Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tố tụng nói chung và tố tụng dân sự nói riêng có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật của một quốc gia. Không chỉ là các quy tắc điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức của các cơ quan tài phán trong việc giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật, luật tố tụng dân sự còn có vai trò thiết yếu đảm bảo quyền tiếp cận công lý của các chủ thể cũng là công cụ chính yếu để tòa án thực thi trách nhiệm bảo vệ công lý của mình.
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy để tòa án hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình, áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật vào giải quyết tranh chấp áp dụng quy định tố tụng dân sự khi giải quyết vụ việc dân sự thì bước đầu tiên là xác định loại việc sẽ thuộc thẩm quyền sơ thẩm về dân sự của Tòa án nhân dân, tiếp theo là cần xác định được vụ việc đó thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án cấp nào và Tòa án nơi nào sẽ có thẩm quyền giải quyết. Mặc dù pháp luật đã có các quy định khá chi tiết về vấn đề này, nhưng khi áp dụng để giải quyết các vụ việc dân sự, người dân hay như chính các thẩm phán vẫn còn lúng túng, hay phân vân khi xác định thẩm quyền sơ thẩm.
Bộ luật Tố tụng dân sự càng xây dựng chi tiết, cụ thể, phân định rõ phạm vi của từng cấp tòa, tòa từng khu vực sẽ giúp người dân và những người hành nghề luật dễ dàng hơn khi tham gia vào tố tụng.
Thế nhưng trên thực tế, các tranh chấp dân sự ngày càng đa dạng, phong phú, cùng với mức độ phức tạp tăng cao. Mặc dù pháp luật quy định phân định thẩm quyền có cụ thể nào đi chăng nữa thì đôi khi vẫn không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn.
Nghiên cứu vấn đề phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án là việc xác định một Tòa án cụ thể sẽ có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ việc dân sự phát sinh. Đây là vấn đề căn bản trong quá trình phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án. Khi nghiên cứu về phân định thẩm quyền sơ thẩm giữa các Tòa án thì hai vấn đề được tập trung, đó là phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa Tòa án các cấp và phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo phạm vi lãnh thổ.
Từ thực trạng pháp luật về việc xác định thẩm quyền khi xét xử sơ thẩm dân sự, vướng mắc gặp phải, tác giả lựa chọn đề tài “Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án theo pháp luật Việt Nam” để có nghiên cứu chuyên sâu, phân tích những vướng mắc gặp phải, từ đó có thể đưa ra một số kiến nghị nhằm giải quyết được vướng mắc áp dụng quy định.
2. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
Chủ đề thẩm quyền và phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của tòa án theo pháp luật Việt Nam đã nhận được sự chú ý của không ít các tác giả cả từ góc độ lý thuyết và thực tiễn. Qua quá trình tìm hiểu tài liệu và thực hiện luận văn, tác giả nhận thấy đã có các công trình nghiên cứu điển hình về vấn đề thẩm quyền dân sự của Tòa án, ví dụ như:
Luận án tiến sĩ “Phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Lê Thu Hà năm 2005 tại Đại học Luật Hà Nội nghiên cứu về sự phân cấp thực hiện thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự trong hệ thống Toà án theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm, thủ tục tái thẩm về dân sự. Cách thức tổ chức thực hiện thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong mỗi cấp Toà án cũng như giữa các cấp Toà án trong hệ thống Toà án. Nghiên cứu những bất cập trong cách thức tổ chức phân cấp thẩm quyền sơ thẩm, thẩm quyền phúc thẩm, thẩm quyền giám đốc thẩm, thẩm quyền tái thẩm khi Toà án giải quyết một tranh chấp dân sự. Luận án không nghiên cứu sự phân cấp thẩm quyền giải quyết việc dân sự trong hệ thống Toà án;
Luận văn thạc sĩ “Thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án nhân dân trong Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Đào Thị Thúy năm 2010 nghành Luật dân sự, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề lý luận về thẩm quyển giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Phân tích nội dung các quy tắc xác định thẩm quyền giải các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Luận văn chủ yếu nghiên cứu chế định thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài dưới góc độ tư pháp Việt Nam, đặt trọng tâm vào khía cạnh xung đột thẩm quyền của toà án nhân dân về giải quyết các vụ việc dân;
Luận văn thạc sĩ “Thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án về giải quyết tranh cấp kinh doanh, thương mại‟‟ của Nguyễn Thị Hiên năm 2014 nghành Luật dân sự, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn nghiên cứu và làm rõ các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn áp dụng về thẩm quyền dân sự theo loại việc của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại. Luận văn không nghiên cứu toàn bộ thẩm quyền của toà án về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại mà chỉ tập trung nghiên cứu thẩm quyền theo loại việc của Toà án về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài không xem xét thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo cấp và theo lãnh thổ;
Luận văn thạc sĩ “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam” của tác giả Lê Hoài Nam năm 1997; Tuy nhiên, các công trình trên chỉ tập trung nghiên cứu một cách khái quát về việc phân định thẩm quyền nói chung chứ chưa thật sự đi sâu giải quyết câu hỏi cụ thể về phân định thẩm quyền dân sự sơ thẩm giữa tòa án các cấp và theo lãnh thổ. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu được thực hiện theo luật cũ, đã hết hiệu lực nên không còn nhiều giá trị sử dụng. Do đó, đề tài “Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án theo pháp luật Việt Nam”, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu khía cạnh phân định thẩm quyền cụ thể là các quy định của pháp luật Việt Nam về xét xử sơ thẩm của Tòa án bao gồm phân định theo lãnh thổ (chiều ngang) và phân định theo cấp Tòa án (chiều dọc). Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân, được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn có liên quan.
