Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích mô hình quản trị chuỗi cung ứng của Toyta và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. Tổng kết kinh nghiệm của Toyota trong việc quản trị chuỗi cung ứng
Từ việc tìm hiểu thực trạng quản trị chuỗi cung ứng của Toyota ở chương 2, ta có thể tổng kết một số bài học kinh nghiệm như sau:
Bài học thứ nhất, Toyota lên kế hoạch tổng hợp cho tất cả các quá trình vận hành chuỗi cung ứng. Tất cả các quy trình chuẩn bị cho công đoạn sản xuất được điều chỉnh để hoạt động với các vận tốc và thời gian khác nhau, nhưng cùng dừng tại một điểm. Vì thế nên Toyota có thể sản xuất đúng lúc kịp thời, với lượng hàng lưu kho thấp nhất và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách nhanh nhất có thể. Trong nhà máy của Toyota , những chiếc xe được đưa xuống dây chuyền lắp ráp chính ở một tốc độ ko đổi. Các bộ phận được đưa vào lắp ráp theo một hệ thống được thiết kế sẵn sao cho thời gian lắp ráp được tối ưu. Toyota sản xuất ở mức độ và tốc độ ổn định để thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng. Toyota áp dụng nguyên tắc sản xuất tinh gọn (Lean): công ty đã đơn giản hóa thiết kế phức tập trong mẫu xe, tiêu chuẩn hóa các lựa chọn, nỗ lực thuê các nhà cung cấp địa phương để giảm thời gian chờ hàng, giảm thời gian lưu kho. Bên cạnh đó họ còn thực hiện việc thiết kế các phụ tùng có thể lắp đặt ngoài nhà máy, ở các trung tâm phân phối để giảm bớt tác động của nhà máy và chuỗi cung ứng. Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
Bài học thứ hai, Toyota còn giới hạn số dòng sản phẩm đưa vào một thị trường, chọn những sản phẩm phù hợp nhất với nhu cầu thị trường địa phương, từ đó dự đoán mức độ nhu cầu và vận hành chuỗi cung ứng tốt hơn. Tốc độ bán hàng được duy trì để giảm thời gian lưu kho ở đại lý. Số lượng xe bán ra được Toyota quản lý bằng cách lưu lại tập hợp các lựa chọn về các nhóm hàng, màu sắc mà được ưa chuộng trong một quốc gia theo thời gian để nghiên cứu thị hiếu của khách hàng và dự báo nhu cầu trong tương lai. Tốc độ bán hàng trong vùng được Toyota điều chỉnh để phù hợp với nhịp sản xuất ở các nhà máy. Việc tính toán để hoạch định công suất sẽ quyết định nhịp sản xuất nhanh hay chậm để chuỗi cung ứng được vận hành hiệu quả. Đơn hàng được gom theo từng tháng và được Toyota đưa vào kế hoạch sản xuất ba tháng một.
Bài học thứ ba, Toyota kết nối chặt chẽ hai quá trình lên kế hoạch bán hàng và sản xuất. Công ty sửa chữa các sai lệch về lượng cầu cũng như về sản xuất ngay khi chúng mới xuất hiện, đồng thời phối hợp hoạt động giữa các cấp trong chuỗi cung ứng và làm rõ vấn đề cần giải quyết cho các thành viên trong chuỗi cung ứng. Toyota giải quyết các lỗi tiềm tàng có thể phát sinh thay vì đi giải quyết các sự cố đã xảy ra. Bên cạnh đó, các nhà hoạch định kiểm soát sản xuất của Toyota còn được đào tạo thường xuyên về chuyên môn. Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
Bài học thứ tư, việc đặt hàng nguyên vật liệu được Toyota kết nối với nhịp sản xuất, đặc biệt là việc trao đổi thông tin thường xuyên với các nhà cung cấp.
Việc đặt hàng nguyên vật liệu dựa trên các số liệu trong quá khứ, lượng đơn hàng đặt sản xuất xe nhận được và điều kiện sản xuất thời gian gần nhất để tránh biến động lớn trong đơn đặt hàng cũng như giữ nhịp sản xuất ổn định. Thực hiện tốt công tác này, Toyota chỉ phải lưu kho nguyên liệu rất ít, và giảm được nhiều chi phí. Ngoài ra, Toyota còn điều chỉnh nhịp sản xuất phù hợp với việc nhận hàng, một số bộ phận có thể đặt hàng ở nhà cung cấp gần nhà máy và đưa vào sản xuất ngay sau khi nhận hàng để mức lưu kho ít nhất. Bên cạnh đó, Toyota còn thường xuyên cập nhật các thay đổi trong yêu cầu quy cách phẩm chất của xe mà khách hàng yêu cầu để đặt hàng các bộ phận, linh kiện cho hợp lý.
Bài học thứ năm, đối với việc lựa chọn và quản lý nhà cung cấp Toyota chọn các nhà cung cấp có năng lực cải tiến kĩ thuật, vị trí hợp lý. Sử dụng chương trình trợ giúp nhà cung cấp, mở trung tâm hỗ trợ nhà cung cấp để các bộ phận được sản xuất chuẩn hơn. Công ty còn nuôi dưỡng mối quan hệ lâu dài, giảm số lượng các nhà cung cấp đến mức tối thiểu, tạo điều kiện cho các nhà cung cấp tham gia vào các bước đầu tiên trong việc thiết kế và đưa ra nhiều lựa chọn. Để việc liên hệ với nhà cung cấp được thường xuyên và cập nhật hơn, Toyota sử dụng trao đổi dữ liệu điện tử để trao đổi dữ liệu với nhà cung cấp.
Bài học thứ sáu, Toyota đặc biệt chú trọng đến công tác quản lý hậu cần nội bộ và đã thiết lập mối quan hệ với một số lượng giới hạn các nhà cung cấp dịch vụ hậu cần để tận dụng năng lực hoạt động của họ bởi thành công của Toyota trong việc vận hành một chuỗi cung ứng tinh gọn đòi hỏi các bộ phận được chuyển đến từ nhà cung cấp đúng thời gian và có hiệu quả. Sử dụng cơ sở vật chất của bên cung cấp dịch vụ hậu cần sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí đầu tư, chi phí đào tạo nguồn nhân lực để hoạt động và chi phí điều hành để tập trung vào các năng lực cốt lõi. Ngoài ra, Toyota hợp tác với công ty cung cấp dịch vụ hậu cần để sử dụng cảng trung chuyển và thiết kế các tuyến đường vận tải đặc biệt cho việc vận chuyển và phân loại các linh kiện từ các nhà cung cấp nhằm giảm chi phí vận chuyển và chi phí lưu kho nguyên vật liệu. Toyota giao hàng cho các nhà cung cấp bằng cách thức giao theo lô sản phẩm nhỏ, giao hàng thường xuyên và giao đầy công-te-nơ. Công ty tối ưu hóa quá trình vận tải bằng việc sử dụng hệ thống máy tính để tính toán các chặng đường hợp lý nhất. Khi có các vấn đề liên quan đến công tác hậu cần ảnh hưởng tới việc vận hành chuỗi cung ứng, các nhà quản lý phải tận mắt thấy được các vị trí nào có vấn đề để giải quyết.
