Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện các quy đinh pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Định hướng trong việc ban hành các quy định
3.1.1. Ưu đãi thuế TNDN cụ thể hóa nguyên tắc công bằng trong đánh thuế
Đánh thuế phải đảm bảo công bằng. Nguyên tắc này được hiểu là mọi đối tượng có năng lực chịu thuế đều phải nộp thuế và mọi người có điều kiện liên quan đến thuế như nhau phải được đối xử về thuế như nhau. Tính công bằng vẫn được đảm bảo trong cả trường hợp có sự khác nhau về điều kiện, thể hiện ở việc nếu có điều kiện khác nhau thì những đối tượng khác nhau nhưng cùng loại thì phải được đối xử với nhau tương ứng. Các đối tượng có điều kiện như nhau phải nộp những loại thuế giống nhau.
Luật thế thu nhập doanh nghiệp quy định các thu nhập được miễn thuế, quy định thuế suất ưu đãi. Thuế suất ưu đãi được áp dụng đối với các doanh nghiệp đầu tư trong ngành nghề, địa bàn khuyến khích đầu tư, mức thuế suất ưu đãi thấp hơn mức thuế suất thông thường và chỉ được áp dụng khi đủ căn cứ và trong thời hạn quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành.
3.1.2. Ưu đãi thuế TNDN phải cụ thể hóa chính sách khuyến khích các tổ chức đầu tư tạo ra thu nhập
Ưu đãi thuế nhằm tác động vào lợi ích vật chất của doanh nghiệp khi đầu tư vào các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, các ngành kinh tế thuộc danh mục ưu đãi. Quy định về ưu đãi thuế áp dụng có thời hạn hỗ trợ cho các doanh nghiệp hạn chế bớt khó khăn về tài chính trong thời gian đầu tiến hành đầu tư. Thông thường, quy định về ưu đãi thuế được áp dụng ổn định theo hiệu lực thi hành của Luật thuế TNDN, quy định ưu đãi có thể được sửa đổi khi phát sinh bất cập trong áp dụng hoặc khi có chính sách ưu đãi mới. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
3.1.3. Ưu đãi thuế TNDN phải phù hợp với các thông lệ, cam kết quốc tế
- Xu hướng sử dụng ưu đãi thuế để cải cách thuế TNDN
Các nước đang phát triển trong đó bao gồm hầu hết các nước Châu Á và ASEAN sử dụng nhiều biện pháp ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp vì cho rằng chính sách ưu đãi có tác dụng thu hút, khuyến khích đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội; Các hình thức ưu đãi thường được áp dụng ở các nước bao gồm: ưu đãi về thuế suất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (với thuế suất thấp hơn thuế suất phổ thông), ưu đãi thuế đối với công nghiệp hỗ trợ, cho phép chuyển lỗ, miễn giảm thuế có thời hạn, giảm nghĩa vụ thuế (tax credits), cho phép khấu hao nhanh, hỗ trợ tái đầu tư… Trung Quốc quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng mức thuế suất 20% trong khi mức thuế suất phổ thông là 25%, Thái Lan quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng mức thuế suất 15% trong khi mức thuế suất phổ thông là 23%, Malaysia cũng quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng mức thuế suất 20% trong khi mức thuế suất phổ thông là 25%.
- Cần ghi nhận thành nguyên tắc đảm bảo quyền và lợi ích của người nộp thuế
Ai cũng hiểu rằng trong cuộc sống hàng ngày hoạt động tiêu dùng của người dân tạo ra nguồn thu thuế cho Nhà nước. Nền kinh tế có phát triển, thu nhập và tiêu dùng của người dân có tăng thì Nhà nước mới có nguồn thu ổn định. Từ những phân tích ở trên có thể thấy không chỉ Luật QLT mà cả Hiến pháp cũng cần phải qui định quyền và lợi ích của người nộp huế. Quyền này gắn với nghĩa vụ nộp thuế và đồng thời hỗ trợ bảo đảm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp cũng như quyền được sinh tồn của cá nhân. Bộ Tài chính và Tổng Cục thuế dựa trên kết quả thu thuế và nguyên nhân vi phạm để sáng kiến lập pháp, nhưng có thể thấy các đề xuất nghiêng về phía góp phần tạo nguồn thu cho NSNN và xây dựng pháp luật phù hợp với thông lệ quốc tế. Có thể nói đây là hai tiêu chí quan trọng để sửa đổi Luật thuế, tuy nhiên, điều quan trọng hơn là cần đưa Luật thuế vào cuộc sống trong bối cảnh nền kinh tế chưa ổn định, các chính sách ưu đãi của Nhà nước còn hướng tới một bộ phận doanh nghiệp nhà nước thì sự đánh đồng các doanh nghiệp đều có nghĩa vụ nộp thuế như nhau là không thỏa đáng. Bởi vậy, các biện pháp ưu đãi