Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và một số giải pháp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn Vạn Hương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật.
3.1.1. Các yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
3.1.1.1. Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH hai thành viên trở lên phải phù hợp với chính sách phát triển kinh tế của nước ta hiện nay.
Pháp luật về công ty TNHH hai thành viên trở lên là một bộ phận trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Mà hệ thống pháp luật thuộc yếu tố kiến trúc thượng tầng, được quyết định bởi cơ sở hạ tầng là nền kinh tế. Qua mỗi một giai đoạn, đất nước sẽ có những phương hướng và chính sách khác nhau nhằm thích nghi và theo kịp xu hướng thế giới. Cho nên, các chính sách phát triển kinh tế của đất nước luôn luôn được cập nhật, sửa đổi, cải thiện những điểm mới trong kinh doanh thông qua những văn bản dưới luật và các quyết định. Điều này giúp cho các doanh nghiệp có thể nắm bắt cơ hội và có nhiều điều kiện phát triển sâu hơn, rộng hơn.
Đó là đối với các doanh nghiệp nói chung. Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng, việc hoàn thiện các quy định của pháp luật cần có sự tương thích với chính sách phát triển chung của đất nước. Đây là một trong những mô hình kinh doanh phổ biến tại thị trường Việt Nam hiện nay, việc đảm bảo quy định pháp luật về mô hình tương thích với chính sách phát triển chung càng có vai trò quan trọng bởi nó chiếm số đông các doanh nghiệp đang vận hành.
3.1.1.2. Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH hai thành viên trở lên phải đảm bảo tính minh bạch, đồng bộ, thống nhất và khả thi của pháp luật. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
Yêu cầu về tính minh bạch đòi hỏi việc ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh công ty TNHH hai thành viên trở lên phải được công khai rộng rãi, chính xác. Đồng thời phải tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia góp ý, xây dựng văn bản pháp luật.
Tính thống nhất, đồng bộ đòi hỏi các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành phải có nội dung phù hợp, không mâu thuẫn, chồng chéo lẫn nhau. Để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, phải có sự liên kết phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành khi soạn thảo, sửa đổi các quy định của pháp luật. Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, đòi hỏi các quy định của pháp luật cần có sự thống nhất, đồng bộ giữa quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Doanh Nghiệp, Luật phá sản doanh nghiệp, Luật thương mại… Sự chồng chéo thậm chí mâu thuẫn của các quy định của pháp luật khiến cho quá trình nhận thức, áp dụng pháp luật của các chủ thể có liên quan gặp nhiều khó khăn.
Tính khả thi của pháp luật về công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng là một yêu cầu quan trọng. Tính khả thi thể hiện khả năng áp dụng dễ dàng trong thực tế các quy định của pháp luật. Để có được tính khả thi, pháp luật công ty TNHH hai thành viên trở lên cần có những quy định phù hợp dự liệu trước những tình huống có thể xảy ra để tạo cơ sở cho các bên giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng chưa được dự liệu trước về các vấn đề liên quan đến công ty TNHH hai thành viên trở lên.
3.1.1.3. Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH hai thành viên trở lên phải đáp ứng được mong muốn, nhu cầu của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp chính là những cá nhân, tập thể hiểu rõ nhất thị trường Việt Nam đang ngày một thay đổi ra sao, và cần làm gì để thực sự thúc đẩy nền kinh tế nước nhà. Doanh nghiệp cũng chính là những chủ thể thường xuyên tiếp cận, thực hành với pháp luật, với các chế định về kinh tế. Cho nên, doanh nghiệp nói chung và công ty TNHH hai thành viên nói riêng sẽ nắm bắt được pháp luật đang có những lỗ hổng gì, thiếu xót nội dung gì và không rõ ràng ở điểm nào. Vì vậy, lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp chính là lắng nghe lòng dân, tìm ra giải pháp khắc phục những hạn chế còn tồn đọng của pháp luật. Và đáp ứng mong muốn, đề nghị của doanh nghiệp là giải pháp đúng đắn nhất đối với việc thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam, đưa đất nước phát triển toàn diện.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
3.1.2. Một số bất cập, hạn chế trong quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
Luật doanh nghiệp hiện nay được xây dựng và ban hành để hiện thực hoá các mục tiêu: “Tạo thuận lợi nhất cho hoạt động thành lập và đăng ký doanh nghiệp; cắt giảm chi phí và thời gian trong khởi sự kinh doanh; góp phần nâng cao chỉ số khởi sự kinh doanh lên ít nhất 25 bậc (theo xếp hạng của ngân hàng thế giới); nâng cao cơ chế bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, cổ đông, thành viên của doanh nghiệp; thúc đẩy quản trị doanh nghiệp đạt chuân mực theo thông lệ tốt và phổ biến trong khu vực và quốc tế; nâng cao mức xếp hạng chỉ số bảo vệ nhà đầu tư lên ít nhất 20 bậc (theo xếp hạng của ngân hàng thế giới); nâng cao hiệu lực quản trị, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với doanh nghiệp mà nhà nước có phần vốn góp chi phối; tạo thuận lợi hơn, giảm chi phí trong tổ chức lại doanh nghiệp: sáp nhập, hợp nhất, chi, tách và chuyển đổi loại hình doanh nghiệp”.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện cho thấy còn những quy định chưa phù hợp, chưa phát huy được hiệu quả trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, cổ đông, thành viên của doanh nghiệp. Đặc biệt là trong quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Một số hạn chế trong quy định công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo luật doanh nghiệp hiện hành cụ thể như:
- Thứ nhất, chưa có quy định cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp trong điều lệ công ty.