Bài học thứ bảy, các nhà đại lý được nhận thức rằng cách thức hoạt động của Toyota ảnh hưởng đến các quy trình của họ. Các nhà đại lý được đào tạo và hỗ trợ trong việc điều hành quản lý. Toyota thiết kế những mô-đun được tiêu chuẩn hóa, có thể sử dụng cho nhiều mẫu xe khác nhau để lắp ráp, xử lý đơn hàng một cách nhanh nhất; ngoài ra công ty còn đào tạo kĩ thuật viên cho các đại lý để các đại lý có thể lắp đặt các phụ tùng và các tùy chọn khác thêm vào so với tiêu chuẩn của xe để giảm thời gian lắp đặt ở nhà máy và linh hoạt hơn trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Trong quy trình phân bổ, thông tin phản hồi từ phía đại lý và các phương pháp khác nhau để giải quyết các vấn đề liên quan đến quy trình được tiêu chuẩn hóa và lên thời gian cố định. Toyota sử dụng các dự báo và các đơn đặt hàng thực tế để cung cấp để lên kế hoạch sản xuất và liên tục hỗ trợ đại lý hoạt động liên tục.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế
II. Phân tích đặc điểm thị trường ô tô Việt Nam Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
1. Khái quát chung về ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam thực sự hình thành và phát triển kể từ sau năm 1991 gắn liền với sự ra đời rầm rộ của các liên doanh của hầu hết các hãng xe nổi tiếng trên thế giới như Ford, Toyota, Mercedes-Benz…. Hiện nay trên cả nước đã có trên 20 công ty trong nước và liên doanh sản xuất lắp ráp ô tô16. Các liên doanh có vai trò cực kỳ quan trọng trong bước đầu tạo dựng nên ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong khi vai trò của các doanh nghiệp ô tô trong nước lại hết sức mờ nhạt. Có thể nói, sự có mặt của các công ty trên đã cho thấy thị trường xe hơi Việt Nam là thị trường đầy tiềm năng và các nhà đầu tư nước ngoài đã rất chú trọng đến thị trường này. Mặt khác, điều này cũng cho thấy chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong việc phát triển ngành công nghiệp ô tô nước nhà thông qua việc liên doanh, liên kết với nước ngoài. Điều này không những thu hút được lượng vốn lớn vào Việt Nam mà còn tập trung được kỹ thuật sản xuất hiện đại, phương cách quản lí tiên tiến. Kinh nghiệm phát triển công nghiệp ô tô của hầu hết các nước trên thế giới cũng đã cho thấy giai đoạn đầu phát triển rất cần sự hỗ trợ từ bên ngoài, nhất là công nghiệp ô tô. Từ đây có thể thấy, nếu như quan điểm xây dựng công nghiệp ô tô Việt Nam lúc sơ khai là đi từ sản xuất phụ tùng cơ bản đến sản xuất ô tô không có tính thực tiễn thì hiện nay quan điểm đó đã được thay thế bởi con đường đi từ lắp ráp ô tô rồi tiến hành từng bước nội địa hoá sản xuất phụ tùng như các nước ASEAN và châu Á đã trải qua
Trong ngành sản xuất ô tô chuỗi cung ứng đóng một vai trò vô cùng quan trọng . Để sản xuất ra được một chiếc xe chúng ta cần trên 3000 linh kiện và trong mỗi linh kiện lại chữa rất nhiều các chi tiết khác nên một nhà sản xuất xe ô tô không thể tự mình sản xuất hết tất cả các bộ phận cấu thành được mà phải đi đặt làm ngoài, vì thế họ cần có một mạng lưới các nhà cung cấp bộ phận cấu thành cho ô tô và quản trị chuỗi cung ứng này để phối hợp hoạt động của các chủ thể trong chuỗi cung ứng một cách có hiệu quả. Tiến sỹ. Homi Kharas, nhà nghiên cứu tại Học viện Brookings, nguyên chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (WB) khu vực Đông Á – Thái Bình Dương cho rằng ―dây chuyền cung ứng trong ngành sản xuất ôtô là lĩnh vực Việt Nam có thể đóng vai trò khá quan trọng‖.
Hiện nay có khoảng 9 doanh nghiệp ô tô trong nước đang hoạt động trên thị trường với quy mô khác nhau bao gồm các công ty như: SAMCO, Truonghai Auto, Vinaxuki, VINAMOTOR, VEAM, công ty cổ phần ô tô Đô Thành, công ty cổ phần cơ khí ô tô 3-2, THANHCONG AUTO, công ty cơ khí ô tô 1-5… Để nghiên cứu áp dụng các kinh nghiệm quản trị chuỗi cung ứng của Toyota cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam, trước hết chúng ta cần tìm hiểu môi trường kinh doanh của nhóm các nhà sản xuất ô tô này.
2. Phân tích SWOT Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
Mục tiêu của việc phân tích SWOT là để tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, và thách thức ở các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam từ đó kết hợp với các kinh nghiệm quản trị chuỗi cung ứng của Toyota đã đề cập ở trên nhằm đưa ra các giải pháp quản trị chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp này.
Điểm mạnh
Thứ nhất, các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam có nguồn lực lao động đông đảo với lớp lao động trẻ năng động và sáng tạo. Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam hiện nay đang thu hút được nhiều kĩ sư trẻ tài năng và tầng lớp công nhân có tay nghề cao, cần cù, chịu khó. Hiện nay, các công ty thường có các khóa đào tạo để nâng cao trình độ cho lực lượng lao động để cập nhật với trình độ sản xuất hiện đại và công nghệ mới nên khả năng sử dụng nguồn lực của các công ty là khá tốt.
