Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
2.2.1. Thực tiễn giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Bảng 1.1: Bản án yêu cầu giải quyết chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân.
| Số TT | Tên | Ngày | Cấp xét xử |
| 1 | Bản án 20/2018/HNGĐ-ST | 27/09/2018 | Sơ Thẩm |
| 2 | Bản án 07/2018/HNGĐ-PT | 11/01/2018 | Phúc Thẩm |
| 3 | Bản án 21/2020/HNGĐ-PT | 31/07/2020 | Phúc Thẩm |
| 4 | Bản án 08/2019/HNGĐ-PT | 07/03/2019 | Phúc Thẩm |
- Bản án 1
Nguyên đơn: Ông Quách Văn C, sinh năm 1962; Bị đơn: Bà Lữ Thị Kim D, sinh năm 1965.
Tóm tắt và đánh giá bản án: Ông C và bà D xác lập hôn nhân thực tế vào năm 1982, và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C. Quá trình chung sống ông D và bà C có tạo lập được tài sản chung là 700.000.000 đồng, số tiền làm ra vợ chồng gửi tiết kiệm tại ngân hàng C, đứng tên số tài khoản 21891xxxxx của bà D. Và ngay tại bản án trong quá trình làm ăn sinh sống ông C và bà D có vay số tiền 30.000USD của bà Lữ Thị Kiều T để mua căn nhà phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, số tiền bà T cho vay cũng khá lâu và chưa thấy ông C và bà D chủ động trả nên ngày 25/7/2016 bà T khởi kiện lên Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, yêu cầu vợ, chồng ông C, bà D trả số tiền nợ 30.000 USD. Sau khi tiếp nhận đơn Tóa án đã áp dụng biện pháp khẩn cấp cho phong tỏa số tài khoản ngân hàng của bà D. Bản án sơ thẩm số 03/2017/DS-ST đã đồng ý một phần yêu cầu khởi kiện của bà T và buộc bà D trả số tiền nợ 30.000USD cho bà T. Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện bị đơn và chia đều mỗi người 350.000.000 đồng. Sau khi xem xét, nghiên cứu hồ sơ, tài liệu của các nguyên đơn dân sự cung cấp thì Tòa án không chấp nhận đơn khởi kiện của ông C.
- Bản án 2 Khóa luận: Giải pháp pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1950; Bị đơn: Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1950.
Tóm tắt nội dung và đánh giá vụ án: Bà Đ và ông R xuất phát từ tình cảm đơn thuần nam, nữ, sau một thời gian tìm hiểu thì năm 1969 hai người quyết định kết hôn và đăng ký tại UBND xã T năm 1996. Cưới nhau xong thì hai vợ chồng sống cùng mẹ ruột ông R đến năm 1987 tại ấp T, khi chung sống do bà Đ và ông R chủ động chăm sóc, phụng dưỡng mẹ nên được mẹ chồng tặng cho chung hai vợ, chồng các thửa đất 2831,2839 và 2840, tờ bản đồ số 1. Thửa đất số 3585, tờ bản đồ số 1, tổng S=1.645.8m2 là tài sản riêng của ông R, được mẹ đẻ khi còn sống cho ông vào năm 2011-2012. Đến năm 2014, ông đi kê khai số tài sản của ông đang có và được Phòng tài nguyên và môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất được cho riêng ông R đem bán cho bà M một phần đã sang tên, còn một phần ông bán cho bà T2 và ông P, khi bán ông chưa kịp làm thủ tục chuyển nhượng cho ông bà T2 và P vì bà Đ tranh chấp. Năm 1997 các thửa đất được cho trước đó ông R đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông thay mặt chủ hộ đứng tên. Thời gian chung sống do có nhiều bất đồng, mâu thuẫn nên ông R hay xuống tay đánh đập bà Đ, do không chịu được cảnh khổ cực như vậy nên bà Đ đã sang ở với các con. Hai vợ, chồng đã ly thân từ năm 1987. Trong đơn khởi kiện nguyên đơn gửi Tòa án có nêu thửa đất 3585 là tài sản chung của bà và ông R do được tặng cho chung thực tế bà không quản lý, tại đơn bà yều cầu chia cho bà S822,9m2 thửa đất trên, những phần đất còn lại ông R đã bán cho bà M và bà T2 thì bà Đ không cần chia cho bà.