thuế phải được áp dụng linh hoạt để các chủ thể nộp thuế đều có quyền được hưởng lợi từ chính sách ưu đãi. Ngoài ra, như trên đã đề cập đến sự bất cập trong qui định về mức phạt chậm nộp thuế, Luật QLT cần cụ thể hóa để phân định mức độ nặng nhẹ trong xử phạt theo số lần chậm nộp, mức chậm nộp và thời hạn chậm nộp để buộc người nộp thuế phải tuân thủ nghĩa vụ và hạn chế tối đa thất thu NSNN. i được áp dụng linh hoạt để các chủ thể nộp thuế đều có quyền được hưởng lợi từ chính sách ưu đãi. Ngoài ra, như trên đã đề cập đến sự bất cập trong qui định về mức phạt chậm nộp thuế, Luật QLT cần cụ thể hóa để phân định mức độ nặng nhẹ trong xử phạt theo số lần chậm nộp, mức chậm nộp và thời hạn chậm nộp để buộc người nộp thuế phải tuân thủ nghĩa vụ và hạn chế tối đa thất thu NSNN. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
- Thực hiện Hiệp định tránh đánh thuế hai lần
Học hỏi từ một số quốc gia có kinh nghiệm như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc…và hoàn thiện phương pháp APA – cơ chế thỏa thuận trước về xác định giá – Cơ quan thuế áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế với người nộp thuế, với cơ quan thuế các nước, vùng lãnh thổ mà Việt Nam đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế thu nhập.
Cụ thể, hiệp định không tạo ra các nghĩa vụ thuế mới, khác hoặc nặng hơn so với luật thuế trong nước. Trường hợp tại Hiệp định có các quy định theo đó Việt Nam có quyền thu thuế đối với một loại thu nhập nào đó hoặc thu thuế với một mức thuế suất nhất định nhưng pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam chưa có quy định thu thuế đối với thu nhập đó hoặc quy định thu với mức thuế suất thấp hơn thì áp dụng theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam, nghĩa là không thu thuế hoặc thu thuế với mức thuế suất thấp hơn.
Khi Việt Nam thực hiện các quy định tại Hiệp định, nếu có các thuật ngữ chưa được định nghĩa tại Hiệp định, thì các thuật ngữ chưa được định nghĩa sẽ có nghĩa như quy định tại pháp luật của Việt Nam cho các mục đích thuế tại thời điểm đó. Đối với một thuật ngữ chưa được định nghĩa tại Hiệp định và chưa được định nghĩa hoặc đồng thời được định nghĩa tại pháp luật của Việt Nam và của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thì Nhà chức trách có thẩm quyền của hai nước sẽ thực hiện giải quyết vấn đề qua thủ tục thỏa thuận song phương. Đối với một thuật ngữ đồng thời được định nghĩa tại pháp luật thuế và các pháp luật khác, định nghĩa tại pháp luật thuế sẽ được áp dụng để thực hiện Hiệp định. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Từ ngày 01/7/2007, Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành. Theo đó, cơ chế kê khai đã chuyển từ việc Cơ quan thuế thông báo nghĩa vụ thuế cho đối tượng nộp thuế sang cơ chế người nộp thuế tự khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm với việc kê khai và nộp thuế. Do đó, Cơ quan thuế sẽ không có thông báo cũng như quyết định miễn, giảm thuế đối với các hồ sơ, thông báo thuộc diện miễn, giảm thuế theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Đồng thời, người kê khai tự chịu trách nhiệm về việc nộp hay không nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước dựa trên cơ sở hồ sơ khai thuế của mình (quy định tại các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính).
Để tạo thuận lợi cho người nộp thuế trong việc hiểu và vận dụng các quy định của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam với các nước/vùng lãnh thổ, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 205/2013/TT-BTC ngày 24/12/2013 hướng dẫn thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ có hiệu lực thi hành tại Việt Nam. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 06/02/2014, thay thế Thông tư số 133/2004/TT-BTC ngày 31/12/2004 của Bộ Tài chính.
Các thủ tục áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần tại Việt Nam hiện nay được hướng dẫn tại Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa.
Như vậy quyền lợi của doanh nghiệp sẽ được đảm bảo và đồng thời sẽ tạo những cơ chế chặt chẽ nhằm tránh trốn thuế khi người nộp thuế tự nguyện thực hiện và đảm bảo.