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Với đề tài này, tác giải sẽ tập trung nghiên cứu trong phạm vi sau:Về thời gian: Tác giả sẽ nghiên cứu quy định của pháp luật từ năm 1945 đến nay. Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập đã đánh dấu mốc lịch sử quan trọng nước ta. Kể từ đây, các văn bản pháp luật của Việt Nam được ban hành, thay đổi phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội của từng thời kỳ.Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn thạc sĩ, tác giải sẽ sơ lược về lịch sử các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự và tập trung, phân tích quy định của pháp luật ở giai đoạn hiện nay, cụ thể là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2014 và các văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn có liên quan.Về không gian: Tác giả tập trung nghiên cứu phạm vi quy định pháp luật quốc gia của Việt Nam. Ngoài ra, tác giả có nghiên cứu quy định về vấn đề này của một số quốc gia trên thế giới nhằm mục đích so sánh với quy định của Việt Nam, để đưa ra được hướng giải quyết vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
4. Nội dung, phương pháp nghiên cứu
4.1 Nội dung nghiên cứu
Đối với đề tài này, bước đầu, tác giả sẽ đi nghiên cứu các vấn đề lý luận về vấn đề phân định thẩm quyền để có được cái nhìn tổng quan về vấn đề. Trong phần này, tác giả cũng nghiên cứu sơ lược về quá trình lịch sử của các quy định về phân định thẩm quyền dân sự của Việt Nam, thấy được sự thay đổi của các quy định qua từng thời kỳ.
Ở phần tiếp theo, tác giả nghiên cứu quy định hiện hành của Việt Nam về vấn đề phân định thẩm quyền.
Phần cuối, tác giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định trên, những vướng mắc, và có so sánh với pháp luật nước ngoài để đưa ra được hướng giải quyết cho các vướng mắc đã nêu. Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề tài đặt ra, trong quá trình thực hiện, tác giả đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội và các phương pháp đặc thù của luật học để nghiên cứu đề tài. Các phương pháp chủ yếu bao gồm:
Phương pháp phân tích: đây là phương pháp được sử dụng để chia tách đề tài thành các mặt, các vấn đề, các khía cạnh khác nhau để từ đó chọn lọc các thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài. Cụ thể: phương pháp phân tích được sử dụng để làm sáng tỏ các quy định của vấn đề phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án nhân dân;
Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này giúp liên kết các mặt, các vấn đề, các khía cạnh từ các thông tin thu thập được thành một chỉnh thể thống nhất đầy đủ.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp này sẽ được sử dụng nhằm mục đích tìm ra được những vướng mắc khi áp dụng các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự vào thực tiễn của ngành Tòa án các cấp. Ngoài ra, tác giả sẽ so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới về vấn đề phân định thẩm quyền, đối chiếu với quy định pháp luật và điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam để tìm ra được hướng giải quyết vướng mắc
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết thúc, cấu trúc luận văn bao gồm những mục sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án
1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án
- Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án
- Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án qua các giai đoạn lịch sử Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
Chương 2: Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án
- Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa Tòa án các cấp
- Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án cùng cấp
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án và kiến nghị
- Thực tiễn thực hiện pháp luật về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án
- Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN SƠ THẨM DÂN SỰ GIỮA CÁC TÒA ÁN
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án
1.1.1. Khái niệm về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án
Khái niệm thẩm quyền gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước. Vì thế để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ này, nhà nước trao cho các cơ quan những thẩm quyền riêng và có sự phân định rõ ràng về thẩm quyền giữa chúng. Tòa án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét xử các vụ án, vụ việc trong lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính….Trong lĩnh vực dân sự (theo nghĩa rộng), Tòa án có chức năng giải quyết các loại tranh chấp, yêu cầu trong lĩnh vực dân sự (theo nghĩa hẹp), lao động, kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình…. Việc quy định hợp lý về thẩm quyền dân sự của Tòa có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho họ có thể thực hiện được quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Để có thể hiểu rõ về việc phân định thẩm quyền dân sự giữa các Tòa án thì chúng ta cần làm rõ các khái niệm liên quan [47].
Thuật ngữ “thẩm quyền” bắt nguồn từ tiếng la tinh “competentia” có hai nghĩa là: thứ nhất là phạm vi các quyền hạn của cơ quan hoặc người có chức vụ nào đó; thứ hai là phạm vi những kiến thức và kinh nghiệm mà ai đó có [47]. Trong quan hệ điều hành và quản lý nhà nước, thẩm quyền thông thường được hiểu theo nghĩa đầu tiên.
Lý luận pháp luật của các quốc gia trên thế giới đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này. Trong tiếng Pháp, thẩm quyền “Compétence” được hiểu là quyền của cơ quan nhà nước, hành chính hay tư pháp, quan chức hành chính hay tư pháp được làm một số việc, được quyết định và ra một số văn bản về một số vấn đề trong phạm vi được pháp luật cho phép [1]. Theo Lenmeiunier, tác giả cuốn từ điển pháp luật của Pháp thì cho rằng thẩm quyền của Tòa án được hiểu là “khả năng của một Tòa án xem xét một vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép” [52, tr.74].
Trong tiếng Anh, người ta dùng thuật ngữ “Jurisdistion” để chỉ thẩm quyền hoặc phán quyền – tức là quyền lắng nghe và phán quyết vụ kiện hay đưa ra án lệnh nào đó của tòa án một vùng lãnh thổ mà trong phạm vi đó thẩm quyền của Tòa án (Jurisdistion of Court) được thi hành [1]. Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
Theo Từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển bách khoa năm 1999 thì thẩm quyền là: “Tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy Nhà nước do luật pháp quy định như thẩm quyền của Tòa án các cấp, thẩm quyền của Viện kiểm sát các cấp, của cơ quan Công an các cấp… Hành động, quyết định trong phạm vi thẩm quyền do luật pháp quy định là điều kiện để đảm bảo trật tự pháp luật và pháp chế thống nhất, tránh được sự trùng lặp, lấn sân trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan các cấp, các ngành. Vượt qua thẩm quyền, làm trái thẩm quyền trong ban hành các văn bản, quyết định là cơ sở pháp lý để hủy bỏ các văn bản ấy”[43, tr.459].