Sau khi nhận đơn và thụ lý đơn khởi kiện, Tòa đã tiến hành cho hai bên hòa giải bị đơn không đồng ý chia tài sản theo yêu cầu của nguyên đơn vì ông bảo đây là tài sản mẹ đẻ ông cho riêng ông. Qua quá trình tiếp nhận một thời gian do thấy những gì mà nguyên đơn dân sự cung cấp tài liệu cũng như chứng cứ kèm theo chứng minh phần đất thuộc về bà Đ thì cấp Tòa án sơ thẩm thấy chưa hợp lý nên tuyên xử bác yêu cầu khởi kiện của bà Đ và đình chỉ yêu cầu khởi tố của ông R. Nhận được kết quả xét xử vụ án sơ thẩm bà Đ thấy những lý lẽ của tòa án chưa thật sự thuyết phục vì vậy, ngày 10/10/2017 bà Đ kháng cáo nội dung bản án lên cấp phúc thẩm giải quyết. Tuy nhiên những tài liệu bà Đ cung cấp cho Tòa án cấp phúc thẩm, chưa thể chứng minh phần đất đó là mẹ ông cho chung hai vợ, chồng nên tại phiên tòa thẩm phán tuyên bố không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đ và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bản án 3
Nguyên đơn: Chị Phan Thị Tr, sinh năm 1981; Bị đơn: Anh Ngũ Hồng H sinh năm 1964.
Tóm tắt nội dung và đánh giá bản án: Chị Tr và anh H kết hôn với nhau ngày 9/4/2012, đăng ký kết hôn tại UBND xã D. Khi về chung một nhà chung sống được một thời gian ngắn hai bên đã phát sinh những mâu thuẫn và vợ, chồng ly thân từ tháng 01/2016. Trong TKHN vợ chồng có gây dựng được một số tài sản phục vụ cho cuộc sống hôn nhân là (01 căn nhà cấp 4 xây năm 2012, hai thửa đất số 1371, số 789), tổng giá trị tài sản vợ, chồng có là 1.042.600.000 đồng. Quá trình làm ăn gây dựng tài sản, ngày 01/2/2012 anh H có vay của anh Th số tiền 650.000.000 đồng để vợ, chồng mua đất và sau một thời gian thì anh H đã đem 200.000.000 đồng trả cho anh Th và còn nợ lại 450.000.000 đồng.
Được một thời gian sau anh H lại tiếp tục sang vay 400.000.000 đồng, tổng số tiền anh H vay anh Th là 850.000.000 đồng.
Tại đơn khởi kiện chị Tr có nêu sau khi ly thân anh H không cho chị vào nhà và còn khóa trái cửa, nên chị viết đơn mong tòa án chia TSC trong TKHN số tài sản anh, chị làm ra để hai mẹ con ổn định cuộc sống, trong đơn chị có đưa ý kiến chia cho chị phần đất thửa đất số 1371, còn cho anh H thửa đất 901 và tài sản trên đất có giá trị nhiều hơn. Cuối cùng, tại phiên tòa sơ thẩm tuyên chia có chị Tr sử dụng thửa 1371 và thửa 789, giao anh H thửa số 901. Sau khi nhận được quyết định của Tòa án anh H thấy hợp lý nên anh đã làm đơn kháng cáo gửi lên Tòa án phúc thẩm. Cấp phúc thẩm đã đồng ý một phần nội dung đơn kháng cáo của anh H và đã mở phiên tòa xét xử lại.
- d) Bản án 4 Khóa luận: Giải pháp pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Nguyên đơn: Nguyễn Thị M (Nguyễn Thị L), sinh năm 1943; Bị đơn: Phạm Văn C, sinh năm 1941.
