Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại theo Luật thương mại 2005 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Trong thời đại kinh tế phát triển , giao thương hàng hóa giữa các quốc gia với nhau cũng ngày càng gia tăng chính vì thế các nhà doanh nghiệp đang hoạt động muốn đạt được lợi nhuận , phát triển thương hiệu trong và ngoài nước thì không thể thiếu đi sự phải hợp tác với các công ty khác và phải có mối quan hệ hỗ trợ mật thiết cho nhau nên việc giao kết hợp đồng kinh doanh thương mại giữa các bên là điều tất yếu . Hợp đồng là một loại giao dịch quan trọng của bất cứ chủ thể nào dù là cá nhân hay pháp nhân.Hầu hết các công ty ở các nước phát triển luôn đề cao quy trình soạn thảo và ký kết hợp đồng. Bởi các nhà doanh nghiệp rất coi trọng hợp đồng thương mại vì được coi là chìa khóa giải quyết các vấn đề trong kinh doanh, trao đổi và mua bán hàng hóa và là một trong những tài liệu cực kỳ quan trọng trong việc làm ăn của doanh nghiệp.
Trong khi đó, hiện nay đa số các công ty của việt nam chưa quan tâm nhiều đến vấn đề này , tuy rằng pháp luật hiện hành chưa có văn bản nào quy định trường hợp cụ thể nào bắt buộc phải ký hợp đồng và ký hợp đồng theo hình thức nào (bằng văn bản,bằng lời nói hay bằng hành vi cụ thể). sử dụng những mẫu hợp đồng khuôn sáo, đơn điệu – “ năm câu ba điều “ khó hiểu và thấm chí còn lạc hậu so với pháp luật hiện hành hậu quả là khi giao kết hợp đồng, các bên cần không nắm được các quy định đặc thù của pháp luật đối với giao dịch đó, nên không tránh được việc các bên đưa ra thỏa thuận bị xem là vi phạm điều cấm của pháp luật, dẫn đến giao dịch bị vô hiệu và xảy ra tranh chấp thường bị thua khi kiện tụng. Do đó, để đảm bảo cho các giao dịch thuận lợi, hạn chế rủi ro dẫn đến thiệt hại đáng tiếc cho mỗi bên đồng thời đảm bảo hòa khí trong giao dịch, chúng ta cần phải tự bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách xem xét cẩn trọng mọi vấn đề khi tham gia ký kết hợp đồng .
Là một sinh viên đang theo học ngành luật kinh tế, với em việc hiểu biết về pháp luật trong việc soạn thảo, ký kết, thực hiện hợp đồng là điều cần thiết. sau này ngành học của em sẽ giúp cho công việc thuận lợi hơn trong các giao dịch hợp đồng kinh doanh thương mại. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Ngoài ra hợp đồng kinh doanh thương mại theo luật thương mai 2005 cũng là một đề tài thú vị mà em muốn tìm hiểu để sau khi làm luật sư sẽ giúp cho thân chủ và bản thân biết cách tránh những rủi ro trong vấn đề pháp lý, biết cách xử lý trong những tình huống cụ thể và giúp bản thân và thân chủ chủ động khi giao dịch hợp đồng.
Vì những lí do trên , em quyết định chọn đề tài : “Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại theo Luật thương mại 2005”.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.Mục tiêu và ý nghĩa khi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là tìm hiểu về các quy định của pháp luật hiện hành về quá trình hình thành , ký kết , thực hiện , kết thúc hợp đồng và các vấn đề liên quan khi có tranh chấp xảy ra . Bên cạnh đó, còn một mục tiêu cần hướng đến là thực hiện phân tích, so sánh và tìm ra những điểm chưa hợp lý, chưa thống nhất, chưa khả thi và đề xuất ý kiến điều chỉnh.
Ý nghĩa nghiên cứu đề tài mang đến cái nhìn rõ ràng, chính xác hơn từ lúc hình thành, đến khi kết thúc hợp đồng và các vấn đề có liên quan khi có tranh chấp xảy ra cho sinh viên nói riêng và cho tất cả những đối tượng sử dụng đến hợp đồng trong quá trình kinh doanh thương mại nói chung.Đề tài nghiên cứu giúp chúng ta có được kiến thức về pháp luật để chấp hành đúng pháp luật,hạn chế được rủi ro xảy ra trong giao dịch liên quan đến hợp đồng, đồng thời dùng những hiểu biết đó để có thể tự bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình, dùng pháp luật phục vụ cho mình.Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu còn đưa ra những nhận xét về những quy định còn chưa thống nhất, chưa rõ ràng, hoặc chưa khả thi của pháp luật hiện nay về các vấn đề liên quan đến hợp đồng thương mại. Từ đó, có một số kiến nghị bổ sung, điều chỉnh những quy định đó; góp phần nhỏ trong hoàn thiện pháp luật về hợp đồng của nước ta hiện nay.Qua quá trình tìm hiểu nghiên cứu những quy định của pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại, chúng ta nhận thấy được rằng quy định pháp luật về vấn đề này vẫn tồn tại những bất cập. Vì vậy, trong thời gian chờ đợi để có những quy định hợp lý và phù hợp với thực tế hơn, các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng nên chủ động trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Đặc biệt, bằng biện pháp thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng, các chủ thể có thể hạn chế được một phần các rủi ro có thể xảy ra với mình trong quá trình thực hiện hợp đồng. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên, càng chi tiết, càng cụ thể bao nhiêu thì sẽ hạn chế được rủi ro bấy nhiêu. Đồng thời cũng giúp việc xử lý khi có tranh chấp xảy ra dễ dàng, có căn cứ hơn.
3 . Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là sưu tầm tài liệu từ các nguồn như giáo trình, website pháp luật, sách Luật về Thương mại,…Sau khi nắm được những quy định của pháp luật, thực hiện phân tích, so sánh và tìm ra những điểm chưa hợp lý, chưa thống nhất, chưa khả thi và đề xuất ý kiến điều chỉnh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng trong kinh doanh thương mại ởViệt Nam.Do đây là một đề tài khá rộng, lại được thực hiện cá nhân cho nên phạm vi nghiên cứu cũng chỉ tập trung chủ yếu vào các quy định về hợp đồng trong kinh doanh thương mại của Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 của Việt Nam
5. Bố cục tổng quát của khóa luận.
- Chương 1: Trình bày được cơ sở lý luận, phân tích được các quy định cơ bản của pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại theo Luật thương mại năm 2005
- Chương 2: Phân tích được thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại, chỉ ra những bất cập trong các quy định của pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
- Chương 3 : Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại ở Việt Nam.
CHƯƠNG 1: TRÌNH BÀY ĐƯỢC CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÂN TÍCH ĐƯỢC CÁC QUY ĐỊNH CƠ BẢN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO LUẬT THƯƠNG MẠI 2005
1.1 Khái niệm , đặc điểm về hợp đồng kinh doanh thương mại
1.1.1.Khái niệm về hợp đồng kinh doanh thương mại
Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, hợp đồng và pháp luật về hợp đồng giữ vị trí quan trọng. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường đề cao quyền tự do ý chí của cá nhân, tổ chức thì hợp đồng là căn cứ pháp lý chủ yếu để ghi nhận việc thiết lập các quan hệ xã hội. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Sự ra đời của Luật thương mại năm 2005 là sự khởi đầu hình thành một khái niệm mới trong thực tiễn kinh doanh – khái niệm “hợp đồng thương mại”. Trong khoa học pháp lý, cũng có ý kiến cho rằng, không nên sử dụng khái niệm này do lo ngại nó sẽ dẫn đến hệ quả không cần thiết, đó là sự mất công tìm kiếm điểm khác biệt giữa hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự. Song trong thực tiễn kinh doanh hiện nay, khái niệm này vẫn được sử dụng khá phổ biến với ý nghĩa là hợp đồng trong hoạt động thương mại (gọi chung là hợp đồng thương mại). Có thể thấy rằng, khái niệm “hợp đồng thương mại” vẫn tồn tại trong đời sống kinh tế, pháp lý với ý nghĩa là hợp đồng hình thành trong lĩnh vực thương mại
Pháp luật hiện hành của Việt Nam không định nghĩa về hợp đồng thương mại mà chỉ quy định khái niệm chung về hợp đồng tại Bộ luật dân sự. Điều 385 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Khái niệm hợp đồng được quy định trong Bộ luật dân sự được xem là khái niệm chung về hợp đồng bao gồm cả hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, kinh doanh.
Như vậy, hợp đồng kinh doanh thương mại có bản chất chung của hợp đồng là sự thỏa thuận để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền nghĩa vụ trong hoạt động thương mại
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng kinh doanh thương mại
Hợp đồng kinh doanh thương mại có các đặc điểm pháp lý cơ bản sau: lĩnh vực phát sinh quan hệ hợp đồng là lĩnh vực thương mại , bao gồm các lĩnh vực thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ , một bên chủ thể của hợp đồng phải là thương nhân.Trong nhiều quan hệ hợp đồng thương mại cả hai bên đều phải là thương nhân như hợp đồng đại diện cho thương nhân , hợp đồng đại lí mua bán hàng hóa , mục đích của thương nhân khi tham gia quan hệ hợp đồng là nhằm phục vụ cho hoạt đồng kinh doanh của mình ; hình thức của hợp đồng có thể bằng lời nói , hành vi hay văn bản . Đối với hợp đồng mà pháp luật quy định phải được thành lập thành văn bản thì phải tuân theo quy định đó . Fax , telex , thư điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác cũng được coi là hình thức văn bản.
Hợp đồng kinh doanh thương mại là những hợp đồng riêng trong lĩnh vực thương mại : khi thỏa mãn các điều kiện về chủ thể , mục đích và hình thức hợp đồng thì hợp đồng thương mại mang tính chất của một hợp đồng kinh tế.
- a) Về chủ thể hợp đồng kinh doanh thương mại Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Hợp đồng lĩnh vực nhiều lĩnh vực thương mại chủ yếu được thiết lập giữa các chủ thể là thương nhân . Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp và cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập , thương xuyên , có đăng ký kinh doanh . Thương nhân là chủ yếu của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có thể là thương nhân việt nam hoặc thương nhân nước ngoài ( trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ). Ngoài ra chủ thể là thương nhân , các tổ chức , cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại trong những trường hợp pháp luật quy định cụ thể.(điều 2 luật thương mại 2005)
Ví dụ : hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ hợp động mua bán hàng hóa phải tuân theo Luật Thương Mại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật Thương mại hay ví dụ khác . Trong quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa , bên ủy thác có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân ( Điều 157 Luật Thương mại năm 2005).
- b) Về hình thức của hợp đồng kinh doanh thương mại
Hoạt động trong lĩnh vực thương mại có thể được thiết lập bằng hình thức lời nói , bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết.Tuy nhiên,do tính chất phức tạp trong hoạt động thương mại và những yêu cầu chặt chẽ trong nội dung của hợp đồng mà pháp luật quy định nhiều hợp đồng thương mại cụ thể phải được ký kết dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản.
Ví dụ :hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế , hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa , hợp đồng đại lý thương mại , hợp đồng vận chuyển hóa hàng bằng đường sắt , hợp đồng nhượng quyền thương mại …
- c) Về đối tượng của hợp đồng kinh doanh thương mại
Tương tự như đối tượng của hợp đồng dân sự, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có đối tượng là hàng hóa hoặc dịch vụ ( công việc ). Bên cạnh đó , trong lĩnh vực thương mại có một số loại hợp đồng có đối tượng chưa được biết đến trong hợp đồng dân sự truyền thống, đó là các hợp đồng có tính chất tổ chức như hợp đồng thành lập công ty hay hợp đồng hợp tác kinh doanh khoản 4 điều 3 Luật đầu tư 2022 (hợp đồng BCC), hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (hợp đồng PPP viết tắt là public private partnership)… Đối tượng của các loại hợp đồng này không phải là hàng hóa hoặc dịch vụ mà là một hoạt động mang tính tổ chức để hình thành nên các doanh nghiệp hoặc để thực hiện hoạt động thương mại . Trên thực tế , đối tượng hợp đồng trong lĩnh vực thương mại thường có số lượng lớn và do đó , nhìn chung , giá trị của hợp đồng thương mại thường lớn hơn giá trị của hợp đồng dân sự. Điều này dẫn đến sự khác nhau trong nội dung của hợp đồng dân sự và nội dung của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại. Chẳng hạn, một người nào đó mua của thương nhân kinh doanh vật liệu xây dựng vài cân xi măng về sửa chữa nhỏ trong gia đình. Ở đây đối tượng hợp đồng rất nhỏ nên nội dung của hợp đồng này rất đơn giản, việc giao nhận và thanh toán được thực hiện theo kiểu “ tiền trao , cháo múc …” . Còn trường hợp một công ty xây lắp ký hợp đồng mua của một công ty xi măng 1000 tấn xi măng để xây dựng một công trình nào đó thì việc thỏa thuận cũng như thực hiện các điều khoản trong nội dung của hợp đồng phức tạp hơn nhiều từ việc xác định số lượng , chất của đối tượng cho đến giao nhận , thanh toán …. Thậm chí , thực hiện hợp động với đối tượng lớn như vậy , có thể làm phát sinh các hợp đồng mới như hợp đồng bốc xếp hàng hóa. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
- d) Mục đích của hợp đồng kinh doanh thương mại
Mục đích của hợp đồng kinh doanh thương mại là nhằm sinh lợi . Sinh lợi được hiểu là tìm lợi nhuận ( không nhất thiết phải có lợi nhuận ). Mục đích lợi nhuận luôn được thể hiện hàng đầu trong các hợp đồng kinh doanh thương mại.
1.2. Những nguyên tắc và các loại hợp đồng trong kinh doanh thương mại
1.2.1. Những nguyên tắc cơ bản trong hợp đồng kinh doanh thương mại
Luật thương mại năm 2005 quy định sáu nguyên tắc cơ bản mà khi thực hiện các hoạt động thương mại cũng như khi ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại , các chủ thể của hợp đồng thương mại , các thương nhân , các doanh nghiệp phải tuân thủ . Sáu nguyên tắc đó là :
- a)Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại.
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại được quy định cụ thể tại Điều 10 Luật Thương mại 2005 như sau:
“Điều 10. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại.”
Theo đó, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và phương thức khác nhau mà pháp luật không cấm.
Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ.
- Nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại
Nguyên tắc tụ do , tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại được quy định tại điều 11 luật thương mại 2005 như sau :
Các bên có quyền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật,thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên hoạt động thương mại. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó.
Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi sắp đặt, cương ép đe dọa , ngăn cản bên nào. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
- Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên.
Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên được thể hiện tại Điều 11 Luật Thương mại 2005, cụ thể:
“Điều 12. Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật.”
Theo Khoản 3 Điều 3 về giải thích từ ngữ có quy định về thói quen trong hoạt động thương mại: “3. Thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại.”
Như vậy, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác với nhau, thì các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật.
- d) Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại
Nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 13 Luật Thương mại 2005 như sau:
“Điều 13. Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại
Trường hợp pháp luật không có quy định, các bên không có thoả thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong Luật này và trong Bộ luật dân sự.”
Tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại.
Tập quán sẽ chỉ được áp dụng khi pháp luật không có quy định điều chỉnh hoạt động thương mại cụ thể, các bên không có thoả thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên. Tuy nhiên việc áp dụng này không được trái với những nguyên tắc quy định trong Luật Thương mại 2005 và trong Bộ luật dân sự 2015.
- e) Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng
“Điều 14. Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng
- 1.Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó.
- 2.Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Căn cứ theo Điều 10 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 thì thương nhân bị cấm thực hiện các hành vi sau đây nhằm bảo vệ người tiêu dùng:
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lừa dối hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che giấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác về một trong các nội dung sau đây:
- Hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp;
- Uy tín, khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
- Nội dung, đặc điểm giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quấy rối người tiêu dùng thông qua tiếp thị hàng hóa, dịch vụ trái với ý muốn của người tiêu dùng từ 02 lần trở lên hoặc có hành vi khác gây cản trở, ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt bình thường của người tiêu dùng.
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ép buộc người tiêu dùng thông qua việc thực hiện một trong các hành vi sau đây:
- Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của người tiêu dùng;
- Lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để ép buộc giao dịch.
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại, đề nghị giao dịch trực tiếp với đối tượng là người không có năng lực hành vi dân sự hoặc người mất năng lực hành vi dân sự.
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ yêu cầu người tiêu dùng thanh toán hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp mà không có thỏa thuận trước với người tiêu dùng.
- Người tiêu dùng, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lợi dụng việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để cung cấp hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng.
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng.
Người tiêu dùng chỉ là những người mua hàng, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức. So với các thương nhân – là người có hiểu biết về pháp luật và chuyên môn thương mại thì phần nào đó, người tiêu dùng sẽ không thể hiểu biết một cách cặn kẽ về sản phẩm, dịch vụ của thương nhân. Vì vậy việc đề ra nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng là vô cùng cần thiết.
- f) Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại
Điều 15 Luật Thương mại 2005 quy định cụ thể về nguyên tắc trên như sau: “Điều 15. Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản.”
Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu giữ bằng phương tiện điện tử. Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản. So với thực tế phát triển của xã hội hiện nay, việc thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại là hợp lý và cần thiết, giúp cho các hoạt động thương mại được diễn ra dễ ràng và linh hoạt hơn.
Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại được quy định rõ ràng, cụ thể theo từng điều, khoản giúp cho các cá nhân, tổ chức hoạt động thương mại, các thương nhân có cái nhìn hệ thống nhất về hoạt động thương mại và nguyên tắc khi tham gia hoạt động thương mại.
1.2.2.Các loại hợp đồng kinh doanh thương mại
Theo quy định tại luật thương mại 2015, hợp đồng trong kinh doanh thương mại có thể chia thành 3 nhóm :
Hợp đồng mua bán hàng hóa : Đây là nhóm hợp đồng phổ biến nhât và đa dạng nhất. Xét theo phạm vi lãnh thổ , có thể phân thành hợp đồng mua bán hàng hóa không có yếu tố quốc tế và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ( xuất khẩu , nhập khẩu , tạm nhập tái xuất , tạm xuất tái nhập , chuyển khẩu ). Ngoài ra còn có hợp đồng mua bán hàng qua Sở giao dịch hàng hóa ( hợp đòng kỳ hạn , hợp đồng quyền chọn ).(điều 24 luật thương mại 2005)
Hợp đồng dịch vụ : Ngay nay khi sự phát triển của ngành dịch vụ ngày càng mạnh, hợp đồng dịch vụ ngày càng đa dạng và rộng rãi . Có thể phân thành các loại hợp đồng dịch vụ chi tiết gồm hợp đồng cung ứng dịch vụ liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa (hợp đồng trong các hoạt động xúc tiến thương mại, trung gian thương mại, các hoạt động thương mại cụ thể khác); các loại hợp đồng cung ứng dịch vụ chuyên ngành ( hợp đồng dịch vụ tài chính , ngân hàng, bảo hiểm, đào tạo, du lịch ).(điều 74 luật thương mại 2005) Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Ngoài ra còn nhóm những hợp đồng trong các hoạt động đầu tư thương mại đặc thù khác ( hợp đồng giao nhận thầu xây dựng , hợp đồng chuyển nhượng dự án khu đô thị mới , khu nhà ở , dự án hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp …)
Hợp đồng mua bán hàng hoá (Điều 24, Luật Thương mại), – Hợp đồng dịch vụ (Điều 74).
Để cho chi tiết, cụ thể hơn nữa, đối với từng loại hàng hóa và dịch vụ lại gắn với tên của hàng hóa và dịch vụ đó. Ví dụ:
- Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại (Điều 110, Luật Thương mại)
- Hợp đồng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ (Điều 124)
- Hợp đồng dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại (Điều 140)
- Hợp đồng đại diện cho thương nhân (Điều 142)
- Hợp đồng uỷ thác ((Điều 159),
- Hợp đồng đại lý (Điều 168),
- Hợp đồng gia công (Điều 179),
- Hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hoá (Điều 193),
- Hợp đồng dịch vụ quá cảnh (Điều 251),
- Hợp đồng cho thuê hàng hoá (Điều 274),
- Hợp đồng nhượng quyền thương mại (Điều 285).
1.3. Các chế độ giao kết hợp đồng , các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh doanh thương mại và những hiệu lực hợp đồng đảm bảo tính khoa học. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
1.3.1.Chế độ giao kết hợp đồng kinh doanh thương mại
- a) Đại diện ký kết hợp đồng kinh doanh thương mại
Theo quy định về hợp đồng kinh doanh thương mại , hợp đồng này bắt buộc phải có một bên chủ thể là pháp nhân. Do đó, khi hợp đồng kinh doanh thương mại, việc ký kết sẽ được thực hiện bởi người đại diện. Do Luật thương mại 2005 không quy định về vấn đề này,vì vậy áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, người đại diện được chia thành 2 loại:
- Đại diện theo pháp luật (điều 137 Bộ luật dân sự 2015)
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là Người đứng đầu doanh nghiệp, được doanh nghiệp uỷ quyền, thay mặt doanh nghiệp thực hiện các giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp, với đối tác, khác hàng và với cơ quan Nhà nước. Quyền, nghĩa vụ và chức danh của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định trong điều lệ doanh nghiệp, các giấy tờ giao dịch phải ghi rõ điều đó.
Theo quy định tại Điều 141 của Bộ luật Dân sự (năm 2005), thì người đại diện của doanh nghiệp là người đứng đầu pháp nhân. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải được ghi nhận trong Điều lệ, đồng thời phải được ghi nhận trên Giấy chứng nhận Đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp.Với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau, người đại diện theo pháp luật được quy định cụ thể như sau:
Đối với công ty TNHH 1 thành viên , là chủ tịch Hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc, cụ thể do điều lệ công ty quy định ( khoản 5 điều 67 Luật doanh nghiệp ).
Đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên, là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc theo quy định tại Điều lệ công ty ( điều 46 Luật Doanh nghiệp).
Đối với công ty cổ phần, là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc được quy định theo Điều lệ công ty ( điều 95 và điều 116 Luật doanh nghiệp).
Đối với công ty hợp danh, là tất cả các Thành viên hợp danh (khoản 1 điều 137 Luật doanh nghiệp.
Đối với công ty nhà nước, nếu không có Hội đồng quản trị, Giám đốc là đại diện theo pháp luật của công ty (khoản 1 điều 23 Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003); nếu có Hội đồng quản trị, căn cứ theo khoản 1 điều 38, là Tổng giám đốc. – Đại diện theo ủy quyền ( điều 138 Bộ luật dân sự 2015)
Người đại diện theo uỷ quyền của người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp được có nghĩa vụ và quyền hạn trong phạm vi văn bản uỷ quyền mà người đại diện theo pháp luật cho phép.
Mặc dù người đại diện theo pháp luật là người trực tiếp chịu trách nhiệm trước pháp luật, được giao trách nhiệm cá nhân từ việc nhỏ đến việc lớn của doanh nghiệp; tuy nhiên trong một số trường hợp, Luật cũng quy định về những trường hợp người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho một người khác để trở thành thành viên hợp pháp của doanh nghiệp, cụ thể:
Đối với công ty TNHH 1 thành viên căn cứ theo khoản 5 điều 67 Luât doanh nghiêp. Hoàn toàn tương tự với quy định tại điều 46 Luật doanh nghiệp đối với công ty TNHH 2 thành viên và điều 95 Luật doanh nghiệp với công ty cổ phần..
Đối với công ti hợp danh, công ti nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, việc ủy quyền đại diện theo pháp luật dựa trên quy định tại chương VII “Bộ luật dân sự 2015” quy định về vấn đề ủy quyền. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
- b).Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh doanh thương mại
Căn cứ quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự có thể hiểu hợp đồng thương mại được giao kết với những nguyên tắc sau:
- Thứ nhất, tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
Các bên được toàn quyền quyết định về việc giao kết hợp đồng, giao kết hợp đồng với đối tác nào, thời điểm, địa điểm, nội dung, phương thức giao kết hợp đồng… Nguyên tắc này phù hợp với nguyên tắc tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự, được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Như vậy, tự do giao kết hợp đồng thương mại cũng phải bảo đảm nội dung không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, kể cả đạo đức trong kinh doanh.
- Thứ hai, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
Xuất phát từ nguyên tắc tự nguyện cam kết, thoả thuận và nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ dân sự, khi giao kết hợp đồng thương mại, các thương nhân hoàn toàn tự nguyện, tức là được tự dọ ý chí, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Các bên đều bình đẳng, không được phân biệt thành phần kinh tế, quy mô, loại hình tổ chức, ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, kể cả ngành nghề độc quyền… Ngoài ra, trong quá trình ký kết hợp đồng thương mại các bên cần thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng… đây là các thái độ tâm lý của các bên phù hợp với ý chí tự nguyện gia kết hợp đồng nhằm bảo đảm sau khi giao kết, các bên đều thuận lợi khi thực hiện hợp đồng.
- c) Thời điểm giao kết hợp đồng kinh doanh thương mại
Theo quy định tại Điều 400 Bộ luật dân sự về thời điểm giao kết hợp đồng:
- Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.
- Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.
- Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.
- Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này.
Quy định này thể hiện, mỗi hình thức hợp đồng có những phương thức giao kết khác nhau và còn có thể có nhiều phương thức giao kết đối với một hình thức hợp đồng hoặc có nhiều hình thức hợp đồng được giao kết đối với cùng một nội dung.
Trường hợp các bên không trực tiếp thỏa thuận, ký kết hợp đồng mà bên đề nghị giao kết gửi văn bản đề nghị giao kết (hoặc dự thảo hợp đồng) cho bên được đề nghị giao kết, thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định là thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết (khoản 1 Điều 400 Bộ luật dân sự); Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn, thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó (khoản 2 Điều 400 Bộ luật dân sự). Chẳng hạn đối với loại hợp đồng mua bán, trong đó các bên có thỏa thuận về việc bên mua được dùng thử vật mua trong một thời hạn gọi là thời hạn dùng thử. Trong thời hạn dùng thử, bên mua có thể trả lời mua hoặc không mua; nếu hết thời hạn dùng thử mà bên mua không trả lời thì coi như đã chấp nhận mua theo các điều kiện đã thỏa thuận trước khi nhận vật dùng thử…” [khoản 1 Điều 452 Bộ luật dân sự].
Đối với trường hợp các bên thỏa thuận trực tiếp bằng lời nói (bằng miệng), thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng (khoản 3, Điều 400 Bộ luật dân sự). Mặc dù, Điều luật này quy định thời điểm “các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng”. Tuy nhiên, chúng ta cần phải hiểu là thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm các bên đã thỏa thuận xong về nội dung cơ bản của hợp đồng, còn nếu các bên mới bắt đầu thỏa thuận, hoặc đang trong quá trình thỏa thuận thì chưa thể coi là đã giao kết hợp đồng.
Đối với hợp đồng bằng văn bản và các bên trực tiếp thỏa thuận, giao kết, thì thời điểm giao kết hợp đồng này là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản (khoản 4 Điều 400BLDS).
Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản, tức là một hợp đồng được xác lập bằng nhiều hình thức khác nhau, thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng (theo hợp đồng bằng lời nói). Đây là quy định mới so với Bộ luật dân sự 2005, quy định bổ sung này nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn giao kết hợp đồng. Thực tiễn xét xử tại Tòa án đã từng gặp phải trường hợp các bên sử dụng nhiều hình thức, phương thức khác nhau để giao kết một hợp đồng, khi xảy ra tranh chấp Tòa án rất khó xác định thời điểm giao kết hợp đồng, dẫn đến không có cơ sở xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.
- d) Thực hiện hợp đồng kinh doanh thương mại
Việc thực hiện hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc sau: Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Các bên thực hiện đúng, đầy đủ đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại thời hạn, phương thức và các thoả thuận khác. Nguyên tắc này đòi hỏi, mọi cam kết, thoả thuận trong hợp đồng đều được các bên tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Điều đó cũng có nghĩa là không phải chỉ trong quá trình giao kết mà các bên bình đẳng với nhau cả trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại. Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu với chính mỗi bên giao kết hợp đồng, họ cần hiểu năng, thực hiện hợp đồng là nghĩa vụ của mình.
Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần họp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau
Thực hiện hợp đồng trung thực là một bảo đảm để nguyên, tăc thực hiện đúng được thực hiện trên thực tê. Bởi nêu một trong số các bên thực hiện hợp đồng không trung thực có thể dẫn đến hiện tượng lừa dối đối với một hoặc các bên còn lại trong hợp đồng thương mại. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, có thể có nhiều lý do chủ quan, khách quan gây khó khăn cho các bên, các bên cần trung thực và tìm cách cùng tháo gõ, giải quyết trên tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho tất cả các bên.Sự tin cậy lẫn nhau cũng là một yếu tố để các bên có thể trung thực, hợp tác với nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại. Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu rằng, trong quá trình thực hiện hợp đồng mỗi bân cần quan tâm, tôn trọng quyền lợi của bên kia trong cùng hợp đồng chứ không chỉ biết đến các lợi ích của mình.
Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác
Nếu trong giao kết hợp đồng thương mại các bên phải bảo đảm không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại các bên phải bảo đảm không xâm hại đến lợi ích của người thử ba đó là lợi ích của nhà nước, cộng đồng và các tổ chức, cá nhân khác. Trong ứường hợp việc thực hiện hợp đồng thương mại không thuộc phạm vi các hoạt động thương mại bị pháp luật cấm nhưng lại xâm hại đến lợi ích của nhà nước, cộng đồng và các tổ chức, cá nhân khác thì các bên không được thực hiện các hoạt động đó. Nguyên tắc này lại đặt ra yêu cầu đôi với hại bên rằng, không chỉ biết tới quyền lợi của mình, của bên kia trong hợp đồng mà còn phải quan tâm đến lợi ích của người thứ ba.
- đ) Sửa đổi hợp đồng kinh doanh thương mại
Tại Điều 241 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
- Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng.
- Hợp đồng có thể được sửa đổi theo quy định tại Điều 420 của Bộ luật này.
- Hợp đồng sủa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồng ban đầu.”
Theo quy định này thì sửa đổi hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên về việc thay đổi một hoặc một sô điều khoản của hợp đồng đã có hiệu lực. Sửa đổi hợp đồng có một sô đặc điểm sau: Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Là sự thỏa thuận của các bên. Các bên có thể thỏa thuận về việc sửa đổi hợp đồng khi giao kết hợp đồng hoặc khi hợp đồng đã có hiệu lực;
Việc sửa đổi hợp đồng chỉ được tiến hành khi hợp đồng đã có hiệu lực. Bởi vì, nếu hợp đồng chưa có hiệu lực thì không coi là sửa đổi hợp đồng mà đó chỉ là quá trình các bên thay đổi các nội dung thỏa thuận trong quá trình giao kết hợp đồng;
Việc sửa đổi hợp đồng chỉ làm thay đổi một hoặc một sộ điều khoản của hợp đồng đã có hiệu lực. Nếu việc sửa đổi hợp đồng làm thay đổi toàn bộ các điều khoản trong nội dung của hợp đồng thì đó là sự thay thế hợp đồng đã có hiệu lực bằng một bản hợp đồng mới chứ không còn là sửa đổi hợp đồng;
Khi hợp đồng được sửa đổi thì phần bị sửa đổi sẽ không còn giá trị, phần sửa đổi sẽ có giá trị kể từ thời điểm việc sửa đổi có giá trị pháp lý.
Mặc dù sửa đổi hợp đồng là một trong các quyền của các bên trong hợp đồng, nhưng quyền này bị giới hạn bởi quy định của pháp luật trong một số trường hợp nhất định. Tức là, trong một số trường hợp, các bên không được sửa đổi hợp đồng. Ví dụ, theo quy định tại Điều 417 Bộ luật dân sự 2015: “Khi ngưòi thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa được thực hiện, các bên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hớp đồng, trừ trường hợp được ngưòi thứ ba đồng ý”.
Trong một số trường hợp, việc sửa đổi hợp đồng không dựa trên sự thỏa thuận của các bên mà do pháp luật quy định. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 420 Bộ luật dân sự 2015 việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp này chỉ được thực hiện khi có những điều kiện nhất định.Ví dụ:
- Hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi theo quy định tại khoản 1 Điều 420;
- Một bên bị ảnh hưởng đến lợi ích do hoàn cảnh thay đổi;
- Các bên không thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thòi hạn hợp lý. Trong trưòng hợp này, việc sửa đổi hợp đồng do Tòa án thực hiện mà không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên.
Việc sửa đổi hợp đồng phải được thực hiện theo hình thức của hợp đồng. Quy định này chỉ áp dụng đối với các hợp đồng mà pháp luật quy định bắt buộc phải được giao kết bằng văn bản, được công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép. Đối với các trường hợp pháp luật không có quy định bắt buộc về hình thức của hợp đồng thì việc sửa đổi hợp đồng không bắt buộc phải tuân theo hình thức của hợp đồng.
- e) Chấm dứt hợp đồng kinh doanh thương mại Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng trong lĩnh vực thương mại nói riêng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, hợp đồng đã được hoàn thành tức là các bên trong hợp đồng đã thực hiện xong các quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của các bên thỏa thuận trong hợp đồng chưa thực hiện hoặc chưa hoàn thành nhưng xuất phát từ nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, hợp đồng có thể chấm dứt theo thỏa thuận của các bên.
Thứ ba, chủ thể hợp đồng là cá nhân chết hoặc thương nhân giao kết hợp đồng chấm dứt sự tồn tại (phá sản hoặc giải thể) hoặc không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, ví dụ hợp đồng đại lý thủ tục hải quan nhưng bên đại lý không còn bảo đảm những điều kiện theo quy định pháp luật. Đây là những trường hợp việc thực hiện hợp đồng gắn liền với nhân thân của chủ thể giao kết hoặc quyền và nghĩa vụ không thể chuyển giao cho chủ thể khác. Do đó, khi chủ thể không đáp ứng những điều kiện luật định, hợp đồng sẽ chấm dứt.
Thứ tư, hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện. Khi hợp đồng bị hủy bỏ toàn bộ, hợp đồng sẽ không có giá trị từ thời điểm giao kết; trong khi đó, khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện, hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo chấm dứt, các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Cả hai trường hợp nói trên đều dẫn đến việc hợp đồng không còn hiệu lực.
Thứ năm, hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn hoặc không thể thực hiện được. Ví dụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa, đối tượng của hợp đồng là vật đặc định nhưng đã bị tiêu hủy hoặc không sử dụng được trước thời điểm hai bên thực hiện hợp đồng mua bán. Vì đối tượng của hợp đồng không còn và không có hàng hóa thay thế nên hợp đồng giữa các bên chấm dứt.
Thứ sáu, khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu tòa án sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng.
Thứ bảy, do không thể dự liệu những hoàn cảnh có thể phát sinh nên trên thực tế, hợp đồng có thể chấm dứt theo những căn cứ khác do pháp luật quy định, ví dụ chấm dứt theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
1.3.2. Các hình thức xác lập hợp đồng kinh doanh thương mại Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Theo quy định của về hình thức của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 119 Bộ luật dân sự 2015 có bốn hình thức xác lập hợp đồng kinh tế, các chủ thể có thể lựa chọn xác lập hợp đồng bằng một trong các hình thức đó. Tuy nhiên, một số trường hợp pháp luật quy định hợp đồng bắt buộc phải được lập thành văn bản thì các bên phải tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Dưới đây là các hình thức xác lập hợp đồng kinh tế:
- Hình thức hợp đồng thông qua lời nói (hợp đồng miệng)
Đây có lẽ là hình thức thể hiện hợp đồng có độ chính xác thấp nhất khi ở đây các bên các bên chỉ dùng lời nói để xác lập các thỏa thuận mà không có một bằng chứng cụ thể nào có thể xác nhận được các thỏa thuận của họ, các bên chọn cách thức hợp đồng này chủ yếu dựa trên uy tín và độ tin tưởng lẫn nhau. Các trường hợp thường được sử dụng hình thức hợp đồng bằng lời nói:
Các bên tham gia giao kết hợp đồng có sự tin tưởng lẫn nhau nhất định, các bên thường có mối quan hệ ruột thịt, quan hệ hàng xóm láng giềng, quan hệ bạn bè, đồng nghiệp,…
Với các hợp đồng có giá trị nhỏ mà việc thành lập hình thức khác của hợp đồng sẽ gây chi phí lớn hơn hay gây mất nhiều thời gian so với giá trị của hợp đồng.
Các hợp đồng được chấm dứt ngay sau khi giao kết và các thỏa thuận của hợp đồng được thực hiện xong, hai bên không còn trách nhiệm với nhau nữa.
- Hình thức hợp đồng thông qua hành vi
Xã hội càng phát triển, con người được tiếp cận với nhiều hình thức giao kết hiện đại, hình thức hợp đồng bằng hành vi xuất hiện càng phổ biến.
Hợp đồng bằng hành vi được thiết lập thông qua hành động của các chủ thể đối với nhau.
Các chủ thể không cần trao đổi bằng lời nói mà chỉ cần thực hiện những hành vi giao dịch.
Hình thức mua bán qua siêu thị là biểu hiện rõ ràng nhất của việc giao kết hợp đồng bằng hành vi.
Người mua sẽ thực hiện lựa chọn hàng hóa theo ý muốn trong các gian hàng và đưa đến quầy thu ngân.
Hành động lựa chọn mặt hàng theo giá cả đã có sẵn chính là đề nghị giao kết hợp đồng mua bán. Hành động người bán thực hiện xong các thủ tục thanh toán chính là chấp nhận giao kết hợp đồng.
Sau khi thanh toán, hàng hóa thuộc sở hữu của người mua. Ngay tại thời điểm đó, hợp đồng chấm dứt.
- Hình thức hợp đồng bằng văn bản Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Để nâng cao tính xác thực của những nội dung đã cam kết các chủ thể của hợp đồng dân sự có thể lựa chọn hình thức ký kết bằng văn bản.
Trong văn bản các bên phải ghi đầy đủ các nội dung cơ bản trong các điều khoản mục như:
- Đối tượng của hợp đồng;
- Số lượng, chất lượng;
- Phương thức, địa điểm, thời gian thực hiện hợp đồng;…
Hình thức bằng văn bản đảm bảo tính pháp lý cao đối với quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia.
Khi xảy ra tranh chấp văn bản giao kết là chứng cứ pháp lý chắc chắn hơn so với hình thức miệng.
Các bên tham gia có thể sử dụng thông điệp dữ liệu làm phương tiện để thể hiện ý chí và thực hiện giao kết hợp đồng.
Chính vì thế, thông điệp dữ liệu điện tử cũng là một hình thức hợp đồng và ngày càng phổ biến trong xã hội hiện nay.
Trong thực tiễn, có rất nhiều ví dụ về giao kết hợp đồng bằng văn bản điện tử gần gũi với đời sống hiện đại.
Các hợp đồng thương mại, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng kinh tế được giao kết bằng văn bản điện tử rất phổ biến.
Những hành vi mua, bán, tặng cho có thể thiết lập thông qua các trang điện tử hay các ứng dụng điện tử chuyên dụng như: Shopee, Sen đỏ, Tiki, Lazada.
Trong đó, người mua chỉ cần thực hiện các thao tác thông qua ứng dụng như: chọn mặt hàng, ghi địa chỉ, chọn hình thức thanh toán,…
Cùng với đó người bán sẽ vận chuyển hàng hóa đến địa chỉ của người mua theo thông tin dữ liệu điện tử.
1.3.3. Hiệu lực hợp đồng đảm bảo tính khoa học và cách xử lý hợp đồng vô hiệu. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
1) Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng kinh doanh thương mại
Luật Thương mại không quy định cụ thể các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực. Vì vậy, khi xem xét hiệu lực của hợp đồng trong kinh doanh, thương mại, cần dựa trên các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định trong Bộ luật dân sự. Căn cứ vào Bộ luật dân sự (Điều 122) và các quy định có liên quan, có thể xác định một hợp đồng trong kinh doanh, thương mại có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: – Điều kiện chủ thể
Các chủ thể tham gia hợp đồng kinh doanh, thương mại phải có năng lực chủ thể để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Trong thực tiễn kinh doanh, thương mại, chủ thể tham gia hợp đồng kinh doanh, thương mại chủ yếu là thương nhân. Khi tham gia hợp đồng kinh doanh, thương mại nhằm mục đích lợi nhuận, các thương nhân phải đáp ứng điều kiện có đăng ký kinh doanh phù hợp với nội dung hợp đồng. Trường hợp mua bán hàng hóa, dịch vụ có điều kiện kinh doanh, thương nhân còn phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh đó theo quy định của pháp luật.
Đại diện hợp pháp của chủ thể hợp đồng có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Khi xác định thẩm quyền giao kết hợp đồng kinh doanh, thương mại, cần lưu ý quy định tai Điều 145 Bộ luật dân sự, theo đó khi người không có quyền đại diện giao kết, thực hiện hợp đồng, sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với bên hợp đồng được đại diện, trừ trường hợp được người đại diện hợp pháp của bên được đại diện chấp thuận.
- Điều kiện nội dung hợp đồng
Mục đích và nội dung của hợp đồng kinh doanh, thương mại không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của hợp đồng không bị cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật. Tùy thuộc từng giai đoạn của nền kinh tế, xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước mà những hàng hóa, dịch vụ bị cấm kinh doanh được pháp luật quy định một cách phù hợp.
Các bên tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện
Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng nhằm đảm bảo sự thỏa thuận của các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng đến những lợi ích chính đáng của các bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ. Theo quy định của Bộ luật dân sự, việc giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng kinh doanh, thương mại nói riêng phải tuân thủ theo các nguyên tắc: tự do giao kết nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội: Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
- Điều kiện hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật
Để hợp đồng kinh doanh, thương mại có hiệu lực, hợp đồng phải được xác lập theo những hình thức được pháp luật thừa nhận. Theo Điều 42 Luật thương mại 2005, hợp đồng kinh doanh, thương mại được thể hiện bằng lời nói, bằng vàn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
2) Hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu và cách xử lý hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu
- Hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu trong trường hợp nào?
Hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu là hợp đồng vi phạm một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại.
Hợp đồng không bị vô hiệu khi đáp ứng được các điều kiện về giao dịch dân sự quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015, đó là:
Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
- Những trường hợp cụ thể nào về hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu?
Theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015, hợp đồng kinh doanh thương mại bị vô hiệu trong những trường hợp cụ thể sau:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 123, Hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Thứ hai, theo quy định tại Điều 124, Hợp đồng kinh doanh thương mại bị vô hiệu do giả tạo. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định.
Thứ ba, theo quy định tại Điều 125, Hợp đồng kinh doanh thương mại bị vô hiệu do chủ thể không đủ năng lực hành vi dân sự. Hợp đồng bị vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.
Thứ tư, theo quy định tại Điều 126, Hợp đồng kinh doanh thương mại bị vô hiệu do bị nhầm lẫn. Trường hợp hợp đồng được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, trừ trường hợp khác theo quy định.
Thứ năm, theo quy định tại Điều 127, Hợp đồng bi vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Thứ sáu, theo quy định Điều 128, hợp đồng bị vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Tùy thuộc vào tính chất và mức độ của sự vô hiệu hợp đồng, hợp đồng vô hiệu có thể phân chia thành: + Hợp đồng vô hiệu toàn bộ;
- + Hợp đồng vô hiệu từng phần;
- + Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối;
- + Hợp đồng vô hiệu tương đối;
c) Cách xử lý hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu
Điều 137 Bộ luật dân sự 2005 cũng như Điều 131 Bộ luật dân sự 2015 đều quy định “giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập”. Điều này có nghĩa là nghĩa vụ của các bên phát sinh từ chính giao dịch vô hiệu, chứ không phải phát sinh từ giao dịch.
Khoản 2 Điều 137 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền”. Bộ luật dân sự 2015 còn thêm khoản 5 với nội dung “Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định”. Việc bổ sung này là cần thiết phù hợp với các quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Vấn đề hoa lợi, lợi tức
Từ khi giao dịch dân sự được xác lập đến khi phải hoàn trả do giao dịch dân sự vô hiệu, tài sản có thể làm phát sinh hoa lợi, lợi tức. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì cần phải giải quyết số phận của những hoa lợi, lợi tức này. Theo khoản 2 Điều 137 Bộ luật dân sự 2005 thì “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu”. Quy định này cho rằng vấn đề hoa lợi, lợi tức là vấn đề khôi phục lại tình trạng ban đầu. Tuy nhiên ở thời điểm trước khi giao dịch dân sự được xác lập thì hoa lợi, lợi tức chưa tồn tại nếu bên nhận tài sản phải hoàn trả hoa lợi, lợi túc cho bên giao tài sản thì tài sản đã hơn tình trạng ban đầu. Do vậy quy định này không hợp lý. Khắc phục điều đó Bộ luật dân sự 2015 đã tách vấn đề hoa lợi, lợi tức ra khỏi quy định “khôi phục lại tình trạng ban đầu” thành một khoản riêng để giải quyết. Khoản 3 Điều 131 Bộ luật dân sự 2015 quy định “bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó”. Điều này có nghĩa là việc hoàn trả hay không hoàn trả hoa lợi, lợi tức phụ thuộc vào sự ngay tình hay không ngay tình của bên nhận tài sản như các quy định về hoàn trả tài sản do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
- Vấn đề bồi thường thiệt hại Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại Bộ luật dân sự 2015 không có sự thay đổi so với Bộ luật dân sự 2005 vẫn quy định theo hướng “bên nào có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường” (Khoản 4 điều 131 Bộ luật dân sự 2015). Khi giao dịch dân sự vô hiệu, nếu các bên có yêu cầu giải quyết bồi thường thì Tòa án có trách nhiệm xác định thiệt hại. về nguyên tắc, một bên chỉ phải bồi thường cho bên kia khi có thiệt hại xảy ra, không có thiệt hại thì không có trách nhiệm bồi thường.Việc xác định giá của tài sản trong giao dịch cũng là một vấn đề đáng lưu ý để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Về nguyên tắc, người có lỗi gây ra thiệt hại phải bồi thường. Trong đó, có thể tồn tại lỗi của một bên hoặc lỗi của hai bên. Trong trường hợp tồn tại lỗi của hai bên làm cho giao dịch dân sự vô hiệu thì phải xác định mức độ lỗi của các bên để thấy được thiệt hại cụ thể để quy trách nhiệm bồi thường tương ứng theo lỗi của mỗi bên.
- Bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
Bảo vệ người thứ ba ngay tình được quy định tại điều 133 Bộ luật dân sự 2015 như:
Thứ nhất: Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này.
Thứ hai: Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.
Thứ ba: Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
1.4. Các chế độ thực hiện hợp đồng kinh doanh thương mại Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
1.4.1. Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng kinh doanh thương mại.
Bảo đảm thực hiện theo hợp đồng được hiểu dưới hai phương diện:
Phương diện khách quan: là quy định của pháp luật cho phép các chủ thể trong giao dịch dân sự thỏa thuận các biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ chính được thực hiện, xác định quyền và nghĩa vụ chính được thực hiện, đồng thời xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó.
Phương diện chủ quan: là sự thỏa thuận giữa các chủ thể về các biện pháp bảo đảm đã được pháp luật quy định mang tính chất dự phòng nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng bao gồm: Thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh, đặt cọc,… * Thế chấp tài sản: thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.
Đối tượng của thế chấp là bất động sản và động sản (như nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó, các tài sản gắn liền với đất,…).
Tài sản thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp. Người có nghĩa vụ không thể dùng tài sản thuộc sở hữu của người khác để thế chấp mặc dù theo quy định của pháp luật họ đang chiếm hữu hợp pháp (đang thuê, mượn) hoặc tài sản thế chấp thuộc sở hữu chung của nhiều người phải có sự đồng ý của các đồng chủ sở hữu.
Tài sản sản thế chấp phải được phép giao dịch và không có tranh chấp.
Hình thức của thế chấp tài sản: Việc thế chấp phải được lập thành văn bản gọi là hợp đồng thế chấp. Hợp đồng thế chấp có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính.
Hợp đồng thế chấp phải có công chứng hoặc chứng thực nếu các bên có thỏa thuận, nếu trong trường hợp pháp luật quy định phải có công chứng, chứng thực thì các bên phải tuân theo. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Đăng ký thế chấp tài sản (đăng ký giao dịch bảo đảm) theo quy định tại Điều 323 Bộ luật dân sự.
Xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp đã đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu bán đấu giá tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Như vậy việc xử lý tài sản thế chấp theo hai phương thức:
Phương thứ thứ nhất, theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp. Pháp luật cho phép các bên có quyền thỏa thuận các biện pháp xử lý tài sản thế chấp.
Phương thức thứ hai, yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bán đấu giá tài sản để thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua trung tâm bán đấu giá tài sản hoặc tổ chức có thẩm quyền khác (doanh nghiệp có chức năng bán đấu giá tài sản).
Cầm cố tài sản: Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Đối tượng của cầm cố tài sản: Tài sản cầm cố phải là bất động sản hoặc động sản (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác như Luật nhà ở 2005 chỉ quy định thế chấp nhà ở); tài sản cầm cố phải thuộc sở hữu của bên cầm cố, được phép giao dịch và không có tranh chấp.
Việc cầm cố tài sản phải lập thành văn bản gọi là hợp đồng cầm cố, văn bản cầm cố có thể lập riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính, trong đó phải đảm bảo các nội dung chủ yếu sau :
- Nghĩa vụ được bảo đảm.
- Mô tả tài sản cầm cố.
- Giá trị tài sản cầm cố (nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định).
- Bên giữ tài sản cầm cố.
- Quyền và nghĩa vụ của các bên.
- Các trường hợp xử lý và phương thức xử lý tài sản cầm cố.
- Các thỏa thuận khác.
Xử lý tài sản cầm cố: Khi đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên cầm cố tài sản không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng thỏa thuận thì tài sản cầm cố được xử lý theo phương thức do các bên đã thỏa thuận hoặc được bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ. Bên nhận cầm cố được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản cầm cố, sau khi trừ chi phí bảo quản, chi phí bán đấu giá tài sản. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Bảo lãnh: Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là người được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc người bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi người được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình (Điều 361).
Bảo lãnh trong Bộ luật dân sự 2015 mang tính chất đối nhân, do đó việc xác định bảo đảm bằng tài sản không phải quyết định.
Phạm vi của bảo lãnh là 1 phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ dân sự (theo như thỏa thuận) nếu các bên không thỏa thuận cụ thể thì phạm vi bảo lãnh được xác định là toàn bộ nên người bảo lãnh phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh như tiền nợ gốc, lãi, bồi thường thiệt hại (nếu có).
Đặt cọc: Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để đảm bảo giao kết hợp đồng hoặc thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Trong trường hợp các bên thực hiện đúng thỏa thuận trong thời hạn (hợp đồng được giao kết, thực hiện) thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ vào nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng. Chẳng hạn ông A đặt cọc cho ông B 10 triệu đồng để xác lập hợp đồng thuê nàh làm trụ sở của công ty. Trong thời hạn thỏa thuận hợp đồng mua bán nhà được giao kết thực hiện thì số tiền trên có thể được trừ vào nghĩa vụ thanh toán thuê nhà hoặc bên cho thuê trả lại cho bên mua.
Trong trường hợp có sự vi phạm trong giao kết, thực hiện hợp đồng thì xử lý như sau:
- Nếu bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc.
- Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng, thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc, đồng thời phải trả một khoản tiền tương đương với giá trị tài sản đặt cọc (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác).
Để có căn cứ giải quyết khi có tranh chấp xảy ra pháp luật quy định việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.
- Ký cược: là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (gọi là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.
- Ký quỹ: là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá trị khác vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng để bào đảm việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.
- Tín chấp: là việc Tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm (bằng tín chấp) chó cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dung khác để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ. Bộ luật dân sự 2005 không quy định phạt vi phạm là biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng nhưng nếu ác luật chuyên ngành có quy định thì áp dụng theo quy định của luật chuyên ngành. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
1.4.2. Thực hiện hợp đồng kinh doanh thương mại
Thực hiện hợp đồng kinh kinh doanh thương mại là các bên thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Nội dung thực hiện hợp đồng kinh tế bao gồm :
- Thực hiện đúng điều khoản về đối tượng của hợp đồng
Thực hiện đúng điều khoản về đối tượng của hợp đồng kinh doanh thương mại là một trong những điều khoản chủ yếu của hợp đồng. Bên có nghĩa vụ giao đầy đủ số lượng, trọng lượng, khối lượng hàng hoá hoặc khối lượng công việc cho bên có quyền theo thoả thuận trong hợp đồng kinh tế.
Nếu sản phẩm là hàng hoá giao không đúng số lượng, công việc không thực hiện đúng khối lượng thì bên nhận chỉ nhận và thanh toán theo số lượng thực nhận, số còn lại sẽ yêu cầu bên có nghĩa vụ giao tiếp sau đó, ngoài ra có quyền đòi phạt phần thiếu và đòi đền bù thiệt hại (nếu có)
Đối với trường hợp sản phẩm được giao không đồng bộ và không sử dụng được thì bên nhận có quyền từ chối tiếp nhận và từ chối thanh toán cho tới khi hoàn thành đồng bộ. Trường hợp giao hàng hoá không đồng bộ , bên nhận có quyền lựa chọn một trong hai cách xử lý sau :
- Yêu cầu bên vi phạm phải hoàn thành đồng bộ rồi mới tiếp nhận. Bên vi phạm phải bị phạt giao hàng chậm.
- Nhận sản phẩm hàng hoá, công việc chưa đồng bộ với điều kiện bên vi phạm chịu phạt vi phạm hợp đồng vì không hoàn thành đồng bộ và trả các chi phí cần thiết để hoàn thành đồng bộ.
Trong khi giao nhận hàng hoá, các bên phải kiểm tra về mặt khối lượng, số lượng và phải nộp biên bản, chứng từ bàn giao để làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp xảy ra (nếu có)
- Thực hiện đúng điều khoản về chất lượng Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Điều khoản về chất lượng cũng là điều khoản chủ yếu của hợp đồng kinh doanh thương mại. Bên có nghĩa vụ giao hàng phải giao hàng đúng chất lượng , có nghĩa là hàng hoá được giao phải đảm bảo khả năng sử dụng theo tiêu chuẩn chất lượng, bảo đảm đúng phẩm chất, bao bì, đóng gói, quy cách, chủng loại theo quy định của Nhà nước. Của ngành, của đơn vị cơ sở hoặc theo sự thoả thuận của hai bên. Khi giao nhận các bên phải tiến hành kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá , công việc.
Trong trường hợp hàng hoá, công việc được giao không đúng chất lượng, bên bị vi phạm có quyền :
- Không nhận hàng hoá, công việc được giao không đúng chất lượng, đòi tiền phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
- Nhận hàng hoá , công việc nhưng yêu cầu giảm giá hoặc sửa chữa sai sót trước khi nhận và đòi bồi thường thiệt hại.
Trường hợp mà hợp đồng có điều khoản bảo hành thì trong thời hạn, nếu bên nhận hàng phát hiện có sai sót về chất lượng thì phải thông báo kịp thời bằng văn bản cho bên kia biết để cùng xác minh. Nếu do lỗi của bên bảo hành thì phải sửa chữa sai sót về chất lượng hoặc các bên có thể thoả thuận thay thế việc sửa chữa sai sót bằng cách giảm giá hoặc đổi lấy hàng hoá khác.
- Thực hiện đúng điều khoản về thời hạn
Thời hạn giao nhận hàng hoá có thể là thời hạn hoặc thời điểm nhất định do hai bên thoả thuận trong hợp đồng. Vì việc giao nhận hàng hoá, công việc đúng thời gian là yếu tố rất quan trọng để các bên thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh của mình.
Nếu một bên giao thực hiện không đúng thời gian qui định thì bên nhận có quyền nhận hoặc không nhận hàng hoá công việc nhưng buộc bên vi phạm phải chịu trách nhiệm tài sản (nếu giao hàng hoá hoặc thực hiện công việc chậm trễ so với thời gian quy định); hoặc chưa tiếp nhận hay tiếp nhận với điều kiện bên giao phải chịu các khoản phí tổn bảo quản trong thời gian chưa đến thời điểm giao nhận theo thoả thuận (nếu giao hàng hoá hoặc thực hiện công việc trước thời hạn). Nếu bên tiếp nhận sản phẩm, hàng hoá hoặc công việc vi phạm điều khoản thời hạn tiếp nhận thì bên giao có quyền đòi bên tiếp nhận phải chịu trách nhiệm tài sản về vi phạm nghĩa vụ tiếp nhận hoặc đòi bên vi phạm trả các khoản chi phí về chuyên chở, bảo quản, …. do vi phạm nghĩa vụ tiếp nhận.
- Thực hiện đúng điều khoản về địa điểm, phương thức
Địa điểm giao nhận hàng hoá, dịch vụ là nơi mà tại đó bên giao hàng thực hiện nghĩa vụ giao hàng. Địa điểm giao nhạn do các bên thoả thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật đối với từng loại hợp đồng cụ thể.
Việc xác định địa điểm giao nhận có vai trò rất quan trọng vì nó liên quan đến chi phí vận chuyển và rủi ro khi vận chuyển.
Phương thức giao nhận là cách để các bên tiến hành giao nhận hàng hoá.
Địa điểm và phương thức giao nhận do các bên thoả thuận sao cho có lợi cho các bên. Nếu một trong các bên thực hiện không đúng điều khoản này thì coi như vi phạm hợp đồng kinh tế và phải chịu trách nhiệm tài sản đối với bên còn lại
- Thực hiện đúng điều khoản về giá cả thanh toán Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Giá cả hàng hoá, dịch vụ do hai bên thoả thuận và ghi trong hợp đồng. Vì thế, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng những gì đã thoả thuận. Đối với những sản phẩm, hàng hoá do cơ quan Nhà nước có từng quy định giá trị giá thoả thuận trong hợp đồng kinh kinh doanh thương mại phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Thanh toán là nghĩa vụ trả tiền theo phương thức và thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng. Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc séc, uỷ nhiệm thu…
Về thời hạn thanh toán, nếu không ghi trong hợp đồng thì thời hạn đó là 15 ngày kể từ ngày nhận được hoá đơn, giấy đòi tiền.
Nghĩa vụ trả tiền được coi là hoàn thành từ khi chuyển đủ tiền lên tai khoản của mình tại ngân hàng cho bên đòi hoặc khi bên đòi trực tiếp nhận đủ số tiền mặt theo hoá đơn hoặc bên đòi tiền chấp nhận trả bằng hiện vật, hoặc tài sản thế chấp, cấm cố, bảo lãnh có giá trị tương đương với số tiền phải trả. Và việc trả đó đã được thực hiện xong.
Nếu bên có nghĩa vụ thanh toán mà vi phạm điều khoản này thì bị phạt vi phạm hợp đồng theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc mức lãi suất tín dụng quá hạn của ngân hàng Nhà nước kể từ ngày hết hạn thanh toán.
1.4.3. Sửa đổi, đình chỉ thực hiện hợp đồng kinh doanh thương mại
Trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh doanh thương mại, do sự biến động của thị trường, của kinh tế xã hội, sự thoả thuận trước đó trong hợp đồng không còn phù hợp nữa, các bên có quyền thoả thuận để sửa đổi, huỷ bỏ hoặc đình chỉ việc thực hiện hợp đồng kinh kinh doanh thương mại. Sự thoả thuận đó phải được lập bằng văn bản và ghi rõ hậu quả pháp lý của việc sửa dổi, huỷ bỏ, đình chỉ thực hiện hợp đồng gây ra . Hậu quả pháp lý đó như lãi suất : phí tổn không thu hồi được do việc thực hiện hợp đồng kinh tế, phí tổn về nguyên vật liệu bị hao hụt trong quá trình chuẩn bị thực hiện hợp đồng kinh tế; tiền phạt hay tiền bồi thường thiệt hại do việc vi phạm hợp đồng, hoặc thay đôỉ, huỷ bỏ , đình chỉ thực hiện hợp đồng kinh doanh thương mại.
Ngoài việc sửa đổi nội dung hợp đồng kinh doanh thương mại thì có thể thay đổi chủ thể của hợp đồng. Tức là trong trường hợp một bên chủ thể vì một lý do nào đó mà phải chuyển giao toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ thực hiện hợp đồng kinh tế hco một chủ thể thứ ba khác. Người được nhận chuyển giao phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng kinh tế được chuyển giao.
Nếu người nhận chuyển giao không đủ điều kiện để thực hiện hợp đồng kinh tế được chuyển giao thì yêu cầu người chuyển giao thanh lsy hợp đồng trước khi nhận chuyển giao.
Một bên có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng kinh tế khi có đủ các điều kiện sau :
- Có sự vi phạm hợp đồng kinh doanh thương mại của bên cùng ký kết và bên đó đã thừa nhận thông qua chứng từ, văn bản hoặc được cơ quan Nhà nước có kết luận bằng văn bản.
- Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng kinh doanh thương mại đó không đem lại lợi ích bên bị vi phạm như mực đích ký kết hợp đồng kinh doanh thương mại. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
1.4.4 Thanh lý hợp đồng kinh doanh thương mại
Thanh lý hợp đồng kinh doanh thương mại là hành vi pháp lý của cá bên để chấm dứt các quan hệ hợp đồng kinh doanh thương mại. Khi thanh lý hợp đồng kinh doanh thương mại các bên phải gíup nhau để giải quyết những vấn đề còn tồn đọng, đánh giá những kết quả đạt được và chưa đạt được, trên cơ sở đó xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong thời gian kế tiếp.
Theo điều 28 pháp lệnh hợp đồng kinh tế, các bên thanh lý hợp đồng kinh tế được giải quyết.
- Hợp đồng kinh doanh thương mại đã thực hiện xong, nhưng còn có hậu quả chưa được giải quyết.
- Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng kinh doanh thương mại đã hết và không có thoả thuận kéo dài thời gian đó.
- Hợp đồng kinh doanh thương mại bị đình chỉ thực hiện hoặc huỷ bò.
- Hợp đồng kinh doanh thương mại không được tiếp tục thực hiện khi thay đổi chủ thể mà không chuyển giao được nghĩa vụ hợp đồng kinh tế cho chủ thể mới.
Như vậy, trong trường hợp hợp đồng kinh doanh thương mại đã được thực hiện và các bên đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ của mình theo thoả thuận của hợp đồng thì hợp đồng kinh kinh doanh thương mại đó coi như đã được thanh lý.
Thời hạn quy định để các bên thanh lý hợp đồng kinh kinh doanh thương mại là 10 ngày kể từ ngày phát sinh các sự kiện bắt buộc phải thanh lý hợp đồng kinh doanh thương mại. Việc thanh lý hợp đồng kinh doanh thương mại phải được làm thành văn bản riêng. Tại điều 20 khoản 2 – Nghị định số 17/HĐKINH Tế (đã dẫn) thì văn bản thanh lý hợp đồng kinh doanh thương mại phải có những nội dung chủ yếu sau: Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
- Xác nhận mức độ thực hiện nội dung công việc đã thoả thuận trong hợp đồng của các bên, từ đó xác định nghĩa vụ của các bên khi thanh lý.
- Xác định các khoản thuộc trách nhiệm tài sản, hậu quả pháp lý của các bên trong quan hệ hợp đồng (nếu có) do phải thanh lý trước khi hợp đồng kinh doanh thương mại hết hiệu lực. Kể từ thời điểm các bên ký vào biên bản thanh lý, quan hệ hợp đồng coi như chấm dứt. Riêng quyền và nghĩa vụ của các bên được xác nhận khi thanh lý vẫn có hiệu lực cho đến khi mỗi bên hoàn thành nghĩa vụ của mình.
1.5. Các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng kinh doanh thương mại Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
- a) Buộc thực hiện đúng hợp đồng
Căn cứ theo khoản 1 Điều 297 Luật Thương mại 2005 quy định buộc thực hiện đúng hợp đồng:
Việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh.
Theo quy định này, bên vi phạm sẽ phải thực hiện đúng theo các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng; dùng các biện khác để khắc phục và thực hiện hợp đồng.
Chi phí thực hiện các biện pháp khắc phục này sẽ do bên vi phạm chịu.
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng này được dùng trong trường hợp giao thiếu hàng hóa; cung ứng dịch vụ không đúng theo như sự thỏa thuận trong hợp đồng.
Trường hợp giao hàng kém chất lượng; cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì bên bị vi phạm có thể yêu cầu bên vi phạm cung ứng dịch vụ và hàng hóa theo đúng chất lượng như đã thỏa thuận.
- b) Phạt vi phạm hợp đồng
Tại Điều 300 Luật Thương mại 2005 quy định:
Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này.
Căn cứ vào quy định trên việc phạt vi phạm hợp đồng chỉ được áp dụng khi trong hợp đồng có thỏa thuận. Điều này có nghĩa chỉ khi trong hợp đồng có sự thỏa thuận về việc phạt vi phạm hợp đồng thì bên bị vi phạm mới có thể áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng này. Và việc áp dụng chế tài này không căn cứ vào việc bên bị vi phạm có hay không có thiệt hại xảy ra.
Điều kiện để có thể thực hiện việc phạt vi phạm :
Một trong các bên không thực hiện hợp đồng (không giao hàng, không thanh toán, không nhận hàng).
Thực hiện không đúng hợp đồng (giao hàng kém chất lượng, cung cấp dịch vụ kém).
Nếu bên bị vi phạm chứng minh được là bên kia vi phạm và vi phạm đó thuộc diện áp dụng chế tài phạt vi phạm theo hợp đồng hoặc do pháp luật quy định thì hoàn toàn có thể yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt.
- Mức phạt vi phạm hợp đồng: Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Theo quy định tại Điều 301 Luật Thương mại 2005 quy định:
Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm; trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.
Luật Thương mại cho phép bên vi phạm trả bên bị vi phạm một số tiền cụ thể; hoặc theo tỷ lệ phần trăm đối với việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhưng tối đa cũng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.
Tuy nhiên mức phạt và tổng mức phạt đối với nhiều hình phạt vi phạm hợp đồng sẽ do các bên thỏa thuận.
Việc quy định như vậy nhằm tránh việc các bên quá lạm dụng vào chế tài này, gây ảnh hưởng cho các bên khi thỏa thuận hợp đồng.
- c) Bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là chế tài thường được áp dụng vi có sự vi phạm trong hợp đồng.
Theo khoản 1 Điều 302 Luật Thương mại quy định:
Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Tại Điều 303 Luật Thương mại 2005 quy định:
Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này; trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng;
- Có thiệt hại thực tế;
- Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
Nếu thiếu một trong ba yếu tố nói trên thì không thể đòi bên vi phạm bồi thường thiệt hại.
Theo Điều 304 Luật Thương mại quy định: Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
Điều 304 quy định như vậy nhằm để bên tổn thất chứng minh tổn thất do lỗi của bên vi phạm gây ra.
Điều này nhằm tránh việc một trong các bên gian lận trong việc yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại mà không có hành vi vi phạm.
Bên vi phạm hợp đồng có thể yêu cầu giảm mức bồi thường thiệt hại nếu bên bị vi phạm không áp dụng các biện pháp hạn chế tổn thất như quy định tại Điều 305 Luật Thương mại 2005; cụ thể như sau:
Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được d) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng
- đ) Trường hợp tạm ngừng thực hiện hợp đồng
Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này; tạm ngừng thực hiện hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng;
- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
- Hậu quả pháp lý
- Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
- Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này.
e) Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
- Khái niệm Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Trường hợp áp dụng:
- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng;
- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
Khi một trong các bên vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng; trong hợp đồng có thỏa thuận rằng sự vi phạm đó là điều kiện để đình chỉ thực hiện hợp đồng; thì các bên sẽ đình chỉ thực hiện hợp đồng theo như thỏa thuận trong hợp đồng.
Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng nghĩa là “sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Lúc này việc thực hiện hợp đồng sẽ bị đình chỉ.
Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ thực hiện hợp đồng
- Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng.
- Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này.
f) Huỷ bỏ hợp đồng.
- Khái niệm, phân loại
Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một phần hợp đồng.
Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng.
Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng; các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
- Trường hợp áp dụng Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này; chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng;
- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
- c) Hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ hợp đồng.
- Trừ trường hợp quy định tại Điều 313 của Luật này, sau khi huỷ bỏ hợp đồng; hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết; các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng; trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp.
- Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền.
- Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này.
1.6. Thời hạn khiếu nại và thời hiệu khởi kiện về hợp đồng kinh doanh thương mại.
- Thời hạn khiếu nại
Căn cứ vào điều 318 luật thương mại 2005 quy định về thời hiệu khiếu nại. “ trừ trường hợp quy định tại điển đ khoản 1 điều 237 của luật này. Thời hạn khiếu nại cho các bên thỏa thuận, nếu các bên không có thỏa thuận thì thời hạn khiếu nại được quy định như sau:
- Ba tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượng hàng hóa.
- Sáu tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về chất lượng hàng hóa, trong trường hợp hàng hóa có bảo hành thì thời hạn khiếu nại là ba tháng, kể từ ngày hết thời hạn bảo hành.
- Chín tháng, kể từ ngày bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng trong trường hợp có bảo hành thì kể từ ngày hết thời hạn bảo hành đối với khiếu nại về các vi phạm khác.
Mười bốn ngày kể từ ngày giao hàng cho người nhận đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ
- Thời hiệu khởi kiện
Tại Điều 319 Luật Thương mại 2005 quy định về thời hiệu khởi kiện như sau:
- “Điều 319. Thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 của Luật này.”
Theo đó, trừ trường hợp sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng thì thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 317 Luật Thương mại 2005, khi phát sinh tranh chấp liên quan đến giao dịch thương mại thì các bên tham gia có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài giải quyết tranh chấp đó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tuy nhiên, việc khởi kiện yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài giải quyết tranh chấp cũng phải nằm trong thời hiệu khởi kiện do luật định để đảm bảo tranh chấp được Tòa án hoặc Trọng tài giải quyết theo trình tự thủ tục tố tụng Tòa án hoặc tố tụng Trọng tài. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
- MỘT SỐ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN CỤ THỂ
Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 Luật này (Điều 319 Luật thương mại năm 2005);
Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng đại lý tàu biển là 02 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp (Điều 162 Bộ luật hàng hải năm 2005);
Thời hiệu khởi kiện về hư hỏng, mất mát hàng hóa hàng hóa vận chuyển theo chứng từ vận chuyển là 01 năm, kể từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng (Điều 97 Bộ luật hàng hải năm 2005);
Thời hiệu khởi kiện đối với vụ việc liên quan đến hợp đồng thuê tàu là 02 năm, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng (Điều 142 Bộ luật hàng hải năm 2005);
Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng cứu hộ hàng hải là 02 năm, kể từ ngày kết thúc hành động cứu hộ (Điều 195 Bộ luật hàng hải năm 2005);
Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là 03 năm, kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp (Điều 30 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000). Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
- CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG ÁP DỤNG THỜI HIỆU KHỞI KIỆN
Điều 155 Bộ luật dân sự 2015 quy định 04 trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện bao gồm:
- Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản;
- Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật dân sự 2015, luật khác có quy định khác;
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai;
- Trường hợp khác do luật quy định.
THỜI GIAN KHÔNG TÍNH VÀO THỜI HIỆU KHỞI KIỆN
Trong một số trường hợp quy định tại Điều 156 Bộ luật dân sự 2015, sẽ có một khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện. Đối với tranh chấp thương mại, thông thường đó là khi xảy ra các sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu. Đây là những yếu tố khách quan nằm ngoài khả năng kiểm soát của chủ thể có quyền khởi kiện, gây khó khăn và có thể khiến chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện được trong thời gian quy định, do đó, để đảm bảo quyền lợi của chủ thể có quyền khởi kiện, khoảng thời gian mà các sự kiện này diễn ra sẽ không được tính vào thời hiệu khởi kiện. Khóa luận: Pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