Như vậy, dưới những góc độ khác nhau thì khái niệm “thẩm quyền” được giải thích có đôi chút khác nhau. Tuy nhiên, có thể hiểu chung quy lại, thẩm quyền là thuật ngữ dùng để chỉ phạm vi, giới hạn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân hoặc cơ quan nhà nước trong việc thực thi quyền lực nhà nước được pháp luật quy định. Ở thuật ngữ này chứa đựng những thành tố nhất định như sau: thứ nhất đó là quyền hạn của cơ quan nhà nước hoặc cá nhân để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình; và thứ hai là quyền hạn này được pháp luật thừa nhận và quy định chi tiết về nội dung và phạm vi; cá nhân hoặc cơ quan đó chỉ được thực hiện trong phạm vi pháp luật cho phép.
Đi vào nội dung cụ thể hơn về khái niệm thẩm quyền dân sự của Tòa án, thông thường được hiểu là thẩm quyền xét xử lần đầu tiên đối với các vụ việc dân sự. Trong quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng), có thể phát sinh tranh chấp có nhu cầu cần giải quyết hoặc phát sinh yêu cầu cần được cơ quan có nhà nước công nhận. Đối với người khởi kiện hoặc người yêu cầu, vấn đề đầu tiên và quan trọng nhất mà họ quan tâm và thắc mắc đó là cơ quan nào, chi tiết hơn là Tòa án cụ thể nào sẽ giải quyết vụ việc của mình. Do đó nhu cầu thông qua các quy định xác định rõ Tòa án có thẩm quyền xét xử lần đầu tiên là một điều tất yếu cho quá trình giải quyết vụ án. Theo giáo trình tố tụng dân sự, Khoa Luật – ĐHQGHN, “Thẩm quyền dân sự của Tòa án là quyền xem xét giải quyết các vụ việc dân sự và quyền ra các quyết định khi giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tố tụng dân sự ở cấp sơ thẩm” [16,tr. 69].
Trên thế giới, thẩm quyền dân sự sơ thẩm được tiếp cận chủ yếu dưới hai góc độ: thẩm quyền theo loại việc và thẩm quyền theo lãnh thổ. Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
Thẩm quyền theo loại việc (hay còn được gọi là thẩm quyền chung) xác định những loại vụ việc cụ thể nào thuộc quyền xem xét, giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự sơ thẩm. Loại thẩm quyền này có đặc điểm là không xác định rõ Tòa án cụ thể nào sẽ giải quyết vụ việc mà tập trung phân định rõ những nội dung tranh chấp, yêu cầu thuộc thẩm quyền xem xét của hệ thống Tòa án nói chung. Về kỹ thuật pháp lý, việc xác định thẩm quyền theo loại việc được xây dựng trên cơ sở phân loại pháp luật của mỗi quốc gia; luật công – luật tư; luật dân sự – luật hình sự. Ví dụ như ở các nước thuộc hệ thống châu Âu lục địa có truyền thống phân loại pháp luật thành luật công và luật tư thì hệ thống và thẩm quyền theo vụ việc của các tòa án cũng được xác định tương ứng với sự tồn tại của tác tòa án dân sự, tòa hành chính, tòa hình sự. Bên cạnh đó, pháp luật một số quốc gia dựa trên giá trị tranh chấp để phân loại các loại việc dân sự. Pháp luật tố tụng Pháp xác định Tòa án thẩm quyền hẹp (Tribunal de paix) có thẩm quyền xét xử các vụ án dân sự nhỏ, giá trị tranh chấp đến 30.000 fr (trước khi sử dụng đồng Euro). Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng (Tribunal de Grande Instance) có thẩm quyền xét xử các vụ kiện có giá trị tránh chấp lớn hơn 30.000 fr [37, tr.160-161]. Ngoài ra, còn có các Tòa án dân sự chuyên trách giải quyết các vụ việc trong các lĩnh vực cụ thể bao gồm Tòa án thương mại (Tribunal de Commerce), Tòa án lao động (Conseil prud hommes), và tòa xét xử hợp đồng nông nghiệp (Tribunal paritaire des baux ruraux). Pháp luật tố tụng của Đức cũng xác định Tòa án địa phương (Amtsgericht) có thẩm quyền xét xử các tranh chấp có giá trị đến 5.000 EUR. Tòa án khu vực (Landgericht), có thẩm quyền xét xử dân sự đối với các vụ tranh chấp có giá ngạch từ 5.000 EUR trở lên [37, tr.291].
Tòa án Hoa Kỳ, do đặc trưng bởi chính quyền liên bang (có tính liên kết không chặt chẽ) nên có hai hệ thống Tòa án độc lập là Tòa án liên bang và Tòa án bang. Hệ thống Tòa án bang thường bao gồm Tòa sơ thẩm, Tòa phúc thẩm và Tòa án tối cao. Tòa sơ thẩm có thể bao gồm Tòa sơ thẩm địa phương có thẩm quyền riêng và Tòa sơ thẩm bang có thẩm quyền chung. Hệ thống Tòa án Liên bang bao gồm các Tòa án quận (U.S district courts) là Tòa sơ thẩm với thẩm quyền chung và các Tòa án thẩm quyền riêng (ví dụ: Tòa án phá sản, Tòa án thuế), Tòa phúc thẩm và Tòa án tối cao Hoa Kỳ. Phần lớn các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của các Tòa án bang. Tòa án Liên bang chỉ có thẩm quyền giải quyết các vụ việc sau:
Các vụ việc về Hiến pháp Liên bang, các hiệp định hoặc luật Liên bang. Ví dụ: các vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Liên bang, các tranh chấp liên quan đến việc thực thi các luật chứng khoán Liên bang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Liên bang;
Các vụ tranh chấp mà nguyên đơn và bị đơn ở các bang khác nhau và giá trị tranh chấp trên 75.000 USD. Trong một số ít trường hợp là tranh chấp giữa quốc gia nước ngoài với công dân của một bang và tranh chấp giữa công dân của một bang với một thể nhân hoặc pháp nhân nước ngoài. [37, tr. 217-218] Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
Đối với pháp luật Anh, thẩm quyền sơ thẩm dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án địa phương (Country Courts) và Tòa án cấp cao (High Courts). Thông thường, Tòa án cấp cao chỉ xem xét các vụ việc quan trọng, phức tạp, giá trị lớn. Giá trị yêu câu hoặc tranh chấp phải lớn hơn 15.000 Bảng Anh (không phải yêu cầu bồi thường thương tích cá nhân) hoặc lớn hơn 50.000 Bảng Anh đối với yêu cầu bồi thường thương tích cá nhân. Tòa án địa phương có thẩm quyền chung để xem xét bất cứ khiếu nại nào xuất phát từ hợp đồng hoặc bồi thường trách nhiệm dân sự với bất kể giá trị tranh chấp, đọ phức tạp và sự quan trọng. Tuy nhiên có một vài các khiếu kiện liên quan đến hợp đồng và bồi thường trách nhiệm dân sự mà Tòa án địa phương không được trao thẩm quyền xem xét, giải quyết đó là các khiếu kiện liên quan đến tội phỉ báng và vu khống [50, tr.14].
Thẩm quyền theo lãnh thổ là quyền của một Tòa án cụ thể, trong việc xem xét giải quyết các vụ việc dân sự và quyền hạn ra các quyết định khi lần đầu tiên giải quyết các vụ việc đó, được xác định trên cơ sở nơi cư trú, nơi có trụ sở của một trong các bên đương sự, nơi phát sinh các sự kiện hoặc các dấu hiệu khác do pháp luật quy định. Thông thường pháp luật trên thế giới dựa trên hai cơ sở để xác định thẩm quyền theo lãnh thổ: một là, mối liên hệ giữa đương sự (thường là bị đơn) với Tòa án ở một khu vực địa lý nhất định, và mối liên hệ giữa khu vực địa lý của đối tượng tranh chấp với Tòa án nhất định. Ngoài ra, có thể xem xét yêu cầu của nguyên đơn, sự thỏa thuận giữa các đương sự để xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể [16, tr. 70].
Do tổ chức hệ thống Tòa án Việt Nam hiện nay là tổ chức theo đơn vị hành chính – lãnh thổ, trong đó cả Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện đều có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự ở cấp xét xử sơ thẩm, nên khác với nhiều quốc gia trên thế giới, thẩm quyền xét xử dân sự cấp sơ thẩm ở Việt Nam còn được xem xem dưới góc độ thẩm quyền của các Tòa án các cấp, tức xác định Tòa án cấp tỉnh hay Tòa án cấp huyện sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ việc.
Chính vì lí do trên, trong phạm vi đề tài, tác giả không tập trung phân tích việc phân định thẩm quyền theo loại việc, mà tập trung phân tích việc phân định thẩm quyền theo các cấp Tòa án và theo lãnh thổ để xác định rõ Tòa án cụ thể nào có thẩm quyền giải quyết một vụ việc dân sự. Việc phân tích chi tiết các loại việc trong phạm vi đề tài chỉ nhằm mục đích xác định rõ loại việc nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện hay Tòa án cấp tỉnh theo quy định của pháp luật hiện hành.
Như vậy, phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án, theo ý kiến của tác giả, là việc phân định quyền hạn giữa các Tòa án nhằm xác định Tòa án cụ thể có quyền xem xét các vụ việc dân sự và có quyền đưa ra các quyết định khi giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tố tụng dân sự cấp sơ thẩm.
1.1.2. Đặc điểm của việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa của các Tòa án Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
Thứ nhất, phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án là việc xác định thẩm quyền của Tòa án xem xét, giải quyết vụ việc dân sự lần đầu tiên. Điều này để phân biệt với thẩm quyền phúc thẩm dân sự, thông thường ít được nhắc đến do việc xác định thẩm quyền này đơn thuần là quan hệ hành chính – lãnh thổ với Tòa án nhân dân cấp trên. Tuy nhiên đặc điểm này nhấn mạnh vai trò quan trọng, là bước đầu tiên cần thực hiện khi xem xét giải quyết vụ việc dân sự.
Thứ hai, việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án có tính chất cụ thể. Theo đó, kết quả của việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án là việc xác định cụ thể Tòa án nào sẽ có thẩm quyền xem xét, giải quyết và đưa ra các quyết định liên quan đến vụ việc đang tranh chấp, yêu cầu. Đặc điểm này cũng nhằm phân biệt với thẩm quyền dân sự theo loại việc – có ý nghĩa phân loại các tranh chấp, yêu cầu dựa trên đặc điểm, tính chất phức tạp của vụ việc để xác định những tranh chấp, yêu cầu nào thuộc thẩm quyền xem xét, giải quyết của Tòa dân sự nói chung.
Thứ ba, việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án dựa trên cơ sở kết quả của việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự theo lãnh thổ và việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các cấp Tòa án. Đây là một đặc điểm đặc thù của hệ thống pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam do đặc trưng của Việt Nam là hệ thống Tòa án được xây dựng gắn liền với đơn vị hành chính – lãnh thổ nên trong cùng một khu vực địa lý, có nhiều hơn một Tòa án có thể có thẩm quyết sơ thẩm dân sự (Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh). Bên cạnh đó, việc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự theo các cấp Tòa án được xác định dựa trên thẩm quyền của Tòa án theo loại việc.
1.1.3. Ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án
Việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chính sách hoàn thiện hệ thống tư pháp của Việt Nam, đồng thời đảm bảo các quyền hiến định, đảm bảo được hành lang pháp lý cho việc giao lưu quan hệ dân sự của đất nước.
Thứ nhất, việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự góp phần tạo điều kiện để giải quyết vụ việc nhanh chóng, khách quan. Kết quả của quá trình phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự sẽ giải quyết được vấn đề Tòa án cụ thể nào có thẩm quyền xem xét giải quyết vụ việc. Do đó, các quy định về việc phân định thẩm quyền trước hết sẽ giúp các đương sự dễ dàng xác định đúng Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc của mình, đồng thời các Tòa án sẽ có cơ sở để xác định rõ mình có hay không có thẩm quyền xét xử vụ án, để kịp thời trong việc thụ lý hoặc hướng dẫn đương sự nộp hồ sơ vụ việc đến Tòa án phù hợp.
Thứ hai, việc phân định thẩm quyền xét xử đảm bảo chất lượng giải quyết các vụ án dân sự. Tòa án nhân dân cấp huyện là Tòa án gần dân hơn, nên nếu quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện càng rộng càng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia vào quá trình tố tụng. Tuy nhiên, xét về trình độ chuyên môn, điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh cỏ ưu thế hơn, do đó đối với những vụ việc phức tạp, nhiều tình tiết thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ có điều kiện tốt nhất để đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự.
Thứ ba, việc xác định thẩm quyền giữa các Tòa án một cách hợp lý, khoa học tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ giữa Tòa án với các cơ quan nhà nước, giữa các Tòa án với nhau. Từ đó, góp phần tạo điều kiện cần thiết cho Tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các việc dân sự, nâng cao được hiệu quả giải quyết việc dân sự, góp phần thúc đẩy cho hoạt động giao dịch, giao lưu dân sự Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
Thứ tư, quy định về việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án đảm bảo nguyên tắc xét xử công bằng, quyền tiếp cận công lý của người dân. Việc cho phép Tòa án nơi cư trú, nơi có trụ sở của bị đơn có thẩm quyền thụ lý, xem xét và giải quyết vụ án đảm bảo sự công bằng giữa các đương sự do bị đơn là trường hợp tham gia vụ kiện một cách bị động, chưa có chuẩn bị trước nên được tạo điều kiện xét xử ở Tòa án có mối quan hệ mật thiết với mình để thuận tiện hơn trong quá trình theo đuổi vụ án.
Thứ năm, phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự đảm bảo sự thuận tiện trong quá trình giải quyết vụ án và thi hành án. Đây là ý nghĩa quan trọng mà việc phân định hướng tới và mau chóng đạt được hiệu quả tối đa. Các tranh chấp chủ yếu được giải quyết tại Tòa án cấp huyện (ngoại trừ các tranh chấp có giá trị lớn, tình tiết phức tạp…) và cụ thể thông thường là toà án nơi cư trú của bị đơn góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án xen xét, thu thập và xác minh chứng cứ cũng như tiến hành các thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án nhân dân nơi có bất động sản giải quyết vụ việc cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình thực hiện thi hành án.
Ngoài ra, việc xác định thẩm quyền của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết của đội ngũ cán bộ ở Tòa án. Trên cơ sở đó có kế hoạch đáp ứng bảo đảm cho Tòa án phải thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình.
1.2. Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
Để xây dựng các quy định về việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án một cách hợp lý, đúng đắn, phù hợp với đường lối cải cách tư pháp của đất nước, việc xây dựng phải được nghiên cứu trên các cơ sở khoa học.
- Việc xây dựng các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự phải phù hợp với Hiến pháp và các quy định của pháp luật về tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân
Do thẩm quyền sơ thẩm dân sự theo lãnh thổ là một cơ sở để phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án nên việc xây dựng các quy định về thẩm quyền sơ thẩm dân sự phải phù hợp với quy định của Hiến pháp về thẩm quyền của tòa án nhân dân và các quy định của pháp luật về tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân. Hiện nay, hệ thống Tòa án của Việt Nam bao gồm các Tòa án sau:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Các Tòa án quân sự;
- Các Tòa án khác do luật định.
Theo đó, chức năng xét xử sơ thẩm dân sự theo quy định của luật này thuộc về Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Do đó việc xây dựng các quy định về xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự cần dựa trên cơ sở các quy định này.
Ngoài ra, trước đây Luật Tổ chức Tòa án 2002, tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân của Việt Nam không quy định việc có thể thành lập các tòa chuyên trách ở Tòa án nhân dân cấp huyện. Tuy nhiên, Luật Tổ chức Tòa án 2014 đã có thêm quy định về Tòa án chuyên trách này, vì vậy khi xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Quốc hội đã bổ sung các quy định về việc phân định thẩm quyền những vụ việc các Tòa án này có quyền xem xét, giải quyết để phù hợp với các quy định về cơ cấu hệ thống Tòa án hiện nay.
- Việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự phải dựa trên tính chất phức tạp của từng loại vụ việc
Đây là cơ sở quan trọng để xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự theo các cấp Tòa án. Đối với các đương sự, việc tiến hành giải quyết vụ việc ở Tòa án nhân dân cấp huyện – là Tòa án gần với họ nhất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự trong quá trình tiến hành tố tụng. Ngoài ra, Tòa án nhân dân cấp huyện cũng là Tòa án có ưu thế lớn nhất để thu thập, xác minh chứng cứ. Vì lẽ đó, về lý thuyết, Tòa án nhân dân cấp huyện có nhiều điều kiện để thực hiện việc giải quyết vụ việc dân sự. Thực tế hiện nay, trong chiến lược cải cách tư pháp của nước ta, nhà nước cũng khuyến khích và tạo điều kiện để mở rộng thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện. Tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển, giao lưu dân sự phát triển thì những tranh chấp hay yêu cầu về dân sự ngày càng trở nên phức tạp. Đó không còn là những hợp đồng giá trị nhỏ giữa các thương nhân đơn lẻ thông thường mà có thể là những tranh chấp từ dự án đầu tư có yếu tố nước ngoài…Với tính chất phức tạp đó, Tòa án nhân dân cấp huyện không có đủ điều kiện để xem xét một cách toàn diện, đúng đắn nội dung của vụ việc. Vì lẽ đó, đối với một số các loại tranh chấp, yêu cầu phức tạp, giá trị lớn hoặc quan trọng, pháp luật sẽ phân định cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh – nơi có đầy đủ các điều kiện về chuyên môn, cơ sở vật chất kỹ thuật để giải quyết vụ việc một cách công bằng, khách quan, đúng pháp luật.
- Việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự phải dựa trên tiêu chí về số lượng, chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm phán, thư ký và cán bộ Tòa án. Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
Cùng với việc xác định tính chất phức tạp của vụ việc dân sự, việc xem xét số lượng, chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm phán, thư ký và cán bộ Tòa án có vai trò liên đới với nhau, để xây dựng các quy định về phân định thẩm quyền phù hợp. Mỗi cấp Tòa án lại có những ưu thế riêng trong việc giải quyết vụ án. Nếu Tòa án nhân dân cấp huyện có ưu thế thuận lợi cho việc thu thập, xác minh chứng cứ thì Tòa án nhân cấp tỉnh lại có ưu thế về chuyên môn, nghiệp vụ, điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật để tiến hành giải quyết vụ kiện. Do đó cần phải kết hợp xem xét đồng thời cả hai yếu tố này để có sự phân định thẩm quyền hợp lý, khoa học.
- Việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự phải đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân và tạo thuận lợi trong quá trình giải quyết vụ việc
Đây là yếu tố quan trọng nhất khi xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án. Bảo đảm quyền tiếp cận công lý vừa là mục đích, vừa là động lực thúc đẩy việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự. Bảo đảm quyền tiếp cận công lý là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc bảo đảm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Điều này có nghĩa là, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự phải bảo đảm khi các chủ thể trong quan hệ dân sự bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp thì pháp luật ghi nhận cho các chủ thể có thể khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án xét xử buộc người có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, buộc người vi phạm phải bồi thường thiệt hại hoặc công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý. Pháp luật cần có những quy định để công dân dễ dàng nhất, thuận tiện nhất thực hiện quyền tiếp cận công lý của mình. Chính vì vậy, khi xây dựng các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự, cần dựa trên nguyên tắc này để ưu tiên những Tòa án có mối liên hệ gần gũi với các đương sự để họ thực hiện các quyền tố tụng của mình. Ví dụ như ưu tiên Tòa án nhân dân gần nhất với đương sự là Tòa án nhân dân cấp huyện hay xác định dựa trên cơ sở nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của một trong các bên đương sự.
Bên cạnh đó, khi phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án cũng cần cân nhắc là sự thuận lợi trong quá trình giải quyết vụ án. Do hiện nay, những tranh chấp, yêu cầu không chỉ phát sinh trong phạm vi nhỏ hẹp nơi công dân sinh sống mà có thể phát sinh ở bất cứ đâu. Trong một số trường hợp, nếu dựa trên tiêu chí ưu tiên sự thuận lợi cho quyền khởi kiện của các chủ thể, pháp luật vô hình chung gây ra những khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án. Ví dụ như đối với những tranh chấp liên quan đến bất động sản hoặc tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng. Trong các trường hợp đó, để thuận lợi cho quá trình xem xét, giải quyết vụ án, việc thu thập và xác minh chứng cứ, cần ưu tiên Tòa án nơi có bất động sản hoặc nơi thực hiện hợp đồng để giải quyết một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.
- Việc xây dựng các quy định về thẩm quyền sơ thẩm dân sự phải bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn Tòa án giải quyết. Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
Nguyên tắc này là một trong những cơ sở quan trọng để các đương sự có thể lựa chọn phương thức hiệu quả nhất trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời cũng là nguyên tắc cốt lõi, xuyên suốt cần được thực thi trong các quy định về pháp luật dân sự. Điều này cũng đã góp phần làm giảm bớt áp lực giải quyết các tranh chấp của Toà án, giúp cho việc giải quyết tranh chấp được nhanh chóng, tiết kiệm được chi phí và thời gian của Tòa án và của đương sự.
Trong hơn 10 năm qua, việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án đã có nhiều biến chuyển, đổi mới theo hướng đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và đảm bảo tốt nhất các quyền tố tụng của công dân. Thi hành Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra định hướng tổng thể về cải cách tư pháp, tăng cường tính độc lập của Tòa án với các cơ quan, tổ chức chính quyền địa phương bằng cách chuyển dần từ mô hình tổ chức Tòa án theo đơn vị hành chính – lãnh thổ sang mô hình tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử của đa số các nước trên thế giới. Vì vậy Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã có những quy định gia tăng thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện. Tuy nhiên, như phân tích ở trên đây, việc phân định thẩm quyền muốn hợp lý cần xem xét và dựa trên số lượng, chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm phán, thư ký và cán bộ Tòa án, vì vậy cần thực hiện một cách thận trọng, có lộ trình khoa học, đảm bảo sự phát triển bền vững cho việc cải cách tư pháp.
1.3 Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án qua các giai đoạn lịch sử
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
- Thời kỳ từ năm 1945 đến 1954 Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
Cách mạng tháng 08/1945 đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Tháng 09/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, Chính phủ lâm thời đối mặt với hàng loạt khó khăn kinh tế, xã hội – hậu quả của thời kỳ xâm lược của thực dân Pháp. Về lĩnh vực tư pháp, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 (Sau đây gọi là Sắc lệnh 47) đã khẳng định “Cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này.” – [Điều 1; Sắc lệnh 47]
Chương thứ 5, Sắc lệnh 47 quy định về thủ tục tố tụng, điều thứ 11: “Trước các toà án ở Nam bộ và ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng sẽ áp dụng thủ tục ấn định trong nghị định ngày 16 tháng 3 năm 1910 của nguyên Toàn quyền Đông Dương và những nghị định sửa đổi nghị định ấy. Bộ luật dân sự tố tụng thủ tục Pháp (Code de Procédure civile franổaise) không thi hành nữa.