Tóm tắt nội dung và đánh giá vụ án: Cụ M với cụ C sống chung với nhau từ năm 1963, hai người ở thời kỳ này đã tạo lập hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống vợ, chồng tạo lập được tài sản chung là 03 phần đất thuộc thửa 356 tại xã T gồm những tài sản (cụ M được cha,mẹ là cụ Q, cụ L thừa kế 4.000m2; Cụ C và M mua 4.203m2 và có căn nhà trị giá 200.000.000 đồng; hai cụ M và C mua 4.000m2 cặp lộ 864. Sau thời gian chung sống cụ M làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia đôi tài sản. Bị đơn, ông C có nêu về những phần đất hai vợ, chồng làm ra và được thừa kế phần đất 4.000m2 là đất do mẹ vợ của cụ C cầm cố cho cụ C1, còn phần đất 2.000m2 khi gả con gái đã được bên nhà chồng cho 1.000m2 đất, sau đó cụ C, M đã bán đất đi và góp tiền mua thêm 4.000m2. Còn căn nhà hai vợ, chồng mua cụ C không đồng ý chia ½ giá trị như cụ M yêu cầu, cụ C muốn chia cho cụ M 1/3 diện tích đất và căn nhà. Sau một thời gian tiếp nhận đơn khởi kiện, thì ngày 11/10/2018 Tòa án Tiền Giang mở phiên xét xử sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ M, chia cho cụ M diện tích 1.300,6m2. Cụ C và bà L được nhận tổng 10.699,9m2. Tuy nhiên, khi tiếp nhận quyết định sơ thẩm của Tòa án do chưa thấy phần tài sản được chia đảm bảo quyền lợi được hưởng nên cụ M đã làm đơn kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu giải quyết, tại đây căn cứ vào những tài liệu nguyên đơn dân sự cung cấp Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận đơn khởi kiện của cụ M và hủy đi một số quyết định mà cấp sơ thẩm đã xét xử.
Tóm lại, các bản án trên đã phản ánh thực tế diễn ra việc áp dụng pháp luật của Tòa án trong giải quyết các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Qua những gì nguyên đơn và bị đơn trình bày Tòa án các cấp xét xử bám sát vào nội dung trình bày vụ việc đưa ra bản án cuối cùng giải quyết yêu cầu của các bên về chia tài sản chung của vợ chồng trong TKHN. Việc Tòa án giải quyết nhiều vụ án nêu trên cũng phản ánh được thực tế nhu cầu cần chia tài sản chung của vợ chồng trong hôn nhân ngày càng nhiều và tăng cao, đòi hỏi Nhà nước, các cấp Đảng cần chú trọng hoàn thiện các quy định pháp luật nói chung và luật Hôn nhân và gia đình nói riêng.
2.2.2. Hạn chế quy định pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Xét ở góc độ quan hệ pháp luật hay quan hệ xã hội, gia đình đều có một sự kết nối nhất định, trong gia đình được điều chỉnh không thể tách bạch hoàn toàn về phương diện xử lý các tranh chấp. Luật HN&GĐ 2014 đã thừa nhận chế độ tài sản vợ chồng đa nguồn và đa hướng. Việc xác lập nền tảng Luật này cũng có quy định về trường hợp có thể xảy ra trong đời sống vợ chồng-trường hợp vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để tài sản khi chia trở thành tài sản riêng của vợ, chồng. Đây là một sự tiến bộ vượt bậc đáp ứng nhu cầu xã hội, hiện đại, văn minh, trong đó đề cao lợi ích chung của gia đình và giải phóng được người phụ nữ. Tuy nhiên, vấn đề quy định này vẫn tồn tại một số bất cập.
