Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam, thực trạng và phương hướng hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Theo Bộ Tài chính, KT-XH nước ta năm 2015 tiếp tục đà phục hồi nhưng chưa bền vững với tốc độ tăng trưởng giữa các khu vực ngày càng khác biệt, một phần do giá dầu và giá một số hàng hóa giảm. Hơn thế nữa, cộng đồng kinh tế ASEAN đã chính thức được thành lập vào cuối năm 2015 và Việt Nam cũng tham gia cam kết Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào ngày 4/2/2016 vừa qua. Như vậy, nền kinh tế nước ta sẽ tiếp tục đối mặt với không ít khó khăn khi năng lực cạnh tranh còn thấp, thương hiệu sản phẩm chưa cao và uy tín DN chưa có nhiều cải thiện. Bên cạnh đó, tình hình cung, cầu trên thị trường thế giới còn nhiều biến động phức tạp gây áp lực cạnh tranh cho xuất khẩu của Việt Nam. Việc tiêu thụ các mặt hàng nông sản trong nước thể hiện nhiều bất cập làm ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống nông dân.

Trước những cơ hội và thách thức mới để tiếp tục hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp vượt qua khó khăn, thách thức, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật liên quan nhằm thực hiện tốt mục tiêu phát triển KT-XH năm 2016 và những năm tới, đáp ứng yêu cầu thực tế, cần thiết phải có những giải pháp tài chính đồng bộ, trong đó có giải pháp về thuế, đặc biệt là những chính sách về ưu đãi thuế rõ ràng, chính xác và hợp lý nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, khuyến khích đầu tư trong nước phát triển sản xuất và công nghệ. Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Mặt khác, một trong những mục đích quan trọng của thực hiện các chính sách ưu đãi thuế TNDN là thu hút đầu tư. Chính vì thế trong nhiều trường hợp các DN, mà đặc biệt là các tập đoàn, công ty đa quốc gia lớn thường yêu cầu Chính phủ dành cho những ưu đãi thuế như là một điều kiện tiên quyết để họ quyết định đầu tư vào Việt Nam, quyết định đầu tư vào các địa bàn, lĩnh vực ngành nghề… mà Nhà nước đang khuyến khích, thu hút đầu tư. Tuy nhiên trong mức độ nào đó họ đã dựa vào các yếu tố ưu đãi, về biện pháp quản lý thuế chưa hiệu quả để tăng chi phí, giảm lợi nhuận, trốn tránh nghĩa vụ thuế tại Việt Nam.

Vì vậy việc xem xét, nhận định lại các chính sách về ưu đãi thuế TNDN là bước đi quan trọng và vô cùng cần thiết để từ đó rút ra những kinh nghiệm, những đề xuất giảm thiểu những vấn đề bất cập so với thực tế, hướng tới sự đảm bảo tính nhất quán của chính sách, tính thống nhất của hệ thống pháp luật hiện nay.

2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Việc nghiên cứu, phân tích các quy định về thuế nói chung, thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng và đặc biệt là những quy định về ưu đãi thuế doanh nghiệp là vô cùng cần thiết trong bối cảnh đất nước đang hướng tới mục tiêu trước hết là từ đảm bảo mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với xu hướng phát triển; phù hợp với các cam kết quốc tế, với cam kết tại các thỏa thuận và Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia hoặc đang trong quá trình đàm phán để ký kết, tham gia. Qua đó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp Việt Nam và tăng việc làm cho người lao động.

Những nghiên cứu về chính sách này cũng góp phần nhằm mục đích hỗ trợ ngành Tài chính thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh cải cách hành chính và hiện đại hoá công tác quản lý thuế theo hướng đơn giản, minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, phù hợp với xu thế cải cách hệ thống thuế cũng như phòng chống gian lận thương mại, chống thất thu ngân sách Nhà nước (NSNN). Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

3. Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu về những chính sách ưu đãi thuế TNDN của các nước trên thế giới từ đó rút ra kinh nghiệm và so sánh với những thay đổi và điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế TNDN ở Việt Nam. Tìm ra những điểm mới trong những quy định về ưu đãi thuế TNDN ở Việt Nam trong những năm gần đây.

Từ những phân tích, nhận định đưa ra một số ý kiến đóng góp hướng tới việc cải thiện chính sách ưu đãi thuế TNDN một cách tốt hơn. Mục đích tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp có thể hoạt động sản xuất kinh doanh và phù hợp hơn với các chính sách kinh tế khác cũng như các quy ước và thông lệ quốc tế.

