Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại ở Việt Nam.

Sửa đổi khái niệm về thương nhân theo hướng xác định thương nhân là chủ thể hoạt động thương mại hợp pháp thường xuyên, độc lập nhằm mục đích sinh lời.

Giải pháp để hoàn thiện khái niệm thương nhân và hoàn thiện Luật TM 2005 là sửa lại khái niệm thương nhân là các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên; thương nhân sẽ bao gồm hai loại thương nhân đăng ký kinh doanh và thương nhân thực tế (không đăng ký kinh doanh nhưng thực hiện hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên trên thị trường).

Thương gia do đăng ký vào danh bạ thương mại theo Điều 2 và Điều 3 Bộ luật Thương mại. Thương gia theo nhóm này có nghĩa vụ phải đăng ký vào danh bạ thương mại.

Bổ sung quy định của Luật TM 2005 hướng dẫn cụ thể về cách thức xác định chất lượng hàng hóa khi các bên không có thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Luật TM 2005 cần được sửa đổi theo hướng quy định cụ thể hơn về cách thức xác định chất lượng hàng hóa trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về chất lượng hàng hóa trong hợp đồng; hoặc không quy định về cách thức xác định chất lượng hàng hóa trong trường hợp các bên không có thỏa thuận trong hợp đồng mà mặc nhiên áp dụng quy định của Bộ luật dân sự.

  • Sửa đổi các quy định về chế tài thương mại Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại.

Đối với chế tài bồi thường thiệt hại, nên sửa đổi theo hướng cho phép các bên trong hợp đồng được thỏa thuận về số tiền bồi thường thiệt hại. Đối với quyền yêu cầu đòi tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán sửa đổi theo hướng các bên có quyền thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định trong Bộ luật dân sự.

  • Sửa đổi tên gọi và bổ sung nội hàm khái niệm hợp đồng quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn.

Luật TM 2005 cần sửa theo hướng:

(i) Đặt lại tên hợp đồng là hợp đồng tương lai; (ii) quy định rõ hơn về nội hàm của các hợp đồng quyền chọn theo đó các bên mua quyền chọn có thể thực hiện hợp đồng hoặc có quyền kinh doanh hợp đồng (mua bán hợp đồng quyền chọn) đầu cơ về giá hàng hóa nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Như vậy, sẽ khuyến khích nhiều nhà đầu tư dùng hợp đồng tương lai để tìm kiếm lợi nhuận, kể cả nhà đầu tư có hay không có nhu cầu thực về hàng hóa, qua đó mang lại cơ hội đầu tư cho nhiều chủ thể tiềm năng.

  • Sửa đổi phù hợp với quy định của Công ước Viên năm 1980 mà Việt Nam đã tham gia.

Về cơ bản, các quy định của Luật TM 2005 là tương thích, phù hợp với quy định của Công ước Viên năm 1980 vì trong quá trình xây dựng Luật TM 2005, Việt Nam đã tham khảo quy định của Công ước Viên. Đó là một xu thế tất yếu khi xây dựng pháp luật của quốc gia đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam đã là thành viên của Công ước Viên thì phạm vi tác động của Công ước này sẽ ảnh hưởng trực tiếp hơn đến các hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế mà Việt Nam tham gia. Theo đó, về cơ bản Luật TM 2005 cần sửa đổi các nội dung sau: Quy định rõ hơn về các tiêu chí nhận diện vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng mua bán hàng hóa; quy định chi tiết hơn về cách tính tiền bồi thường thiệt hại hợp đồng; bổ sung thêm trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm do lỗi của bên thứ ba; bổ sung quy định về nghĩa vụ bảo quản hàng hóa của các bên trong trường hợp có tranh chấp; quy định về thời hạn kiểm tra hàng hóa và thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa.

  • Hoàn thiện quy định của các văn bản pháp luật trong lĩnh vực thương mại có liên quan về hợp đồng thương mại

Bổ sung những quy định cụ thể về giao kết hợp đồng điện tử: khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng điện tử, về thời hạn hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng điện tử, về thời hạn hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng điện tử…, bổ sung quy định về chủ thể hợp đồng mua bán doanh nghiệp, hình thức hợp đồng mua bán doanh nghiệp đối với các thương vụ mua bán doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, không phải là doanh nghiệp trong lĩnh vực đặc thù .

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

3.2. Một số ý kiến góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng kinh doanh thương mại 2005.

Thứ nhất, bổ sung quy định về điều kiện để công nhận thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm hợp đồng giữa các bên. Luật TM năm 2005 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định có tính nguyên tắc về điều kiện công nhận thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, như: Thỏa thuận giữa các bên về trường hợp miễn trách nhiệm phải tồn tại trước khi xảy ra vi phạm và có hiệu lực đến thời điểm bên bị vi phạm áp dụng chế tài; Thỏa thuận này có giá trị pháp lý nếu như nó không phải là vi phạm do cố ý;…nếu được như vậy sẽ đảm bảo sự tự do thỏa thuận giữa các bên vừa hạn chế trường hợp khi một bên lợi dụng căn cứ này để trốn tránh trách nhiệm hợp đồng. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại.

Thứ hai, bổ sung quy định về căn cứ miễn trách nhiệm do người thứ ba có quan hệ với một bên trong hợp đồng thương mại gặp trường hợp bất khả kháng. việc bổ sung quy định về căn cứ miễn trách nhiệm cho bên vi phạm do người thứ ba có quan hệ hợp đồng với bên vi phạm gặp bất khả kháng là phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Vấn đề này cũng được quy định trong công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc, cũng như quy định của pháp luật tại nhiều quốc gia khác. Để được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong trường hợp này, theo tác giả, cần quy định cụ thể về điều kiện làm căn cứ miễn trách nhiệm đối với bên thứ ba cho một bên hợp đồng thương mại, cụ thể:

Sự kiện bất khả kháng mà bên thứ ba gặp phải phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 156 Bộ luật dân sự năm 2005;

Hợp đồng của bên vi phạm với bên thứ ba có quan hệ mật thiết với hợp đồng thương mại giữa bên vi phạm và bên bị vi phạm;

Việc bên thứ ba vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc vi phạm hợp đồng của bên vi phạm và bên vi phạm không thể khắc phục được.

Thứ ba, cần có quy định hướng dẫn cụ thể cơ quan quản lý nhà nước trong trường hợp này ra quyết định nhằm mục đích gì, những điều kiện cụ thể để một quyết định có thể trở thành căn cứ miễn trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng. Chỉ những quyết định mang tính chất bất khả kháng, bên vi phạm không thể có lựa chọn nào khác ngoài việc vi phạm hợp đồng mới có thể là căn cứ miễn trừ trách nhiệm.

Bản chất của miễn trừ trách nhiệm đối với hành vi vi phạm là việc bên chủ thể vi phạm nghĩa vụ đáng lẽ phải gánh chịu chế tài mà pháp luật quy định phải áp dụng với hành vi vi phạm đó, tuy nhiên, vì thiệt hại xảy ra trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định mà bên vi phạm nghĩa vụ được miễn trừ toàn bộ hoặc một phần trách nhiệm. Đây là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, không chỉ đảm bảo quyền lợi của các bên giao kết hợp đồng, đảm bảo sự tự nguyện thỏa thuận của các bên mà còn là yếu tố hạn chế việc một bên lợi dụng quy định về miễn trừ trách nhiệm để trốn tránh trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được pháp luật thương mại quy định cụ thể và toàn diện dẫn tới việc áp dụng trong thực tế còn gặp nhiều khó khăn và không thống nhất. Hi vọng, trong khoảng thời gian không xa tới, các cơ quan chức năng sẽ đưa ra những quy định bổ sung và văn bản hướng dẫn cụ thể hơn để pháp luật thương mại nói chung, pháp luật quy định về vấn đề miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thương mại được hoàn chỉnh hơn.

3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại.

Quy định của pháp luật Việt Nam tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 có vẻ khá dặt dè: “Hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”. Thực tế xảy ra hai cách giải thích đối với quy định này:

Thứ nhất, Chỉ khi nào luật có quy định. Ví dụ, “hợp đồng có hiệu lực khi được công chứng chứng thực” trong trường hợp này nếu không công chứng chứng thực thì xem là vi phạm điều kiện hình thức. Các hợp đồng này phổ biến trong các giao dịch liên quan đến bất động sản như nhà ở, quyền sử dụng đất…

Thứ hai, Chỉ cần có quy định” hợp đồng phải được xác lập bằng văn bản” hoặc “hợp đồng là văn bản phải có công chứng, chứng thực”  nếu các bên không xác lập bằng văn bản hay không công chứng chứng thực thì được xem là vi phạm điều kiện hình thức của hợp đồng.

Theo chúng tôi, việc quy định hình thức là điều kiện bắt buộc trong một số loại hợp đồng là không hợp lý. Bởi lẽ, hình thức hợp đồng thực chất chỉ là sự thể hiện ý chí của các bên tham gia hợp đồng theo các ký tự bằng mực đen, giấy trắng; trong khi đó việc công chứng nhà nước chứng nhận hay chứng thực, đăng ký hoặc cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực chất là xác nhận sự kiện pháp lý giữa các bên. Khi có tranh chấp xảy ra, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có sự kiện này. Pháp luật quy định vi phạm hình thức dẫn tới hợp đồng vô hiệu thì sẽ tạo nên một khoảng cách nhất định giữa sự thống nhất ý chí thực và hiệu lực của hợp đồng.

Mặt khác, trong thực tiễn giải quyết tại Tòa án chúng tôi thấy  pháp luật quy định một số loại hợp đồng phải tuân thủ các quy định về hình thức, nếu các chủ thể tham gia hợp đồng không tuân thủ sẽ dẫn tới hợp đồng vô hiệu không phù hợp tình hình hiện nay, như việc quy định tuân thủ các quy định về hình thức đối với họp đồng mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

3.4. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng kinh doanh thương mại Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại.

Thứ nhất, đối với điều khoản phạt vi phạm hợp đồng: Phạt vi phạm hợp đồng là một biện pháp chế tài thương mại được đặt ra khi các bên chủ thể có sự thỏa thuận về chế tài này. Vì thế chế tài phạt vi phạm hợp đồng sẽ không được đặt ra kể cả trong trường hợp hợp đồng có sự vi phạm mà các bên không thỏa thuận. Theo tinh thần của Luật Thương mại năm 2005, điều khoản này phải được ghi nhận là một điều khoản trong hợp đồng, trong khi đó nếu sau khi hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật, đã được các bên chủ thể thực hiện nhưng sau đó muốn có thỏa thuận về điều khoản phạt vi phạm hợp đồng thì các bên có thể thiết lập phụ lục hợp đồng độc lập với hợp đồng về điều khoản này hay không? Chúng tôi cho rằng, khi hợp đồng đã được thực hiện và chưa phát sinh ra hành vi vi phạm hợp đồng thì việc các bên đã có một thỏa thuận nào đó về phạt vi phạm hợp đồng mà độc lập với hợp đồng thì pháp luật nên quy định mở rộng thêm về trường hợp này nhằm đảm bảo tối đa được quyền và lợi ích cho các bên tham gia hợp đồng.

Thứ hai, liên quan đến mức phạt khi áp dụng chế tài phạt vi phạm (8%): Việc pháp luật quy định mức phạt 8% là nhằm hạn chế quyền tự do thỏa thuận của các bên bởi lẽ qua mức phạt trần thì Nhà nước có thể dễ dàng kiểm soát được sự thỏa thuận của 2 bên, đặc biệt là những thỏa thuận tự phát nhằm thu lợi bất chính trừ hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, với mức phạt 8% đến nay vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến trái chiều khác nhau. Chúng tôi cho rằng, trong thời gian tới, Luật Thương mại cần đưa ra quy định hợp lý hơn liên quan đến mức phạt vi phạm, cụ thể là: Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại.

Pháp luật có thể quy định “mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ của hợp đồng”. Như vậy, mức phạt vẫn được giữ nguyên là 8% nhưng được tính trên phần nghĩa vụ của hợp đồng mà không phải là trên toàn hợp đồng. Điều này sẽ hợp lý bởi vi phạm đến đâu thì phải bồi thường đến đó, không phải vì vi phạm một nghĩa vụ mà phải gánh chịu toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng và pháp luật cũng cần quy định rõ “trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt vượt quá 8% phần nghĩa vụ hợp đồng vi phạm thì phần vượt quá sẽ không có giá trị pháp lý”. Các quy định này sẽ góp phần giải quyết tình trạng là các bên tùy tiện thỏa thuận mức phạt cao hơn giá trị bồi thường thực tế mà vẫn đảm bảo sự tự do thỏa thuận của các bên về mức phạt trong giới hạn mức trần Nhà nước đưa ra. Liên quan đến mức phạt 8% nói trên, pháp luật nên có thêm quy định cụ thể cho phép Tòa án hạ mức tiền phạt mà các bên đã thỏa thuận theo yêu cầu của bên vi phạm nếu họ chứng minh được thiệt hại thực tế xảy ra thấp hơn nhiều so với mức phạt vi phạm mà các bên đã thỏa thuận tại thời điểm ký kết hợp đồng. Thông thường, khi áp dụng mức phạt vi phạm hợp đồng, Tòa án thường áp dụng mức 8%. Vì vậy, theo tác giả, nếu có đủ căn cứ chứng minh do bên vi phạm cung cấp, thì việc áp dụng mức phạt 8% nên được áp dụng bởi việc giải quyết bất kỳ tranh chấp nào cần được đặt trong lợi ích chung của tất cả các bên tham gia hợp đồng thương mại.

Pháp luật cũng cần có biện pháp xử lý chung khi sự thỏa thuận của các bên vượt quá mức phạt do luật định. Để trực tiếp làm giảm sự thiếu thống nhất khi xử lý vấn đề này trong thực tiễn thương mại. Luật Thương mại cũng không nêu rõ mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài hủy hợp đồng. Tính chất của chế tài hủy hợp đồng sẽ liên quan đến sự tồn tại của hợp đồng, nhưng đã có những trường hợp chế tài này không đủ để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bên bị vi phạm. Bởi vậy, việc phạt vi phạm dẫn đến hủy bỏ hợp đồng rất có thể gây thiệt hại trực tiếp cho bên vi phạm.

Sẽ hợp lý hơn nếu Luật quy định việc áp dụng chế tài phạt vi phạm bên cạnh chế tài hủy bỏ hợp đồng để bên bị vi phạm lấy lại phần nào sự cân bằng về thiệt hại đã mất. Phạt vi phạm là một chế tài có thể áp dụng không cần đến yêu tố thiệt hại thực tế. Điều này đã được Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng quy định rõ tại khoản 1 Điều 9:509: “Khi hợp đồng có quy định bên không thực hiện hợp đồng sẽ phải trả một khoản tiền do không thực hiện đúng hợp đồng thì khoản tiền này được thanh toán cho bên có quyền độc lập với thiệt hại thực tế của bên có quyền.” Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam, nếu trường hợp thiệt hại thực tế tồn tại thì phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại có được kết hợp với nhau hay không? Câu trả lời chưa có sự thống nhất giữa Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự.

Thứ ba, Luật Thương mại chỉ đề cập đến việc miễn trách nhiệm khi xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc do thỏa thuận của các bên, hoặc đó là thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Còn trường hợp không thực hiện đúng hợp đồng mà do lỗi của cả 2 bên, lỗi 1 bên ít hơn, thì giải quyết như thế nào, áp dụng chế tài ra sao? Hiện tại, câu trả lời vấn đề này không cụ thể trong Luật Thương mại. Vậy cần phải bổ sung vấn đề này trong tương lai để làm căn cứ, cách tính trong phạt vi phạm hợp đồng. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại.

3.5. Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại

  • Các quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa

Luật Thương mại quy định các vấn đề thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa trên cơ sở tiếp thu quan điểm “tôn trọng tối đa tự do thỏa thuận”giữa các chủ thể hợp đồng của WTO và Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG). Tôn trọng nguyên tắc này trong quá trình xây dựng Luật Thương mại tạo điều kiện tốt cho Việt Nam hội nhập nền kinh tế thế giới nhưng cũng đặt ra những khó khăn cho các chủ thể trong quá trình thực hiện hợp đồng. Điển hình như Luật Thương mại năm 1997 quy định nội dung chủ yếu của hợp đồng tại Điều 50: “1) Tên hàng; 2) Số lượng; 3) Quy cách, chất lượng; 4) Giá cả; 5) Phương thức thanh toán; 6) Địa điểm và thời hạn giao nhận hàng…”. Đây này là cơ sở để các chủ thể xác định được nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa và ghi nhận vào hợp đồng, hạn chế rủi ro khi giao kết, đặc biệt là đối với các chủ thể có hiểu biết hạn chế về pháp luật. Tuy nhiên, đến Luật Thương mại, nhà làm luật lại bỏ quy định này, thay vào đó là những quy định về khắc phục hậu quả pháp lý nếu hợp đồng không có những điều khoản cơ bản như: Khoản 2 Điều 35 về trường hợp không có thỏa thuận về địa điểm giao hàng; Khoản 3 Điều 37 về trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng; Khoản 1 Điều 39 về trường hợp không có thỏa thuận về chất lượng hàng hóa; Điều 52 về trường hợp không có thỏa thuận về giá…, nhưng chính những quy định này cũng không thật sự rõ ràng, gây khó khăn cho các bên khi thực hiện hợp đồng, cụ thể:

Theo điểm c Khoản 2 Điều 35 Luật Thương mại: “Trường hợp trong hợp đồng không có quy định về vận chuyển hàng hoá, nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng, các bên biết được địa điểm kho chứa hàng, địa điểm xếp hàng hoặc nơi sản xuất, chế tạo hàng hoá thì bên bán phải giao hàng tại địa điểm đó”. Như vậy, bên nhận hàng không thể biết mình sẽ nhận hàng ở đâu, cách tốt nhất cho họ là thỏa thuận lại địa điểm giao hàng với bên mua.

Đối với “trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng” (Khoản 3 Điều 37 Luật Thương mại) thì xác định thế nào là “một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng”?. Phương thức và tiêu chí để xác định khoảng thời hạn này không được quy định trong Luật Thương mại. Do đó, nếu hợp đồng không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng, tranh chấp rất dễ xảy ra do cách thức tiếp cận quy định trên của các bên sẽ khác nhau. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại.

Hoặc quy định tại Điều 52 Luật Thương mại: “Trường hợp không có thoả thuận về giá hàng hoá, không có thoả thuận về phương pháp xác định giá và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá thì giá của hàng hoá được xác định theo giá của loại hàng hoá đó trong các điều kiện tương tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hoá, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá”. Có thể thấy rằng, sẽ không dễ dàng để xác định giá hàng hóa nếu không có thỏa thuận về giá hàng hóa khi ký kết hợp đồng, vì trong một số trường hợp, điều kiện hàng hóa không thể lặp lại hoàn toàn để so sánh giá, mà chỉ có thể là những điều kiện tương tự để so sánh.

Từ những phân tích trên, để hoàn thiện Luật Thương mại, nhà làm luật nên bổ sung lại điều khoản về nội dung cơ bản của hợp đồng là cơ sở cho các chủ thể soạn thảo và thực hiện hợp đồng để phòng tránh rủi ro. Những quy định về khắc phục các trường hợp thiếu điều khoản cơ bản của hợp đồng phải rõ ràng, cụ thể để các bên dễ dàng xác định và hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng như: ấn định địa điểm giao hàng cụ thể nếu các bên không thỏa thuận, xây dựng tiêu chí xác định khoảng thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng, hay hệ quy chiếu để xác định giá hàng hóa. Các quy định tại Điều 57, 58, 59, 60, 61 về chuyển rủi ro hàng hóa phải được quy định lại đơn giản và rõ ràng hơn, đồng thời bổ sung khái niệm “Đối tượng là hàng hóa đang trên đường vận chuyển” tại Điều 60.

  • Quy định về cung ứng dịch vụ liên quan đến hàng hóa

Luật Thương mại đã ghi nhận nhiều loại hình dịch vụ liên quan đến hàng hóa từ trung gian thương mại, xúc tiến thương mại, đấu giá, đấu thầu, logistics, gia công hàng hóa, nhượng quyền thương mại, cho thuê hàng hóa, giám định hàng hóa. Tuy nhiên, có nhiều loại hình dịch vụ lại do các văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh.

Đối với hoạt động môi giới thương mại (một trong các dịch vụ trong nhóm trung gian thương mại), Luật Thương mại quy định rất đơn giản; tuy nhiên trên thực tế, đây là một hoạt động có tính chất phức tạp cao và được điều chỉnh cụ thể tại các văn bản chuyên ngành như: môi giới bất động sản được quy định tại Mục 1, Chương IV, Luật Kinh doanh bất động sản; môi giới chứng khoán được quy định tại Luật Chứng khoán…

Đối với hoạt động quảng cáo, bên cạnh các điều (từ Điều 102 đến Điều 116) của Luật Thương mại còn có các quy định trong Pháp lệnh Quảng cáo và hệ thống văn bản hướng dẫn. Trên thực tế, khi thực hiện hoạt động quảng cáo, thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo gần như không sử dụng các quy định trong Luật Thương mại.

Đối với hoạt động đấu thầu, Luật Thương mại dành quy định tại mục 3 Chương VI để điều chỉnh, tuy nhiên, những quy định này hết sức sơ sài, không cụ thể, vì vậy trên thực tế, dù là các thương nhân ở khu vực dân doanh nhưng khi tiến hành đấu thầu lại chủ yếu tham khảo những nội dung tại Luật Đấu thầu năm 2005 (mặc dù theo Khoản 1 Điều 1 của Luật Đấu thầu, đối tượng điều chỉnh của Luật này là các dự án sử dụng vốn Nhà nước từ 30% trở lên). Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại.

Đối với các hoạt động gia công hàng hóa hay cho thuê hàng hóa, những nội dung trong Luật Thương mại không có điểm khác biệt so với những quy định về hoạt động gia công và cho thuê trong Bộ luật dân sự.

Với những phân tích trên, Luật Thương mại nên có những điều chỉnh để hoàn thiện hơn theo hướng: đối với những dịch vụ đã có văn bản pháp luật chuyên ngành quy định chi tiết có thể lược bỏ khỏi nội dung của Luật hoặc có quy định dẫn chiếu cụ thể; đối với những dịch vụ được quy định trong Bộ luật dân sự chỉ nên quy định những điểm khác biệt quan trọng, còn lại thì dẫn chiếu về Bộ luật dân sự để tránh chồng chéo; đối với những dịch vụ mới xuất hiện ở Việt Nam như logistics hay nhượng quyền thương mại cần quy định rõ ràng hơn để các dịch vụ này dễ đi vào đời sống kinh doanh tại Việt Nam.

  • Quy định về chế tài thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại

Luật Thương mại ghi nhận bảy hình thức chế tài tại Điều 292: “1) Buộc thực hiện đúng hợp đồng; 2) Phạt vi phạm; 3) Buộc bồi thường thiệt hại; 4) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; 5) Đình chỉ thực hiện hợp đồng; 6) Huỷ bỏ hợp đồng; 7) Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế”. Các hình thức chế tài đều được quy định cụ thể, mặc dù vậy, vẫn còn một số vấn đề đặt ra đối với phần nội dung này.

Đối với chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, Luật Thương mại không nêu cụ thể hệ quả pháp lý cho bên vi phạm, do đó, làm cho bên bị vi phạm còn e ngại khi áp dụng chế tài trên thực tế.

Đối với khái niệm “vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”, đây là một khái niệm mới được ghi nhận trong Luật Thương mại trên cơ sở Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG). Theo khoản 13 Điều 3 Luật Thương mại: “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Khái niệm này không thể giúp các bên chủ thể xác định rõ hành vi vi phạm nào được coi là vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại.

Việc quy định mức phạt vi phạm tối đa trong hợp đồng là “8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm” (Điều 301 Luật Thương mại) làm ảnh hưởng tới quyền tự do thỏa thuận hợp đồng của các bên. Đồng thời, hệ thống văn bản luật thương mại thiếu hướng dẫn trong trường hợp các bên quy định vượt quá mức phạt vi phạm trong Luật.

Như vậy, để hoàn thiện các quy định trong phần nội dung liên quan đến chế tài thương mại, Luật Thương mại cần thiết phải có hướng dẫn cụ thể về khái niệm “vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng” bằng việc đưa ra một số trường hợp cụ thể; quy định chi tiết hơn chế tài “buộc thực hiện đúng hợp đồng” theo hướng làm rõ hệ quả pháp lý dành cho bên vi phạm; bỏ quy định về mức phạt vi phạm tối đa theo quy định của hợp đồng.

Kết luận Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại.

Hợp đồng là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện các hoạt động kinh doanh trong thực tế. Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, mọi chủ thể kinh doanh đều phải tham gia vào rất nhiều quan hệ hợp đồng, từ những hợp đồng đơn giản tồn tại dưới hình thức bằng lời nói đến những hợp đồng phức tạp có mức độ yêu cầu cao về mặt hình thức để đảm bảo tính an toàn về mặt pháp lý như hợp đồng bằng văn bản hoặc hợp đồng có công chứng, chứng thực.

Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, các quan hệ kinh tế vận động không ngừng đòi hỏi các pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại cũng phải thường xuyên sửa đổi, bổ sung đáp ứng các yêu cầu mới cho các doanh nghiệp .

Hợp đồng kinh doanh thương mại là cơ sở pháp lý để cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động thương mại như mua bán hàn hàng hóa và cung ứng dịch vụ với đối tác. Hợp đồng kinh doanh thương mại là công cụ quan trọng để doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh của mình trong hoạt động kinh doanh

Hợp đồng kinh doanh thương mại còn giúp cho các bên xác định được ai sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của mình.

Hợp đồng có giá trị pháp lý như luật là công thức để giúp cho các doanh nghiệp có cơ sở bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp xảy ra.

Hợp đồng thương mại sẽ giúp doanh nghiệp loại bỏ được những đối tác có tư duy “ăn thật làm giả” khi tham gia vào hoạt động mại, gây thiệt hại cho phía đối tác.

Hợp đồng có giá trị pháp lý như luật để giúp cho các doanh nghiệp có cơ sở bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp xảy ra.

Thông qua hợp đồng kinh doanh thương mại, các cá nhân và tổ chức bước vào một thỏa thuận với những đối tác của mình thông qua niềm tin mà chúng ta gọi là “luật chơi” để đảm bảo rằng những thỏa thuận đó sẽ được thực hiện.

Từ việc phân tích những hạn chế, bất cập của pháp luật và thực trạng áp dụng những quy định về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, em nhận thấy còn nhiều điểm bất cập, chưa hợp lý trong quy định về hợp đồng kinh doanh thương mại .Trên cơ sở đó, em có đề xuất, kiến nghị một số phương hướng và giải pháp để bổ sung, sửa đổi pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại ở việt nam hiện nay. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464