Một là, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 chưa xét tới những đặc thù của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, cũng như tính hệ thống pháp lý trong những tranh chấp hợp đồng. Hiện nay, khi nói tới hiệu lực hợp đồng chỉ mới đề cập đến điều kiện, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và hợp đồng vô hiệu, mà hạn chế nói tới nội dung hiệu lực hợp đồng. Về nguyên tắc, hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ có hiệu lực khi hôn nhân có hiệu lực, như vậy hợp đồng trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực phụ thuộc. Hợp đồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thiếu sự gắn kết với các quy định về hợp đồng trong BLDS 2015, làm thiếu đi tính hệ thống trong văn bản quy phạm pháp luật, hơn nữa Luật HN&GĐ thiếu nhiều quy định liên quan tới sự vô hiệu của hợp đồng, nội dung hiệu lực hợp đồng.
Hai là, thiếu sót việc xây dựng chế định ly thân làm ảnh hưởng trực tiếp đến chế định hợp đồng trong thời kỳ hôn nhân không được quy định cụ thể tại Luật HN&GĐ. Cũng chính vì vậy mà mục đích tồn tại của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn nhiều hạn chế. Thỏa thuận CTS có thể hiểu là một giao dịch dân sự, các bên khi được trao quyền phải thực hiện các nghĩa vụ còn lại sau khi phần tài sản giao dịch thuộc về bản thân.
Ba là, pháp luật Hôn nhân và gia đình cụ thể tại Tại Điều 38 và Nghị định 126/2014/NĐ-CP chưa phân biệt rõ ràng thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân với thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Hai giai đoạn này có sự khác nhau tuy nhiên, việc chưa làm rõ ý chí thể hiện chia tài sản trong khi thời kỳ hôn nhân chưa chấm dứt như thế nào cho phù hợp thì pháp luật chưa nêu được, không tách bạch ra khi áp dụng. Khi tiến tới ly hôn là vợ, chồng xác định chấm dứt các mối quan hệ hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Pháp luật tồn tại và đưa vào thực tế áp dụng khi đó mới bộc lộ ra nhiều hạn chế, thiếu sót. Nhà nước giao quyền lập pháp cho Quốc hội, thay mặt nhà nước xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật từ lớn đến bé như Hiến Pháp, Luật, Nghị định, Nghị quyết, Thông tư, Thông tư liên tịch. Tuy nhiên, góc độ tiếp cận và nhìn nhận thực tế chưa sâu tại Luật HN&GĐ 2014 bản chất đã nhìn ra đúng những gì mối quan hệ hôn nhân và gia đình cần nhưng ban hành chưa khép kín, lồng nội dung chưa sát như một vấn đề chưa sâu cần nhìn nhận và hoàn thiện “Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân”. Quy định này được ban hành trước đó khá lâu, tuy nhiên đất nước phát triển theo xu hướng đi lên hôn nhân cần nhiều thứ hơn để vợ, chồng hạnh phúc và khẳng định quyền tự do.
2.2.3. Ưu điểm của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Từ khi đưa quy định pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân năm 1986 đến nay bên cạnh những hạn chế thì vẫn có một số ưu điểm nhất định. Luật hôn nhân gia đình đã phát triển rất nhanh từ văn bản 1986 còn sơ khai, đến nay văn bản 2014 quy định đầy đủ, thông qua những vụ việc đã giải quyết thực tế của Tòa án và có một điểm mới đáng ghi nhận việc tự thỏa thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân đã góp phần làm giảm áp lực và số vụ việc giải quyết của các cấp Tòa án.
2.2.4. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
2.2.4.1. Hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Việt Nam định hướng xây dựng nên kinh tế thị trường, xã hội đã có những thay đổi đòi hỏi chế độ hôn sản thích hợp thừa nhận chế độ tài sản chung, tài sản riêng vợ, chồng. Bản thân các quan hệ gia đình thay đổi rất nhiều tác động trực tiếp đến xã hội làm ảnh hưởng tới lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Trong cuốn sách nói về khát vọng Việt Nam đến năm 2035 biên soạn bởi Ngân hàng Thế giới và Bộ kế hoạch-Đầu tư xác định: “Một xã hội hiện đại, sáng tạo dân chủ với vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển trong tương lai”[24]. Việc hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ nhằm củng cố cho một xã hội hiện đại là thật sự cần thiết.