Năm 1946, Chính phủ liên hiệp lâm thời được thành lập sau cuộc Tổng tuyển cử đã thông qua Sắc lệnh số 13 ngày 24/ 01/1946 về tổ chức các Tòa án và ngạch thẩm phán (Sắc lệnh 13) và Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 về việc ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án (Sắc lệnh 51). Đây là những văn bản pháp luật quy định cụ thể về thủ tục tố tụng đầu tiên của đất nước, được áp dụng thống nhất toàn lãnh thổ Việt Nam. Theo đó, cơ quan tư pháp được tổ chức gồm:
Ban tư pháp xã: ở mỗi xã, ban thường vụ của Ủy ban hành chính cấp xã sẽ kiêm chức năng tư pháp. Ban tư pháp xã có quyền hòa giải tất cả các việc dân sự và thương sự, không có chức năng xét xử;
Tòa án sơ cấp: ở mỗi quận, có một Tòa án sơ cấp. Tòa sơ cấp xử sở thẩm “Những việc dân sự hay thương sự về động sản mà giá ngạch do nguyên đơn định trên 150 đồng, nhưng dưới 450 đồng” [Điều 6, Sắc lệnh 51]. “Trước khi xét xử, hai bên phải tiến hành hòa giải” [Điều 9, Sắc lệnh 51]
Tòa án đệ nhị cấp: Ở mỗi tỉnh và ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, và Sài Gòn – Chợ Lớn, có một toà án đệ nhị cấp. Về dân sự, Chánh án được xử một mình. Đối với lĩnh vực dân sự, Tòa nhị đệ cấp có quyền xét xử sơ thẩm những vụ việc sau:
- Những việc kiện về bất động sản mà giá ngạch theo thời giá, hôm khởi tố, hay theo văn tự trên 150 đồng,
- Những việc kiện về động sản mà giá ngạch trên 750 đồng,
- Những việc kiện không thể định trước được giá ngạch,
- Những việc kiện không cứ giá ngạch là bao nhiêu, mà phải có án nghị về thẩm quyền,
- Những việc kiện có quan hệ đến thân phận hay căn cước của người, hoặc về vấn đề tế tự.” – [Điều 11, Sắc lệnh 51]
Trước khi xử kiện dân sự, vụ việc phải được thẩm phán sơ cấp tiến hành hòa giải [Điều 12, Sắc lệnh 51]
Tòa thượng thẩm: Toà Thượng thẩm không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm. Tòa thượng thẩm xét xử những việc kháng cáo án sơ thẩm của các toà đệ nhị cấp [Điều 13, Sắc lệnh 51] Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
Như vậy, với các văn bản pháp luật đầu tiên quy định thủ tục tố tụng áp dụng thống nhất toàn quốc, thẩm quyền xét xử sơ thẩm được giao cho Tòa án sơ cấp và Tòa án đệ nhị cấp. Việc phân định thẩm quyền xét xử ở thời kỳ này căn cứ vào ngạch giá của vụ việc.
- Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1989
Năm 1954, đất nước ta lần nữa bị chia cắt hai miền. Hội nghị Trung ương 7 (tháng 03/1955) xác định mục tiêu đấu tranh trước mắt của toàn dân ta trong giai đoạn này là: “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”. Do đó, ở giai đoạn này, chúng ta không có một văn bản thống nhất quy định về thủ tục tố tụng nói chung, tố tụng dân sự nói riêng. Ở miền Nam, với sự can thiệp của Pháp và sau là Mỹ đã áp dụng các quy định tố tụng riêng biệt. Còn ở miền Bắc, quy định về tố tụng chưa được quy định thành văn bản pháp luật riêng biệt. Cũng giống như giai đoạn 1946, các thủ tục tố tụng, cụ thể việc phân định thẩm quyền xét xử của các cấp Tòa án được lồng ghép trong văn bản của Tòa án, cụ thể Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 1960, Pháp lệnh số 18/LCT ngày 30 tháng 03 năm 1961 (Pháp lệnh số 18) quy định cụ thể về tổ chức Tòa án nhân dân tối cao và tổ chức của các Tòa án nhân dân địa phương. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm được phân định cho Tòa án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương và Tòa án nhân dân thành phố và tỉnh thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính. Cụ thể:
- Toà án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương có thẩm quyền “Sơ thẩm những vụ án dân sự” [Điều 12, Pháp lệnh 18]
- Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị
hành chính tương đương có thẩm quyền “Sơ thẩm những vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương, nhưng xét thấy quan trọng hoặc phức tạp, cần lấy lên để xử” [Điều 9, Pháp lệnh 18]
Như vậy, ở thời kỳ này, thẩm quyền xét xử sơ thẩm dân sự đã được phân định giữa các cấp Tòa án. Mặc dù vậy, sự phân định này vẫn còn gây lúng túng khi áp dụng vì chưa đưa ra căn cứ cụ thể để xác định mức độ “quan trọng hoặc phức tạp” của từng vụ việc để phân định thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
Đến năm 1975, đất nước ta thống nhất, việc thay đổi chính sách, quan điểm quản lý kinh tế – xã hội là điều tất yếu, phù hợp với nhu cầu thay đổi của xã hội. Ở những năm đầu sau khi thống nhất đất nước, những tàn dư của thời kỳ trước đã gây ra những hậu quả nặng nề cho nước ta, Ở giai đoạn này, chúng tập trung khắc phục thiệt hại, xây dựng nền mỏng kinh tế cơ bản ban đầu. Do đó, mãi đến năm 1989, chúng ta mới ban hành văn bản pháp luật về thủ tục tố tụng thay thế các văn bản cũ trước đây.