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về ưu đãi thuế TNDN ở Việt Nam thời gian tới Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Trong thời gian tới, hệ thống chính sách thuế, đặc biệt các chính sách ưu đãi miễn giảm thuế cần được tiếp tục nghiên cứu sửa đổi bổ sung khắc phục tốt hơn những mặt còn hạn chế, thiếu sót do chưa đồng bộ, chưa phù hợp với cơ chế thị trường, những điểm quy định chưa chặt chẽ, tạo kẽ hở cho các tổ chức, cá nhân lợi dụng gian lận thuế, những quy định khá ưu đãi quá phức tạp, khó thực thực hiện…làm giảm hiệu quả của các biện pháp kích thích lợi ích kinh tế.Luật cần có quy định hướng thay đổi 5 năm một lần và phải đi song song với 5 năm kế hoặc của nước ta nhằm tạo cho các doanh nghiệp một sự chủ động trong việc lập kế hoạch kinh doanh tránh trường hợp luật thay đổi gây thiệt hại nhiều cho doanh nghiệp.
3.2.1. Nội dung ưu đãi thuế TNDN
Để thể hiện được tốt vai trò đối với nền kinh tế cũng như đối với xã hội, chính phủ cần xác định rõ mục tiêu và nhiệm vụ luật thuế TNDN cũng như chính sách ưu đãi thuế TNDN trong từng thời kì cũng như từng giai đoạn phát triển của đất nước và chỉ chú tâm vào các vai trò chính này, không ôm đồm nhiều mục tiêu quá làm cho luật thuế TNDN cũng như chính sách ưu đãi thuế TNDN trở nên quá phức tạp dàn trải và chồng chéo với nhiều luật khác. Muốn vậy cần phải:
Đơn giản hóa thủ tục cấp ưu đãi thuế TNDN. Nhưng đơn giản là để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn khi được ưu đãi, tránh việc do thủ tục rắc rối không thu hút được đầu tư, gọi là ưu đãi mà thực ra chẳng ưu đãi được gì. Điều đó không có nghĩa là đơn giản đến mức dễ dãi, để các nhà đầu tư, các doanh nghiệp “xỏ mũi”. Thậm chí xuất hiện một số lo sợ rằng nếu đơn giản quá về thủ tục các doanh nghiệp sẽ đăng kí rất nhiều, thậm chí chia nhỏ dự án đầu tư ra để đòi quyền ưu đãi thuế thu nhập. Như vậy thì các doanh nghiệp sẽ mãi là vừa và nhỏ, không có sự đầu tư về chất xám công nghệ để nâng cao tầm vóc của mình mà chỉ quanh quẩn với mấy dự án đầu tư bé nhỏ để chờ ưu đãi. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Bổ sung quy định ưu đãi thuế đối với Khu công nghiệp (KCN). Để thu hút đầu tư vào KCN, đề xuất bổ sung vào khoản 2 Điều 14 Luật Thuế TNDN quy định việc ưu đãi thuế đối với DN thực hiện dự án đầu tư mới tại KCN (trừ KCN thuộc các Thành phố trực thuộc Trung ương). Mức ưu đãi thuế cần được quy định thấp hơn trước đây, cụ thể là chỉ nên quy định miễn thuế TNDN trong 2 năm, giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 4 năm tiếp theo (không ưu đãi về thuế suất). Các vấn đề ưu đãi của Luật thuế TNDN liên quan đến hoạt động xuất khẩu, trái với quy định của WTO cũng được bãi bỏ và sắp xếp lại cho phù hợp. Các khoản ưu đãi mang tính chất trợ cấp xuất khẩu (ưu đãi bổ sung về thuế TNDN gắn với thành tích xuất khẩu, hoặc khuyến khích sử dụng trong nước…) đều được bãi bỏ. Cẩn rà soát lại những nội dung về chính sách ưu đãi trong thuế TNDN với các luật liên quan.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho DN trong việc hưởng ưu đãi đầu tư và thực hiện cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp cần thiết phải nghiên cứu, sửa đổi các quy định về ưu đãi thuế TNDN đảm bảo tránh phức tạp và dàn trải theo hướng: có cơ chế ưu đãi minh bạch, thiết thực, phù hợp với xu thế chung về cải cách thuế của các nước trên thế giới; chuyển từ ưu đãi theo diện hẹp (miễn, giảm thuế) sang cơ chế hạ mức thuế suất phổ thông.