Một là, cần gắn gia đình với xã hội và sự phát triển xã hội bằng sự ổn định, định hướng pháp lý phải nghiên cứu thấu đáo về mặt pháp lý, bằng biện pháp đảm bảo để không ảnh hưởng đến sự ổn định của gia đình. Hệ thống pháp luật phải chú ý đến đặc thù, định hướng mối liên hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành xây dựng các quy định trên nền tảng chung nhưng đảm bảo tính đặc thù của hợp đồng chia TSC của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Hợp đồng được xác định là chế định của Luật Hôn nhân và gia đình, tuy nhiên, đó không phải là một ngành luật độc lập nền tảng là Bộ luật dân sự, vì vậy khi hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không được trái BLDS 2015, Luật Doanh Nghiệp 2020. Tại Điều 38 Luật HN&GĐ 2014 không sử dụng thuật ngữ “hợp đồng chia TSC của vợ chồng trong TKHN” mà chỉ khẳng định vợ chồng có quyền thỏa thuận. Thỏa thuận ở đây được xem như là hợp đồng bởi nó là sự thống nhất ý chí giữa các bên nhằm phát sinh, thay đổi chấm dứt QHTS ở một mức độ nào đó của vợ, chồng cũng như những người có liên quan (nếu có). Vậy nên, kiến nghị bổ sung định nghĩa hợp đồng trong TKHN là phù hợp. Khi định nghĩa này được bổ sung thì pháp luật cũng phải quy định đặc điểm của loại hợp đồng. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Hai là, Việt Nam chưa đưa ra được một khái niệm cụ thể như thế nào là ly thân, do vậy, pháp luật không thừa nhận vợ, chồng ly thân và trong thời gian “ly thân” theo thực tế diễn ra của một số cặp vợ chồng vẫn được coi là thời kỳ hôn nhân. Tại dự thảo Luật hôn nhân và gia đình (sửa đổi) trình Quốc Hội đã đề xuất một quy định về ly thân được hiểu là không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, về mặt pháp lý họ vẫn là vợ chồng đây là giải pháp cần thiết để giải quyết xung đột trong thời kỳ hôn nhân, đây là khoảng thời gian cần thiết để vợ chồng suy nghĩ về quyết định với hy vọng cứu vãn được cuộc sống hôn nhân. Để đảm bảo tính minh bạch vợ, chồng khi tham gia quan hệ xã hội và thuận lợi hợp pháp cho công tác giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa vợ chồng, Tòa án là cơ quan phù hợp nhất thực hiện công nhận ly thân. Quyền ly thân, gắn liền với vợ chồng vậy nên quyền yêu cầu ly thân thuộc về vợ, chồng. Như vậy, đưa ra khái niệm ly thân đầy đủ đây là giai đoạn giao giữa ly hôn, quy định này sẽ đảm bảo tài sản nếu vợ, chồng chia trong thời kỳ hôn nhân phù hợp công sức đóng góp của vợ, chồng.
Ba là, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đưa ra quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong TKHN chưa tách bạch được nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn và nguyên tắc phân chia tài sản vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân cụ thể tại Điều 59 Luật HN&GĐ 2014. Quy định này đang còn mang tính chất chung, bởi chế định chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một chế định có ý nghĩa mang tính tự do và chủ động cho vợ, chồng trong việc tổ chức cuộc sống gia đình. Thông qua, thỏa thuận và các nguyên tắc rõ ràng, chính xác trong việc định khối tài sản chung-riêng mà còn giúp xây dựng nguyên tắc xác định quyền sở hữu đối với tài sản hình thành trong tương lai. Việc chia tài sản hình thành trong hôn nhân này sẽ tác động đến gia đình và chủ thể thứ ba. Vậy nên, bổ sung thêm một quy định cụ thể về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ tạo nên sự cởi mở và vừa tạo nên khuôn khổ hợp lý là điều vô cùng cần thiết, góp phần vào nhận thức của vợ, chồng trong vấn đề phân định tài sản chung trong hôn nhân.
2.2.4.2. Những lưu ý khi giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Quá trình giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không tránh khỏi những vấn đề khó khăn trong việc xác định đúng tài sản đó là chung hay riêng, bên vợ hay chồng được đề xuất chia trước. Đây là những gì cần lưu ý cũng như rút kinh nghiệm khi tiếp cận giải quyết yêu cầu của công dân.
- Xác định đúng các loại tài sản chung của vợ, chồng
Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được quy định cụ thể tại Điều 33, Luật HN&GĐ 2014 đây là cơ sở xác định tài sản chung là những gì vợ chồng tạo lập được sau khi kết hôn, ngoài ra còn có tài sản được thừa kế, tặng cho riêng như đất đai, xe cộ,…Điều 43 Luật HN&GĐ 2014 quy định tài sản riêng là số tài sản vợ chồng tạo ra trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế tặng cho riêng và các tài sản được chia riêng theo Điều 38, 39 và Điều 40.
- Yêu cầu chia tài sản chung của vợ, chồng khi nào thì phù hợp
Vợ, chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thông qua hai trường hợp là thỏa thuận và yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với trường hợp thỏa thuận phân chia phải được lập thành văn bản bắt buộc phải công chứng theo quy định pháp luật cần đảm bảo đầy đủ các giấy tờ tùy thân và các phiếu, đơn đúng quy trình Luật Công chứng 2014. Bên giải quyết thỏa thuận phải tuân thủ đúng ngày trả văn bản cho vợ, chồng. Còn đối với trường hợp không thể thỏa thuận mà cần đến Tòa án ban hành bản án cuối cùng giải quyết yêu cầu phân chia của vợ, chồng thì Tòa án phải căn cứ đúng quy định pháp luật phân chia tài sản phù hợp.
- Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung Khóa luận: Giải pháp pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Thời điểm có hiệu lực của văn bản thỏa thuận hay quyết định Tòa án về chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là căn cứ xác định tài sản sau khi đã chia sẽ mặc định trở thành tài sản riêng của vợ, chồng trong khi vẫn duy trì quan hệ hôn nhân. Vì vậy, việc xác định đúng hiệu lực là rất quan trọng.
2.2.4.3. Một số biện pháp nhằm đảm bảo hiệu quả chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đã có tác động không nhỏ đến đời sống xã hội, con người. Độ tiếp cận khoa học, công nghệ của người dân càng tăng cao, vì vậy kinh tế đất nước ngày càng thịnh vượng. Kinh tế phát triển hơn, tư duy con người cao lên điều này kéo theo pháp luật cần hoàn thiện để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội cho phù hợp. Khi đất nước đổi mới Nhà nước cần chú trọng lĩnh vực hôn nhân và gia đình, các quyền cơ bản của vợ, chồng trong mối quan hệ hôn nhân (quyền kết hôn, quyền yêu cầu thỏa thuận chia tài sản chung của vợ, chồng, quyền khởi kiện ly hôn, quyền được Tòa án xem xét sự công bằng, bình đẳng trong chế định phân chia tài sản,…) việc pháp luật ghi nhận đã thật sự tân tiến với sự phát triển chung. Pháp luật đã nhìn nhận và đánh giá đúng bản chất hôn nhân và gia đình có một tầm quan trọng đối với sự đi lên của đất nước.
Thứ nhất: Hoàn thiện quy định về phương thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật hôn nhân và gia đình đề cao sự tự nguyện thỏa thuận giữa vợ, chồng về khối tài sản chung. Tuy nhiên tại Điều 38 Luật HN&GĐ 2014 chưa thể phân định cụ thể chia một phần tài sản và toàn bộ. Vì vậy, pháp luật cũng cần có quy định rõ ràng để đảm bảo quá trình giải quyết việc phân chia tài sản chung vợ, chồng được triển khai nhanh. Cho nên, dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình tiếp theo cần chỉ rõ thế nào là chia một phần tài sản chung và như thế nào là chia toàn bộ tài sản chung. Quy định này vẫn mang tính chất chung và chiếu sang nghị định hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ 2014 cũng không quy đinh rõ ràng trên.