4. Phạm vi nghiên cứu

Bài nghiên cứu tập trung phân tích các quy định pháp luật về ưu đãi thuế TNDN tại Việt Nam dựa trên Luật thuế TNDN, Luật quản lý thuế, luật đầu tư và các văn bản liên quan. Ngoài ra, nhằm có cái nhìn đa chiều về pháp luật ưu đãi thuế, tác giả có đề cập đến những chính sách về ưu đãi thuế TNDN của một số nước trên thế giới. Từ đó đưa ra được những kinh nghiệm những bài học nhằm cải thiện pháp luật về ưu đãi thuế TNDN của Việt Nam.

5. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu là các phương pháp phân tích, phương pháp diễn dịch, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê… Các phương pháp được sử dụng nhằm làm rõ vấn đề và giải quyết những mục tiêu đề ra.

6. Kết cấu đề tài Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Đề tài nghiên cứu gồm có 3 chương:

  • Chương 1: Tổng quan về pháp luật ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp.
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam.
  • Chương 3: Hoàn thiện các quy đinh pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

1.1. Khái niệm về thuế thu nhập, thuế TNDN và ưu đãi thuế TNDN

  • Thu nhập

Xét về khía cạnh kinh tế, thu nhập là chỉ một bộ phận tài sản tăng thêm trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên, thu nhập luôn gắn với một chủ thể nhất định như: thu nhập của một cá nhân, thu nhập của một doanh nghiệp, thu nhập của một quốc gia…

Xét về khía cạnh pháp lý, không phải toàn bộ thu nhập phải chịu thuế mà thu nhập chịu thuế là thu nhập thực tế phát sinh, tức là thu nhập nhận được sau khi đã trừ đi các chi phí

Như vậy, có thể hiểu thu nhập là các khoản tiền hoặc vật chất mà các thể nhân hoặc pháp nhân nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc từ các hành vi hợp pháp khác.

  • Thuế thu nhập

Thuế thu nhập là tên gọi chỉ những sắc thuế lấy thu nhập làm đối tượng để tính thuế. Trong hệ thống luật thực định về thuế ở các nước, thuế thu nhập là loại thuế áp dụng có tính chất phổ biến và rất được coi trọng, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Sự hình thành của thuế thu nhập xuất phát từ yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập đảm bảo công bằng xã hội, từ nhu cầu tài chính của nhà nước và đặc biệt thuế thu nhập còn là là công cụ để nhà nước quản lí và điều tiết các hoạt động kinh tế – xã hội. Thuế thu nhập được phân chia làm hai loại là thuế thu nhập công ty (thuế TNDN) và thuế thu nhập cá nhân.

  • Thuế TNDN Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thuế TNDN (còn gọi là thuế thu nhập công ty – corporate tax) là một loại thế trực thu đánh vào lợi nhuận của doanh nghiệp tại các nước phát triển. Có thể hiểu thuế trực thu là loại thuế động viên, điều tiết vào thu nhập của người chịu thuế. Đối tượng nộp thuế phải có thu nhập chịu thuế; thu nhập càng cao thì đóng thuế càng nhiều. Trong thuế trực thu, người có nghĩa vụ nộp thuế đồng thời là người chịu thuế trên thu nhập mà mình được hưởng. Chính vì vậy, thuế trực thu không được tính vào cơ cấu giá thành hàng hoá dịch vụ và không được trừ vào chi phí khi tính lợi tức chịu thuế (thu nhập chịu thuế) của cơ sở sản xuất kinh doanh.

  • Ưu đãi thuế

Ưu đãi thuế TNDN tức là hình thức cho người nộp thuế được hưởng những điều kiện thuận lợi khi nộp thuế TNDN. Thuế suất ưu đãi là thuế suất ở mức thấp hơn so với thuế suất phổ thông. Về nguyên tắc, thuế suất ưu đãi chỉ thực sự phát huy hiệu quả trong trường hợp thuế trực thu (đặc biệt là thuế TNDN), tức là khi khoản thuế thu nhập phải nộp giảm đi, DN sẽ thu được mức lợi nhuận sau thuế cao hơn. Điều này cho phép DN có thể huy động thêm nguồn tài chính để đầu tư đổi mới, nâng cấp máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất, hoặc thậm chí có thể hạ giá bán hàng hoá để giành lợi thế trong cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu thuế suất ưu đãi áp dụng cho những ngành, lĩnh vực không có điều kiện thuận lợi trong kinh doanh thì nó chỉ có thể giảm bớt phần nào khó khăn cho DN, giúp DN có được điều kiện kinh doanh tương đương với các DN ở các ngành, khu vực khác mà chưa hẳn đã tạo ra ưu thế tuyệt đối trong cạnh tranh cho DN.