Các ưu đãi nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội như: miễn thuế cho phần thu nhập từ hoạt động kinh doanh dành riêng cho người tàn tật, từ hoạt động dạy nghề dành riêng cho người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng tệ nạn xã hội, từ hoạt động dạy nghề cho người dân tộc thiểu số; giảm thuế cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số. Việc bỏ bớt các ưu đãi này sẽ giúp thực sự đơn giản, đồng thời tránh việc lợi dụng để trốn thuế hoặc tránh thuế. Tất nhiên, cùng với việc thực hiện đề xuất này, cần chuyển việc thực hiện chính sách ưu đãi, giúp đỡ các đối tượng này sang các hoạt động khác cùa Nhà nước như chi ngân sách, tín dụng ưu đãi…
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cần được xây dựng chi tiết cụ thể, tránh tính trạng luật khung, phải có tính cổn định về các nội dung ưu đãi nhằm tác động vào kế hoạch kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp. Ngoài ra, chính sách pháp luật thuế phải được minh bạch hóa và đảm bảo tính thống nhất, khắc phục tình trạng mâu thuẫn gây bất lợi cho nhà đầu tư. Quy định thuế cần có tính lâu dài, hạn chế thay đổi, có tính thống nhất giữa các chính sách và thời gian áp dụng để người nộp thuế dễ áp dụng, văn bản hướng dẫn phải cụ thể, đầy đủ. Chính sách quản lý thuế và quản lý nhà nước phải đồng nhất; giảm thiểu chi phí cho công tác thuế tại DN. Hiện nay, một số chi phí thực tế phát sinh nhưng bị cơ quan thuế loại trừ làm lợi nhuận kế toán và tính thuế TNDN còn chênh lệch nhiều; cập nhật thông tin chính sách đến từng DN, tăng cường quan hệ giữa DN và cơ quan thuế…
3.2.2. Về chuyển lỗ Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
- Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thuế
Các luật thuế là công cụ hữu hiệu để kiểm tra và giám sát tài chính của các doanh nghiệp. Cơ quan thuế sử dụng thuế như công cụ để ngăn chặn hiện tượng lỗ ảo của doanh nghiệp thông qua việc so sánh đối chiếu giữa chi phí và lợi nhuận. Muốn làm được như thế chúng ta cần phải xây dựng một quy trình thuế phải có hệ thống, nhất quán hơn, có định hướng rõ ràng, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước. Đồng thời, các chính sách thuế cần phải được ban hành kịp thời, đúng lúc, đáp ứng nhanh chóng được những yêu cầu từ thực tiễn cũng như những vướng mắc trong quá trình áp dụng. Đối với quy định chuyển lỗ, nên cho phép doanh nghiệp chủ động lựa chọn năm chuyển lỗ nhưng thời gian không quá 05 năm, kể từ năm phát sinh lỗ. Nếu được như vậy thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần quy định chuyển lỗ cho phù hợp vời từng trường hợp cụ thể. Điển hình trường chuyển đổi, sáp nhập, hợp nhất thời gian chuyễn lỗ không quá 05 năm là quá ngắn, các doanh nghiệp bị chuyển đổi, sáp nhập, hợp nhất sẽ trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp được chuyển đổi, sáp nhập, hợp nhất. Theo ý kiến của các doanh nghiệp, chuyễn lỗ trong vấn đề này ít nhất cũng là 10 năm, để có thể phù hợp với giải pháp tái cơ cấu doanh nghiệp.
Tăng mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế đối với doanh nghiệp gian lận, trốn thuế đặc biệt cần quy định rõ ràng mức xử phạt trong hoạt động chuyển giá. Mặt khác, trước mắt cần bổ sung một điều luật về chống chuyển giá vào Luật.
Quản lý thuế, về lâu dài nên ban hành Luật Chống chuyển giá – đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho hoạt động chống chuyển giá, không chỉ có ý nghĩa đối với quản lý thuế TNDN mà còn liên quan đến quản lý thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên…
- Tăng cường quản lý doanh thu và chi phí
Doanh thu và chi phí là hai yếu tố quan trọng xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp. Trong thực tiễn việc quản lý doanh thu và chi phí là vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn. Do các doanh nghiệp luôn tìm cách hạch toán, kê khai dấu bớt doanh thu, tăng chi phí, thậm chí có doanh nghiệp kinh doanh có lãi nhưng kê khai lỗ để giảm thuế. Để khắc phục tình trạng này, cần có một số giải pháp: Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
- Quản lý doanh thu:
Cơ quan thuế cần phải giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tình trạng bán hàng trực tiếp không dùng hóa đơn. Để làm được việc này, các cán bộ cần theo dõi, kiểm tra thường xuyên các doanh nghiệp như kiểm tra báo cáo tài chính, quyết toán thuế…và phải thường xuyên đến kiểm tra trực tiếp tại doanh nghiệp.
Quản lý chặt chẽ việc mua, bán hóa đơn chứng từ của doanh nghiệp tránh việc mất hoặc làm giả hóa đơn. Mỗi lần doanh nghiệp mua bán hóa đơn thì phải xuất trình sổ mua hóa đơn cho cơ quan thuế. Khi doanh nghiệp nhận hóa đơn cơ quan thuế cần phải thay dõi số ghi trên hóa đơn có trùng với số phát cấp hóa đơn hay không, kiểm tra xem số hóa đơn mà đơn vị đang dùng có phải là hóa đơn hợp pháp hay không tránh việc làm hóa đơn giả. Nếu cơ quan thuế phát hiện doanh nghiệp sử dụng hóa đơn không đúng theo quy định thì cơ quan có quyền thu hồi số hóa đơn đó và xử phạt hành chính. Trường hợp doanh nghiệp mất hóa đơn thì doanh nghiệp phải lập biên bản và báo cáo ngay cho cơ quan thuế biết để có biện pháp xử lý.