Thứ hai: Hoàn thiện quy định pháp luật về chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ công chứng văn bản thỏa thuận chuyên nghiệp. Pháp luật quy định văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng có thể công chứng, chứng thực hoặc không công chứng, tuy nhiên nếu bên vợ hoặc chồng yêu cầu để có cơ quan pháp lý chứng nhận cho sự thỏa thuận của vợ, chồng. Quá trình tiếp nhận giải quyết những văn bản thỏa thuận đòi hỏi đội ngũ cán bộ và các đơn vị tư nhân hành nghề công chứng phải có kiến thức chuyên môn, chuyên nghiệp, tránh tình trạng lề mề, làm khó người dân đến giải quyết. Văn bản khi tiến hành công chứng xong phải trả đúng ngày quy định của pháp luật.
Thứ ba: Đảm bảo thực hiện hiệu quả trong thực tiễn giải quyết vụ việc của các cấp xét xử Tòa án. Chú trọng việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đúng với nội dung vụ án, Tòa án chịu trách nhiệm thực hiện quyền tư pháp là quyền bảo vệ pháp luật, thông qua Tòa án các văn bản pháp luật được áp dụng xét xử về hôn nhân và gia đình được sử dụng vào các vụ án thực tế, đảm bảo quyền và lợi ích hợp giữa vợ và chồng. Khi có đơn yêu cầu khởi kiện trường hợp cấp sơ thẩm giải quyết vụ án chưa phù hợp với yêu cầu của nguyên đơn về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, khi có đơn kháng cáo lên cấp phúc thẩm. Cấp phúc thẩm cần tiến hành nghiên cứu lại hồ sơ vụ án, đảm bảo những quyền lợi của bên khởi kiện được giải quyết dựa trên tình thần trách nhiệm của các cơ quan thực thi pháp luật công khai, minh bạch, đúng chức trách.
Thứ tư: Phát huy tính tích cực trong công tác kiểm tra, thanh tra giám sát hoạt động giải quyết yều cầu thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân hiệu quả cần có sự tham gia của Nhà nước. Để quá trình giải quyết yêu cầu của vợ, chồng được giải quyết nhanh chóng, không nhũng nhiễu, hạch sách tiến hành kiểm tra công tác thực hiện thuộc về trách nhiệm của cơ quan thanh tra. Qua công tác này mới phát hiện pháp luật đã đi vào cuộc sống như thế nào, để mặt tích cực thì giữ lại, mặt hạn chế thì cải thiện sau.
Như vậy, những giải pháp đưa ra trên đây không làm mất đi giá trị nguyên bản của Điều luật nghiên cứu, mà làm cho pháp luật HN&GĐ hoàn thiện hơn.
Tiểu kết chương II Khóa luận: Giải pháp pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Công nhận quyền con người, quyền công dân đảm bảo cho người dân có cuộc sống ổn đinh, ấm no, hạnh phúc. Pháp luật Việt Nam nhìn nhận đất nước phát triển phần lớn dựa vào công sức đóng góp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, trong sự đóng góp đó phải kể đến cá nhân, tổ chức, gia đình,.…những chủ thể tạo nên các giá trị nhất định cho xã hội. Gắn kết gia đình bảo đảm quyền lợi, phần lớn phụ thuộc vào chính sách pháp luật. Chú trọng đổi mới pháp luật, kế thừa các giá trị tiến bộ của văn bản pháp luật trước đó tạo sự hợp hiến, hợp pháp của các văn bản sửa đổi sau này là nhiệm vụ cấp thiết. Nền tảng pháp luật đổi mới đó phải ghi nhận một chế định “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”. Hôn nhân là điểm kết thúc cho tình yêu đôi lứa nhưng là điểm khởi đầu cho một cuộc sống hạnh phúc. Như vậy, mục 2.1 đã khái quát đầy đủ nội dung quy định pháp luật, từ quyền được yêu cầu, lý do phương thức thực hiện, các trường hợp tồn tại, thời điểm bắt đầu có hiệu lực khi thỏa thuận, hậu quả xảy ra, chấm dứt hiệu lực.
Xây dựng và hoàn thiện pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng toàn dân và Nhà nước. Mục 2.2 kết thúc chỉ ra được những vụ án thực tế Tòa án đã giải quyết được về vấn đề chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Thiết nghĩ vấn đề chia tài sản chỉ được giải quyết khi vợ chồng đưa ra quyết định ly hôn, nhưng hiện nay dưới sự bao quát thực tế pháp luật đã đưa ra chế tài giải quyết chia tài sản chung ngay trong mối quan hệ hôn nhận chưa chấm dứt. Đây là góc nhìn tân tiến, cởi mở, chia tài sản trong giai đoạn này không làm mất đi hạnh phúc gia đình mà còn làm tăng sự tin tưởng lẫn nhau. Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật cũng như việc pháp luật HN&GĐ quy định vẫn chưa thật sự rõ ràng nên bộc lộ một số hạn chế nhất định, dễ dẫn tới việc nhầm lẫn khi sử dụng luật. Từ những thiếu sót, khe hở nhằm mục đích thượng tôn pháp luật, các kiến nghị giải pháp lần lượt ra đời đóng góp ý kiến vào việc xây dựng quan hệ xã hội lành mạnh. Pháp huy hết chức trách, nhiệm vụ giao phó của các cấp Đảng ủy, Nhà nước ta hiện nay.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Hôn nhân và gia đình thuật ngữ nghe gần gũi, êm đềm trong cuộc sống mỗi con người, “hôn nhân” được ví như khởi đầu một hành trình tốt đẹp. Hiện nay, nhận thức về hôn nhân và các mối quan hệ hình thành khi nam, nữ kết hôn đã có sự thay đổi, trước kia ông, bà ta gắn hôn nhân là cùng nhau quản lý tài sản làm ra, tìm cách chăm sóc, nuôi dưỡng bố, mẹ, con cái,…. tạo dựng mái ấm gia đình đầy sự ấm áp, yêu thương bao hi sinh vất vả của vợ, chồng cùng cầm tay nhau đi qua. Nhưng đất nước phát triển thế giới quan của vợ, chồng có cách nhìn khác đi, góc nhìn này không làm biến chất hạnh phúc gia đình mà đã tạo ra sự cởi mở, tự do trong hôn nhân. Sự thay đổi này cần lưu tâm đến chế độ tài sản, tài sản được xem là thước đo vật chất nuôi sống người thân trong gia đình và còn là giá trị tinh thần rất lớn. Vậy nên, pháp luật Hôn nhân và gia đình luôn lấy vấn đề tài sản để phát triển các quy định xoay quanh, bởi hôn nhân tác động trực tiếp lên hai mối quan hệ cơ bản, quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản, sự điều chỉnh này giống như trái đất xoay quanh mặt trời, tồn tại song song không tách rời. Ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật HN&GĐ 2014 có quy định rất hay mà các nhà làm luật đã nghiên cứu từ sự hình thành của các văn bản trước đó đến nay đó là “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, pháp luật đưa ra quy định này đã dựa trên thực tế nhu cầu cấp thiết của các cặp vợ, chồng. Chia ở đây là chia sự tự do và định đoạt tài sản vợ, chồng làm ra. Cuối cùng, chúng ta có thể khẳng định hôn nhân là mầm móng của hạnh phúc, xây dựng và củng cố một gia đình độc lập sẽ tạo nên nhận thức lớn cho mỗi thành viên, vợ, chồng là những viên gạch đầu tiên tạo ra ngọn lửa trao yêu thương cho những người thân sinh và những đứa con thơ. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Quy định Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng