bản pháp luật

Hiện nay, mới chỉ có điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014 và một số điều của nghị định 96 / 2015 quy định về tiêu chí, nghĩa vụ, quyền… của Doanh nghiệp xã hội. Có thể nhận thấy trong tương lai cần bổ sung thêm các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết về Doanh nghiệp xã hội. Cụ thể là các quy định cụ thể hơn về tiêu chí xác định thế nào là Doanh nghiệp xã hội, quản trị doanh nghiệp, vốn, thủ tục thành lập doanh nghiệp, tên gọi doanh nghiệp, chế độ trách nhiệm, thủ tục phá sản, chế độ ưu đãi, chính sách của Nhà nước, thủ tục, điều kiện chuyển đổi từ doanh nghiệp thông thường, các tổ chức sang Doanh nghiệp xã hội và ngược lại khi không còn mục tiêu hoạt động vì cộng đồng, nhận tài trợ, cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động, hiệu quả, doanh thu của Doanh nghiệp xã hội.

Về lâu dài, cần có đạo luật riêng quy định về Doanh nghiệp xã hội tạo sự thống nhất, liên kết, tạo thuận lợi cũng như khuyến khích thành lập và phát triển Doanh nghiệp xã hội.

Hơn nữa, cũng cần có những quy định tạo mối liên hệ thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật để thực sự tạo hành lang pháp lý đầy đủ và thuận lợi cho các Doanh nghiệp xã hội. Cụ thể đó là mối liên hệ giữa luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật đầu tư công, luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, luật các tổ chức tín dụng, v.v Doanh nghiệp xã hội không phải là một loại hình doanh nghiệp mới nhưng lại góp phần giúp nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường mà nếu tiếp tục để Nhà nước thực hiện chưa chắc đã hiệu quả do đó trước hết những chính sách đầu tư, những quy định về tổ chức và hoạt động của Doanh nghiệp xã hội không nên chỉ bó hẹp trong luật doanh nghiệp mà còn phải chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật có liên quan khác nhưng chưa được đề cập đầy đủ khi quy định về Doanh nghiệp xã hội trong luật doanh nghiệp. Doanh nghiệp xã hội hoàn toàn không phải là một “lợi thế” mà bên cạnh việc thực hiện các mục tiêu xã hội, các Doanh nghiệp xã hội thực hiện hoạt động kinh doanh phải dựa trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng và công bằng như các loại hình doanh nghiệp khác.

  • Về tiêu chí xác định Doanh nghiệp xã hội Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

Thứ nhất, về mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, các văn bản pháp luật cần được quy định cụ thể hơn, đi sâu vào nội hàm của mục tiêu xã hội, đó là các Doanh nghiệp xã hội hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. Các vấn đề xã hội, môi trường và cộng đồng có thể kể đến như bảo vệ môi trường, bảo vệ và đáp ứng các quyền cơ bản của con người thông qua các hoạt động tạo công ăn việc làm, cung cấp các sản phẩm cần thiết cho những nhóm người khó hòa nhập, dễ bị tổn thương, cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, nước sạch, xử lý rác thải, ô nhiễm, v.v…

Thứ hai, về việc sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hang năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký. Pháp luật cần có quy định cụ thể, rõ ràng về việc báo cáo về nguồn gốc 51% tổng lợi nhuận này, tăng cường kiểm tra, giám sát của cơ quan, tổ chức về mức 51% này. Cơ chế giám sát các nguồn tài chính ra vào doanh nghiệp, thủ tục thanh toán các hợp đồng, thanh toán không dung tiền mặt… cũng cần được xem xét kĩ lưỡng.

  • Về hình thức pháp lý của Doanh nghiệp xã hội

Hiện nay luật Việt Nam mới chỉ quy định bốn hình thức pháp lý của Doanh nghiệp xã hội: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Quy định như vậy chưa thực sự thúc đẩy quyền tự do kinh doanh và tự do lựa chọn mô hình kinh doanh các doanh nhân xã hội đang hoạt động dưới nhiều quy mô và lĩnh vực kinh doanh khác nhau, hạn chế khả năng tiếp cận nhu cầu của các cộng đồng thiệt thòi, đối tượng hướng tới của Doanh nghiệp xã hội.

Vì vậy, pháp luật nên bổ sung các hình thức pháp lý, mô hình Doanh nghiệp xã hội khác nhau. Ví dụ như cá nhân, hộ kinh doanh cần được khuyến khích kinh doanh với những mô hình tổ chức không nhất thiết thuộc các hình thức pháp lý như trong Luật Doanh nghiệp 2014. Ví dụ như hợp tác xã, tổ chức từ thiện, v.v… Các tổ chức khác như trung tâm, hội, quỹ vì cộng đồng muốn chuyển sang mô hình Doanh nghiệp xã hội cần có quy định về điều kiện chuyển đổi, thủ tục chuyển đổi nhanh gọn, tạo điều kiện cho Doanh nghiệp xã hội phát triển, khuyến khích cá nhân, tổ chức thành lập, chuyển đổi sang Doanh nghiệp xã hội.

3.3.2. Về cơ quan điều phối, hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

Chính phủ cần thành lập một số cơ quan điều phối, hỗ trợ. Cụ thể, các cơ quan này cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

Hợp tác với chính phủ trong việc xây dựng chính sách phát triển; điều phối các cơ quan chính phủ xây dựng các văn bản, thể chế hóa các văn bản liên quan đến phát triển kinh tế xã hội và kinh phí hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội.

Đề ra các biện pháp hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội phát triển: Hỗ trợ về thực hiện các thủ tục thành lập, chuyển đổi Doanh nghiệp xã hội, sáp nhập, tách Doanh nghiệp xã hội, nguồn nhân lực, kinh phí, quản trị nội bộ Doanh nghiệp xã hội.hỗ trợ thông tin về thuế, các chiến dịch quảng bá.

3.3.3. Về chính sách ưu đãi đối với Doanh nghiệp xã hội

Vì mục tiêu mà Doanh nghiệp xã hội theo đuổi trong suốt quá trình hoạt động là mục tiêu xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường mà Nhà nước hay các Doanh nghiệp thông thường chưa làm được. Chính vì vậy, để tạo điều kiện để Doanh nghiệp xã hội phát triển cũng như khuyến khích Doanh nghiệp xã hội được thành lập và mở rộng, Nhà nước nên có những chính sách ưu đãi cụ thể, như chính sách về thuế, các nguồn tài trợ…

Tuy nhiên, những khoản viện trợ, ưu đãi, tài trợ cho Doanh nghiệp xã hội sẽ phải có những báo cáo cụ thể liên quan đến hoạt động của Doanh nghiệp xã hội trong việc thực hiện những khoản viện trợ này (Luật Doanh nghiệp 2014). Tuy nhiên một vấn đề mà pháp luật chưa quy định đó là cần phải có những báo cáo, giải trình để xác định rõ nguồn gốc của những khoản hỗ trợ tài chính này có thực sự hợp pháp hay không. Ở Việt Nam, trong nhiều lĩnh vực đặc biệt liên quan đến các quỹ xã hội, quỹ từ thiện, bên cạnh việc quản lý quỹ còn nhiều yếu kém, việc xác định nguồn gốc hình thành những khoản viện trợ, tài trợ này chưa hề được quan tâm và kiểm soát bằng các cơ chế mang tính pháp lý. Nếu không được kiểm soát, các nguồn này có thể đến từ các nguồn bất hợp pháp, gây ra hậu quả khó lường cho cả doanh nghiệp và xã hội.

3.3.4. Xu hướng mở cho Doanh nghiệp xã hội Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

Nhằm bắt kịp với sự phát triển, mở rộng ủa Doanh nghiệp xã hội trong tương lai, luật pháp cũng cần sửa đổi theo xu hướng mở này. Cụ thể, các quy định về thành lập, phá sản, mở rộng phạm vi hoạt động, lĩnh vực hoạt động, quy mô hoạt động, chế độ quản trị Doanh nghiệp xã hội cần được rút gọn, đơn giản hóa, tránh các quy định, thủ tục phiền phức, chồng chéo, không cần thiết. Hơn nữa, cần bổ sung các quy định về thêm thành viên, tiếp nhận người tham gia mới, tiếp nhận nguồn tài trợ, viện trợ, cần vô cùng linh hoạt nhằm thể hiện đúng bản chất của DNXH, đồng thời tạo cơ hội, sự thuận lợi cho Doanh nghiệp xã hội phát huy hết tiềm năng của mình.

KẾT LUẬN

DNXH hình thành và phát triển dựa trên nhu cầu giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội vô cùng cấp thiết và liên quan đến lợi ích của các đối tượng yếu thế trong xã hội như trẻ em, người nghèo, người khuyết tật, người nhiễm HIV / AIDS… Doanh nghiệp xã hội khai thác, đầu tư những lĩnh vực mà Nhà nước hay tư nhân không muốn can thiệp hoặc chưa khai thác triệt để, chưa tiếp cận được lợi ích của nhóm người yếu thế nói trên hay các vấn đề liên quan đến môi trường, y tế, giáo dục, v.v… Trong bối cảnh này, chúng ta thấy vai trò của các tổ chức xã hội, phát triển cộng đồng nói chung và đặc biệt sự nổi lên của mô hình Doanh nghiệp xã hội rất phù hợp để có thể bù đắp cho khoảng trống đó. Doanh nghiệp xã hội là một mô hình hỗn hợp, sử dụng hoạt động kinh doanh để đạt được các mục tiêu xã hội. Họ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, các mục tiêu xã hội là điều căn bản mà Doanh nghiệp xã hội muốn hướng tới. Trên thực tế, các Doanh nghiệp xã hội là những tác nhân thúc đẩy đổi mới, sáng kiến cho xã hội, sản xuất ra các sản phẩm mới, đưa ra thị trường những sản phẩm phục vụ nhu cầu, lợi ích của những nhóm đối tượng yếu thế hoặc đưa ra các dịch vụ đầy sang tạo, giải quyết những vấn đề xã hội – môi trường nảy sinh trong quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước. Doanh nghiệp xã hội có thể được xem như một giải pháp hay công cụ để bổ trợ cho những điểm yếu của các khu vực còn lại.

Pháp luật Việt Nam hiện nay tuy đã có những quy định về một số vấn đề liên quan đến Doanh nghiệp xã hội nhưng vẫn chưa cụ thể, rõ rang như các tiêu chí để xác định thế nào là Doanh nghiệp xã hội, hình thức pháp lý của Doanh nghiệp xã hội, thủ tục thành lập, đăng ký doanh nghiệp, nhận tài trợ, viện trợ của doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, phá sản doanh nghiệp, chuyển đổi doanh nghiệp truyền thống sang DNXH và ngược lại hay những quy định về thêm thành viên mới, cơ quan điều phối, hỗ trợ chưa được đề cập đến. Chính vì vậy, Nhà nước cần có những cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật, ưu đãi, v.v… để điều chỉnh, quản lý, hỗ trợ Doanh nghiệp xã hội, nhằm để tạo lập khung khổ pháp lý ổn định cho hoạt động của các Doanh nghiệp xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các sáng kiến xã hội được dễ dàng triển khai hơn trong thực tế, khuyến khích và thúc đẩy sự phát triển mạnh của Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam. Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Pháp luật doanh nghiệp xã hội theo quy định

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464