Bên cạnh đó, với nhiều năm phát triển, các công ty sản xuất ô tô của Việt Nam đã có nhiều sự vượt bậc khi tỷ lệ nội địa hóa ngày càng cao. Một số công ty đã có tiếng tăm trên thị trường ô tô nội địa như TRUONGHAI AUTO, SAMCO, VINAXUKI với đa dạng sản phẩm, chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả cạnh tranh.
Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước ngày càng chiếm thị phần lớn, đặc biệt là ở phân khúc thị trường xe tải, xe ben, xe khách và xe bus. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội các nhà sản xuất xe Việt Nam (VAMA), TRUONGHAI AUTO đã vượt mặt Toyota Việt Nam và vươn lên là hãng xe số 1 thị trường với doanh số 3.085 xe, chiếm 32,4% thị phần trong tháng 3 năm 2023.
Cuối cùng, Việt Nam có vị trí đại lý thuận tiện cho việc giao thương buôn bán với các nước trong khu vực và thế giới nên các công ty có vị trí thuận lợi để tiến hành sản xuất kinh doanh với các đại lý phân phối có mặt ở các tỉnh trong cả nước.
Điểm yếu
- Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam tuy có nguồn lao động có kĩ năng, lành nghề nhưng vẫn có một số doanh nghiệp bị chảy máu chất xám do các kĩ sư hoặc công nhân lành nghề chuyển sang làm cho các liên doanh với mức lương cao và nhiều ưu đãi hơn. Bên cạnh đó các doanh nghiệp vẫn còn thiếu nguồn lực lao động cao cấp, đội ngũ quản lý doanh nghiệp còn chưa được đào tạo tốt.
- Giá xe ô tô ở Việt Nam thuộc dạng đắt đỏ trên thế giới và cao hơn nhiều lần so với các nước trong khu vực. Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam cũng chưa thể cạnh tranh về giá so với các liên doanh được bởi chi phí sản xuất vẫn còn cao.
- Năng lực tài chính của các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam còn hạn chế so với các liên doanh, đây thực sự là một trở ngại lớn để các doanh nghiệp có thể thực hiện các chiến lược của mình.
- Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam quản trị chuỗi cung ứng chưa hiệu quả. Trên thị trường, tính cạnh tranh của các sản phẩm sản xuất không chỉ phụ thuộc vào chất lượng, chi phí mà còn cả việc giao hàng. Việc sản xuất và giao hàng đúng lúc kịp thời sẽ giúp doanh nghiệp giảm rất nhiều chi phí lưu kho nguyên vật liệu, bán thành phẩm cũng như thành phẩm đồng thời đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, việc thực hiện quản trị chuỗi cung ứng chưa tốt đã dẫn một số doanh nghiệp đến tình trạng lưu kho cao, tăng chi phí sản xuất, giảm tính cạnh tranh trên thị trường.
- Sản phẩm của một số doanh nghiệp vẫn còn có khuyết điểm, một số doanh nghiệp ít quảng cáo do kinh phí hạn hẹp nên một số sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam vẫn chưa được thị trường biết đến nhiều.
Cơ hội
Thứ nhất, Việt Nam đang ở trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế vào sân chơi chung trong môi trường cạnh tranh toàn cầu, nhà nước phải thay đổi các chính sách để phù hợp với các cam kết khi gia nhập WTO tạo điều kiện tốt để hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài nên các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam có thêm cơ hội để phát triển.
Thứ hai là nhà nước có chính sách thích đáng đối với việc phát triển ngành công nghiệp ô tô. Thị trường ô tô Việt Nam gần đây đạt được tốc độ tăng trưởng vượt bậc là một minh chứng thuyết phục cho thấy Chính phủ đã và đang thực sự dành cho ngành sự quan tâm sát sao trong việc hoạch định các chính sách nhằm xây dựng và phát triển ngành. Trong quyết định 177/2004/QĐ-TTg đã nếu rõ ―Công nghiệp ô tô là ngành công nghiệp rất quan trọng cần được ưu tiên phát triển để góp phần phục vụ có hiệu quả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng tiềm lực an ninh, quốc phòng của đất nước‖ Chính phủ đang từng bước định hướng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam để đến năm 2020 trở thành một ngành công nghiệp quan trọng của đất nước, có khả năng đáp ứng ở mức cao nhất nhu cầu thị trường trong nước và tham gia vào thị trường khu vực và thế giới. Vì thế các chính sách của chính phủ đưa ra sẽ hỗ trợ rất nhiều cho việc phát triển ngành Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
Bên cạnh đó, nhu cầu về xe ô tô càng ngày càng tăng. Hiện nay, đời sống của người dân càng ngày càng cao nên nhiều người luôn muốn ở hữu một chiếc xe để thuận tiện cho việc đi lại. Theo báo cáo của hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) những năm gần đây, lượng xe bán ra trên thị trường tăng đột biến mặc dù giá cả của xe sản xuất trong nước khá cao trên thị trường. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển kinh tế cũng như dân số càng ngày càng tăng nên nhu cầu về vận tải cũng tăng lên, nên không chỉ có các cá nhân có nhu cầu về xe hơi mà các tổ chức, công ty kinh doanh cũng cần phát triển mạng lưới vận tải sử dụng ô tô nhiều hơn.
Hiện nay, quá trình chuyển giao công nghệ đang diễn ra rất mạnh mẽ không chỉ trong lĩnh vực sản xuất ô tô mà còn trong các lĩnh vực khác. Vì thế các công nghệ sản xuất, dây chuyền tiên tiến cho phép các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước vận hành với năng suât cao hơn, chi phí thấp hơn. Bên cạnh đó, các nhà cung cấp cũng có co hội học hỏi công nghệ mới để bắt kịp với nhịp sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô nội địa.
Ngoài ra, các ngành công nghiệp phục vụ cho ngành sản xuất ô tô tại Việt Nam ngày càng phát triển. Số lượng các nhà cung cấp linh kiện lắp ráp trong nước ngày càng nhiều và chất lượng ngày càng cao với giá cả phải chăng.
Thách thức
Tuy tỷ lệ nội địa hóa ngày càng cao nhưng các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam chưa thể sản xuất được những chiếc xe 100% nội địa do chúng ta còn lạc hậu về phát triển công nghệ, đặc biệt là công nghệ chế tạo máy.
Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam chưa đưa ra thị trường nhiều dòng sản phẩm xe ô tô con, xe du lịch mà nhu cầu về loại xe này trên thị trường lại rất lớn. Trong khi đó các liên doanh lại có rất nhiều mẫu xe được ưu thích.
Thị trường xe ô tô sản xuất bởi các doanh nghiệp trong nước dễ bị cạnh tranh bởi xe nhập khẩu hoặc xe do các liên doanh trong nước sản xuất thị hiếu của người tiêu dùng sính hàng ngoại, hoặc chất lượng, thương hiệu của xe do các liên doanh có ưu thế hơn nhiều
Hiện nay giao thông ở các thành phố lớn như Hà Nội, tp Hồ Chí Minh rất khó khăn, chỗ để xe cũng rất hạn chế vì thế việc mua một chiếc xe có thể khá dễ dàng với một số bộ phận dân cư nhưng việc lưu hành xe cộ lại gặp rất nhiều trở ngại nên có nhiều người phải từ bỏ ý định mua ô tô. Như thế các doanh nghiệp sẽ mất đi một lượng khách hàng đáng kể
Các biến động về kinh tế, về tỷ giá USD, tỷ lệ lạm phát cao trong những năm gần đây đã làm cho giá linh kiện nhập khẩu cũng như linh kiện sản xuất trong nước tăng dẫn đến giá xe tăng khiến nhiều người phải cân nhắc việc mua xe. Việc này ảnh hưởng đến doanh số bán hàng cũng như quá trình sản xuất, kế hoạch kinh doanh ở các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam.
Dịch vụ logistics ở Việt Nam chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của nó trong việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu và khu vực. Cơ sở hạ tầng về vận tải, kho hàng còn yếu kém, hành lang pháp lý không rõ ràng đã cản trở sự phát triển logistics ở Việt Nam. Loại hình dịch vụ tổng hợp này có liên quan đến sự quản lý của nhiều bộ ngành như giao thông vận tải, thương mại, hải quan, đo lường và kiểm định… Việc mỗi bộ ban hành một quy định riêng, thậm chí còn mâu thuẫn với nhau, gây ra những trở ngại không nhỏ cho ngành logistics. Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam do đó mà cũng gặp nhiều trở ngại trong việc quản trị chuỗi cung ứng của mình.
3. Phân tích 5 áp lực cạnh tranh Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
Việc phân tích 5 áp lực cạnh tranh là để phân tích tập hợp các nhân tố trong ngành ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp bao gồm:
- Áp lực của nhà cung cấp
- Áp lực của người mua
- Đe dọa của sự thay thế sản phẩm
- Đe dọa của những người xâm nhập mới
- Cường độ cạnh tranh giữa các nhà cạnh tranh
Ta có thể xác định được chủ thể trong quy trình phân tích này là các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam, ngành tham gia là sản xuất kinh doanh ô tô. Đối thủ cạnh tranh là các liên doanh đang hoạt động trong nước. Đối thủ tiềm ẩn là các công ty nước ngoài có ý định xuất khẩu ô tô vào Việt Nam hoặc xây dựng nhà máy ở Việt Nam
3.1 Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
Số lượng và quy mô nhà cung cấp: Số lượng nhà cung cấp sẽ quyết định đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, doanh nghiệp. Nếu trên thị trường chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành. Đối với các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam số lượng các nhà cung cấp linh kiện cho việc lắp ráp hiện nay càng ngày càng tăng. Đặc biệt khu kinh tế mở Chu Lai, Quảng Nam là nơi tập trung đông nhất các doanh nghiệp trong lĩnh vực ô tô và phụ trợ, với 3 nhà máy lắp ráp ô tô và 17 DN sản xuất phụ tùng, linh kiện của Công ty cổ phần Ô tô Trường Hải (Thaco). Chu Lai cũng đang hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm công nghiệp cơ khí và ô tô quốc gia, với sự tham gia của các DN trong và ngoài nước. Ngoài ra còn có nhiều nhà cung cấp phụ tùng, linh kiện ô tô khác nữa phân bố khắp cả nước với quy mô vừa và nhỏ. Như vậy, số lượng nhà cung cấp trong ngành sản xuất ô tô Việt Nam là tương đối nhiều và quy mô không lớn, vì thế áp lực mà các nhà cung cấp tạo ra sẽ không lớn đối với các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam.
Khả năng thay thế sản phẩm của nhà cung cấp : quy trình này bao gồm khả năng thay thế những nguyên liệu đầu vào do các nhà cung cấp và chi phí chuyển đổi nhà cung cấp . Trên thị trường Việt Nam, có nhiều doanh nghiệp cung cấp các chủng loại linh phụ kiện giống nhau nên các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam có thể chọn bất cứ nhà cung cấp nào để cung cấp linh kiện cho mình hoặc có thể chọn mua 1 loại linh kiện từ nhiều nhà cung cấp khác nhau. Thêm vào đó, các nhà cung cấp có số lượng lớn hơn các doanh nghiệp sản xuất ô tô và quy mô nhỏ nên chi phí để chuyển đổi các nhà cung cấp trong nước của các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam không cao . Tuy nhiên đối với các nhà cung cấp linh kiện ô tô ở nước ngoài, quyền lực đàm phán của họ cao hơn các nhà sản xuất ô tô của Việt Nam bởi vì các bộ phận phải nhập từ nước ngoài là các bộ phận, linh kiện có độ phức tạp cao, đắt tiền mà trong nước không thể sản xuất được hoặc chưa có điều kiện tiếp thu công nghệ để sản xuất. Ví dụ, công ty Trường Hải lắp ráp xe KIA trên công nghệ của công ty KIA-MOTOR Hàn Quốc thì phải nhập các linh kiện chính từ nhà cung cấp Hàn Quốc như: động cơ, bộ điều khiển điện tử…mà không thể mua từ nhà cung cấp khác được.
3.2 Áp lực cạnh tranh từ khách hàng
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành. Sản xuất kinh doanh ô tô là một ngành rất đặc thù vì nó là hỗn hợp của sản phẩm và dịch vụ do vậy để có thể làm hài lòng khách hàng ngoài yếu tố sản phẩm chất lượng cao, chất lượng phục vụ cũng có tầm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phục vụ và đánh giá chung của khách hàng. Khách hàng của các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam được phân làm 2 nhóm: khách hàng lẻ và nhà phân phối. Cả hai nhóm đều gây áp lực với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điểu khiển cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng. Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
Đối với nhóm khách hàng lẻ, mong muốn của họ là sở hữu một chiếc xe có giá cả phải chăng, chất lượng ổn định, độ an toàn đảm bảo, các dịch vụ bảo hành, sửa chữa tốt và thời gian chờ để nhận hàng phải càng ngắn càng tốt. Về giá cả, áp lực của người mua lẻ là rất lớn, đây là một vấn đề khó khăn mà các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam đang gặp phải vì chi phí sản xuất của họ còn tương đối cao, mặc dù sản phẩm có giá tương đối cạnh tranh so với các liên doanh nhưng vẫn chưa thỏa mãn yêu cầu của người mua và người mua vẫn phải chịu giá cao hơn so với các nước trong khu vực. Về vấn đề chất lượng, một số dòng sản phẩm ô tô của các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam tương đối đồng đều so với các liên doanh, nhưng thương hiệu vẫn chưa cạnh tranh được với các liên doanh nên người mua lẻ dễ dàng chuyển sang các thương hiệu của của công ty liên doanh; do đó áp lực về yêu cầu chất lượng từ phía người mua là khá lớn. Về chất lượng dịch vụ và các điều kiện bán hàng khác, người mua lẻ có uy thế về thương lượng bởi vì nếu các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam không đáp ứng tốt dịch vụ cũng như đưa ra các điều kiện bán hàng hấp dẫn thì người mua rất có thể sẽ chọn mua ở các công ty liên doanh.
Đối với nhóm các nhà phân phối, áp lực họ đặt lên các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam là việc giao chuyển hàng kịp lúc, xử lý đơn hàng nhanh chóng để họ phục vụ khách hàng tốt hơn. Các nhà phân phối thường mua hàng với khối lượng lớn và mang lại danh tiếng cho các nhà sản xuất nên họ có được sức mạnh trong đàm phán giá sản phẩm.
Như vậy, nhóm khách hàng lẻ và nhóm các nhà phân phối đều tạo được áp lực lên các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam bởi quy mô 2 nhóm khách hàng này càng ngày càng lớn do nhu cầu vè ô tô tăng cao, và lượng cầu về ô tô trong dài hạn sẽ quyết định chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Chi phí chuyển đổi khách hàng cao đồi hỏi các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam phải quản lý việc duy trì mối quan hệ khách hàng thật tốt.
3.3 Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
Đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trên trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai. Số lượng các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam và các liên doanh tính đến thời điểm này là khoảng 20 doanh nghiệp. Số lượng khách hàng cao, tổng lượng xe bán ra hàng tháng theo thống kê của hiệp hội ô tô Việt Nam VAMA trung bình là khoảng hơn 9000 xe18. Vì thế ta có thể thấy sức hấp dẫn của ngành này là cao.
Rào cản gia nhập ngành sản xuất ô tô ở Việt Nam là khá cao vì nó đòi hỏi kỹ thuật sản xuất, cung ứng phải cao, lượng vốn bỏ vào phải nhiều, xây dựng hệ thống phân phối hiệu quả, thương hiệu mạnh, sẵn có các nguồn nguyên liệu đầu vào.
Chính sách của chính phủ hiện nay là khuyến khích phát triển ngành công nghiệp ô tô trong nước để tỷ lệ nội địa hóa ngày càng cao nên các công ty nước ngoài muốn xâm nhập vào thị trường Việt Nam cũng sẽ gặp một số khó khăn trong vấn đề thủ tục đầu tư.
Hiện nay, ngành công nghiệp ô tô trên thế giới đang phát triển rất mạnh, đặc biệt là các nhà sản xuất ô tô đến từ Trung Quốc, các dòng xe đến từ Trung Quốc có giá đặc biệt rẻ, mẫu mã phong phú, thiết kế bắt mắt, tính kinh kế cao. Sắp tới, các dòng xe của Trung Quốc sẽ đổ bộ vào thị trường Việt Nam và đó là một nguy cơ lớn mà các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước phải đối phó. Thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam là sẽ phải cạnh tranh không cân sức với các công ty Trung Quốc có sức mạnh về tài chính, thế mạnh về công nghệ quản lý, giá bán sản phẩm và kinh nghiệm. Vậy đối thủ tiểm ẩn mà các doanh nghiệp sẽ phải đối phó trong tương lai chính là các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp dòng xe giá rẻ từ Trung Quốc
3.4 Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế
Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành. Ô tô là sản phẩm dùng để phục vụ đi lại, vận chuyển con người và hàng hóa. Tuy nhiên, trong điều kiện mức sống của người dân Việt Nam đang dần được cải thiện mức thu nhập bình quân đầu người năm 2010 là 1160 USD nhưng so với thế giới thì vẫn chưa cao , nên đại bộ phận người dân vẫn sử dụng xe máy là phương tiện chính để đi lại. Từ trước đến nay, người Việt Nam vẫn quen sử dụng xe máy làm phương tiện đi lại vì tính cơ động cao, dễ sử dụng, chi phí sử dụng, chi phí bảo dưỡng thấp hơn so với ô tô. Hơn nữa, diện tích đất ở cũng như diện tích các bãi giữ xe còn hạn chế nên việc dùng xe máy để đi lại tiện hơn dùng ô tô. Thêm vào đó, hệ thống đường sá ở các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh còn chưa được nâng cấp nên chưa cho phép ô tô hoạt động với tần suất cao, thường xuyên xảy ra tắc đường, vì thế xe máy là lựa chọn hữu hiệu nhất.
Bên cạnh đó, sản phẩm xe máy luôn có sẵn hàng trên thị trường nên người dân có thể tiếp cận và mua một cách nhanh chóng. Giá một chiếc xe máy rẻ hơn nhiều so với một chiếc ô tô và hoạt động hiệu quả ở khoảng cách đi lại ngắn như trong đô thị và nông thôn. Vì thế, xe máy thực sự là một sản phẩm thay thế cạnh trnah mạnh với ô tô.
3.5 Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
Cạnh tranh giữa các công ty trong nội bộ ngành là áp lực mạnh nhất trong 5 áp lực. Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh. Số lượng đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam khá nhiều, chủ yếu là 12 liên doanh đang có mặt trên thị trường. Nhu cầu của ngành lớn, tốc độ tăng trưởng cao, lượng xe bán ra năm sau luôn cao hơn năm trước. Ngành công nghiệp ô tô là ngành phân tán, có rất nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau nhưng không có doanh nghiệp nào có đủ khả năng chi phối các doanh nghiệp còn lại nên mức độ cạnh trnah giữa các doanh nghiệp trong ngành khá gay gắt. Các liên doanh với vốn đầu tư lớn, tiềm năng tài chính mạnh, trình độ quản lý tốt, công nghệ tiên tiến sẽ có nhiều lợi thế hơn so với các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam. Sản phẩm của các liên doanh có thương hiệu lâu năm, chất lượng tốt nên sức cạnh tranh cao hơn sản phẩm của các nhà sản xuất xe Việt Nam, nhưng giá sản phẩm của các nhà sản xuất ô tô nội địa lại rẻ hơn một cách tương đối so với các liên doanh. Bên cạnh đó, các liên doanh thường bắt khách hàng phải chờ hàng tháng trời mới nhận được xe, đây thực sự là một điều bất tiện cho khách hàng. Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam có thể khai thác điểm này để cạnh tranh. Có sự cạnh tranh mạnh mẽ trong ngành như vậy nên trong tương lai người tiêu dùng sẽ được nhiều lợi ích hơn nữa.
Tóm lại, sau khi phân tích 5 áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam, ta thấy sức ép từ nhà cung cấp trong nước lên các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam là không lớn vì số lượng nhà cung cấp khá nhiều; tuy nhiên áp lực từ các nhà cung cấp ở nước ngoài lại lớn do tính đặc thù của sản phẩm họ cung cấp, người mua không thể chọn nhà cung cấp khác được. Trái lại với áp lực từ nhà cung cấp, áp lực từ phía khách hàng đối với các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam là rất lớn, tuy rằng nhu cầu của thị trường là cao nhưng do sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khá mạnh nên người mua gia tăng áp lực lên các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam. Các đối thủ tiềm ẩn có khả năng trong tương lai sẽ có ảnh hưởng đến thị trường ô tô nên các các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam phải có chiến lược phát triển hợp lý trong dài hạn để tránh rủi ro. Các sản phẩm thay thể tuy có gây áp lực cho doanh nghiệp nhưng đó là một phần tất yếu của quá trình phát triển. Cuối cùng là áp lực từ các đối thủ cạnh tranh trong ngành, đây là một vấn đề lớn cần phải giải quyết trong lâu dài, việc học hỏi, áp dụng các kinh nghiệm quản lý là hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam để có thể cạnh tranh với các liên doanh mà trong phần tiếp theo người viết xin đưa ra một số bài học kinh nghiệm trong công tác quản trị chuỗi cung ứng của Toyota áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam.
III. Một số đề xuất để nâng cao hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng ở các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
1. Các giải pháp áp dụng các kinh nghiệm của Toyota
Toyota là một trong những công ty sản xuất ô tô hàng đầu thế giới, trong các phương thức để tiến đến thành công của Toyota, việc quản trị chuỗi cung ứng đóng một vai trò quan trọng. Có nhiều công ty trên thế giới muốn áp dụng phương thức quản trị chuỗi cung ứng của Toyota, việc nghiên cứu trên các tài liệu có thể cho ta thấy được tổng cách tổng quát về các công cụ, chiến thuật mà Toyota sử dụng, nhưng để thực sự có hiệu quả, theo các chuyên gia nhận xét thì phải thực sự trải nghiệm qua hệ thống sản xuất của Toyota mới có thể thật sự hiểu biết về hệ thống này. Đối với các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam, việc áp dụng kinh nghiệm quản trị chuỗi cung ứng của Toyota là rất quan trọng để tiết kiêm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và phân phối sản phẩm. Tuy nhiên, các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam không ở vào vị thế giống như Toyota nên không thể sao chép hoàn toàn kinh nghiệm của Toyota được mà phải có một số thay đổi để hợp với các điều kiện của doanh nghiệp cũng như ở môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam có thể áp dụng kinh nghiệm của Toyota vào quản trị chuỗi cung ứng như sau
Đối với việc lên kế hoạch
Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam cần phải lên kế hoạch thật chi tiết cho việc vận hành chuỗi cung ứng. Các quy trình lên kế hoạch cho sản xuất, cho mua nguyên vật liệu, lưu kho, phân phối phải dựa trên các dự báo và thực tế đơn đặt hàng nhận được và phải được đồng bộ hóa với nhau. Các dự báo phải dựa lên số liệu tổng hợp, mua hàng, bán hàng từng tháng và phải được lập hàng tháng, thông tin phản hồi từ khách hàng, từ đại lý phải được cập nhật thường xuyên để lên kế hoạch chính xác. Toyota có các nhà máy trên khắp thế giới nên tầm hoạt động và quy mô lớn, việc xuất nhập khẩu thành phẩm, nguyên vật liệu sản xuất diễn ra với tần suất cao, quãng đường vận chuyển xa nên cần phải lập kế hoạch sản xuất cho ba tháng. Còn các các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam quy mô nhỏ hơn, các nhà cung cấp ở gần, linh kiện nhập khẩu hầu như ở các nước lân cận trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc,Nhật Bản…nên thời gian chờ hàng sẽ được rút ngắn; do đó các công ty nên lập kế hoạch sản xuất hàng tháng để dễ quản lý. Ở thị trường Việt Nam, tỷ giá USD thường xuyên biến động, lạm phát tăng cao nên doanh nghiệp cần phải chủ động trong kế hoạch tài chính để đảm bảo cho việc thu mua nguyên vật liệu từ nước ngoài được tốt, tránh việc gây tắc nghẽn trong chuỗi hoạt động.
Đối với việc tạo dựng mối quan hệ với nhà cung cấp
Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam cần chọn các nhà cung cấp có năng lực cải tiến kĩ thuật, năng lực sản xuất ổn định, có uy tín, và ở vị trí hợp lý. Hiện nay, các nhà cung cấp linh kiện cho công nghiệp sản xuất ô tô ở Việt Nam là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, chất lượng sản phẩm đã có cải thiện đáng kể nhưng đôi lúc vẫn chưa bắt kịp với công nghệ mới. Vì thế, các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam cần trợ giúp nhà cung cấp như gửi chuyên gia tư vấn, giám sát để các bộ phận, linh kiện được sản xuất phù hợp với tiêu chuẩn yêu cầu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc trợ giúp các nhà cung cấp chỉ có thể thực hiện ở một chừng mực nào đó, chứ các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam không thể đi sâu như Toyota được, vì lý do năng lực tài chính của họ còn hạn chế. Bên cạnh đó, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp là một điều rất cần thiết vì điều này sẽ tạo thuận lợi cho quá trình đàm phán mua hàng, trao đổi, chia sẻ thông tin để giao hàng đúng thời gian, giá cả hợp lý và cả những lợi ích vô hình khác nữa. Theo như phân tích 5 áp lực cạnh tranh ở trên thì áp lực của các nhà cung cấp trong nước là không lớn nhưng trong thực tế kinh doanh ở Việt Nam việc chuyển đổi nhà cung cấp gây ra khá nhiều bất lợi cho doanh nghiệp khi phải họ lại phải xem xét , dánh giá các nhà cung cấp mới; điều này làm mất thời gian và chi phí của doanh nghiệp, tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt cần thiết thì phải thay đổi nhà cung cấp. Để việc liên hệ với nhà cung cấp được thường xuyên và cập nhật hơn, các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam cần sử dụng trao đổi dữ liệu điện tử để trao đổi dữ liệu với nhà cung cấp
Đối với việc thu mua nguyên vật liệu
Việc quản lý thu mua nguyên vật liệu cần được các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam tiến hành đồng bộ với kế hoạch sản xuất dựa trên các số liệu trong quá khứ, lượng đơn hàng đặt sản xuất xe nhận được và điều kiện sản xuất thời gian gần nhất để đảm bảo giảm tối đa tình trạng dư thừa hoặc thiếu hụt và giữ nhịp sản xuất ổn định. Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam có thể sử dụng các phần mềm về quản trị chuỗi cung ứng để hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu. Quá trình trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp sản xuất ô tô và nhà cung cấp cũng phải được cập nhật thường xuyên để hai bên có thể hoạch định tốt vì bản thân các nhà cung cấp phải đặt mua nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp khác nữa nên họ cũng cần phải hoạch định nhu cầu để sản xuất và cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện kịp thời cho doanh nghiệp sản xuất ô tô. Sự phối hợp hoạt động giữa nhà sản xuất ô tô và nhà cung cấp sẽ tạo ra hiệu quả trong việc quản trị chuỗi cung ứng cho cả hai bên.