Ngày 07/12/1989, Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 của Hội đồng Nhà nước về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự được ban hành (Pháp lệnh 27) là văn bản pháp luật đầu tiên của nước ta tập hợp những quy định cơ bản về quy định liên quan đến thủ tục tố tụng dân sự. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân được quy định tại Chương 2 của pháp lệnh. Điều 10 Pháp lệnh 27 liệt kê những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Tuy nhiên thời kỳ này chưa có sự phân định giữa vụ án dân sự và việc dân sự – điều này thể hiện rõ ở tên Điều 10 là “những việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân nhưng nội dung của điều này lại ghi: “các Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự sau đây…”
Thẩm quyền của các Tòa án các cấp được phân định cụ thể tại Điều 11 như sau: “1- Toà án cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ án quy định tại Điều 10 của Pháp lệnh này, trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp tỉnh.
Toà án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ án sau đây:
- Khi có đương sự là người nước ngoài hoặc là người Việt Nam ở nước ngoài;
- Tranh chấp quyền sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 29 của Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp;
- Vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện mà Toà án cấp tỉnh lấy lên để giải quyết.
Trong trường hợp đặc biệt, Toà án nhân dân tối cao giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đồng thời chung thẩm những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp dưới mà Toà án nhân dân tối cao lấy lên để giải quyết.
Ngoài việc kế thừa quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự theo Tòa án các cấp, Pháp lệnh 27 đã đánh dấu là văn bản pháp luật về thủ tục tố tụng đầu tiên của nước ta đề cập đến việc phân cấp thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ [Điều 13, Pháp lệnh 27] và được hướng dẫn bởi khoản 19 mục IV về thủ tục Tố tụng dân sự trong Công văn 16/1999/KHXX ngày 01/02/1999 của Tòa án nhân dân tối cao về một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng.
Những thay đổi về đường lối chỉ đạo, cơ cấu nền kinh tế đã dẫn đến hàng loạt các thay đổi về mặt lập pháp: kinh tế tư nhân được công nhận, nhà đầu tư nước ngoài được phép tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, mở rộng tự do lưu thông hàng hóa… Các tình huống, tranh chấp về kinh tế cũng phức tạp hơn. Nếu đơn thuần chỉ dựa vào Pháp lệnh 27 sẽ không đáp ứng được các nhu cầu xã hội. Do đó, Lệnh số 31-L/CTN ngày 29/03/1994 (Lệnh 31) của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa IX thông qua quy định về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Lệnh số 48-L/CTN ngày 11/ 04/ 1996 (Lệnh 48) được Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa IX thông qua quy định thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động lần lượt được ban hành, quy định cụ thể hơn việc giải quyết đối với từng loại tranh chấp kinh tế hay lao động. Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
1.3.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
Năm 2004, dựa trên các quy định tố tụng trong ba Pháp lệnh ở giai đoạn trước, học hỏi kỹ năng lập pháp của nhiều nước trên thế giới, Bộ luật tố tụng dân sự đầu tiên của nước ta ra đời. Bộ luật Tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 ngày 15/06/2004 (Bộ luật Tố tụng dân sự 2004) là dấu mốc quan trọng trong lịch sử pháp luật tố tụng dân sự của nước ta, đặc biệt đã đưa ra các quy định cụ thể để xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự theo loại vụ việc, theo các cấp Tòa án và theo lãnh thổ.
Năm 2005, Ban chấp hành TW Đảng đã đưa ra những quyết sách quan trọng trong công cuộc đổi mới nền tư pháp nước nhà. Trên cơ sở Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/05/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020, pháp luật tố tụng dân sự nói chung và việc phân định thẩm quyền dân sự sơ thẩm dần có những đổi mới bằng việc ban hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật tố tụng dân sự năm 2004.
Đến năm 2015, sau hơn 10 năm thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, xuất phát từ những bất cập trong việc thi hành và những biến chuyển của tình hình đất nước, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25/11/2015 (Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) với nhiều những bước phát triển trong việc xây dựng các quy định về thẩm quyền sơ thẩm dân sự. Kế thừa và phát triển Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đưa ra hướng giải quyết đối với một số trường hợp đặc biệt. Liên quan đến quy định về thẩm quyền của Tòa án, về cơ bản vẫn giữ nguyên theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, đồng thời có bổ sung quy định về thẩm quyền của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp huyện. Theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 ngày 24/11/2014 (Luật tổ chức Tòa án 2014), Thông tư số 01/2016/TT-CA của Tòa án nhân dân tối cao ngày 21/01/2016 (Thông tư số 01) quy định việc tổ chức các Tòa chuyên trách tại Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thể có một số Tòa chuyên trách cho nên Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã quy định thẩm quyền đối với Tòa chuyên trách của Tòa án nhân cấp huyện đối với việc giải quyết vụ việc dân sự như sau:
- Tòa dân sự Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
- Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
- Đối với Tòa án nhân dân cấp huyện chưa có Tòa chuyên trách thì Chánh án Tòa án có trách nhiệm tổ chức công tác xét xử và phân công Thẩm phán giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Quy định cụ thể về phân định thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân các cấp theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các văn bản có liên quan hiện hành sẽ được tác giả phân tích cụ thể ở những phần sau.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tóm lại, việc quy định hợp lý về thẩm quyền dân sự của Tòa có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho họ có thể thực hiện được quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trên cơ sở làm rõ các khái niệm và đặc điểm của việc phân định thẩm quyền này, chương 1 đã chỉ ra và phân tích các tiêu chí là cơ sở khoa học để có thể xây dựng các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự một cách hợp lý.
Việc nghiên cứu tiến trình phát triển của các quy định về phân định thẩm quyền cũng góp phần làm rõ sự thay đổi về tư duy pháp lý, sự đổi mới của chính sách pháp luật tố tụng dân sự trong từng giai đoạn. Điều này là những cơ sở nền tảng để phân tích những quy định chi tiết về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự tại chương 2 của luận văn này. Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án