Căn cứ khoản 7 điều 47 Luật doanh nghiệp 2020 quy định: “Trường hợp giấy chứng nhận phần vốn góp bị mất, bị hư hỏng hoặc bị huỷ hoại dưới hình thức khác, thành viên được công ty cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp theo trình tự, thủ tục quy định tại điều lệ công ty”.
Giấy chứng nhận phần vốn góp là loại giấy tờ được cấp cho thành viên của cong ty, là bằng chứng chứng minh việc thành viên đã hoàn thành nghĩa vụ góp đủ phần vốn góp vào công ty, là cơ sở để thực hiện quyền, nghĩa vụ của thành viên công ty đối với hoạt động của công ty. Vì thế, trường hợp giấy chứng nhận phần vốn góp bị mất, bị hư hỏng hoặc bị huỷ hoạt dưới mọi hình thức thì thành viên sẽ được công ty cấp lại giấy xác nhận vốn góp.
Tuy nhiên, việc cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp thực hiện theo trình tự, thủ tục được quy định tại điều lệ công ty. Trong khi đó, điều 24 luật doanh nghiệp năm 2020 quy định về những nội dung chủ yếu của điều lệ công ty thì trình tự, thủ tục cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp không phải là nội dung bắt buộc phải có trong điều lệ công ty. Như vậy, nếu điều lệ công ty không quy định về trình tự, thủ tục cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp thì việc cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp sẽ không có cơ sở hướng dẫn thực hiện. Điều đó sẽ gây ra khoảng trống khi có quy định việc cấp lại giấy chứng nhận phân vốn góp được thực hiện theo quy định của điều lệ công ty nhưng không ràng buộc những quy định bắt buộc phải có, vì vậy vô tình làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các thành viên góp vốn. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
- Thứ hai, cập nhật thay thổi thành viên trong sổ đăng ký thành viên công ty.
Khoản 3 Điều 48 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Công ty phải cập nhật kịp thời thay đổi thành viên trong sổ đăng ký thành viên theo yêu cầu của thành viên có liên quan theo quy định tại Điều lệ công ty”. Trong một số trường hợp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 như: Trường hợp góp vốn thành lập công ty, nhận chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty … Như vậy, cập nhật thông tin thành viên vào sổ đăng ký thành viên công ty là nội dung quan trọng, có ý nghĩa trong việc xác lập tư cách thành viên của người góp vốn, người nhận chuyển nhượng.
Vì vậy, chỉ khi các thông tin theo quy định được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên thì người góp vốn, người nhận chuyển nhượng phần vốn góp mới chính thức trở thành thành viên công ty và có các quyền, nghĩa vị của thành viên công ty.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 48 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì: “Công ty phải cập nhật kịp thời thay đổi thành viên trong sổ đăng ký thành viên theo quy định tại Điều lệ công ty”. Ngoài ra, điều lệ công ty không có quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn thực hiện việc cập nhận sự thành đổi thành viên trong sổ đăng ký thành viên, nên tạo ra lỗ hổng pháp lý, gây bất lợi cho quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên công ty vì trong công ty trách nhiệm hữu hạn không có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thời hạn thực hiện việc cập nhật sự thay đổi thành viên trong sổ đăng ký thành viên trong trường hợp Điều lệ công ty không có quy định.
- Thứ ba, thực hiện quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên.
Điểm d khoản 2 Điều 49 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Ngoài các quyền quy định tại khoản 1 Điều này, thành viên, nhóm thành viên sở hữu từ 10% số vốn điều lệ trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn do Điều lệ công ty quy định hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này có các quyền sau đây: “Yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày kết thúc họp Hội đồng thành viên, nếu trình tự, thủ tục, điều kiện cuộc họp hoặc nội dung nghị quyết, quyết định đó không thực hiện đúng hoặc không phù hợp với quy định của Luật này và Điều lệ công ty”. Quy định này gây hạn chế quyền của các “thành viên thiểu số” – có tỷ lệ phần vốn góp thấp khi không có quyền được độc lập yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên dù biết rằng cuộc họp Hội đồng thành viên thực hiện theo trình tự, thủ tục không đúng hoặc không phù hợp với quy định của Luật. Quy định này ít nhiều cũng đã gây bất lợi cho việc thành viên công ty tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại.
- Thứ tư, hạn chế trong quy định về thời điểm xác lập tư cách thành viên công ty. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
Trường hợp góp vốn thành lập công ty: Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Người góp vốn trở thành thành viên của công ty kể từ thời điểm đã thanh toán phần vốn góp và những thông tin về người góp vốn quy định tại các điểm b, c và đ khoản 2 Điều 48 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên”. Như vậy, nếu những thông tin: Họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với thành viên là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với thành viên là tổ chức; phần vốn góp, tỷ lệ phần vốn góp đã góp, thời điểm góp vốn, loại tài sản góp vốn, số lượng, giá trị của từng loại tài sản góp vốn; số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp chưa được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên thì tổ chức, cá nhân đó chưa trở thành thành viên của công ty và cũng không có các quyền của thành viên công ty.
Trường hợp nhận chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Thành viên chuyển nhượng vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với công ty tương ứng với phần vốn góp có liên quan cho đến khi thông tin về người mua quy định tại các điểm b, c và đ khoản 2 Điều 48 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên”. Quy định này là mâu thuẫn với quy định tại khoản 29 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Thành viên công ty là cá nhân, tổ chức sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh”. Rõ ràng giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp của người chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng đã hoàn thành, người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành chủ sở hữu phần vốn góp của người chuyển nhượng tại công ty và trở thành thành viên công ty theo giải thích, định nghĩa tại khoản 29 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và không cần thêm bất kỳ điều kiện gì để xác lập tư cách thành viên. Do vậy, quy định về điều kiện những thông tin về người mua được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên là không cần thiết, gây cản trở cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người nhận chuyển nhượng phần vốn góp.
3.1.3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
Từ những phân tích về thực trạng quy định của pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, tôi xin đưa ra một số giải pháp sau đây nhằm góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật:
Thứ nhất, hoàn thiện quy định về việc cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp, về việc cập nhật thay đổi thành viên trong sổ đăng ký thành viên. Nhằm xác định rõ trình tự, thủ tục, cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện việc cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp, việc cập nhật thay đổi thành viên trong sổ đăng ký thành viên để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên trong công ty. Luật Doanh nghiệp cần quy định theo hướng: (i) Quy định rõ tại Điều 24 Luật Doanh nghiệp năm 2020 về Điều lệ công ty cần quy định rõ: Nội dung cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp, cập nhật thay đổi thành viên trong sổ đăng ký thành viên là nội dung bắt buộc phải có trong Điều lệ công ty; hoặc (ii) Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định rõ về trình tự, thủ tục, cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện việc cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp, việc cập nhật thay đổi thành viên trong sổ đăng ký thành viên.
Thứ hai, hoàn thiện quy định về việc thực hiện quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên. Nhằm bảo vệ quyền của “thành viên thiểu số”, đề xuất sửa đổi theo hướng bổ sung nội dung: “Yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày kết thúc họp Hội đồng thành viên, nếu trình tự, thủ tục, điều kiện cuộc họp hoặc nội dung nghị quyết, quyết định đó không thực hiện đúng hoặc không phù hợp với quy định của Luật này và Điều lệ công ty” trở thành một trong các quyền cơ bản của thành viên công ty được quy định tại khoản 1 Điều 49 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
Thứ ba, hoàn thiện quy định về thời điểm xác lập tư cách thành viên công ty. Nhằm tạo sự thống nhất với giải thích, định nghĩa về thành viên công ty: “Thành viên công ty là cá nhân, tổ chức sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh” tại khoản 29 Điều 4 Luật
Doanh nghiệp năm 2020 và tạo điều kiện thuận lợi cho người nhận chuyển nhượng phần vốn góp trong quá trình thực hiện quyền, nghĩa vụ của thành viên công ty. Đề xuất sửa đổi khoản 5 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020 theo hướng bỏ quy định về việc ghi nhận thông tin thành tin thành viên vào sổ đăng ký thành viên là điều kiện bắt buộc để xác lập tư cách thành viên. Khoản 5 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020 nên được quy định lại như sau: “Người góp vốn trở thành thành viên của công ty kể từ thời điểm đã thanh toán phần vốn góp”.
Thứ tư, cần có cơ chế thông thoáng hơn trong việc chuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên trong công ty và giữa thành viên công ty với những thành viên bên ngoài công ty. Điều này sẽ làm cho các công ty TNHH hai thành viên trở lên trở nên linh hoạt hơn, phù hợp với một nền kinh tế hội nhập, năng động mà Việt Nam đang xây dựng.
Thứ năm, cần đồng nhất các văn bản luật và văn bản dưới luật về mọi nội dung đặc biệt là về những quy định liên quan đến thành lập doanh nghiệp, chuyển nhượng vốn góp, phát hành trái phiếu khi chưa có quy định rõ ràng, cụ thể về cách thức, điều kiện phát hành trái phiếu riêng cho mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên mà chỉ quy định chung với mô hình công ty cổ phần, trong khi đây là hai mô hình khác biệt nhau về cách thức vận hành. Điều này tạo ra tâm lí mơ hồ, gây khó khăn và vướng mắc trong quá trình phát hành trái phiếu của công ty TNHH hai thành viên trở lên. Vì thế, sau khi ban hành văn bản luật có hiệu lực mới, nhà nước nên bổ sung và đồng bộ hóa các văn bản luật khác với văn bản luật doanh nghiệp đang hiện hành.
Thứ sáu, tuy cần bổ sung những giải pháp cải thiện pháp luật về mô hình công ty TNHH hai thành viên, xong nếu không kiểm soát và quản lý tốt hoạt động của các doanh nghiệp sẽ gây ra hậu quả khó lường, ảnh hưởng tới những quan hệ xã hội khác được pháp luật bảo vệ. Điều cần làm đó là tạo điều kiện cho các công ty TNHH hai thành viên phát triển, đồng thời phải đẩy mạnh, thắt chặt quản lí, kiểm soát, ngăn chặn các hậu quả, hệ lụy ngay từ khi chưa bắt đầu. Trong một số trường hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp dẫn tới các doanh nghiệp lạm dụng, không tôn trọng pháp luật, thực hiện những việc làm đi quá giới hạn pháp luật cho phép. Trong khi đó, chính quyền buông lỏng quan lý, giám sát, không có biện pháp quyết liệt, không có những quyết định mang tính răn đe để ngăn chặn, xử lí vi phạm của doanh nghiệp. Vì thế, cần thực hiện đó là cân bằng đồng đều giữa tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp đi kèm với thắt chặt, giám sát và xử lí vi phạm triệt để đối với các doanh nghiệp vi phạm pháp luật. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
3.2. Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với công ty trách nhiệm hữu hạn Vạn Hương.
Từ những phân tích về thực trạng quy định của pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và thực tiễn việc áp dụng quy định pháp luật tại công ty TNHH Vạn Hương, em xin đưa ra một số giải pháp sau đây nhằm góp phần năng cao hiệu quả hoạt động của công ty mà vẫn đáp ứng các điều kiện của pháp luật:
3.2.1. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty.
Hiện nay trong công ty, đã có ban giám đốc gồm giám đốc và phó giám đốc, có các cơ sở kinh doanh hoạt động dưới quyền điều hành của ban giám đốc, nhưng chưa hình thành các phòng chức năng rõ ràng. Vì thế mục tiêu đặt ra là đổi mới và hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhằm điều hành sản xuất kinh doanh, đảm bảo những yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra. Việc xây dựng tổ chức bộ máy quản lý phải đảm bảo một số mục tiêu sau như đảm bảo phát huy vai trò của bộ máy quản lý công ty trong điều hành sản xuất kinh doanh và tuân theo các quy định của pháp luật. Đồng thời nâng cao tính năng động, gọn nhẹ, đem lại hiệu quả cao hơn, tăng năng suất lao động trong khi giảm chi phí sản xuất.
Công ty hoạt động ở quy mô gia đình, nhìn chung bộ máy quản lý của công ty khá tinh giản và gọn nhẹ, tuy nhiên riêng bộ phận tài chính và nhân sự đôi khi làm chồng lên chức năng của nhau, bộ phận kinh doanh do trực tiếp tham gia hoạt động chính nên phải gồng gánh quá nhiều công việc, trong khi bộ phần phụ trách đầu tư dù mới thành lập nhưng chưa tách biệt được chi phí vốn sản xuất và chi phí vốn đầu tư, ảnh hưởng trực tiếp đến phân bổ tài chính chưa rõ ràng và minh bạch. Do vậy, nên phân công công việc phụ trách rõ ràng để sắp xếp lao động đúng chức năng nhiệm vụ, đảm bảo liên kết giữa ban lãnh đạo và các phong ban tổ chức và hình thành quy trình vận hành thống nhất hoạt động. Điều đó sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng lên cơ cấu gọn nhẹ, phản ứng linh hoạt, nhanh chóng mà không bị gánh nặng chi phí tiền lương khi không phải tuyển dụng thêm nhân sự mà vẫn phân bổ nguồn lực vào mảng kinh doanh cốt lõi.
3.2.2. Nâng cao vai trò của Điều lệ và Quy chế trong công ty. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
Công ty cần chú trọng việc quy định trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của người quản lý điều hành công ty trong điều lệ và quy chế quản trị nội bộ công ty. Vì thế, tránh cho ban quản lý công ty cố ý xâm phạm quyền, lợi ích của công ty, thành viên công ty dẫn đến việc không sử dụng hiệu quả các công cụ pháp lý.
Vì vậy, một điều lệ công ty chặt chẽ, rõ ràng sẽ thúc đẩy tính chuyên nghiệp và hiệu quả trong hoạt động điều hành công ty, bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu và thành viên công ty. Pháp luật đã cho phép tạo điều kiện để cho các công ty được quyền tự quyết trong việc cụ thể hoá các quy định của luật, thậm chí có thể đưa ra những quy định mới mà luật không điều chỉnh, nhưng không trái với nguyên tắc cơ bản của Luật Doanh nghiệp. Như vậy, Điều lệ doanh nghiệp không nên chỉ được xây dựng cho có, chiếu lệ, chung chung, không rõ ràng, đơn thuần mà phải được nâng cao hơn nữa vai trò của Điều lệ và Quy chế quản trị công ty. Đặc biệt, để trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của người quản lý, quyền lợi của các thành viên công ty, được thực hiện nghiêm chỉnh, công ty cần các biện pháp bảo vệ chống xung đột về lợi ích, giao dịch nội gián, giao dịch tư lợi, chế độ công bố thông tin kịp thời trong nội dung của Điều lệ. Từ đó tạo ra khuôn khổ pháp lý và ràng buộc đối với giám đốc, người đại diện theo pháp luật và các chức danh điều hành khác.
3.2.3. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến, áp dụng pháp luật.
Nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật của người lãnh đạo cũng toàn thể người lao động trong công ty, cân tăng cường công tác phổ biến pháp luật về doanh nghiệp, trong đó có quy định về trách nhiệm của người quản lý công ty, đặc biệt là những quy định mới về các nội dung được sử đổi, cập nhật đến các đối tượng có liên quan, từ công ty, chủ sở hữu và người quản lý công ty.
Vì vậy ngoài phương pháp, cách thức để tuyên truyền, nâng cao ý thức pháp luật cho người lao động, cần tạo các điều kiện để mọi người trong công ty dễ dàng tiếp cận các văn bản pháp luật, nhất là luật doanh nghiệp, luật kinh tế. Từ đó, giúp họ có nhận thức đúng đắn về các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích chính đáng của mình. Điều đó khiến bản thân doanh nghiệp phải luôn kịp thời cập nhật các thông tin, văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước quy định để thực hiện đúng quy định pháp luật và điều hành công ty được tốt, đảm bảo được quyền lợi ích chính đáng cho tất cả các bên, doanh nghiệp, người quản lý công ty, chủ sở hữu, thành viên công ty. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
3.2.4. Xây dựng bộ tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ cho các bộ phận.
Xây dựng tiêu chuẩn chuyên mô nghiệp vụ là bộ phận quan trọng gắn liền với công tác kiện toàn tổ chức, cải tiến lề lối làm việc nhằm nâng cao hiệu lực quản lý của công ty. Là công việc có ý nghĩa thiết thực trong công tác đổi mới cơ chế quản lý trong sản xuất kinh doanh. Mục đích công tác xây dựng bộ tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ là gắn liền với công tác kiện toàn tổ chức, tinh giản bộ máy ngắn gọn, có hiệu lực và hoạt động hiệu quả. Vì thế cần được tiến hành dựa trên cở sở khoa học, cụ thể như:
- Rà soát chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy trong doanh nghiệp.
- Khảo sát lĩnh vực, các phần việc và soát xét các nội dung công việc của từng bộ phận cấu thành, đồng thời kiểm tra thực trạng về đội ngũ cán bộ.
- Phân tích, đánh giá, tổng hợp và sắp xếp hợp lý các công việc để xác định quy trình hoạt động đầy đủ cho các bộ phận.
- Xây dựng tiêu chuyển chuyên môn nghiệp vụ trên cơ sở nội dung công việc theo các phòng ban phụ trách, kết hợp nghiên cứu nội dung đào tạo và yêu cầu thực tế đối với từng công việc.
- Tham khảo và lấy ý kiến từ chuyên gia, các bên chuyên tư vấn xây dựng mô hình hoạt động để hoàn thiện hệ thống, chuyên môn nghiệp vụ của công ty.
3.2.5. Giải pháp cung ứng vốn bền vững cho doanh nghiệp.
Để nâng cao năng lực sản xuất và đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường, công ty cần có thêm cơ hội huy động vốn từ nguồn lực trong và ngoài doanh nghiệp bên cạnh nguồn vốn truyền thống đến từ tiền vay của các ngân hàng thương mại. Sang đầu năm 2022, sau khi tình hình khắc phục hậu quả của dịch bệnh covid đã được đảm bảo, tín dụng ngân hàng có xu hương tăng nóng đã phản ánh nhu cầu vốn cấp thiết của nền kinh tế nhằm khôi phục và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiện nay, với định hướng trong thời gian tới, công ty có khá nhiều đầu công việc phải làm, cụ thể như áp dụng số hoá, đầu tư cho các phương thức bán hàng mới, các hoạt động đổi mới sáng tạo phù hợp với thị hiếu, thói quen mới của ngành tiêu dùng, dịch vụ. Thêm vào đó, nguyên liệu đầu vào có sự xáo trộn, nên đã đặt ra bài toán vốn vô cùng cấp thiết cho doanh nghiệp.
Dù vậy, lãi suất tiền vay trong năm nay đang có xu hướng nhích tăng trong thời gian qua, khiến các kế hoạch kinh doanh sử dụng đòn bẩy kinh tế của công ty bị ảnh hưởng ít nhiều, trong giai đoạn tới, công ty có kế hoạch mở rộng thêm một số mảng kinh doanh như apartment hay homestay để đón đầu xu thế mới nên trong bối cảnh nguồn vốn huy động vẫn phải phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng sẽ là một bài toán không dễ khi công ty không chỉ cần có kế hoạch kinh doanh hợp lý mà phải đảm bảo tình hình tài chính lành mạnh. Hiện nay, trong bối cảnh các doanh nghiệp hầu hết vẫn phải dựa vào nguồn vốn tín dụng, một số doanh nghiệp đại chúng đã tập trung khai thác các nguồn vốn từ thị trường chứng khoán là phát hành cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, một số ít sẽ huy động từ các quỹ đầu tư hay tổ chức tài chính nước ngoài. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
Như vậy, dù có khá nhiều phương án huy động đa dạng hoá nguồn vốn trên thị trường cho doanh nghiệp, tuy nhiên xét trên phương diện uy tín và quy mô thuộc phân khúc vừa và nhỏ, công ty TNHH Vạn Hương từ khi hoạt động đến nay gần như chỉ sử dụng vốn tự có là vốn góp của các thành viên và vốn vay tín dụng ngân hàng. Ngoài ra, chính phủ dù ban hành nhiều gói tín dụng khuyến khích, hỗ trợ cho phân khúc doanh nghiệp nhỏ vay vốn, tuy nhiên để đáp ứng các tiêu chỉ thuộc đối tượng triển khai hay các cơ chế, khẩu vị tín dụng của các ngân hàng cũng là những nút thắt chưa thể giải quyết trong thời gian ngắn. Dựa vào tình hình thực tế, công ty TNHH Vạn Hương có thể xem xét các giải pháp tăng vốn hoạt động cụ thể như sau:
Huy động vốn bằng tăng vốn góp chủ sở hữu: Đây là phương pháp nhanh chóng, hiệu quả, không phát sinh chi phí vốn, việc này giúp công ty hoàn toàn chủ động sử dụng vốn, không bị phụ thuộc vào bên ngoài.
Huy động vốn từ nguồn lợi nhuận không chia: Lợi nhuận không chia là phần lợi nhuận sau thuế được doanh nghiệp sử dụng tích luỹ bổ sung vốn, tái đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất – kinh doanh trong kỳ tới, thay vì được dùng để chi trả cho các thành viên góp vốn. Khi công ty đã để lại một phần lợi nhuận trong năm phục vụ tái đầu tư cũng đồng nghĩa với việc không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần và thành viên góp vốn không có cổ tức. Tuy nhiên họ sẽ có quyền sở hữu số vốn đã góp tăng lên trong công ty. Hình thức này sẽ đem lại nhiều ưu điểm như bổ sung cho vốn góp ban đầu, đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh mà không làm thay đổi số lượng và cơ cấu thành viên hiện tại. Đảm bảo an toàn, tăng mức độ độc lập, tự chủ về tài chính. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
Huy động vốn từ việc chuyển đổi sang công ty cổ phần: Mô hình công ty cổ phần có nhiều ưu thế hơn loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, cụ thể như chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn nên mức độ chịu rủi ro các cổ đông thấp. Khả năng hoạt động rất rộng, tiềm năng huy động vốn rất cao và linh hoạt, là loại hình duy nhất có thể phát hành cổ phiếu. Đối với công ty cổ phần, cổ phiếu là phương tiện để hình thành vốn chủ sở hữu ban đầu và cũng là phương tiện để huy động tăng thêm vốn chủ sở hữu. Cổ phiếu là loại chứng khoán vốn xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Tuy nhiên, không phải công ty cổ phần nào cũng được phát hành chứng khoán do những đặc điểm về tính sinh lời và tính thanh khoản. Vì thế, luật pháp Việt Nam đã đưa ra những quy định về điều kiện để công ty được phát hành chứng khoán rất chặt chẽ. Song hành với những lợi ích về tính nhanh chóng, nguồn lực huy động lớn hình thức này cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro như: không tận dụng được đòn bẩy tài chính, cổ tức trích từ lợi nhuận sau thuế, không tạo ra khoản tiết kiệm thuế, có thể làm thay đổi số lượng và cơ cấu cổ đông thường hiện tại, phải đáp ứng được các điều kiện phát hành theo quy định của Nhà nước, phát sinh nhiều chi phí (in ấn, quảng cáo, bảo lãnh…). Ngoài ra, nó còn khiến cổ đông của công ty phải đối mặt với hiệu ứng loãng giá cổ phiếu và dễ mất quyền kiểm soát công ty của mình.
Huy động vốn qua tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là hình thức huy động vốn thông qua một thoả ước tín dụng dưới dạng hợp đồng giữa bên vay (chủ thể huy động vốn) và ngân hàng cho vay (chủ thể cung cấp vốn), theo đó, người vay có nghĩa vụ phải thanh toán khoản lãi tiền vay và hoàn trả tiền gốc theo một lịch trình đã thoả thuận. Sử dụng đòn bẩy tài chính từ ngân hàng có ưu điểm tạo ra khoản tiết kiệm thuế mà không làm thay đổi số lượng và cơ cấu các chủ sở hữu hiện tại. Tuy nhiên lại gia tăng áp lực lên các hoạt động kinh doanh của công ty, và doanh nghiệp phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng về vốn vay.
Huy động vốn qua kênh thuê tài chính: Trên góc độ tài chính, thuê tài chính là phương thức tín dụng trung và dài hạn, theo đó bên cho thuế cam kết mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản thuê. Bên thuê sử dụng tài sản và thanh toán tiền thuê suốt thời hạn đã được thoả thuận và không thể huỷ ngang hợp đồng trước hạn. Nếu công ty sử dụng thuê tài chính, sẽ giúp tăng thêm vốn trung và dài hạn để đầu tư cơ sở vật chất mà không đòi hỏi phải thế chấp tài sản. Tuy nhiên, chi phí sử dụng vốn ở mức cao hơn nguồn vốn tín dụng ngân hàng, điều đó dẫn đến gia tăng hệ số nợ và rủi ro tài chính của công ty.
Huy động vốn bằng việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp: Trái phiếu doanh nghiệp là chứng chỉ vay vốn do doanh nghiệp phát hành, thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của doanh nghiệp trong việc thanh toán số lợi tức và tiền vay vào những thời hạn đã xác định cho người nắm giữ trái phiếu. Đặc điểm của trái phiếu là chứng khoán nợ, có kỳ hạn xác định, thường có lợi tức cố định, không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phát hành. Theo đó, trái chủ (chủ sở hữu trái phiếu) là chủ nợ của doanh nghiệp, nhưng không có quyền tham gia quản lý và điều hành doanh nghiệp. Với hình thức huy động này mang tính chủ động về thời gian, quy mô, cách thức phát hành, đồng thời mức độ kiểm soát tiền vay của người cho vay thấp hơn vay tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên yêu cầu đáp ứng các điều kiện phát hành tương đối cao, hơn hết doanh nghiệp phải xây dựng được uy tín cao trên thị trường, có kế hoạch sản xuất rõ ràng, tình hình tài chính trong sạch và tài sản bảo đảm được các công ty chứng khoán chấp nhận thế chấp để phát hành bảo lãnh.
3.2.6. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
Hoạch định chiến lược kinh doanh: Để có thể phát triển ổn định, bền vững công ty cần có chiến lược phát triển trung dài hạn, và triển khai bằng các kế hoạch ngắn hạn. Xây dựng một chiến lược kinh doanh hợp lý, giúp công ty chủ động xử lý được các vấn đề xảy ra, tận dụng được các cơ hội và lường trước những khó khăn và thích ứng nhanh với thị trường đầy cạnh tranh.
Nâng cao năng lực quản lý của công ty: Để xác định mô hình tổ chức quản lý phù hợp, công ty cần phải căn cứ vào chiến lược kinh doanh, đặc điểm ngành nghề và đặc điểm của đội ngũ nhân sự trong doanh nghiệp.
Nâng cao trình độ đội ngũ lao động: Công ty cần tiến hành sắp xếp, bố trí hợp lý nhân sự dựa trên trình độ, kỹ năng, động lực, tạo sự gắn bó quyền lợi, trách nhiệm người lao động với doanh nghiệp. Có chiến lược đào tạo nâng cao trình độ thích ứng với sự phát triển. Mạnh dạn cắt bỏ lao động dư thừa, tuyển dụng nhân sự có chất lượng phù hợp với lĩnh vực, nhiệm vụ được giao.
Nâng cao năng lực lãnh đạo của chủ doanh nghiệp: Chủ công ty cần nâng cao những kỹ năng cần thiết và cập nhật những kiến thức hiện đại để đủ sức bước vào nền kinh tế tri thức.
Xây dựng chiến lược cạnh tranh, phát triển thương hiệu: Công ty cần có các giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu một cách bền vững, hoạch định chiến lược quảng bá thương hiệu, coi thương hiệu là công cụ bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp.
Đổi mới công nghệ, đầu tư và nghiên cứu phát triển: Để nâng cao năng lực cạnh tranh, một trong những yếu tố quan trọng là đổi mới công nghệ. Chính sách đổi mới công nghệ của công ty cần gắn chặt với chính sách đào tạo nguồn nhân lực phù hợp từ xã hội. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý sản xuất kinh doanh: Tích cực thực hiện chuyển giao công nghệ, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng sức cạnh tranh để hình thành sản phẩm nòng cốt, vững mạnh.
Cải cách toàn diện về tổ chức và quản lý: Khi cảnh cách, công ty không chỉ cải cách một vài khâu mà phải cải cách đồng loại, đồng bộ nhằm tránh những trục trặc do cải cách không hết, dẫn đến chồng chéo lên nhau gây khó khăn không đáng có trong công tác quản lý.
Xây dựng văn hoá doanh nghiệp: Văn hoá doanh nghiệp không phải là bất biến mà nó cần phải được thay đổi theo yêu cầu của bộ máy tổ chức quản lý, phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
Tại Việt Nam hiện nay, Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là một loại hình doanh nghiệp khá phổ biến, do có nhiều ưu điểm về cơ cấu tổ chức và vốn linh hoạt. Cũng có thể nói đây là mô hình phù hợp cho các đơn vị kinh doanh có quy mô vừa và nhỏ. Đặc điểm pháp lý của loại hình doanh nghiệp này được Luật doanh nghiệp và các văn bản dưới luật quy định rất rõ ràng. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có nhiều ưu điểm nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại không ít nhược hiểm so với công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân.
Thông qua những nội dung trên, luận án đã làm sáng tỏ những vấn đề được quy định trong mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên. Quản trị về mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên theo luật Doanh Nghiệp 2020 bao gồm những vấn đề như đặc trưng của công ty có điểm gì khác biệt sao với các loại hình công ty khác, điều kiện và tiêu chuẩn để trở thành thành viên và nắm giữ một số chức vụ trong công ty, điều kiện về vốn góp mà công ty cần đáp ứng và thủ tục về thành lập, về chuyển nhượng vốn góp hay phát hành trái phiếu mà chủ sở hữu công ty cần rõ trước khi bắt đầu quá trình. Đồng thời, bài báo cáo đã chỉ ra những lỗ hổng, những bất cập đã phát sinh trong quá trình áp dụng luật Doanh Nghiệp 2020 trong thực tiễn, chỉ ra những nguyên nhân lí giải cho bất cập đó bao gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Qua đó, càng thể hiện rõ nét tất cả vấn đề xoay quanh mô hình công ty TNHH hai thành viên.
Việc điều tra thực trạng áp dụng pháp luật về mô hình Công ty TNHH Vạn Hương cho thấy một số bất cập ở luật Doanh Nghiệp 2020 thực sự tồn tại ngay cả khi công ty điều tra thực trạng chỉ là một đơn vị kinh doanh nhỏ. Tuy nhiên, những bất cập, hạn chế trong áp dụng pháp luật về mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên không hoàn toàn nằm ở phía pháp luật, mà cũng có hạn chế xuất phát từ phía chủ thể áp dụng. Bởi không thể can thiệp sâu hơn vào nội bộ công ty, pháp luật quy định một số vấn đề trong cơ cấu tổ chức là do công ty quyết định. Cho nên, bất cập đến từ nguyên nhân chủ quan là không ít và không thể không có.
Luận án cũng đã đề cập một số định hướng có thể áp dụng để cải thiện pháp luật đối với mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên. Trong đó, hai định hướng quan trọng nhất đó là hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH hai thành viên trở lên phải phù hợp với chính sách phát triển kinh tế của nước ta hiện nay và hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH hai thành viên trở lên phải đảm bảo tính minh bạch, đồng bộ, thống nhất và khả thi của pháp luật. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty hai thành viên trở lên.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Pháp luật về công ty hai thành viên trở lên

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