Thông qua thực hiện các quy định pháp luật về ưu đãi thuế TNDN, Nhà nước đã điều tiết nền kinh tế một cách linh hoạt, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của nền kinh tế để đạt được những mục tiêu đã đặt ra. Tác dụng kích thích của các quy định pháp luật về ưu đãi thuế TNDN được xem như một hình thức Nhà nước cấp phát vốn trực tiếp cho các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư. Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý, Nhà nước có thể tăng hoặc giảm quy mô và mức độ của các ưu đãi thuế để kích thích tăng tích lũy và tích tụ vốn trong các doanh nghiệp và dân cư. Như vậy, vai trò đầu tiên của Ưu đãi thuế TNDN là cùng với các quy định khác của pháp luật thuế TNDN, góp phần thực hiện vai trò điều tiết nền kinh tế quốc dân

Ngoài ra, thuế suất ưu đãi có thể phát huy tác dụng đối với một số sắc thuế gián thu nhất định, khi thuế cấu thành trong giá các yếu tố đầu vào của sản xuất, chẳng hạn như thuế nhập khẩu đối với nguyên vật liệu để sản xuất hàng hoá. Khi đó, việc áp dụng thuế suất ưu đãi sẽ có tác dụng làm giảm chi phí đầu vào, do đó giá thành sản phẩm cũng sẽ giảm đi. Đây là cơ sở để DN hạ giá bán, từ đó giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm được kinh doanh cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của chính DN.

1.2. Vai trò của ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Cùng với các quy định khác của pháp luật thuế TNDN, ưu đãi thuế TNDN có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chức năng của thuế TNDN đối với nền kinh tế, cụ thể:

  • Ưu đãi thuế TNDN góp phần thực hiện vai trò điều tiết kinh tế quốc dân

Dựa trên điều kiện cụ thể của từng thời kì và điều kiện kinh tế, nhà nước đã điều tiết nền kinh tế một các linh hoạt bằng cách tăng hoặc giảm quy mô và mức độ của các ưu đãi thuế để kích thích tăng tích lũy và tích tụ vốn trong các doanh nghiệp và dân cư thông qua thực hiện các quy định pháp luật về ưu đãi thuế TNDN. Các quy định của pháp luật về ưu đãi thuế TNDN được coi như một hình thức cấp phát vốn trực tiếp của Nhà nước cho các doanh nghiệp kích thích các doanh nghiệp sản xuất và mở rộng quy mô.

  • Ưu đãi thuế TNDN góp phần tạo nguồn thu cho NHNN

Mọi hoạt động chi tiêu của NHNN đều dựa vào nguồn đóng góp thuế của người dân. Đặc biệt trong đó có thể nói thuế TNDN là một trong những nguồn thu lớn nhất của NHNN. Vì vậy việc tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, đảm bảo công bằng, bình đẳng trong cạnh tranh thông qua các chính sách ưu đãi thuế TNDN sẽ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển, có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy, tăng thu nhập, đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhờ đó nền kinh tế phát triển và nguồn thu từ thuế TNDN của NHNN sẽ được tăng lên.

  • Ưu đãi thuế TNDN góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển, khuyến khích đầu tư và thay đổi cơ cấu kinh tế. Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, việc lập ra những chính sách ưu đãi thuế TNDN có ảnh hưởng rất lớn trong việc thực hiện chủ chương kinh tế đất nước. Thông qua ưu đãi về thuế suất cho các dự án đầu tư theo từng vùng, miền, từng ngành nghề đặc biệt có nhiều tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số ngành, vùng, tạo ra một cơ cấu hợp lý, đúng với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội do Nhà nước đặt ra. Mặt khác, thông qua ưu đãi về thuế suất và miễn, giảm thuế sẽ thu hút vốn đầu tư nước ngoài, người dân từ đó mà có thêm động lực bỏ vốn thành lập doanh nghiệp mới, đầu tư dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô…

