Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật và thực hiện pháp luật trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

CNTT, truyền thông (ICT) và CMCN 4.0 đã, đang tạo lập nên một xã hội kết nối toàn cầu, mang lại những thay đổi đột phá trong cuộc sống của con người, nó tác động vô cùng lớn đến sự ổn định, phát triển của các doanh nghiệp, nhà nước và mọi cá nhân, tổ chức trong mỗi quốc gia. Cuộc CMCN 4.0 như một làn sóng mạnh mẽ đang lan tỏa đến mọi nền kinh tế trên thế giới. Những tiến bộ vượt bậc về CNTT tạo ra một loạt các sản phẩm công nghệ không những thúc đẩy hoạt động sản xuất mà còn trực tiếp thay thế con người trong một số công việc khó thực hiện, nguy hiểm hoặc cần độ chính xác cao.

Cùng với quá trình hội nhập, việc cải cách đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội là vô cùng cần thiết, đặc biệt là những cải cách về pháp luật bởi tầm quan trọng của nó đối với việc quản lý đất nước và hội nhập thế giới. Điều đó đặt ra những yêu cầu cấp thiết cho Nhà nước và toàn thể người dân trong việc tìm hiểu, chuẩn bị và thay đổi cả về nhận thức, pháp luật và hành động thực tiễn để thực hiện và đáp ứng các yêu cầu trong bối cảnh mới theo hướng đón nhận những cơ hội và thách thức do CMCN lần thứ tư tác động đến.

Khi cuộc CMCN 4.0 xâm nhập vào Việt Nam thì cũng là lúc sự nhận thức về pháp luật và thực hiện pháp luật cần phải có sự thay đổi mạnh mẽ và chúng cần phải thay đổi xuất phát từ chính những nhà làm luật, sau đó được phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội để người dân có thể nhận thức và tuân theo. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, các quy định về cải cách pháp luật vẫn còn nhiều bất cập và thiếu tính đồng bộ, chặt chẽ, thống nhất nên chưa thể triển khai hoàn toàn trong thực tiễn.

Xuất phát từ sự cấp thiết trên, tác giả chọn đề tài “Nhận thức mới về pháp luật và thực hiện pháp luật trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0” làm đề tài khóa luận của mình nhằm mang đến những cái nhìn chung nhất về nhận thức mới về pháp luật và thực hiện pháp luật trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp.

Hiện nay, các vấn đề liên quan đến cuộc CMCN 4.0 nói chung và vấn đề nhận thức về pháp luật, thực hiện pháp luật trong bối cảnh CMCN 4.0 nói riêng đang thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả nghiên cứu. Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập xung quanh về cuộc CMCN 4.0 như công trình nghiên cứu của GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016 với đề tài “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”… Bên cạnh đó cũng có những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa pháp luật và cuộc CMCN 4.0 như công trình nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hồng Xuân và Nguyễn Thị Thùy Linh năm 2018 với đề tài “Tội phạm trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0”; công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Văn Đại năm 2018 với đề tài “Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 tới hoạt động giải quyết tranh chấp tại tòa án và ngoài tòa án ở Việt Nam”; công trình nghiên cứu của TS. Phan Quốc Nguyên năm 2018 với đề tài “Một số vấn đề pháp lý về sở hữu trí tuệ liên quan đến luật về không gian mạng (cyber law) trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”; công trình nghiên cứu của TS. Lê Lan Chi năm 2018 với đề tài “Trí tuệ nhân tạo và một số vấn đề đặt ra đối với tố tụng hình sự và thi hành án hình sự”…

Nhìn chung hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu về cuộc CMCN 4.0, mối quan hệ giữa pháp luật và CMCN 4.0, tuy nhiên những nghiên cứu về vấn đề nhận thức pháp luật và thực hiện pháp luật trong bối cảnh CMCN 4.0 không nhiều, thiếu những nghiên cứu mang tính tổng thể… Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài “Nhận thức mới về pháp luật và thực hiện pháp luật trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu những vấn đề lý luận về nhận thức mới và thực hiện pháp luật trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0. Bên cạnh đó cũng tập trung phân tích, nêu những vấn đề mới, vấn đề bất cập trong thực tiễn thực hiện pháp luật. Từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả của cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý, ổn định xã hội và phát triển kinh tế. Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp.

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là các quy định về pháp luật có liên quan trong một số lĩnh vực trọng yếu như kinh tế, giáo dục, y tế… và các ngành luật, các quy định có liên quan theo pháp luật hiện hành như Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự, luật Trọng tài thương mại, và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan. Phạm vi thời gian và không gian là từ khi cuộc CMCN bắt đầu xuất hiện đến nay, trên phạm vi cả nước.

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Về mục đích nghiên cứu:

  • Thứ nhất, nghiên cứu để làm rõ vấn đề lý luận về nhận thức mới và thực hiện pháp luật trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0.
  • Thứ hai, nghiên cứu thực trạng nhận thức mới về pháp luật và thực hiện pháp luật trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0.
  • Thứ ba, nghiên cứu để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0.

Về nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt mục đích nêu trên, khóa luận có các nhiệm vụ sau:

  • Thứ nhất, hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề pháp lý liên quan đến cuộc CMCN 4.0 và tác động của nó đến các lĩnh vực ở Việt Nam.
  • Thứ hai, phân tích, đánh giá và luận giải thực trạng pháp luật Việt Nam trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 đồng thời đưa ra những bình luận, đánh giá về nhận thức và thực hiện pháp luật ở Việt Nam trong kỷ nguyên CMCN.
  • Thứ ba, đề xuất giải pháp cải cách và hoàn thiện pháp luật để đáp ứng yêu cầu của đất nước trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp.

Khóa luận nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước và pháp luật trong thời kỳ đổi mới; về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu phát triển bền vững đất nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác – Lênin.

  • Bên cạnh đó, khóa luận còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

Phương pháp phân tích, bình luận, so sánh… được sử dụng trong Chương 1 tìm hiểu về một số vấn đề lý luận về nhận thức và thực hiện pháp luật trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0.

Phương pháp đánh giá, đối chiếu, diễn giải, tổng hợp, quy nạp… được sử dụng tại Chương 2 để tìm hiểu về thực trạng thực hiện pháp luật trong các lĩnh vực luật chuyên ngành và đưa ra những nhận thức mới về pháp luật và thực hiện pháp luật trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 và Chương 3 Quan điểm và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0.

Đồng thời, tác giả kết hợp lý luận và thực tiễn, đối chiếu để làm nổi bật những vấn đề hiện tại với nội dung các quy định pháp luật được nghiên cứu. Việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu, xem xét các vấn đề lý luận gắn với thực tiễn cho phép nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách toàn diện, khách quan, biện chứng trong các mối quan hệ qua lại, gắn bó, tác động với nhau trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể nhất định đối với vấn đề nghiên cứu.

6. Kết cấu của khóa luận Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương sau đây:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhận thức mới về pháp luật và thực hiện pháp luật trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0
  • Chương 2: Thực trạng nhận thức mới về pháp luật và thực hiện pháp luật trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0
  • Chương 3: Giải pháp nâng cao nhận thức mới về pháp luật và thực hiện pháp luật trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0

CHƯƠNG 1.  MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC MỚI VỀ PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH CUỘC CMCN 4.0

1.1. Một số khái niệm liên quan

Theo Từ điển Tiếng Việt Soha, “Cách Mạng là cuộc biến đổi xã hội – chính trị lớn và căn bản, thực hiện bằng việc lật đổ một chế độ xã hội lỗi thời, lập nên một chế độ xã hội mới, tiến bộ”. “CMCN là bước nhảy vọt trong sự phát triển của lực lượng sản xuất do chuyển từ công trường thủ công sang sản xuất bằng máy móc”.

Như vậy, có thể hiểu rằng, cách mạng có nghĩa là một sự thay đổi đột ngột và căn bản. Các cuộc CMCN diễn ra từ trước đến nay đều làm thay đổi về nhận thức toàn cầu, đồng thời làm biến đổi sâu sắc đối với nền kinh tế thế giới, từ đó, ảnh hưởng đến nhiều mặt khác nhau của đời sống xã hội cũng như đời sống pháp luật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, những thay đổi diễn ra phải mất nhiều năm mới có thể thấy được kết quả của sự thay đổi.

Thực hiện pháp luật” là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.

Có nhiều cách hiểu về “nhận thức” nhưng theo Từ điển Giáo dục học, “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người”. Như vậy, Nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh, là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó.

Từ các khái niệm trên, có thể đưa ra cách hiểu về nhận thức mới về pháp luật và thực hiện pháp luật là: “nhận thức mới về pháp luật và thực hiện pháp luật trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0” là quá trình con người có những thay đổi trong tư duy về pháp luật và biến những sự thay đổi trong tư duy đó thành những hành động, hành vi pháp lý được luật hóa thành các quy phạm pháp luật cụ thể phù hợp với những lợi ích và yêu cầu của thời đại mới nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật.

1.2. Lịch sử phát triển của các cuộc CMCN Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp. 

Thế giới đã và đang trải qua các cuộc CMCN làm thay đổi cuộc sống của con người. Cuộc CMCN 4.0 đang hình thành và tác động mạnh mẽ tới tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế – xã hội, văn hóa, việc làm đến đời sống pháp luật. Từ đó, tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đòi hỏi nhà quản lý phải nắm bắt kịp thời để có những định hướng và giải pháp phù hợp, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước. [8]

  • Cuộc CMCN lần thứ nhất, thứ hai và thứ ba

Lịch sử thế giới đã trải qua ba cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống con người. Cuộc CMCN lần thứ nhất diễn ra vào nửa cuối thế kỷ và gần nửa đầu thế kỷ 19, với thay đổi từ sản xuất chân tay đến sản xuất cơ khí do phát minh ra động cơ hơi nước. Từ những năm 1784, khi động cơ hơi nước được phát minh và lần đầu tiên được giới thiệu đã tạo ra một tiếng vang lớn, tác động trực tiếp đến các ngành nghề như giao thông vận tại, chế tạo cơ khí, dệt may… Những chiếc ô tô, tàu thủy, tàu hỏa được sử dụng động cơ hơi nước làm thay đổi bộ mặt đời sống con người, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển nhân loại.

Chưa đầy 100 năm sau, cuộc CMCN lần thứ hai diễn ra từ năm 1870 đến năm 1914 (ngay trước thế chiến thứ nhất) với sự phát triển của điện thoại, bóng đèn, đĩa hát và động cơ đốt trong, với thay đổi từ sản xuất đơn lẻ sang sản xuất hàng loạt bằng máy móc chạy bằng năng lượng, giúp tăng năng suất làm việc gấp nhiều lần so với động cơ hơi nước, mang lại một cuộc sống văn minh hơn.

Một thế kỷ sau, vào năm 1969, cuộc CMCN lần thứ ba đề cập đến sự tiến bộ của công nghệ từ các thiết bị cơ điện tử sang công nghệ số với sự phát triển của máy tính cá nhân, Internet, CNTT và truyền thông. Con người đã tiến thêm một bước tiến dài khi cuộc CMCN này xuất hiện tạo ra một thế giới kết nối, liên lạc với nhau. Các thiết bị tinh vi hơn như máy tính, điện thoại, các vệ tinh kết nối thông tin, hệ thống Internet lần lượt ra đời. Và đây chính là thành quả mà thế giới hiện nay đang thụ hưởng từ cuộc CMCN lần thứ ba. [18] Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp.

  • Cuộc CMCN lần thứ tư

Khái niệm cuộc CMCN lần thứ tư hay Công nghiệp 4.0 đã được làm rõ tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) lần thứ 46 ở Thụy Sĩ. Theo GS. Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Industry 4.0 (tiếng Đức là Industrie 4.0) hay Cuộc CMCN lần thứ tư, là một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, trao đổi dữ liệu và chế tạo. Cuộc CMCN lần thứ tư được định nghĩa là “một cụm thuật ngữ cho các công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị” đi cùng với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, Internet kết nối vạn vật (IoT) và Internet của các dịch vụ (IoS).

Cuộc CMCN 4.0 được hình thành với xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa – vật lý – sinh học. Bản chất của CMCN lần thứ tư là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất; nhấn mạnh những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là công nghệ in 3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, người máy.

Cuộc CMCN 4.0 bùng nổ đã tác động sâu sắc đến toàn bộ hoạt động sản xuất và các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó xóa mờ ranh giới giữa thế giới thực và thế giới ảo thông qua các công nghệ tiên tiến, sự đổi mới và sáng tạo không ngừng của nhân loại. Ảnh hưởng của cuộc Cách mạng này là không thể phủ nhận, từ con người cho đến các hoạt động của con người như y tế, giáo dục, nhân lực đến nông nghiệp, giao thông vận tải… Cụ thể, nó cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân thông qua thị trường lao động với mức thu nhập được nâng cao; các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại và chuyên nghiệp; giao thông thuận tiện… và đặc biệt phải kể đến sự phát triển của Internet và Trí tuệ nhân tạo tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới với chi phí thấp.

1.3. Những tác động của CMCN 4.0 tới Việt Nam Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp.

Đối với Việt Nam, cuộc CMCN lần thứ tư đang tác động mạnh, toàn diện trên các khía cạnh chủ yếu của nền kinh tế về cấu trúc, trình độ phát triển, tốc độ tăng trưởng, mô hình kinh doanh, thị trường lao động. Theo TS. Nguyễn Thắng – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam nhận định, “trong trung hạn, một số ngành nghề ở Việt Nam có thể bị tác động tiêu cực, như nhóm ngành năng lượng, công nghiệp chế tạo, dệt may, điện tử…”. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, nhiều lĩnh vực cũng sẽ được hưởng lợi từ cuộc cách mạng này nếu đi đúng hướng và bắt được nhịp, như du lịch, thương mại nội địa, CNTT, giáo dục, y tế, xây dựng, chính phủ điện tử. Vì vậy, chúng ta cần phải có kế hoạch tái cơ cấu phù hợp.

1.3.1. Tác động của cuộc CMCN 4.0 tới nền kinh tế của Việt Nam

CMCN lần thứ tư mở ra nhiều cơ hội cho các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam để nâng cao năng suất và rút ngắn khoảng cách phát triển. Việc áp dụng thành tựu của cuộc CMCN lần thứ tư sẽ giúp doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của Việt Nam giảm 3,6% chi phí hoạt động và tăng 4,1% hiệu suất trong một. Khi Việt Nam đang hoàn tất nhiều hiệp định thương mại tự do quy mô lớn như CPTPP, FTA với các nước châu Âu, Liên minh kinh tế Á – Âu… thì việc bắt kịp với xu hướng phát triển của cuộc CMCN 4.0 sẽ giúp nâng cao hiệu quả của việc tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, ở Việt Nam, CMCN 4.0 mới đang bước đầu được tiếp cận, thậm chí chúng ta còn chưa thể bắt kịp xu thế của cuộc CMCN 3.0 thì việc chủ động thay đổi chính sách phát triển cho phù hợp với tình hình hiện nay là vô cùng khó khăn và cần nhiều thời gian để thích ứng. Ngoài ra, đối mặt với cuộc CMCN lần thứ tư sẽ là vô vàn thách thức cho Việt Nam khi những yếu tố mà chúng ta đang tự coi là ưu thế như lực lượng lao động thủ công trẻ, dồi dào sẽ không còn là thế mạnh nữa, thậm chí bị đe dọa nghiêm trọng. Theo ông Lữ Thành Long, Phó chủ tịch VINASA, trong tương lai, người dân có thể mất việc làm, bởi những lĩnh vực mà trí tuệ nhân tạo có thể tác động tới các ngành nước ta có lợi thế về lao động như dệt may, sản xuất thực phẩm chế biến,… Không chỉ việc làm ở trong các ngành sản xuất bị ảnh hưởng mà các công việc cần trí tuệ của con người như giáo dục, y tế, dịch vụ cũng đối mặt với nguy cơ bị thay thế. Việt Nam có lợi thế lớn về nguồn nhân lực cho tăng trưởng, nhưng chất lượng chưa tương xứng với tốc độ tăng về quy mô, về mức độ hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. [6]

1.3.2. Tác động của cuộc CMCN 4.0 tới vấn đề lao động việc làm ở Việt Nam Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp.

Theo thống kê, năm 2016, cả nước chỉ có khoảng 10,9 triệu người có việc làm, tương ứng với 20,6%, đã được đào tạo (Biểu 2.2). Có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo giữa thành thị và nông thôn, mức chênh lệch này là 24,4 điểm phần trăm (thành thị là 37,2% và nông thôn là 12,8%).

Tỷ lệ: phần trăm (%)

Bảng 1-1 Tỷ lệ lao động việc làm theo trình độ chuyên môn năm 2016

Nơi cư trú/ vùng Tổng số Dạy nghề Trung cấp Cao đẳng Đại học trở lên
Cả nước 20,6 5,0 3,9 2,7 9,0
Nam 23,0 8,0 3,7 2,1 9,1
Nữ 18,0 1,7 4,1 3,2 9,0
Thành thị 37,2 7,5 5,7 4,0 20,0
Nông thôn 12,8 3,8 3,1 2,0 3,9

Bảng 1-2 Tỷ lệ lao động việc làm theo trình độ chuyên môn quý 2 năm 2018 (Tỷ lệ: phần trăm (%))

Nơi cư trú/vùng Tổng số Dạy nghề Trung cấp Cao đẳng Đại học trở lên
Cả nước 10,02 2,86 8,36 9,56 14,24
Nam 7,85 2,70 6,69 6,07 14,98
Nữ 11,84 3,72 9,59 11,91 13,81
Thành thị 10,74 3,44 7,16 9,15 14,97
Nông thôn 9,38 2,55 9,21 9,86 13,17

Xu hướng sử dụng công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa tiếp tục trở thành xu hướng tất yếu của cuộc CMCN 4.0 và nó tác động mạnh mẽ đến từng quốc gia, bất kể mức độ phát triển khác nhau.

  • Thứ nhất, xu hướng thúc đẩy mạnh quá trình tự động hóa thay thế con người.

Nhiều công ty ở Việt Nam đã thay thế một số lượng đáng kể người lao động bằng máy móc công nghiệp… Việc thay thế con người trong hoạt động sản xuất đã làm ảnh hưởng rất lớn đến thị trường lao động và mức sống của người dân, nhiều lao động mất việc, tình trạng thất nghiệp diễn ra kéo dài cũng tạo nên những hệ quả xấu cho xã hội như làm gia tăng các tệ nạn trong xã hội. Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp.

  • Thứ hai, tác động trực tiếp đến mô hình phát triển quan hệ lao động.

Người lao động bước vào thị trường lao động chỉ được cung cấp các hợp đồng ngắn hạn hoặc tạm thời và thường buộc phải làm việc phi chính thức hoặc di cư để kiếm việc làm. Điều này làm cho sự bất bình đẳng thu nhập càng thêm trầm trọng. Cuộc CMCN 4.0 đang ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động nội bộ và mô hình hoạt động của các tổ chức đại diện cho người lao động (công đoàn) và tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động (Phòng Thương mại công nghiệp và các Hiệp hội doanh nghiệp).

Với thực trạng thị trường lao động “mở” trong một thế giới “phẳng” với nền tảng công nghệ sáng tạo của cuộc CMCN 4.0, nơi rất cần các quy định điều chỉnh khái niệm quan hệ lao động hoàn toàn “mới” với không gian “mở” (không nhất thiết bó buộc trong khuôn viên của doanh nghiệp truyền thống và quan hệ lao động truyền thống), cách tiếp cận đối với môi trường làm việc ở khu vực phi chính thức đòi hỏi hướng tiếp cận khác nhiều so với hiện nay. [1]

1.3.3. Tác động của cuộc CMCN tới nền giáo dục ở Việt Nam

Trong cuộc CMCN lần thứ tư, thị trường lao động sẽ bị thách thức nghiêm trọng khi tự động hóa thay thế con người trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Người lao động cần phải thích ứng nhanh với sự thay đổi của sản xuất nếu không sẽ bị dư thừa, bị thất nghiệp. Những sự thay đổi của sản xuất và cơ cấu nhân lực trong TTLĐ tương lai, đặt ra nhiều vấn đề đối với nền giáo dục, đó là: Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp.

Thứ nhất, trong khi cuộc CMCN 4.0 đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến TTLĐ thì các cơ sở GDNN – nơi cung cấp nhân lực kỹ thuật chủ yếu cho nền kinh tế, vẫn đào tạo theo cách đã cũ. Học sinh, sinh viên với các kiến thức, kỹ năng đang được dạy trong nhà trường hiện nay còn chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế 3.0 hiện tại, có thể hoàn toàn không hữu dụng với nền kinh tế 4.0 hoặc dễ dàng bị robot thay thế trong tương lai gần.

Thứ hai, để đáp ứng nhân lực cho nền kinh tế sáng tạo, đòi hỏi phải thay đổi các hoạt động đào tạo, nhất là phương thức và phương pháp đào tạo với sự ứng dụng mạnh mẽ của CNTT. Tuy nhiên, hiện nay các điều kiện đảm bảo cho sự thay đổi này vẫn còn hạn chế. Hiện nay, ở đa số các các cơ sở GDNN, sự đổi mới phương thức và phương pháp dạy và học còn khá chậm trễ; hạ tầng CNTT còn lạc hậu (ngoại trừ một số cơ sở được đầu tư thành trường chất lượng cao) và không đồng bộ. [11]

Thứ ba, CMCN đã tác động đến bố trí cán bộ quản lý, phục vụ và đội ngũ giáo viên của các cơ sở GDNN. Đội ngũ này phải được chuyên nghiệp hóa và có khả năng sáng tạo cao, có phương pháp đào tạo hiện đại với sự ứng dụng mạnh mẽ của CNTT và điều này dẫn đến sự thay đổi về quy mô và cơ cấu giáo viên (cả về trình độ và kỹ năng), sẽ xuất hiện hiện tượng thừa và thiếu nhân lực. Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp.

Thứ tư, tác động đến vấn đề đổi mới quản lý giáo dục đòi hỏi có sự quản lý chung để một mặt hướng tới sự đảm bảo “mặt bằng” chất lượng; mặt khác, đáp ứng nhu cầu đa dạng của nền kinh tế sáng tạo và cạnh tranh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Khóa luận: Thực trạng nhận thức mới trong bối cảnh công nghiệp

2 thoughts on “Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp

  1. Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp says:

    Khóa luận: Nhận thức mới về pháp luật trong bối cảnh công nghiệp

  2. Pingback: Khóa luận: Giải pháp nhận thức mới trong bối cảnh công nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464