Ngoài ra, chất lượng nguyên vật liệu cần phải được giám sát, kiểm tra thường xuyên để tránh các lỗi xảy ra hàng loạt ở các xe.
Đối với việc lên kế hoạch sản xuất
Khi tiến hành kế hoạch sản xuất, các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam cần sử dụng các dự báo về nhu cầu nguyên vật liệu kết hợp với số đơn hàng nhận được để tiền hành sản xuất. Lúc nhận được đơn hàng, doanh nghiệp sẽ sử dụng phần nguyên vật liệu trong kho theo tính toán của dự báo để sản xuất, và đặt hàng thêm từ các nhà cung cấp, doanh nghiệp phải tính toán sao để khi số nguyên vật liệu trong kho được dùng gần hết thì cũng là lúc số nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp được chuyển đến và tiếp tục duy trì nhịp sản xuất cũng như giảm lượng hàng phải lưu kho. Trong quá trình sản xuất và kinh doanh, các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam cần phải lưu ý đến việc sửa chữa các sai lệch về lượng cầu cũng như các gián đoạn trong sản xuất ngay khi chúng mới xuất hiện, giải quyết các lỗi có thể phát sinh, hơn là đi giải quyết các sự cố đã xảy ra; làm như vậy sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm lượng lớn chi phí dành cho giải quyết hậu quả do sự cố gây ra, đồng thời tránh được tình trạng phản ứng dây chuyền gây tắc nghẽn cho việc vận hành chuỗi cung ứng. Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
Đối với việc quản trị hoạt động hậu cần
Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam phải đặc biệt chú trọng đến công tác quản lý hậu cần (logistics). Các doanh nghiệp nên thuê các chuyên gia tư vấn từ các công ty chuyên cung cấp dịch vụ hậu cần và các công ty vận tải để cùng làm việc, tìm ra các phương án tối ưu trong quá trình phân loại nguyên vật liệu, lưu kho, vận chuyển hàng hóa sao cho thời gian hợp lý nhất, quãng đường ngắn nhất, lưu kho thấp nhất, và nguồn lực sử dụng là tối ưu để giảm chi phí. Ở Việt nam, tiềm năng cho dịch vụ hậu cần là rất lớn nhưng các doanh nghiệp cung cấp loại hình dịch vụ này lại phát triển chưa xứng tầm, tuy nhiên việc thuê ngoài các công ty cung cấp dịch vụ hậu cần là cần thiết, nó giúp các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam tận dụng được các lợi thế về kinh nghiệm, cơ sở vật chất, trang thiết bị… của bên cung cấp dịch vụ giúp quá trình vận chuyện, thông quan hàng hóa được dễ dàng hơn đảm bảo tính đúng lúc,kịp thời trong sản xuất và phân phối, tiết kiệm được thời gian, chi phí.
Đối với việc quản trị mối quan hệ khách hàng lẻ và đại lý
Việc quản trị mối quan hệ với khách hàng, mối quan hệ với đại lý phân phối đóng vai trò quan trọng đối với hiệu quả việc quản trị chuỗi cung ứng cũng như sự thành công của các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam. Qua việc phân tích áp lực của khách hàng, ta thấy khách hàng có thể tạo áp lực lên các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam vì tuy là nhu cầu về ô tô càng ngày càng tăng nhưng quy mô thị trường lại nhỏ, cộng với sự cạnh tranh gay gắt từ phía các liên doanh nên các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam phải thực sự quản lý quan hệ khách hàng thậ tốt. Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam có thể hỗ trợ kĩ thuật, đào tạo kĩ thuật viên, nhà quản lý cho các đại lý như Toyota đã làm, thông qua đó để đảm bảo các quá trình bảo hành sản phẩm, hỗ trợ khách hàng đồng thời qua đó thu thập các thông tin phản hồi từ phía khách hàng và đại lý về chất lượng sản phẩm, chất lượng phục vụ, nhu cầu mua xe để các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam có thể có những điều chỉnh phù hợp để quản lý việc sản xuất và phân phối hiệu quả.
Đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin
Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam cần tạo được một hệ thống trao đổi thông tin dựa trên các ứng dụng kĩ thuật mới giữa doanh nghiệp với các nhà cung cấp, giữa doanh nghiệp với khách hàng lẻ và đại lý. Bên cạnh đó, luồng thông tin cần được lưu chuyển giữa các cấp quản lý cũng như các cá nhân trong doanh nghiệp để có thể giải quyết được các sự cố khi nó vừa mới hình thành nhằm tăng hiệu quả cho việc quản trị chuỗi cung ứng. Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam có thể áp dụng hình thức đặt hàng trực tuyến cho các đại lý, quản lý đơn hàng bằng hệ thống máy tính được lập trình sẵn để giảm thời gian và chi phí.
Trên đây là một số bài học mà các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm từ Toyota. Để làm được như trên, trước hết các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam phải đầu tư đào tạo đội ngũ nhân sự có trình độ cao ở tất cả các cấp để phối hợp tốt với nhau trong điều hành hoạt động của chuỗi cung ứng. Trong thực tế, có thể đã có doanh nghiệp thực hiện được một vài điểm như Toyota và đã thành công , nhưng để làm được như Toyota thì quả là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên trong một tương lai gần hi vọng các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam sẽ có những cải tiến kĩ thuật không ngừng để nhanh chóng bắt kịp với tốc độ phát triển của ngành công nghiệp ô tô trên thế giới.
2. Kiến nghị đối với các cơ quan ban ngành Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
Chính phủ cần xem công nghiệp ô tô là ngành công nghiệp rất quan trọng cần được ưu tiên phát triển để góp phần phục vụ có hiệu quả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng tiềm lực an ninh, quốc phòng của đất nước. Ngành công nghiệp ô tô rất cần có một mạng lưới logistics (hậu cần) có năng lực để phục vụ cho việc giao nhận , vận tải, lưu kho nguyên vật liệu sản xuất đạt hiệu quả cao. Dịch vụ logistics bao gồm chuỗi các hoạt động thương mại từ vận tải, kho bãi, thủ tục xuất nhập cảng, phân phối, lưu thông hàng hóa ở Việt Nam, chiếm khoảng từ 15-20% GDP. Logistics là một phần hoạt động đóng góp vào việc vận hành chuỗi cung ứng của một doanh nghiệp . Xu hướng chung của các doanh nghiệp sản xuất hiện nay là thuê ngoài logistics, trong khi đó thị trường dịch vụ logistics Việt Nam có trên 800 doanh nghiệp nhưng đa phần đều nhỏ bé, hạn chế về vốn và công nghệ nên chỉ dừng lại ở vai trò cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các hãng nước ngoài trong cả chuỗi hoạt động như làm thủ tục hải quan, cho thuê phương tiện vận tải, kho bãi. Vì thế chính phủ cần có chính sách quy hoạch phát triển ngành dịch vụ logistic một cách khoa học để hỗ trợ cho hoạt động của nền công nghiệp ô tô Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt nam nói chung.
Chính phủ cần bố trí và hỗ trợ phát triển các dự án sản xuất, lắp ráp ô tô và sản xuất phụ tùng tại 3 vùng kinh tế trọng điểm và các địa bàn lân cận nhằm tận dụng các lợi thế sẵn có, gồm:
- Miền Bắc: các tỉnh, thành phố trong và giáp ranh khu vực Tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh.
- Miền Trung: các tỉnh từ Thanh Hoá đến Khánh Hoà. Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
- Miền Nam: các tỉnh, thành phố trong và giáp ranh khu vực Tứ giác tăng trưởng kinh tế thành phố Hồ Chí Minh – Bà Rịa – Vũng Tàu – Đồng Nai – Bình Dương; thành phố Cần Thơ (phục vụ khu vực đồng bằng sông Cửu Long).
Sự phát triển của các cụm ngành công nghiệp này đóng vai trò quan trọng để chuỗi cung ứng ngành ô tô phát triển mạnh bởi vì việc này sẽ giúp tập trung các nhà sản xuất lắp ráp, cung cấp linh phụ kiện ô tô trong một vùng qua đó có thể dễ dàng hỗ trợ nhau phát triển, rút ngắn thời gian giao hàng, quãng đường vận chuyển, giảm lưu kho, tiết kiệm được nhiều chi phí.
KẾT LUẬN
Khi nghiên cứu đề tài “Phân tích mô hình quản trị chuỗi ung ứng của Toyota và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam” với những phân tích, đánh giá, nhận định, người viết xin đi đến một số kết luận chủ yếu như sau:
- Việc quản trị chuỗi cung ứng đóng vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp sản xuất ô tô nói riêng và toàn bộ hoạt động trong kinh tế nói chung. Nếu các doanh nghiệp sản xuất ô tô làm tốt điều này thì sẽ có được những nguồn lợi vô cùng to lớn khi giảm được chi phí, ổn định sản xuất, đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng.
- Mô hình quản trị chuỗi cung ứng của Toyota có thể xem là tiêu biểu và thành công nhất trong các mô hình quản trị chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp sản xuất ô tô trên thế giới. Mô hình quản trị chuỗi cung ứng của Toyota đóng một phần không nhỏ vào thành công chung của Toyota.
- Ngành công nghiệp ô tô nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập. Nhiều cơ hội cũng như thách thức đang đặt ra trước mắt các nhà quản lý doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam. Các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam nên tham khảo các bài học kinh nghiệm quản trị chuỗi cung ứng của Toyota để đưa ra một hướng đi đúng đắn cho doanh nghiệp nhằm tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
- Việc áp dụng các bài học về quản trị chuỗi cung ứng của Toyota có thể được các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam thực hiện một phần nhất định nào đó, không nhất thiết là phải rập khuôn một cách máy móc mà phải biết lựa chọn những gì thích hợp nhất với tình hình doanh nghiệp và phù hợp với điều kiện ở Việt Nam
- Nhà nước cần có thêm nhiều chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam đồng thời phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành sản xuất ô tô, đặc biệt là mạng lưới hậu cần.
Nhìn vào thực trạng nền công nghiệp ôtô thế giới, có thể thấy việc một hãng sản xuất toàn bộ một chiếc xe tại thời điểm hiện tại là rất ít. Các hãng xe sẽ cố gắng đẩy việc sản xuất linh kiện không quá phức tạp cho đối tác khác nhằm hạn chế chi phí đầu vào, đồng thời có thể là tăng thêm năng lực cạnh tranh ở những khu vực có nguồn nhân công rẻ hơn. Sau nhiều năm hoạt động, một số doanh nghiệp ôtô Việt Nam đã thay đổi nhận thức về đường hướng phát triển. Họ không còn đặt nặng tham vọng sở hữu một dòng xe hơi mang thương hiệu ―Made in Vietnam‖, mà định hướng tham gia vào một vài khâu then chốt trong chuỗi sản xuất ra một chiếc xe hơi thành phẩm. Để làm tốt điều đó, công tác quản trị chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam phải thực sự hiệu quả và cần phải có định hướng phát triển chiến lược một cách lâu dài.
Với những kết quả nghiên cứu trên, người viết hi vọng khóa luận tốt nghiệp của mình có thể có những đóng góp nhất định trong việc áp dụng các kinh nghiệm quản trị chuỗi cung ứng của Toyota cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô của Việt Nam để góp phần phát triển ngành công nghiệp ô tô trong nước. Khóa luận: Giải pháp nâng cao mô hình quản trị của Toyta
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực trạng quản trị chuỗi cung ứng của Toyta