1.3. Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Trong quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh giữ các quốc gia ngày càng trở lên gay gắt hơn nên có thể thấy ở hầu hết các nước đều có quy định về chế dộ ưu đãi thuế, miễn giảm thuế TNDN như mọt công cụ tối ưu để hấp dẫn và thu hút ầu tư từ các doanh nghiệp .Tuy nhiên, do chính sách, chiến lược và trình độ phát triển kinh tế – xã hội cũng như điều kiện tự nhiên, lịch sử truyền thống văn hóa của từng quốc gia là khác nhau mà luật các nước không có sự thống nhất trong các quy định về ưu đãi thuế cho ngành nghề, lĩnh vực đầu tư khác nhau. Ở Việt Nam, thuế TNDN cũng có quy định về mức thuế suất ưu đãi , về các trường hợp được miễn, giảm thuế cho các đối tượng kinh doanh trong các ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư theo chủ trương phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước.

Pháp luật về ưu đãi thuế TNDN được hiểu là những quy đinh về những biện pháp, những lợi thế nhằm giảm bớt gánh nặng về thuế TNDN cho các nhà đầu tư, khuyến khích và thu hút đầu tư mà Nhà nước dành cho những doanh nghiệp hoặc những nhóm doanh nghiệp nhất định (ưu đãi về thuế suất, thời gian miễn giảm…) so với những đối tượng chịu thuế khác trong cùng điều kiện nhất định. Nhà nước thông qua hình thức các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể để thể hiện các ý chí quan điểm, chiến lược của mình đối với hoạt động kinh tế, đầu tư nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng.

1.4. Lược sử những quy định của pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thuế thu nhập doanh nghiệp có lịch sử hình thành từ rất sớm được thể hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau. Ở Việt Nam, tiền thân của thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế lợi tức được áp dụng vào trước những năm 90 của thế kỷ XX và áp dụng cho các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh (các cơ sở kinh tế quốc doanh áp dụng chế độ trích nộp lợi nhuận). Từ năm 1990, Quốc hội ban hành luật thuế Lợi tức áp dụng thống nhất chung đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. Thuế lợi tức được thu dựa trên cơ sở lợi nhuận thu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của đối tượng nộp thuế.

Cùng với công cuộc cải cách thuế bước I năm 1990, Luật thuế lợi tức đã được ban hành. Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới: giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã được ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới Khắc phục những hạn chế trên, ngày 10/5/1997, Quốc hội đã thông qua luật thuế TNDN, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999. Ngày 17/6/2003, Quốc hội đã thông qua luật thuế TNDN sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/01/2004.Ngày 3/6/2008 Quốc hội đã ban hành luật thuế TNDN mới (sau đây gọi là luật thuế TNDN năm 2008) có hiệu lực kế từ ngày 01/01/2009.

Luật thuế TNDN năm 2008 đã góp phần hoàn thiện khung pháp luật thuế TNDN, cải thiện môi trường đâì tư theo hướng mở rộng hơn nữa cho các nhà đầu tư nước ngoài và tạo cơ sở vững chắc cho việc bổ sung nguồn NSNN. Sau 5 năm thực hiện luật thuế TNDN 2008 đã được sửa đổi bổ sung bằng luật 32/2013/QH13, Luật số 71/2014/QH13 luật sửa đổi bổ sung một số điều của các luật về thuế cùng theo đó là một số nghị định được sửa đổi bổ sung như sau Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế; Thông tư 96/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp tại nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế và sửa đổi bổ sung một số điều của các nghị định về thuế và sửa đổi bổ sung một số điều của thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014, Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ tài chính.

Trong đó quy định rất cụ thể về các chế độ ưu đãi thuế TNDN. Theo sự phát triển của các quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp, các chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cũng ngày được cải thiện và phát triển nhằm thực hiện chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dùng, tháo gỡ khó khăn đối với doanh nghiệp và thực hiện những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn sự suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội.

1.5. Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước trên thế giới dựa theo “Báo cáo kinh nghiệm cải cách chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước trên thế giới của Chính phủ” cho thấy:

Từ thực tiễn nghiên cứu cho thấy trên thế giới có hai luồng quan điểm về việc sử dụng chính sách thuế đối với một quốc gia. Nếu như các nước phát triển phương Tây thường hạn chế áp dụng các quy định về ưu đãi thuế vì cho rằng ưu đãi thuế gây méo mó và dễ dẫn tới việc lợi dụng các quy định này nhằm chuộc lợi bất hợp pháp, thì các nước đang phát triển như châu Á và ASEAN lại coi ưu đãi thuế là “điểm thu hút” đầu tư (đặc biệt là đầu tư nước ngoài) khuyến khích một số ngành nghề, lĩnh vực đặc biệt (công nghệ cao, công nghiệp tiên phong, đặc khu kinh tế,…).

Nhìn chung, những quy định về ưu đãi thuế TNDN của các quốc gia rất đa dạng cả về hình thức và nội dung. Trong đó một số hình thức ưu đãi thường được các quốc gia áp dụng như: ưu đãi về thuế suất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (với thuế suất thấp hơn thuế suất phổ thông), ưu đãi thuế đối với công nghiệp hỗ trợ, cho phép chuyển lỗ, miễn giảm thuế có thời hạn, giảm nghĩa vụ thuế (tax credits), cho phép khấu hao nhanh, hỗ trợ tái đầu tư… Các hình thức ưu đãi cụ thể như sau:

1.5.1. Ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong nền kinh tế thị trường nếu như các công ty, tập đoàn lớn trở thành các mũi nhọn có sức ảnh hướng lớn thì nhiều nước trên thế giới cũng đã nhìn nhận doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, vừa là nền tảng cho sự phát triển của các doanh nghiệp lớn, tạo công ăn việc làm cho người lao động, nên có rất nhiều quy định khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có chính sách ưu đãi thuế TNDN. Trên thực tế, chính sách thuế TNDN của nhiều nước có quy định các mức thuế suất thấp hơn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm khuyến khích sự phát triển của đối tượng doanh nghiệp này.

Cụ thể một số nước như sau:

1.5.2. Miễn, giảm thuế có thời hạn (tax holiday) Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Tương tự như các ưu đãi khác, quy định về miễn, giảm thuế có thời hạn của các nước cũng khá khác nhau, cụ thể như sau:

Tên quốc gia

  • Loại doanh nghiệp được hưởng ưu đãi.
  • Số thuế được miễn, giảm và thời hạn miễn giảm.

1.5.3. Giảm nghĩa vụ thuế (tax credits)

Không chỉ có những quy định về miễn, giảm thuế suất một số quốc gia còn thực hiện giảm trực tiếp nghĩa vụ thuế (số thuế phải nộp).

Tax credit được hiểu là người nộp thuế được giảm trừ một phần nghĩa vụ thuế trong tổng số thuế phải nộp cho Nhà nước. Tax credit được coi như khoản hỗ trợ của Nhà nước nhằm khuyến khích đầu tư…

Hàn Quốc áp dụng chính sách giảm nghĩa vụ thuế nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư tăng sản lượng, phát triển công nghệ và nguồn nhân lực, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, theo đó:

  1. Doanh nghiệp đầu tư máy móc, trang thiết bị trước 31/12/2012 để tăng sản lượng, đảm bảo an toàn thì được giảm trừ 3% (7% đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa) số thuế TNDN phải nộp;
  2. Doanh nghiệp đầu tư phát triển công nghệ và nguồn nhân lực phục vụ cho Nghiên cứu & Phát triển và đào tạo nghề được giảm trừ 10% số thuế phải nộp; Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Doanh nghiệp đầu tư nhằm tiết kiệm năng lượng trước 31/12/2011 và đầu tư nhằm bảo vệ môi trường trước 31/12/2013 được giảm trừ 10% số thuế phải nộp. Số thuế chưa được giảm trừ sẽ được chuyển sang 5 năm tiếp theo.

1.5.4. Về việc chuyển lỗ

Ưu đãi thông qua chuyển lỗ cũng được khá nhiều nước áp dụng, tuy nhiên phương thức và thời gian chuyển lỗ ở các nước cũng khá đa dạng. Hầu hết các nước chỉ cho phép doanh nghiệp được chuyển lỗ sang năm tiếp theo (loss carry-forward), song có nước không chế, có nước không khống chế số năm được chuyển lỗ. Tuy nhiên, cũng có nước (Pháp, Hàn Quốc) cho phép chuyển lỗ trở về trước (loss carry-back) với những điều kiện cụ thể (về số tiền tối đa được chuyển lỗ, về thời hạn khai thuế và quyết toán thuế) bởi việc quản lý thuế khá phức tạp. Chính sách chuyển lỗ của một số nước cụ thể như sau:

1.5.5. Ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng

Về phạm vi ưu đãi, pháp luật thuế TNDN của nhiều nước có quy định về việc cho phép áp dụng cơ chế ưu đãi thuế TNDN đối với các dự án đang hoạt động thực hiện mở rộng quy mô đầu tư, tuy nhiên phương thức và cách thức áp dụng ưu đãi thuế TNDN đối với các dự án đầu tư mở rộng ở các nước cũng khác nhau. Điều đó thật sự là một quy định hữu ích nếu như hoạt động mở rộng quy mô đầu tư đó vẫn được thực hiện ở các ngành và lĩnh vực đang được nhà nước khuyến khích đầu tư. Quy định ưu đãi thuế TNDN về đầu từ mở rộng ở một số quốc gia như sau: Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Chính sách thuế TNDN của Malaysia có quy định về ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp mở rộng, hiện đại hóa hoặc tự động hóa hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại nhằm tạo ra sản phẩm hoặc sản phẩm liên quan trong cùng ngành công nghiệp hoặc đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại để tạo ra sản phẩm liên quan trong cùng ngành công nghiệp, theo đó, doanh nghiệp thuộc các trường hợp này được hưởng hỗ trợ tái đầu tư (Re-investment Allowance) tương đương 60% chi phí đầu tư. Phạm vi hỗ trợ tái đầu tư áp dụng cho cả các doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực nông nghiệp (Hợp tác xã nông nghiệp, công ty, hiệp hội) thực hiện mở rộng, hiện đại hóa hoặc đa dạng hóa cây trồng và/hoặc dự án nông nghiệp.

Thái Lan có chính sách ưu đãi về thuế đối với đầu tư, kể cả đầu tư mở rộng, theo đó, Cơ quan Quản lý Đầu tư Thái Lan (Board of Investment) xét duyệt đối với từng dự án đầu tư cụ thể, căn cứ vào các tiêu chí:

  1. Giá trị gia tăng tối thiểu bằng 20% doanh thu, trừ các dự án sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử, sản suất và sản phẩm nông nghiệp;
  2. Doanh nghiệp mới thành lập có tỷ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu không quá 3 lần (tỷ lệ 3:1);

Có quy trình sản xuất hiện đại, máy móc mới;

  1. Có hệ thống bảo vệ môi trường phù hợp;
  2. Các dự án có vốn đầu tư trên 80 triệu Baht (không kể tiền đất và vốn lưu động) phải có báo báo nghiên cứu khả thi được Cơ quan Quản lý Đầu tư phê duyệt.

Hình thức ưu đãi gồm: Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

  1. Miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, nguyên liệu nhập khẩu;
  2. Miễn thuế TNDN từ 3 đến 8 năm đồng thời được chuyển lỗ 5 năm sau khi hết thời hạn ưu đãi thuế;

Cổ tức từ doanh nghiệp ưu đãi trong thời gian ưu đãi thuế được miễn thuế.

  • Nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mở rộng, Singapore cho phép doanh nghiệp được hưởng mức thuế suất thấp hơn 5% (so với mức thuế suất phổ thông 17%) trong thời gian 10 năm và có thể được gia hạn thêm 5 năm đối với thu nhập từ đầu tư mở rộng, căn cứ vào các điều kiện như: tạo ra giá trị gia tăng cao, mở rộng quy mô, mua sắm máy móc và thiết bị hiện đại.
  • Philippines có chính sách ưu đãi thuế trong thời gian 3 năm đối với dự án mở rộng và làm tăng sản lượng thực tế.

Tham khảo kinh nghiệm các nước về ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng cho thấy tùy thuộc vào phương thức ưu đãi mà pháp luật về thuế các nước có quy định doanh nghiệp có phải thực hiện hạch toán riêng phần doanh thu và chi phí của hoạt động đầu tư mở rộng. Đối với các hình thức ưu đãi như thuế suất, kỳ miễn thuế, giảm thuế thì nhìn chung là các doanh nghiệp phải hạch toán riêng doanh thu và chi phí. Riêng đối với các hình thức ưu đãi thuế TNDN như hỗ trợ tái đầu tư (như trường hợp của Malaysia) thì không phải hạch toán riêng (do mức hỗ trợ được xác định theo mức vốn đầu tư).

Về điều kiện của các dự án đầu tư mở rộng, pháp luật về thuế TNDN của các nước cũng có đưa ra một số điều kiện nhất định, song quy định các nước cũng có sự khác biệt, có nước đưa ra các điều kiện định tính (ví dụ như Thái Lan..), song có nước các điều kiện đưa ra cũng chỉ ở dưới dạng định tính (ví dụ như làm tăng sản lượng, quy mô sản xuất) như trường hợp của Sing-ga-pore hay Philippin.

1.5.6. Ưu đãi thuế nhằm khuyến khích phát triển khoa học và công nghệ (KHCN) trong doanh nghiệp Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Hầu hết các quốc gia đều có các quy định ưu đãi thuế đặc thù cho các doanh nghiệp có hoạt động KHCN. Mặc dù mỗi nước có một chính sách khuyến khích riêng phù hợp với điều kiện của mỗi nước nhưng nhìn chung các nước đều theo xu hướng hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp để khuyến khích phát triển KHCN mà không thông qua hình thức gián tiếp như Quỹ KHCN trong doanh nghiệp. Một số nước quy định cụ thể tỷ lệ đối với doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ, theo hướng hỗ trợ nhiều hơn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để tạo động lực cho các doanh nghiệp này thực hiện Nghiên cứu & Phát triển (như Nhật Bản, Ba Lan, Hàn Quốc…). Một số hình thức ưu đãi cụ thể được áp dụng là:

Thực hiện hỗ trợ các doanh nghiệp trong nghiên cứu phát triển thông qua cho phép khấu trừ bổ sung: Đây là cơ chế cho phép khấu trừ chi phí Nghiên cứu & Phát triển từ thu nhập chịu thuế ở mức cao hơn mức thực chi (Ấn Độ: 150%; Australia: 125%, 175%);

Hỗ trợ các doanh nghiệp cho nghiên cứu phát triển thông qua chính sách giảm nghĩa vụ thuế (tax credits): Giảm thu nhập tính thuế TNDN (Canada: 20%, Anh: 14%, Cộng hoà Séc: 21%, Ai-xơ-len: 20%; Hàn Quốc: hỗ trợ 20% cho các doanh nghiệp mới thành lập thực hiện Nghiên cứu & Phát triển, doanh nghiệp có mức tăng trưởng cao khi sử dụng công nghệ cơ bản, được áp dụng đến 31/12/2012); hỗ trợ qua khấu trừ thuế cho chi phí Nghiên cứu & Phát triển trong tương lai (Nga: số tiền dự kiến tối đa bằng doanh thu x 3%; Bỉ: quy định bằng 50% khoản vay tín dụng; Pháp: 10%; Trung Quốc: sau khi dự án được phê duyệt, doanh nghiệp sẽ được trừ 15% chi phí tính thuế TNDN trong 3 năm).

  • Hỗ trợ bằng tiền, miễn thuế đối với xây dựng cơ sở hạ tầng nghiên cứu, thiết bị nghiên cứu và nhân lực nghiên cứu:

Hỗ trợ chi phí cho hoạt động Nghiên cứu & Phát triển (Anh: Đối với doanh nghiệp công ích thuộc diện được hỗ trợ theo Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp và vừa nhỏ sẽ được hỗ trợ bằng tiền mặt bằng 24,75% cho mỗi Bảng chi tiêu cho giai đoạn xét duyệt dự án Nghiên cứu & Phát triển, được áp dụng từ 1/4/2012; Hàn Quốc: hoàn 40% chi phí bình quân hàng năm của 4 năm gần nhất…);

Mỗ trợ cho phát triển nhân lực (Hà Lan: 50% cho 220 nghìn Euro tiền lương, 18% cho chi phí lương còn lại, doanh nghiệp mới thành lập có thể được hỗ trợ 64% của 220 nghìn Euro tiền lương; Hàn Quốc: hoàn 40% chi phí trung bình hằng năm của 4 năm gần nhất và 50% đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa);

Miễn thuế cho cơ sở hạ tầng nghiên cứu (Hàn Quốc: miễn thuế địa phương cho cơ sở nghiên cứu tư nhân, giảm 5% thuế vào cơ sở thử nghiệm, 50% vào cơ sở nghiên cứu triển khai). Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập DN

3 thoughts on “Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

  1. Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp says:

    Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

  2. Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp says:

    Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

  3. Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp says:

    Khóa luận: Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464