Cơ quan thuế cần kiểm tra chặt chẽ công tác hoạch toán, kế toán về doanh thu
- Quản lý chi phí:
Kiểm tra chặt chẽ việc kê khai chi phí hợp lý có phù hợp với quy định của luật không.
Cần quy định cụ thể hóa các khoản chi phí được trừ và chi phí không được trừ từ đó tạo nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp cho việc xác định chi chi phí và việc quản lý của cơ quan thuế. Thường xuyên giám sát tình trạng doanh nghiệp kê khai lỗ nhưng doanh thu vẫn nằm ở mức cao và không ngừng mở rộng hoạt động đầu tư, sản xuất điển hình như tình trạng của Pepsi, Coca-Cola, Metro…, doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế, đặc biệt các doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá, kinh doanh qua mạng, doanh nghiệp giao dịch thanh toán qua ngân hàng có dấu hiệu đáng ngờ; doanh nghiệp nằm trong danh sách “đen” kinh doanh cà phê, chè, tiêu dùng, điện tử….có các hình thức xử lý nghiêm khắc, thực hiện truy thu thuế đối với các doanh nghiệp có các khoản lỗ giả từ đó tạo được sự cạnh tranh công bằng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp mới đầu tư, ngay khi phát sinh lỗ cần phải có sự giám sát, kiểm tra, yêu cầu doanh nghiệp giải trình nguyên nhân lỗ của doanh nghiệp mình. Còn đối với doanh nghiệp lỗ nhiều năm và số lỗ vượt quá vốn chủ sở hữu cần phải ưu tiên tiến hành rà soát một cách toàn diện, trong trường hợp cần thiết thì bắt buộc doanh nghiệp phải giải thể.
- Tăng cường chống chuyển giá Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Đây là cách làm hiệu quả để phòng ngừa hành vi lỗ giả của doanh nghiệp. Hoàn thiện hơn các phương pháp chống chuyển giá, cần phải xây dựng được một cơ sở dữ liệu về giá của các loại hàng hóa giao dịch giữa các doanh nghiệp độc lập với các doanh nghiệp liên kết. Có như vậy, cơ quan thuế sẽ thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm cơ sở tương đương để so sánh theo nguyên tắc giá thị trường. Học hỏi từ một số quốc gia có kinh nghiệm như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc…và hoàn thiện phương pháp APA – cơ chế thỏa thuận trước về xác định giá – Cơ quan thuế áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế với người nộp thuế, với cơ quan thuế các nước, vùng lãnh thổ mà Việt Nam đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế thu nhập.
Đây là phương pháp vừa mới được áp dụng ở nước ta. Các doanh nghiệp đa quốc gia trước khi kê khai, quyết toán thuế thì các doanh nghiệp phải chủ động thực hiện đề xuất biện pháp tính giá hoặc mức giá mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các thành viên trong cùng một tập đoàn, chính việc áp dụng cơ chế này đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý thuế, là biện pháp ngăn ngừa đánh thuế trùng và trốn thuế, giảm thuế tranh chấp về xác định thị trường trong giao dịch liên kết. Tuy nhiên, do đây là cơ chế mới được áp trong thời gian ngắn và còn phức tạp nên để có thể phát huy tối đa hiệu quả của cơ chế này thì Nhà nước ta cần phải có sự học tập và kết hợp với các trong khu vực cũng như trên thế giới từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm để hoàn thiện cơ chế này hơn.
3.3. Định hướng công tác triển khai, áp dụng các quy định trong thực tế Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
3.3.1. Trách nhiệm của cơ quan thuế, cán bộ thuế trong thực hiện quy định về ưu đãi thuế
Nâng cao quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan thuế Thực hiện mục tiêu “Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đặc biệt có chế tài, biện pháp xử lý mạnh đối với các trường hợp trốn thuế, lậu thuế”[39], thì cần phải trao quyền điều tra, khởi tố những vụ vi phạm về thuế cho cơ quan thuế thành lập bộ máy cưỡng chế thuộc ngành thuế. Khi được trao quyền điều tra, khởi tố thì việc điều tra, khởi tố sẽ được tiến hành theo thủ tục như trình tự thủ tục tố tụng hình sự, dựa trên những nghiệp vụ chuyên môn, phương án điều tra sẽ do thủ trưởng cơ quan quản lý thuế phê duyệt. Đồng thời phải thành lập bộ phận kiểm tra nội bộ ngành thuế, đảm bảo cho các bộ phận trực thuộc cơ quan thuế thực hiện đúng quy định pháp luật, đúng đường lối chính sách, chống tham nhũng tiêu cực. Ở một số quốc gia trên thế giới thì quyền lực của cơ quan thuế rất lớn, cơ quan thuế được điều tra, xử lý các vi phạm về thuế. Như ở Pháp, trên cơ sở điều tra của cơ quan thuế, Bộ trưởng Bộ Tài chính có quyền chuyển thẳng hồ sơ sang cơ quan công tố để truy tố người trốn thuế ra tòa mà không cần phải thông qua cơ quan điều tra của cảnh sát. Còn ở Mỹ…cứ đến hẹn thì người nộp thuế phải đến cơ quan thuế để khai thuế cho kịp thời hạn.
- Về tổ chức bộ máy cơ quan thuế:
Tiếp tục duy trì quản lý bộ máy quản lý thuế theo hệ thống dọc từ trong ương đến địa phương. Tiến hành tổ chức lại bộ máy cơ quan thuế theo chức năng quản lý thuế theo đối tượng nộp thuế: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân… Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Cải cách công tác quản lý hành chính về thuế đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời các khoản thu vào Ngân sách Nhà nước.
- Về đội ngũ cán bộ thuế:
Đổi mới công tác quản lý cán bộ theo hướng quy định rõ ràng trách nhiệm từng loại cán bộ trên từng vị trí mà cán bộ đó công tác. Đánh giá cán bộ dựa trên kết quả số lượng và chất lượng của công việc, coi trọng phẩm chất đạo đức chính trị, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm. Một trong những nguyên nhân pháp luật chưa đi vào cuộc sống đó là trao quá nhiều quyền cho Cơ quan hành pháp giải thích pháp luật. Trên thực tế, người nộp thuế khi làm các thủ tục hành chính cần phải tìm người thân quen, chạy vạy là hiện tượng phổ biến, tất nhiên không chỉ chạy để “làm sai có lợi” mà còn có cả chạy để “làm đúng”. Qui định pháp luật càng thiếu minh bạch thì càng dễ dẫn đến tình trạng lạm dụng của cán bộ công chức thuế, hải quan trong thi hành công vụ. Đối với việc thu chi NSNN, việc thu không đúng và đủ vào NSNN trước hết là Nhà nước bị thiệt, người nộp thuế và cán bộ thuế được hưởng lợi bất hợp pháp dẫn đến tiền lệ xấu khó có thể phòng ngừa hành vi thông đồng trốn thuế. Đại biểu Quốc hội Võ Kim Cự cũng đã nhấn mạnh trong phiên họp Quốc hội tháng 6/2012, “việc thất thu thuế không chỉ do đối tượng nộp thuế, mà có cả nguyên nhân quan trọng từ cơ quan quản lý thuế. Không ít cán bộ thuế thiếu trách nhiệm, cố ý làm trái, có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực khiến đối tượng nộp thuế bất hợp tác. Thế nhưng Luật QLT lại bỏ quên vấn đề này”. Bởi vậy, ngoài cụ thể hóa qui định trách nhiệm quyền của người nộp thuế sẽ góp phần đưa trật tự kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật và hạn chế tối đa những hành vi sai trái của người có chức vụ, công chức, viên chức ngành Thuế, Hải quan.
Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ thuế cần được quan tâm và đầu tư nhiều hơn. Khi cán bộ thuế hiểu rõ và nắm chắc được những chính sách, chế độ cùng với nghiệp vụ của họ về thuế thì họ có thể tuyên truyền một cách đơn giản, rõ ràng hơn giúp người dân dễ tiếp thu, và họ có thể trả lời những thất mắc của người dân một cách rõ ràng. Trong quá trình tuyển dụng, để không để bỏ phí nhân tài thực sự thì cần phải tuyển dụng cán bộ ngay từ đầu vào với những yêu cầu khắt khe, tránh trường hợp tuyển “con ông, cháu cha” mà không thực sự có năng lực trong quá trình thực hành công tác. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Tăng cường công tác thanh, kiểm tra thuế. Hạn chế lỗ thì không còn cách nào khác là phải tăng cường thanh, kiểm tra thuế. Công tác thanh tra cần phải có sự phân loại đối tượng để thanh tra, kiểm tra để tránh tốn kém thời gian và chi phí theo hướng doanh nghiệp có doanh số cao và số thuế phải nộp cao, thường xuyên sai phạm trong kê khai, quyết toán thuế, doanh nghiệp có nhiều dấu hiệu bất thường luôn kê khai lỗ, có nhiều rủi ro về thuế hoặc thiếu độ tín nhiệm, thường xuyên có hành vi gian lận thuế, trốn thuế. Để thực hiện tốt điểm này thì cơ quan thuế cần phải xây dựng được một hệ thống cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp, giảm thời gian cập nhật số liệu, thu thập tài liệu, tăng thời gian cho công tác đánh giá, phân tích từ đó nâng cao chất lượng công tác phân tích các hồ sơ thanh tra. Bên cạnh đó, cần thực hiện phối hợp với các ngành có liên quan trong công tác thanh tra như Hải quan, Tài chính….Xây dựng chương trình phối hợp điều tra với các ngành công an, tòa án…để điều tra phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật, xử lý nghiêm khắc những đối tượng vi phạm để răn đe các đối tượng khác. Ngoài ra, cũng cần phải tăng cường công tác đào tạo và đào tạo cán bộ thanh tra nhằm nâng cao trình độ cán bộ đáp ứng ngày càng cao của thực tiễn công tác thanh tra.
- Tiếp tục đẩy mạnh hơn công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật về thuế.
Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về thuế được Nhà nước quan tâm sâu sắc và trên thực tế nó đã phần nào mang đến người dân những kiến thức cơ bản cho đối tượng nộp. Để thực hiện công tác tuyên truyền một cách tốt nhất thì trước tiên cơ quan thuế cần phải liên kết, phối hợp chặt chẽ với cơ quan báo chí, các cơ quan truyền thông như truyền thanh, truyền hình và các cơ quan thông tin khác từ trung ương đến địa phương. Để kịp thời tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân từ nông thôn đến thành thị, để họ hiểu được rõ tầm quan trọng của thuế, vai trò của họ với quốc gia và những lợi ích mà họ được hưởng từ đó. Bên cạnh đó, cơ quan thuế nên tăng cường cung cấp các dịch vụ về thuế như hỗ trợ, giải đáp thắc mắc, tư vấn pháp luật về thuế cho các đối tượng nộp thuế qua điện thoại, fax, mạng Internet hoặc trực tiếp tại đơn vị với những nội dung như:
- Hướng dẫn, giải thích về luật thuế giúp các đối tượng nộp thuế cập nhật nhanh những thay đổi, bổ sung trong luật để thực hiện cho đúng.
- Hướng dẫn về cách tính thuế, kê khai thuế và nộp thuế.
- Giải đáp những thắc mắc của đối tượng nộp thuế xung quanh việc thực hiện Luật thuế như: cách sử dụng hóa đơn, chứng từ, cách ghi chép sổ sách kế toán liên quan đến hạch toán các nghiệp vụ về thuế phát sinh…
Cung cấp những thông tin về các doanh nghiệp không có thật, những doanh nghiệp ngừng hoạt động, các hóa đơn không còn giá trị lưu hành… Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
- Về thủ tục hành chính
Cùng với các giải pháp trên, ngành Thuế cũng cần đưa ra các giải pháp đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính , tạo thuận lợi cho DN và người nộp thuế. Cụ thể:
Một là, đa dạng hóa hình thức hỗ trợ thông qua việc phân loại người nộp thuế theo từng nhóm đối tượng để áp dụng hình thức, phương pháp hỗ trợ thích hợp. Công tác tuyên truyền phải đảm bảo phủ kín thông tin liên quan đến hoạt động của cơ quan thuế rộng khắp trên mọi miền, mọi địa bàn quản lý thuế.
Hai là, pháp quy hóa các quy trình, thủ tục về quản lý thuế: Đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế; công tác kiểm tra nội bộ; Luân chuyển, luân phiên, chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ thuế, công chức thuế.
Ba là, yêu cầu thủ trưởng cơ quan thuế có trách nhiệm tổ chức đúng quy định về việc xử lý các khó khăn, vướng mắc mà người nộp thuế có văn bản kiến nghị giải quyết không quá 15 ngày. Trường hợp đặc biệt phải xin ý kiến các cơ quan khác có liên quan thì không quá 30 ngày. Thực hiện kiểm tra và xử lý trách nhiệm đối với xử lý hoàn thuế không đúng thời gian theo quy định của Luật Quản lý thuế.
Bốn là, ban hành quy chế công khai tiến độ, trình tự xử lý những khó khăn vướng măc, khiếu nại của DN, người dân trên trang điện tử của Tổng cục Thuế, cục thuế các tỉnh/thành phố để DN, người dân theo dõi tiến độ xử lý những vướng mắc.
Năm là, xây dựng đề án đánh giá sự hài lòng của người nộp thuế, trong đó, xác định rõ đối tượng tham gia đánh giá; Thời gian, chu kỳ thực hiện đánh giá; Các tiêu chí đánh giá phải đảm bảo được khả năng lượng hóa về tính đầy đủ, minh bạch, phù hợp của chính sách, về năng lực phục vụ của cán bộ thuế. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Sáu là, tăng cường công tác khai thuế qua mạng Internet, phấn đấu đến hết năm 2014, hơn 90% DN thực hiện nộp tờ khai thuế điện tử; Ban hành và tổ chức thực hiện đề án nộp thuế qua hệ thống ngân hàng, tự động hóa tiếp nhận giải quyết hồ sơ, TTHC thuế.
Bảy là, xây dựng chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu của cơ quan thuế trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá hàng năm như: thu NSNN; Hướng dẫn người nộp thuế khai thuế và tỷ lệ nợ đọng thuế so với số thuế thực thu hàng năm; Thanh tra, kế hoạch kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ với NSNN và kết quả kiểm tra nội bộ hàng năm; Giải quyết khiếu nại, kết quả giải quyết các văn bản vướng mắc đề nghị xử lý của người nộp thuế; Kết quả thực hiện nhiệm vụ cải cách TTHC của cơ quan, đơn vị. Kết quả thực hiện đánh giá định lượng cụ thể theo 5 tiêu chí nêu trên là cơ sở để phục vụ việc xem xét khen thưởng, kỷ luật, bồi dưỡng, bổ nhiệm lãnh đạo các cấp trong hệ thống thuế.
Tám là, xây dựng bản mô tả công việc của từng vị trí, trách nhiệm của từng công chức thuế trong giải quyết các TTHC cho DN, tổ chức, hộ kinh doanh. Trên cơ sở đó, dự thảo trình Bộ Tài chính ban hành chế độ trách nhiệm công vụ đối vối công chức thuế trong việc thực hiện các TTHC đối với DN, tổ chức và hộ kinh doanh.
Chín là, đẩy mạnh mở rộng phát triển hệ thống đại lý thuế, giúp DN thực hiện các TTHC thuế thông qua đại lý thuế thuận tiện, giảm chi phí thời gian.
Cuối cùng là, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho công chức, viên chức tại cơ quan thuế các cấp; Công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ, công chức trong thực thi công vụ; Kiên quyết xử lý nghiêm minh các sai phạm, đảm bảo kỷ cương, kỷ luật. Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức, cơ sở đảng tại cơ quan thuế các cấp trong việc thực hiện các chương trình hành động nhằm tạo ra bước chuyển biến tích cực, trong hỗ trợ, giải quyết các vướng mắc cho người nộp thuế và đơn giản hóa TTHC thuế.
3.3.2. Trách nhiệm của doanh nghiệp, nhà đầu tư trong thực hiện quy định về ưu đãi thuế Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
Trình độ hiểu biết và nhận thức của các doanh nghiệp còn hạn chế, ý thức chấp hành chưa cao. Chưa thực sự tìm hiểu và hiểu đc căn bản luật thế, chưa nhanh nhạnh với những luật thuế được thay đổi. Do vậy, các doanh nghiệp nên tìm hiểu thật rõ các quy định cũng như các thủ tục hướng dẫn của cơ quan thuế để tự mình làm tốt bổn phận nộp thuế và rút ngắn thời gian nộp thuế để việc hoạt động kinh doanh mang lại kết quả tốt hơn. Doanh nghiệp có thể tham khảo luật ở nhiều kênh thông tin khác nhau hoặc có thể tìm đến các công ty kiểm toán để được hỗ trợ hơn về các vấn đề khó khăn trong quá trình áp dụng luật.
Đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ những quy định của pháp luật về thủ tục, hồ sơ kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp. Tổ chức, cá nhân nộp thuế kê khai thuế chính xác, trung thực và chịu trách nhiệm về kết quả của việc tính thuế, kê khai thuế của mình trước pháp luật nhằm đảm bảo tính trung thực, công khai minh bạch và nhanh gọn trong công tác triền khai các chính sách về thuế.
Kịp thời phát hiện và tố cáo những hành vi sai phạm của các cơ quan, quan tổ chức nhằm đảm bảo sự công bằng trong những người nộp thuế, đảm bảo công bằng xã hội, tránh tình trạng lạm dụng quyền hạn để chuộc lợi riêng hoặc làm thất thoát NSNN.
KẾT LUẬN
Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đã và đang trở thành xu thế nổi bật của kinh tế thế giới. Nắm bắt được xu thế đó, Việt Nam đã tích cực đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam đã trở thành thành viên của các tổ chức ASEAN, APEC, ASEM, WTO và có quan hệ hợp tác song phương với hơn 170 quốc gia trên thế giới. Điều này sẽ hỗ trợ tích cực cho tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam, mang lại những thuận lợi và cơ hội cho Việt Nam trở thành quốc gia có nền kinh tế phát triển. Bên cạnh những thuận lợi nhất định, những rủi ro và thách thức đối với nền kinh tế của Việt Nam cũng sẽ gia tăng. Những thuận lợi, cơ hội, những khó khăn, thách thức này ảnh hưởng quan trọng tới kinh tế trong nước và có thể dẫn tới những thay đổi mang tính định hướng chiến lược. Trước tình hình đó, việc xây dựng khuôn khổ pháp lý chặt chẽ về chính sách thuế và áp dụng các quy định một cách linh hoạt sẽ góp phần thúc đẩy đầu tư, đưa đất nước bắt nhịp với sự phát triển chung của thế giới. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN
Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN
Pingback: Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN
Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN
Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN
Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN
Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN
Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN
Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN
Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN