Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa Tòa án các cấp

Các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa tòa án các cấp ở mỗi quốc gia là khác nhau, phụ thuộc vào mô hình nhà nước, truyền thống pháp luật, văn hóa chính trị pháp lý. Nếu như ở Hoa Kỳ hệ thống Tòa án Hoa Kỳ bao gồm hệ thống Tòa án Liên bang và 51 hệ thống Tòa án bang và quận Columbia. Hệ thống Tòa án Liên bang và Tòa án bang độc lập với nhau, Tòa án Liên bang không phải là cấp trên của Tòa án bang. Hệ thống Tòa án bang thường bao gồm Tòa sơ thẩm, Tòa phúc thẩm và Tòa án tối cao. Tòa sơ thẩm có thể bao gồm Tòa sơ thẩm địa phương có thẩm quyền riêng và Tòa sơ thẩm bang có thẩm quyền chung. Mỗi bang có cấu trúc hệ thống Tòa án riêng. Ví dụ như hệ thống Tòa án bang California gồm 58 Tòa sơ thẩm (Tòa án cấp cao – superior courts) ở 58 hạt có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ việc dân sự, hình sự và các vụ việc khác, 6 Tòa phúc thẩm có thẩm quyền phúc thẩm các bản án của Tòa sơ thẩm bị kháng cáo và một Tòa án tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm bản án, quyết định của Tòa phúc thẩm. Hệ thống Tòa án Liên bang bao gồm các Tòa án quận (U.S district courts) là Tòa sơ thẩm với thẩm quyền chung và các Tòa án thẩm quyền riêng (ví dụ: Tòa án phá sản, Tòa án thuế), Tòa phúc thẩm và Tòa án tối cao Hoa Kỳ [25, tr. 217].

Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 2015 thì Tòa án dân sự Việt Nam có hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm. Về điểm này cả hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ khá giống nhau. Ở Hoa Kỳ, về phân định thẩm quyền giữa Tòa sơ thẩm và Tòa án phá án (Tòa phúc thẩm và Tòa án giám đốc thẩm), Tòa sơ thẩm xét xử sơ thẩm các vụ tranh chấp, còn các Tòa phá án xem xét các bản án của tòa cấp dưới bị kháng cáo [25, tr.218]. Về thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự theo cấp Tòa án trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các tranh chấp theo loại việc hầu hết đều thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện trừ những vụ việc có tính chất phức tạp, có yếu tố nước ngoài hoặc cần thiết để đưa lên Tòa án cấp tỉnh xem xét giải quyết. Bộ luật dân sự hiện hành (Bộ luật Dân sự 2015) cũng đã bổ sung các Tòa án chuyên trách cấp huyện và cấp tỉnh để phân rõ thẩm quyền theo loại việc được tốt hơn. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Việc phân cấp, xây dựng các quy định về thẩm quyền xét xử sở thẩm các vụ án dân sự theo cấp Tòa án tại Việt Nam sẽ là nền tảng cho việc xác định thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ được nhanh chóng, đúng pháp luật. Tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ giữa Tòa án cấp trên và Tòa án cấp dưới. Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án dân sự, đảm bảo sự phối hợp giữa Tòa án và cơ quan thi hành án.

Còn đối với đương sự thì việc Tòa án xác định đúng thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo cấp Tòa án sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự có thể tham gia tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Với sự phân định rõ thẩm quyền giữa Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện sẽ tạo điều kiện cho các đương sự xác định đúng Tòa án để gửi đơn, tránh tình trạng gửi nhầm đơn đến Tòa án không có thẩm quyền giải quyết, nếu không sẽ gây mất thời gian và những tổn thất không đáng có. Ngoài ra nếu tình trạng gửi nhầm đơn xảy ra, thì thông qua việc xác định thẩm quyền của mình, Tòa án nhận đơn có thể mau chóng, kịp thời chuyển đơn khởi kiện tới Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

Ngoài ra, các quy định về phân cấp thẩm quyền còn là cơ sở pháp lý để tránh việc đương sự lạm dụng quyền khởi kiện như cùng một lúc khởi kiện ở nhiều cấp Tòa án khác nhau gây lãng phí thời gian giải quyết của Tòa án.

Dựa trên Điều 26, Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ việc sau:

2.1.1. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

2.1.1.1 Các tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện.

Các loại tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện là các tranh chấp về quyền, nghĩa vụ đối với các quan hệ pháp luật dân sự là các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (gồm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phi tài sản) được quy định trong Bộ luật dân sự, luật gốc của toàn bộ hệ thống luật tư và các luật chuyên ngành như Luật sở hữu trí tuệ, Luật chuyển giao công nghệ, Luật đất đai, Luật báo chí, Bộ luật Tố tụng dân sự, …

Tuy nhiên, trên thực tế xác định các tranh chấp dân sự cũng khá phức tạp hoặc khi đã xác định đó là tranh chấp về dân sự nhưng thuộc dạng tranh chấp cụ thể (quan hệ pháp luật dân sự) nào cũng còn có sự khác biệt chưa thống nhất và phụ thuộc vào nhận thức pháp luật của từng Thẩm phán.

Ngoài các tranh chấp đã được đề cập tại Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi 2011, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 bổ sung các tranh chấp sau: Tranh chấp về các quyền khác đối với tài sản; Tranh chấp về giao dịch dân sự; Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật Tài nguyên nước; Tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng. Các tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện được quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

  • (a) Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân

Loại tranh chấp đầu tiên trong mười loại tranh chấp dân sự này đã dẫn đến nhiều hiểu lầm cho giới học luật về phạm vi cũng như khái niệm của nó.

Ở đây cần phải có hướng dẫn cụ thể đó là tranh chấp gì? Phải chăng là tranh chấp giữa cá nhân này với cá nhân khác về quốc tịch Việt Nam hay đó là tranh chấp gì. Tài liệu tập huấn Bộ luật Tố tụng dân sự của Trường cán bộ Tòa án năm 2005 có ghi nhận: “Loại tranh chấp này không phải là tranh chấp giữa cá nhân này với cá nhân khác về quốc tịch Việt Nam. Đây là trường hợp người cha và người mẹ tranh chấp với nhau về quốc tịch của người con vị thành niên”[49].

Còn tài liệu tập huấn việc thi hành Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự của Tòa án nhân dân tối cao và Dự án hỗ trợ thể chế cho Việt Nam của Ủy ban châu Âu năm 2007 giải thích: Đây là loại tranh chấp có tính chất đặc thù của một loại quan hệ về nhân thân [50]. Đó là sự tranh chấp giữa hai bên về việc xác định quốc tịch của một chủ thể, thông thường là sự tranh chấp giữa cha và mẹ về quốc tịch của người con vị thành niên. Khi giải quyết các tranh chấp về quốc tịch thì trước tiên phải căn cứ vào quy định của Điều 15 và các điều luật tương ứng của Luật Quốc tịch… Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Với cách giải thích trên có thể hiểu cho bộ luật tố tụng dân sự 2015. Trên cơ sở yêu cầu của các bên đương sự, Tòa án căn cứ vào các quy định của Luật Quốc tịch để xác định quốc tịch cho đối tượng đang có tranh chấp, có yêu cầu về xác định quốc tịch. Do vậy, có thể hiểu tranh chấp về quốc tịch giữa cá nhân với cá nhân là tranh chấp giữa hai bên về việc xác định quốc tịch của một chủ thể, thông thường là sự tranh chấp giữa cha và mẹ về quốc tịch của người con vị thành niên. Ví dụ: A (quốc tịch Việt Nam) kết hôn với B (quốc tịch Anh), C là con của A và B sinh ra ở Hoa Kỳ, A và B tranh chấp về việc đặt quốc tịch cho C.

  • (b) Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.

Quyền sở hữu được coi là vật quyền thứ nhất, tuyệt đối và trọn vẹn nhất so với các loại vật quyền khác. Chủ sở hữu có toàn quyền đối với vật, từ nắm giữ, kiểm soát về phương diện vật chất cho đến khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi ích từ vật và quyết định số phận vật chất, pháp lý của vật đó. Các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm các tranh chấp về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản hoặc tranh chấp về bồi thường thiệt hại đối với tài sản.

Các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là các tranh chấp về quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản. Tuy nhiên, do tài sản là đối tượng của các giao dich dân sự nên các tranh chấp này thường được biểu hiện dưới các dạng tranh chấp cụ thể về hợp đồng mua bán, hợp đồng cho thuê, bồi thường thiệt hại, về việc phân chia tài sản (kể cả việc tranh chấp về tài sản trong các vụ việc về hôn nhân gia đình).

Hầu hết các tranh chấp về tài sản đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Song trong một số trường hợp, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với tài sản còn phụ thuộc vào các giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản đó. Chẳng hạn, đối với tranh chấp về nhà ở liên quan đến chính sách cải tạo nhà, tranh chấp về đất đai mà người sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chưa có một trong các loại giấy tờ theo Điều 50 luật đất đai sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân.

Pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể đối với tài sản thuộc sở hữu của mình và khi có tranh chấp về quyền sở hữu xảy ra sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, nhưng thực tiễn thực hiện vẫn có những tồn tại nhất định. Ví dụ: Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành không quy định giá trị tối thiểu đối với những tài sản có tranh chấp được khởi kiện đến Tòa án. Vì vậy, cho dù các đương sự tranh chấp về một tài sản có giá trị rất nhỏ thì Tòa án vẫn phải thụ lý, giải quyết. Do vậy, xét từ góc độ hiệu quả kinh tế của việc giải quyết tranh chấp dân sự thì vấn đề giới hạn giá trị của tài sản khi xác định thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án còn có các ý kiến khác nhau. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

  • (c) Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

“Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 121 Bộ luật Dân sự 2015).

Từ khái niệm giao dịch dân sự được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 có thể xác định: Hậu quả của việc xác lập giao dịch dân sự là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lí (hành vi pháp lí đơn phương hoặc đa phương – một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lí. Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định.

Tất cả các giao dịch dân sự đều có điểm chung tạo thành bản chất của giao dịch: Đó là ý chí của chủ thể tham gia giao dịch. Căn cứ vào các bên tham gia vào giao dịch có thể phân biệt giao dịch dân sự thành hai loại là hợp đồng và hành vi pháp lí đơn phương.

Hợp đồng dân sự là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của hai hay nhiều bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Hợp đồng dân sự là loại giao dịch dân sự phổ biến nhất trong đời sống hàng ngày. Thông thường hợp đồng có hai bên tham gia trong đó thể hiện sự thống nhất ý chí của các chủ thể trong một quan hệ cụ thể (mua bán, cho thuê…) nhưng cũng tồn tại hợp đồng có nhiều bên tham gia (hợp đồng hợp tác – Điều 504 Bộ luật Dân sự 2015). Mỗi bên trong hợp đồng có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia. Trong hợp đồng ý chí của một bên đòi hỏi sự đáp lại của bên kia, tạo thành sự thống nhất ý chí của các bên, từ đó mới hình thành được hợp đồng. Do vậy, hợp đồng dân sự là sự thoả thuận ý chí của hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. “Thoả thuận” vừa là nguyên tắc, vừa là đặc trưng của hợp đồng dân sự và được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của quan hệ hợp đồng – từ giao kết đến thực hiện hoặc sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dân sự. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Thực tiễn cho thấy, đa phần các tranh chấp hợp đồng được giải quyết thông qua con đường Tòa án, kể cả các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng được các doanh nghiệp ký kết để phục vụ mục đích kinh doanh thu lợi nhuận. Việc pháp luật tố tụng dân sự quy định tranh chấp hợp đồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là hợp lý, bởi: thứ nhất, Tòa án là cơ quan đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước nên các quyết định, bản án của Tòa án mang tính cưỡng chế thi hành đối với các bên; thứ hai, với nguyên tắc hai cấp xét xử, những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp có khả năng được phát hiện và khắc phục; thứ ba, với điều kiện thực tế của Việt Nam thì án phí Tòa án thấp hơn lệ phí Trọng tài. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp qua Tòa án cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định mà đáng kể nhất là thủ tục tố tụng Tòa án quá chặt chẽ làm thời gian giải quyết tranh chấp thường bị kéo dài; khả năng tác độ lên quá trình tố tụng của các bên là rất hạn chế.

  • (d) Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Không phải tất cả các tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ đều được coi là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện. Chỉ những tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ mà một bên hoặc cả hai bên không có mục đích lợi nhuận mới là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện. Nếu không, tranh chấp sẽ là tranh chấp về kinh doanh, thương mại được quy định tại khoản 2, Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Tuy nhiên, thực tiễn có nhiều ý kiến cho rằng, không nên tách loại tranh chấp về sở hữu trí tuệ ra làm hai loại bởi việc phân biệt như hiện nay dẫn đến sự phân loại tranh chấp, xác định thẩm quyền của Tòa án chưa rõ ràng. Hơn nữa, thực tế ngày nay tri thức đã trở thành hàng hóa trực tiếp, các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ sẽ ngày càng nhiều, ngày càng phức tạp và gần gũi với các tranh chấp thương mại hơn (các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ hầu hết là đều nhằm mục đích lợi nhuận). Do vậy, nên gộp hai loại tranh chấp về sở hữu trí tuệ này thành một loại là tranh chấp về sở hữu trí tuệ và giao cho Tòa kinh tế đồng thời nghiên cứu đổi tên “Tòa kinh tế” hiện nay thành “Tòa thương mại và sở hữu trí tuệ” như xu thế hiện nay của các nước trên thế giới.

  • (e) Tranh chấp về thừa kế tài sản.

Theo Bộ luật Dân sự hiện hành, di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại cho người còn sống. Di sản bao gồm: tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Di sản thừa kế có thể là hiện vật, tiền, giấy tờ trị giá được thành tiền, quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản. Thừa kế di sản là quyền lợi hợp pháp của người thừa kế (thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật). Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Tuy nhiên, thực tiễn cuộc sống cho thấy, nhiều trường hợp thừa kế tài sản cũng nảy sinh những mâu thuẫn giữa những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc phân chia di sản dẫn đến tranh chấp. Ví dụ: tranh chấp buộc người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản hoặc yêu cầu chia di sản thừa kế (theo di chúc hoặc theo pháp luật), xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác… Những tranh chấp này không phải lúc nào các bên cũng có thể tự thỏa thuận giải quyết được. Do vậy, để giải quyết những tranh chấp này được hiệu quả, pháp luật tố tụng dân sự quy định những tranh chấp về thừa kế tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Đối với các tranh chấp di sản thừa kế, nếu chỉ có một phần di sản là hết thời hiệu khởi kiện và một phần di sản còn thời hiệu khởi kiện thì Tòa án cấp huyện vẫn thụ lý giải quyết và chỉ xem xét, quyết định đối với phần di sản thừa kế còn thời hiệu khởi kiện. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.

  • (f) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Các tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng rất phong phú và xuất phát từ nhiều nguyên nhân như xuất phát từ hành vi gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe dẫn đến những thiệt hại về tài sản và tổn thất về mặt tinh thần; có trường hợp gây thiệt hại về tài sản của chủ sở hữu như hủy hoại, làm hư hỏng đánh mất… tài sản của chủ sở hữu; có trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại là do tài sản gây ra như: nguồn nguy hiểm cao độ, súc vật, cây cối, công trình xây dựng, … gây ra; có trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra như xâm phạm mồ mả, xâm phạm thi thể, vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Thông thường các yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có quan hệ hợp đồng, hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không liên quan đến hợp đồng giữa các bên. Những loại tranh chấp này đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện.

Ví dụ: Ông A đi xe máy đâm vào ông B làm ông B phải nằm viện điều trị hết 10 triệu đồng, thiệt hại này là “ngoài hợp đồng”. Sau đó, ông A không bồi thường cho ông B, ông B khởi kiện ra Tòa yêu cầu ông A bồi thường thiệt hại. Mặc dù giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, được pháp luật quy định.

  • (g) Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước.

Đây là loại tranh chấp mới được bổ sung vào Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo đó, trước khi đem ra Tòa án xét xử thì, ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm giải quyết tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước nhưng phải thuộc trường hợp không phải xin cấp giấy phép. Sau đó, trong trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp trên của ủy ban nhân dân cấp huyện thì các bên tranh chấp có hai lựa chọn: một là khiếu nại đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Toà án nhân dân.

  • (h) Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng.

Khi có tranh chấp xảy ra trong cộng đồng dân cư, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành giải quyết các mâu thuẩn, tranh chấp đó theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nhưng thực tiễn xét xử cho thấy có những trường hợp đương sự chỉ tranh chấp về quyền sử dụng đất, nhưng có trường hợp đương sự lại chỉ tranh chấp về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Do vậy, nếu dựa vào quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sẽ rất khó khăn cho việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự. Vì vậy, việc sửa đổi theo quy định của pháp luật hiện hành là tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai này là cần thiết, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử, tránh cách hiểu và áp dụng máy móc điều luật. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Như vậy, khi nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, trong thời hạn không quá 45 ngày (Luật Đất đai 2003 quy định là 30 ngày) Ủy ban Nhân dân cấp xã có trách nhiệm:

Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất, thực tế hiện trạng sử dụng đất;

Tiến hành thành lập hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai 2013 và khoản 1 điều 88 của Nghị định số 43/NĐ-CP Ngày 15/5/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai thì thành phần Hội đồng hòa giải cấp xã (phường, thị trấn) gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh…

Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban Nhân dân cấp xã. Và biên bản hòa giải tranh chấp đất đai sẽ được gửi đến các bên tranh chấp.

Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban Nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến phòng tài nguyên và môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Trường hợp hòa giải không thành thì Ủy ban Nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

Theo quy định tại Điều 136 Luật Đất đai 2003 thì những tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 50 của Luật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì chủ thể có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân. Còn đối với những tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không có các giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 điều 50 thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Còn theo Điều 203 Luật đất đai 2013 quy định: Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau: Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết; Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền; Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

Nhìn chung, các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 này vẫn giữ nguyên nội dung các quy định tại khoản 1,2 và khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai 2003 và có sự bổ sung thêm một số trường hợp đó là:

  • Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15/10/1993 theo quy định của Chính phủ;
  • Giấy tờ được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15/10/1993 đến ngày 01/7/2014;
  • Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp.

Như vậy căn cứ theo khoản 2 Điều 203 Luật đất đai thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp được mở rộng hơn, Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp đất đai bao gồm:

  • Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai
  • Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất
  • Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai.

Nhằm đảm bảo phù hợp với các quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004, các tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo đó, các tranh chấp về quyền sử dụng rừng đối với các loại rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng do Toà án nhân dân giải quyết. Các tranh chấp về quyền sử dụng đất có rừng, đất trồng rừng được áp dụng theo quy định của pháp luật về đất đai. Khi giải quyết các tranh chấp quy định trên có liên quan đến quyền sử dụng đất có rừng thì Toà án nhân dân giải quyết cả quyền sử dụng đất có rừng đó.

  • (i) Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí.

Có nhiều loại tranh chấp liên quan đến hoạt động báo chí, tuy nhiên chỉ có các loại tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện, đó là: Tranh chấp không đăng bài cải chính những thông tin xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân và tranh chấp về bồi thường thiệt hại. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Có thể thấy, báo chí ngày nay đóng vai trò quan trọng trong thực hiện quyền được thông tin và tiếp cận thông tin (tự do ngôn luận) của mỗi cá nhân trong xã hội. Báo chí có sức lan tỏa và ảnh hưởng lớn đến hầy hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và dễ tác động gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Do vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định trong những trường hợp thực hiện nghiệp vụ báo chí như lấy tin, ghi hình, biên tập, in ấn, phát hành… mà gây thiệt hại cho người khác thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ví dụ: báo đăng bài nói ông A có hành vi lừa đảo hay phạm một tội nào đó. Nhưng sau khi điều tra, cơ quan điều tra khẳng định ông A không phạm tội gì. Ông A cho rằng, báo viết sai sự thật ảnh hưởng đến uy tín của ông và theo quy định của pháp luật ông A có quyền khởi kiện ra Tòa để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

  • (j) Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

Văn bản công chứng là những hợp đồng, giao dịch bằng văn bản đã được công chứng theo quy định của Luật Công chứng. Về nguyên tắc, khi giao dịch đã được công chứng thì các bên có nghĩa vụ phải tuân thủ các thỏa thuận, cam kết trong văn bản công chứng này song trên thực tế có nhiều trường hợp văn bản công chứng lại vi phạm quy định pháp luật về trình tự thủ tục, thẩm quyền và pháp luật, dẫn đến phát sinh tranh chấp của các bên liên quan đến văn bản công chứng. Do đó, theo quy định tại Điều 45 Luật công chứng thì khi có căn cứ cho rằng văn bản công chứng có vi phạm pháp luật thì người được đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng có vi phạm pháp luật thì người được đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là: Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. Đây là tranh chấp dân sự đơn thuần không phức tạp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện.

  • (k) Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Theo quy định của pháp luật về thi hành án thì kể từ thời điểm có hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Ví dụ: tranh chấp giữa vợ và chồng về tài sản chung bị cưỡng chế thi hành… Thực chất, đây là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, nhưng đặc thù bởi nó phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014 thì chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án. Đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

  • (l) Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi 2014 thì Người mua được tài sản bán đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản.

Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, tài sản kê biên sẽ được xử lý bằng một trong ba phương thức: giao tài sản kê biên cho người được thi hành án; bán đấu giá và bán không qua thủ tục đấu giá. Trong trường hợp tài sản kê biên được xử lý bằng phương thức bán đấu giá thì trước khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá. Người phải thi hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết (khoản 5 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự). Trong trường hợp không đồng ý với kết quả bán đấu giá, đương sự, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản (khoản 1 Điều 102 Luật Thi hành án dân sự).

2.1.1.2 Các tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện

  • (a)  Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng, hủy bỏ các trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của hôn nhân và các ràng buộc dân sự khác. Khi các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về quan hệ tình cảm, một bên yêu cầu ly hôn một bên xin đoàn tụ thì được coi là có tranh chấp về quan hệ tình cảm; các bên không thống nhất được với nhau về việc ai nuôi con, không thống nhất được mức cấp dưỡng, thời gian cấp dướng nuôi con là có tranh chấp về nuôi con; các bên không thỏa thuận được với nhau về phân chia tài sản và yêu cầu giải quyết trong vụ án ly hôn thì được coi là trường hợp tranh chấp chia tài sản khi ly hôn. Đây là các tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của toàn án cấp huyện. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Tuy nhiên, người chồng không có quyền khởi kiện yêu cầu xin ly hôn khi vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Luật chỉ quy định “vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”; do đó, khi người vợ hoặc người chồng khởi kiện xin ly hôn thì Tòa án vẫn áp dụng các quy định chung về ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung.

  • Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Theo Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung…”. Và điều 38 quy định: “Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật…”

Như vậy, các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi vợ chồng không thể thỏa thuận được với nhau và một trong hai người có đơn khởi kiện tài Tòa án thuộc thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án. Do bản chất của loại việc không phức tạp nên theo pháp luật hiện hành tranh chấp này thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện.

  • Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Đây là trường hợp khi vợ chồng ly hôn theo bản án cho ly hôn hoặc quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án đã giải quyết về quan hệ con cái như Tòa án giao con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình cho người vợ hoặc người chồng trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng. Tuy nhiên, sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con theo bản án, quyết định của Tòa án có quyền khởi kiện đến Tòa án cấp huyện để yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  • Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.

Theo quy định tại khoản 4 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chỉ những trường hợp có tranh chấp thì mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, trong trường hợp yêu cầu xác định cha, mẹ, con tự nguyện thỏa thuận không có tranh chấp thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà các đương sự có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giải quyết.

  • Tranh chấp về cấp dưỡng Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng. Tranh chấp về cấp dưỡng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện khi người được cấp dưỡng với người có nghĩa vụ cấp dưỡng không thỏa thuận được với nhau về mức cấp dưỡng hoặc phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; hoặc người có nghĩa vụ cấp dưỡng đã trốn tránh nghĩa vụ đó trong khi có khả năng cấp dưỡng; hoặc cần thay đổi mức cấp dưỡng.

  • Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

Theo quy định tại Điều 99, Luật Hôn nhân và gia đình 2014, thì Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về mang thai hộ, về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cụ thể Tòa án có thẩm quyền giải quyết ở đây sẽ là Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc Tòa án nhân dân cấp tỉnh nếu có yếu tố nước ngoài theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Tranh chấp về mang thai hộ, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được hiểu là những tranh chấp về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 97, 98 Luật hôn nhân và gia đình 2014, như bên nhờ mang thai hộ không thực hiện nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản,….

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 99 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì khi đứa trẻ được sinh ra và chưa được giao mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ. Trường hợp nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật này và Điều 60, 61, 63 Bộ luật dân sự 2015: khi đứa trẻ được sinh ra mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ. Trường hợp nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của đứa trẻ sẽ phải có trách nhiệm cử người giám hộ cho đứa bé. Người giám hộ có thể là anh, chị em; ông bà nội, ông bà ngoại hoặc bác, chú, cậu, cô, dì nếu có đủ điều kiện giám hộ theo quy định của pháp luật.

  • Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật.

Quan hệ tài sản đối với trường hợp chung sống như vợ chồng được quy định tại Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo nội dung điều luật, có thể thấy đối với quan hệ tài sản thì nhà làm luật ưu tiên giải giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn theo thỏa thuận giữa các bên là hợp lí. Tuy nhiên luật chỉ quy định về trường hợp các bên tự thỏa thuân, thế đối với trường hợp nếu các bên thoả thuận vô hiệu thì Tòa án giải quyết như thế nào? Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau thì đối chiếu với các quy định của Bộ luật dân sự tài sản của những người chung sống như vợ chồng trong thời gian chung sống cùng nhau không thuộc tài sản chung hợp nhất. Tài sản do người nào tạo ra sẽ thuộc quyền sở hữu riêng của người đó, tài sản được 2 người cùng tạo ra thuộc sở hữu chung theo phần giữa họ. Tòa án khi phân chia phải căn cứ vào đóng góp của mỗi bên, Để xác định tài sản có phải sở hữu chung theo phần hay không ta thường dựa trên mốc thời gian mà 2 bên tiến hành chung sống, nhưng việc xác định mốc thời gian này còn đang gặp nhiều điều khá khó khăn.

Đố i vớ i quan hệ giữa cha, mẹ và con, vấn đề này được quy định tại Điều 15 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Những người chung sống với nhau như vợ chồng nếu có con với nhau thì các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho cha, mẹ và con được áp dụng theo đúng luật hôn nhân và gia đình tại chương 5: quan hệ giữa cha, mẹ và con.

Việc nuôi con sẽ do 2 bên cùng thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho 1 bên trực tiếp nuôi căn cứ các quyền lợi về mọi mặt của con, con từ đủ 7 tuổi trở lên thì xét theo nguyện vọng của con, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện về việc chăm sóc, nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi và sống chung với con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khẳ năng lao động để tự nuôi sống bản thân. Mức cấp dưỡng do cha mẹ thỏa thuận, hoặc do cha mẹ với con cái thảo thuận với nhau khi con đã thành niên. Mức cấp dưỡng này căn cứ vào khả năng tài chính thực tế và nhu cầu thực tế của con để phục vụ cuộc sống. Cha mẹ là người có nghĩa vụ nuôi con có quyền yêu cầu người không nuôi con thực hiện các nghĩa vụ của họ và yêu cầu người không nuôi con cũng như gia đình họ tôn trọng quyết định nuôi con của mình.

2.1.1.3 Các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thầm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện

Tòa án chính là cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp, yêu cầu trong đó có tranh chấp kinh doanh, thương mại. Nhằm đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho họ có thể thực hiện được quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, việc quy định hợp lý về thẩm quyền dân sự của Tòa án nói chung và thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung làm rõ các tranh chấp về kinh doanh thương mại phù hợp với luật thương mại, luật doanh nghiệp…, phân biệt giữa tranh chấp thương mại với tranh chấp dân sự. Cụ thể tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 như sau: Các tranh chấp về kinh doanh thương mại là những tranh chấp: phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại do luật thương mại điều chỉnh (không liệt kê những tranh chấp cụ thể như Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung 2011); chủ thể là giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và các hoạt động đó các bên đều nhằm mục đích lợi nhận.

Nhìn chung, các quan hệ xã hội pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại rất đa dạng và phức tạp hơn so với lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động. Các tranh chấp được coi là tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại phải hội đủ ba điều kiện:

Thứ nhất, chủ thể trong quan hệ tranh chấp kinh doanh phải có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, trong đó các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh là cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau:

  • Các nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác (theo Nghị định và các văn bản quy phạm pháp luật khác của chính phủ về đăng ký kinh doanh);
  • Doanh nghiệp (theo Luật Doanh nghiệp quy định và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp)
  • Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
  • Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (theo Luật Hợp tác xã và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Hợp tác xã);

Cá nhân, tổ chức khác theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh. Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định hai dấu hiệu về chủ thể trong quan hệ kinh doanh, thương mại như các bên chủ thể phải là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và các bên đều nhằm mục đích lợi nhuận đã làm xuất hiện một số vướng mắc: Việc quy định chủ thể phải có đăng ký kinh doanh với nhau đã loại trừ đi các đơn vị hành chính sự nghiệp của nhà nước. Đồng thời việc quy định dấu hiệu chủ thể các bên đều là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh đều nhằm mục đích lợi nhuận đã mâu thuẫn với các quy định trong văn bản pháp luật được ban hành sau đó. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Thứ hai, các bên trong tranh chấp đều có mục đích lợi nhuận. Mục đích lợi nhuận của trong trường hợp này không phân biệt là hoạt động đó trên thực tế có thu được lợi nhuận hay không mà chỉ quan tâm tới ý chí, mong muốn của các bên khi thực hiện hoạt động.

Thứ ba, tranh chấp phải là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại. Còn hoạt động kinh doanh, thương mại là việc thực hiện một hoặc nhiều hành vi thương mại. Hoạt động kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt động trực tiếp theo giấy đăng ký kinh doanh mà còn bao gồm cả các hoạt động khác phục vụ, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, thương mại. Theo như Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi bổ sung 2011 các phát sinh trong hoạt động kinh doanh, bao gồm: mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; đầu tư tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; Bộ luật Tố tụng dân sự cũ sử dụng phương pháp liệt kê để xác định các hoạt động được coi là hoạt động kinh doanh, thương mại và đã không liệt kê hết các hoạt động kinh doanh trong thực tế. Như vậy, các tranh chấp phát sinh từ những lĩnh vực khác, ngoài 14 lĩnh vực được liệt kê tại khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự ( ví dụ, tranh chấp hợp đồng ủy thác, đấu thầu, giám định, đấu giá…) có được coi là tranh chấp kinh doanh, thương mại hay không? Khắc phục tình trạng thiếu sót gây khó khăn cho người làm luật nên Bộ luật Tố tụng dân sự mới không còn liệt kê các hoạt động phát sinh trong kinh doanh mà chỉ định nghĩa ngắn gọn tranh chấp kinh doanh thương mại. Việc xác định hoạt động đang tranh chấp có là hoạt động kinh doanh thương mại hay không là do Tòa án giải thích liệu hoạt động ấy có tính chất lợi nhuận hay không.

Có thể thấy, tranh chấp kinh doanh, thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các chủ thể kinh doanh với nhau hoặc với các bên liên quan khi họ tham gia các quan hệ kinh doanh, phát sinh do một hoặc cả hai bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ pháp lý của mình. Một cách ngắn gọn hơn, có thể định nghĩa tranh chấp kinh doanh, thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại.

2.1.1.4 Tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

  • Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động.

Các quan hệ pháp luật về lao động cũng khá đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên chỉ có năm nhóm quan hệ pháp luật lao động khi có tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. So với Bộ luật TTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 thì tăng thêm ba nhóm quan hệ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Có hai nhóm tranh chấp lao động cơ bản là:

  • Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động.
  • Tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động với cá thể của tranh chấp lao động phải là các bên quan hệ lao động.

Tùy theo nhóm tranh chấp lao động luật quy định cụ thể điều kiện để Tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp lao động, cụ thể là:

Đối với tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động thì Tòa án chỉ thụ lý nếu Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, hòa giải viên lao động như cơ quan quản lý Nhà nước về lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hòa giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hòa giải tại cơ sở:

  • Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp động lao động;
  • Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
  • Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;
  • Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập do người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Đối với tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động thì Tòa án chỉ thụ lý nếu đã được Hội đồng trọng tài lao động tỉnh, thành phố trực thuộc tương ứng giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động, bao gồm:

  • Về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác;
  • Về việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể;
  • Về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn.

Ngoài ra khi thụ lý, giải quyết các yêu cầu về bảo hiểm xã hội thì cần lưu ý:

Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết tranh chấp mà các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc quá thời hạn luật quy định mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp tập thể về quyền. Trường hợp này, Tòa án thụ lý giải quyết và xác định đây là vụ án lao động. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Truờng hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết tranh chấp mà các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện thì Toà án thụ lý giải quyết và xác định đây là vụ án hành chính.

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội giữa người lao động, người sử dụng lao động với cơ quan bảo hiểm xã hội.

2.1.1.5 Các yêu cầu thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện

Yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định mười loại yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, đây là những dạng yêu cầu xảy ra khá nhiều trên thực tế. Khác với tranh chấp về dân sự, các yêu cầu về dân sự thì không có mâu thuẫn về quyền, nghĩa vụ giữa các đương sự (tức không có tranh chấp), tuy nhiên phạm vi các yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án có phần hạn chế hơn so với các tranh chấp dân sự. Mười loại yêu cầu thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện: Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó; Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích; Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết; Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án; Yêu cầu công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 470 của Bộ luật này; Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật thi hành án dân sự; Các yêu cầu khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

  • Yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện.

Tương tự như lĩnh vực dân sự, lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng có các yếu tố về hôn nhân, gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Việc giải quyết các yêu cầu hôn nhân và gia đình chính là giải quyết các quyền và nghĩa vụ về hôn nhân và gia đình của đương sự nhưng không có tranh chấp như sau: Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật; Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình; Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn; Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi; Yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; Yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án; Yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

  • Yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện.

Các yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện là: Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

  • Yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền của Tóa án cấp huyện

Các yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện là yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.Quy định của pháp luật lao động về thoả ước lao động tập thể vô hiệu có hai loại: Thoả ước lao động tập thể vô hiệu từng phần và toàn bộ. Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu từng phần khi một hoặc một số nội dung trong thoả ước trái pháp luật. Còn thoả ước lao động tập thể vô hiệu toàn bộ khi có toàn bộ nội dung trái pháp luật; người ký kết không đúng thẩm quyền; việc ký kết không đúng quy trình thương lượng tập thể.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đối với những tranh chấp, yêu cầu trên mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.

2.1.1.6 Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp huyện

Để cụ thể hóa và phù hợp với quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 về chức năng, nhiệm vụ của các tòa chuyên trách. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã bổ sung thêm quy định về thẩm quyền của Tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện.

Việc quy định này nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc phân công giải quyết vụ việc dân sự cho từng đơn vị Tòa án, tránh sự chồng chéo và thiếu tính chuyên sâu.

Một trong những điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là bổ sung điều khoản về các tòa chuyên trách tại các Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh và tương đương và quy định tòa chuyên trách mới là tòa gia đình và người chưa thành niên. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Theo Điều 36 Bộ luật Tố tụng Dân sự, các loại tòa chuyên trách được thành lập tại Tòa án nhân dân cấp huyện như sau: Tòa dân sự, Tòa gia đình và người chưa thành niên. Việc thành lập tòa chuyên trách cần căn cứ vào yêu cầu thực tế xét xử ở mỗi Tòa án nhân dân cấp huyện và đối với Tòa án nhân dân cấp huyện chưa có Tòa chuyên trách thì Chánh án Tòa án có trách nhiệm tổ chức công tác xét xử và phân công Thẩm phán giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Theo Điều 2 Thông tư 01/2016/TT-CA quy định việc tổ chức các tòa chuyên trách tại Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, việc tổ chức các Tòa chuyên trách tại Tòa án nhân dân cấp huyện phải thỏa mãn các điều kiện sau:

Một là, số lượng vụ việc mà Tòa án thụ lý, giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa chuyên trách theo quy định tại Điều 3 Thông tư này phải từ 50 vụ/năm trở lên;

Hai là, có biên chế Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án đáp ứng được yêu cầu tổ chức Tòa chuyên trách.

Trong trường hợp không đáp ứng đủ điều kiện tổ chức Tòa chuyên trách nêu trên thì không tổ chức Tòa chuyên trách nhưng phải bố trí Thẩm phán chuyên trách để giải quyết.

  • Về thẩm quyền của các Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp huyện như sau:

Tòa dân sự Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2.1.2 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

2.1.2.1 Các tranh chấp sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Theo quy định tại Điều 37, 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động theo quy định tại điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này. Bộ luật Tố tụng dân sự không lấy tiêu chí phân định thẩm quyền của Tòa án cấp huyện và cấp tỉnh là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài hay có nhân tố nước ngoài, có yếu tố nước ngoài như các văn bản pháp luật tố tụng trước đây mà lấy tiêu chí “có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án nước ngoài” để phân định. Đồng thời kế thừa các văn bản pháp luật tố tụng trước đây, Bộ luật Tố tụng dân sự còn quy định cho Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền lấy các vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

  • Tranh chấp về dân sự:

Bộ luật Tố tụng dân sự quy định riêng cho Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm một số tranh chấp dân sự có tính phức tạp hoặc đòi hỏi kinh nghiệm chuyên môn cao của Thẩm phán do bản chất nội tại của loại việc. Đó là tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính.

  • Các tranh chấp về kinh doanh, thương mại

Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

Trong giai đoạn hiện nay, do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại đã làm xuất hiện những tài sản vô hình, có giá trị cao – một loại tài sản đặc biệt của con người đó là quyền sở hữu trí tuệ. Với giá trị vô cùng đặc biệt đó nên các chủ thể có thể vì những lý do nào đó đã thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và dẫn đến tranh chấp là điều khó có thể tránh khỏi. Trước yêu cầu hội nhập, việc mở rộng phạm vi tranh chấp của Tòa án trong Bộ luật Tố tụng dân sự về kinh doanh, thương mại sang cả các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức là cần thiết và nó đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Có thể nói, các quy định này là cơ sở pháp lý để Tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Theo quy định chỉ những tranh chấp về quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và chuyển giao công nghệ mà các bên tranh chấp đều có mục đích lợi nhuận thì đó mới là tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án. Quy định này giúp phân biệt với quy định tại khoản 4 điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự cũng là những tranh chấp vê quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ nhưng là tranh chấp dân sự (theo nghĩa hẹp) và thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện hoặc Tòa Dân sự thuộc Tòa án cấp tỉnh. Như chúng ta đã biết việc xác định mục đích lợi nhuận là việc rất khó khăn. Bởi trên thực tế không phải lúc nào cũng có sự phân định rạch ròi giữa mục đích lợi nhuận với mục đích sinh hoạt, mà đôi khi hai mục đích này đi kèm với nhau. Bộ luật Tố tụng dân sự chỉ quy định một cách chung chung rằng những tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Điều này rất khó để có thể phân định thẩm quyền với các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ thuộc thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết loại việc về tranh chấp kinh doanh, thương mại với các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ thuộc thẩm quyền tranh chấp dân sự.

Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.

Đây là loại tranh chấp mới được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự nhằm không bỏ xót các loại tranh chấp kinh doanh thương mại. Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa công ty và người không phải là thành viên công ty khi các tranh chấp này phát sinh liên quan đến giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.

Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

  • Thứ nhất, nhóm tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau

Tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau là các tranh chấp phát sinh giữa các thành viên của công ty về trị giá phần vốn góp vào công việc giữa các thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên của công ty hoặc về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty của thành viên công ty đó cho người khác không phải là thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng cổ phiếu không ghi tên và cổ phiếu có ghi tên; về mệnh giá cổ phiếu, số cổ phiếu phát hành và trái phiếu của công ty cổ phần hoặc về quyền sở hữu tài sản tương ứng với số cổ phiếu của thành viên công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ, thanh toán nợ của công ty; về việc thanh lý tài sản, phân chia nợ giữa các thành viên của công ty trong trường hợp công ty bị giải thể, về các vấn đề khác giữa các thành viên của công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

  • Thứ hai: nhóm tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty là sự mâu thuẫn, bất đồng về ý chí giữa thành viên công ty với công ty. Tuy nhiên, không phải tất cả các mâu thuẫn, bất đồng giữa thành viên công ty với công ty đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa công ty và thành viên công ty khi các tranh chấp này phát sinh liên quan đến các lĩnh vực quy định tại khoản 4 điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể là các tranh chấp này xuất phát từ tranh chấp: về phân vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty (thông thường phần vốn góp đó được tính bằng tiền, nhưng cũng có thể bằng hiện vật hoặc bằng giá trị quyền sở hữu công nghiệp); về mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành đối với mỗi công ty cổ phần; về quyền sở hữu một tài sản của công ty tương ứng với phần vốn góp vào công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty; về yêu cầu công ty đối với khoản nợ hoặc thanh toán các khoản nợ của công ty, thanh lý tài sản và thanh lý các hợp đồng mà công ty đã ký kết khi giải thể công ty; về các vấn đề khác liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty”.

Nếu giữa công ty với các thành viên của công ty hoặc giữa các thành viên của công ty có tranh chấp với nhau nhưng tranh chấp đó không liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty mà chỉ liên hệ đến các quan hệ khác như quan hệ lao động, về hợp đồng lao động, về hợp đồng vay, mượn tài sản…) thì tranh chấp đó không phải là tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khỏan 4 điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tùy từng trường hợp cụ thể để xác định đó là tranh chấp về dân sự hay tranh chấp về lao động.

Khoản 5 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết: “Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”. Đây là một quy định mở nhằm khắc phục hạn chế của phương pháp liệt kê. Tuy nhiên, lại không có quy định những tranh chấp chấp được dự liệu này, nếu xảy ra thì thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện hay cấp tỉnh. Đặc biệt với những quy định mở của điều luật đã tạo ra sự đan xen, chồng chéo giữa các quy định pháp luật. Và ngành Tòa án chưa kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành dẫn đến cách hiểu khác nhau về cùng một điều luật, gây khó khăn cho việc áp dụng tại các Tòa án nhân dân.

2.1.2.2 Các yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

  • Yêu cầu về dân sự:

Các yêu cầu dân sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh là yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.

  • Yêu cầu về hôn nhân và gia đình: Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Hầu hết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình đơn giản không quá phức tạp nên thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện. Tuy nhiên nếu yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân, gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài hoặc không công nhận bản án quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh.

  • Yêu cầu về kinh doanh, thương mại:.

So với các yêu cầu về dân sự (có mười nhóm) thì các yêu cầu về kinh doanh thương mại ít hơn chỉ có sáu nhóm yêu cầu, trong đó có năm nhóm là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. So với Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 thì tăng thêm một điều khoản mới đó là các yêu cầu về bắt giữ tàu bay, tàu biển theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam, về hàng hải Việt Nam, trừ trường hợp bắt giữ tàu bay, tàu biển để đảm bảo giải quyết vụ án.

Còn lại, các loại yêu cầu về kinh doanh thương mại chủ yếu là các quan hệ được Trọng tài Thương mại Việt Nam hoặc trọng tài nước ngoài giải quyết hoặc do Tòa án nước ngoài giải quyết mà có yêu cầu công nhận hoặc không công nhận và cho thi hành hoặc không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.

  • Yêu cầu về lao động:

Các yêu cầu lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh chủ yếu là các yêu cầu về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về lao động của Tòa án hay Trọng tài nước ngoài và yêu cầu không công nhận bản án, quyết định về lao động của Tòa án nước ngoài.

Các yêu cầu thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nhưng mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

2.1.2.3 Các tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện được cấp tỉnh lấy lên xét xử

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, trong trường hợp các tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nhưng mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì Tòa án cấp tỉnh có quyền xét xử sơ thẩm đối với những tranh chấp đó. Thứ nhất là Đương sự ở nước ngoài bao gồm:

  • Đương sự là người nước ngoài không định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
  • Đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài có mặt hoặc không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
  • Đương sự là người nước ngoài định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
  • Đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở Việt Nam nhưng không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự;
  • Cơ quan, tổ chức không phân biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoài hay cơ quan, tổ chức Việt Nam mà không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự.

Thứ hai là, Tài sản ở nước ngoài là tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 ở ngoài biên giới lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự.

2.1.2.4 Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tình

Việc tổ chức Tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh được quy định trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.

Tuy nhiên trước đây Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 chưa được quy định cụ thể thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự của Tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Để cụ thể hóa và để phù hợp với Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Bộ luật đã bổ sung quy định mới về thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh nhằm tạo ra cơ sở pháp lý cho việc phân công giải quyết vụ việc dân sự cho từng tòa chuyên trách. Trong đó có bốn loại tòa chuyên trách: Tòa dân sự, Tòa gia đình và người chưa thành niên, Tòa kinh tế, Tòa lao động. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Tòa dân sự Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền: Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền: Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tòa kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền: Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tòa lao động Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền: Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngoài ra đối với tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có số lượng các loại vụ, việc phải giải quyết trên 2.000 vụ, việc/năm trở lên, được tổ chức 4 tòa chuyên trách, gồm: Tòa hình sự, tòa dân sự, tòa gia đình và người chưa thành niên, tòa hành chính (giải quyết các vụ, việc về hành chính, kinh tế, lao động). Các tòa chuyên trách có chánh tòa và 1 phó chánh tòa. Đối với tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có số lượng các loại vụ, việc phải giải quyết trên 1.000 vụ, việc đến dưới 2.000 vụ, việc/năm, được tổ chức 3 tòa chuyên trách, gồm: Tòa hình sự, tòa dân sự, tòa gia đình và người chưa thành niên. Các tòa chuyên trách có chánh tòa.

Đối với tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có số lượng các loại vụ, việc phải giải quyết trên 700 vụ, việc đến dưới 1.000 vụ, việc/năm, được tổ chức 2 tòa chuyên trách, gồm: Tòa hình sự, tòa dân sự. Các tòa chuyên trách có chánh tòa. Đối với các tòa án có số lượng các loại vụ, việc phải giải quyết dưới 700 vụ, việc/năm thì không tổ chức tòa chuyên trách.

2.2 Các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án cùng cấp Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các cấp Tòa án là tiền đề để phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án cùng cấp (hay còn được gọi là thẩm quyền theo lãnh thổ). Đây là bước cuối cùng cần thực hiện để xác định rõ Tòa án cụ thể nào sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ việc, sau khi đã xác định được thẩm quyền theo loại việc và cấp Tòa án giải quyết.

Việc phân định thẩm quyền theo lãnh thổ dựa trên cơ sở xem xét mối liên hệ giữa vụ việc cần giải quyết và một khu vực lãnh thổ nơi có Tòa án. Cơ sở để xác định Tòa án tại khu vực lãnh thổ nào có thẩm quyền xét xử phải dựa trên mục đích ban đầu của việc quy định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ:

Thứ nhất, dựa trên nhu cầu cần xác định một Tòa án tại khu vực lãnh thổ nhất định có thẩm quyền xét xử nhằm tạo thuận lợi cho việc khởi kiện, yêu cầu của đương sự, cũng như việc thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án và quá trình thi hành án sau khi có kết quả xét xử. Vì vậy những khu vực là nơi cư trú, làm việc (nếu là cá nhân) hoặc có trụ sở (nếu là tổ chức) của nguyên đơn, hoặc bị đơn sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất định cho các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài ra, đối với những vụ án tranh chấp có đối tượng tranh chấp đặc thù là bất động sản, do bất động sản thường gắn liền với đất nên để thuận lợi cho quá trình xác minh, thu thập chứng cứ, xét xử và đặc biệt là thi hành án, việc xác định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ theo nơi có bất động sản bị tranh chấp sẽ phù hợp hơn trong trường hợp này.

Thứ hai, việc xác định cụ thể một Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ việc dân sự (sau khi xác định được loại việc và cấp Tòa án) sẽ giúp cho việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được nhanh chóng, kịp thời. Đồng thời, tránh sự đùn đẩy của các Tòa án, gây khó khăn cho người dân trong việc tìm kiếm một phương thức giải quyết tranh chấp.

Ở các quốc gia có truyền thống thông luật, có thể dễ dàng hiểu được tinh thần của nguyên tắc này thông qua việc tìm hiểu các học thuyết được áp dụng để giải thích cho phán quyết của Tòa án. Tại Hoa Kỳ, học thuyết forum non conveniens thể hiện rõ mục đích này. Theo đó, thông qua những án lệ để làm rõ học thuyết này, điển hình là án lệ Gulf Oil Corp. v. Gilbert 330 U.S 501 (1947) [20]. Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã giải thích rằng Tòa án sẽ từ chối giải quyết tranh chấp mà mình có thẩm quyền nếu như nó gây ra sự bất tiện hoặc khó khăn trong việc giải quyết, dựa trên việc phân tích hai yếu tố: lợi ích cá nhân và lợi ích công cộng. Trong đó lợi ích cá nhân bao gồm các yếu tố: sự dễ dàng cho đương sự (đặc biệt cho bị đơn) trong việc tiếp cận các chứng cứ, chi phí cho sự thu thập đó, thuận tiện cho việc yêu cầu các nhân chứng ra tòa, và những vấn đề khác nhằm hỗ trợ cho hoạt động xét xử được diễn ra một cách nhanh chóng, dễ dàng và ít tốn kém. Lợi ích công cộng tính toán đến khả năng phát sinh việc tồn đọng án, gánh nặng cho bồi thẩm đoàn – những người không có sự liên hệ chặt chẽ với vụ tranh chấp, lợi ích của địa phương đạt được từ phán quyết trong chức năng phòng ngừa, giáo dục. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Pháp luật của Anh cũng có những án lệ điểu chỉnh vấn đề trên. Mặc dù những án lệ này chỉ nhằm làm rõ những ngoại lệ của nguyên tắc áp dụng thẩm quyền dân sự theo lãnh thổ chung, và không phải những tình huống thường gặp, tuy nhiên nó thể hiện rõ ràng rằng, trong quá trình tố tụng, việc xác định nguyên tắc nào có thể áp dụng để tìm ra một Tòa án có thẩm quyền phải dựa trên cơ sở nhiều yếu tố, mà cốt lõi của nó không gì khác hơn là đảm bảo sự công bằng, khách quan của vụ kiện. Trong vụ kiện Pepin v Taylor [2002] EWCA Civ 1522, Toà án cấp phúc thẩm cho biết lý do quan trọng để xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết là nơi cư trú của bị đơn vì bị đơn được cho là ‘không chọn bị kiện’. Thực tế là bị đơn có thể có yêu cầu phản tố, nhưng đây vẫn là cơ sở chính để xem xét. Tuy nhiên, trong vụ kiện mà bằng chứng chỉ được đưa ra bởi nguyên đơn, ví dụ như trong trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự do gây thương tích cá nhân, có thể có một lập luận rằng Tòa án của người yêu cầu bồi thường là nơi “thuận tiện” nhất thể xem xét vụ án. Trong vụ kiện Fradkina v Network Housing Association [2002] EWCA Civ 1715, Toà án cấp phúc thẩm đã yêu cầu chuyển giao các thủ tục tố tụng xa khỏi một Tòa án quận, nơi người yêu cầu đã được ‘phục vụ kém bởi Tòa án’ và nơi ‘Tòa án đã không xử lý đầy đủ các trường hợp hợp nhất trong quá khứ [50, tr.18].

Tuy nhiên, pháp luật của nước Ý lại không chấp nhận học thuyết forum non conveniens này. Theo quy định của pháp luật nước này, một Tòa án phải xem xét bất cứ vụ việc nào được đưa đến, trước khi nó phù hợp với các nguyên tắc có thể áp dụng được về thẩm quyền [51, tr.107].

Trên cơ sở những mục đích trên, việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đối với vụ án và việc dân sự có những đặc thù nhất định. Các quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam được phân tích dưới đây:

2.2.1 Phân định thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ

2.2.1.1. Thẩm quyền của Tòa án nơi cư trú, nơi làm việc, nơi có trụ sở của bị đơn

Xác định thẩm quyền của Tòa án theo nơi cư trú, nơi làm việc (đối với cá nhân) và nơi có trụ sở (đối với tổ chức) của bị đơn là nguyên tắc xác định thẩm quyền dân sự cơ bản, phổ biến trong pháp luật tố tụng của các quốc gia trên thế giới và trong tư pháp quốc tế. Ví dụ như Điều 42 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 1976 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) của Pháp: “Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi bị đơn sinh sống, trừ trường hợp có quy định khác [53]. Điều 22 Luật Tố tụng Dân sự 2012 của Trung Quốc cũng quy định: Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Một vụ kiện dân sự đối với một công dân sẽ thuộc thẩm quyền của Toà án nơi bị đơn cư trú; nếu nơi cư trú của bị đơn khác với nơi thường trú, vụ kiện sẽ nằm dưới thẩm quyền của Toà án nơi thường trú của người đó.

Một vụ kiện dân sự đối với một pháp nhân hoặc một tổ chức sẽ thuộc thẩm quyền của Toà án bị đơn có nơi đặt trụ sở của pháp nhân, tổ chức đó.[ 54] Quy định này nhằm đảm bảo thực thi nguyên tắc công bằng trong xét xử.

Cụ thể là, bị đơn thường được cho là người chịu những bất lợi nhất định khi tiến hành một vụ kiện, trong trạng thái bị động buộc phải tham gia quá trình tố tụng mặc dù chưa xác định được yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở hay không. Mặt khác, xét về góc độ tâm lý, bị đơn được cho là bên không muốn tiến hành một vụ kiện nên thái độ tham gia tố tụng thường không tích cực, thiếu sự hợp tác trong việc giải quyết vụ án. Vì vậy, việc xác định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ dựa trên các mối liên hệ gần gũi với bị đơn (mà không phải nguyên đơn) cho phép bị đơn thuận tiện hơn trong quá trình tố tụng, đồng thời để nguyên đơn cân nhắc kỹ lưỡng trước khi khởi xướng một vụ kiện.

Các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự theo lãnh thổ luôn nhất quán việc xác định theo nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của bị đơn (Khoản 1 Điều 13 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án dân sự 1989.). Theo quy định của pháp luật hiện hành thì: “Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” (Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.)

Theo đó, “nơi cư trú” của bị đơn là cá nhân được xác định theo Điều 12 Luật Cư trú năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2013 là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống. Như vậy, theo quy định này thì tùy thuộc vào bị đơn là cơ quan, tổ chức hay bị đơn là cá nhân mà thẩm quyền của Tòa án được xác định khác nhau. Trong trường hợp nếu bị đơn cứ trú một nơi, làm việc một nơi thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi bị đơn cư trú. Trường hợp không thể xác định được nơi bị đơn cư trú thì Tòa án nơi bị đơn làm việc có thẩm quyền giải quyết.

“Trụ sở” của bị đơn theo quy định tại Điều 43 Luật Doanh nghiệp năm 2014 được xác định là trụ sở chính của doanh nghiệp theo pháp luật về doanh nghiệp, là địa điểm liên lạc của doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam (được ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp), có địa chỉ được xác định gồm số nhà, ngách, hẻm, ngõ phố, phố, đường hoặc thôn, xóm, ấp, xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có). Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Pháp luật Việt Nam chủ yếu dựa trên cơ sở hai căn cứ về nơi cư trú và/hoặc nơi làm việc của bị đơn. Trong trường hợp nếu không xác định được nơi cư trú và nơi làm việc của bị đơn, Tòa án sẽ trao quyền cho nguyên đơn được yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cứ trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết (Điểm a, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.). Như vậy, trong trường hợp này mặc dù Tòa án trao quyền cho nguyên đơn lựa chọn nhưng phạm vi của sự lựa chọn là tìm đến Tòa án có mối liên hệ mật thiết nhất với bị đơn. Trong thực tiễn xét xử của Hoa Kỳ, việc phân định thẩm quyền giữa Tòa án các bang, án lệ đưa ra nguyên tắc xác định thẩm quyền của Tòa án dựa trên cơ sở áp dụng học thuyết “thẩm quyền trị ngoại” (long-arm statute). Theo học thuyết này, Tòa án của bang có mối liên hệ tối thiểu (minimum contacts) với bị đơn có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dù bị đơn không cư trú ở bang này. Trong vụ George S. May International Co. v. Xcentric Ventures, LLC, 409 F.Supp.2d 1052 (N.D.III. 2006), Tòa án nhận định:

Như Tòa án đã chỉ ra, các bị đơn trong vụ này bán sách ở bang Illinois, nhận hỗ trợ từ những người cư trú của bang Illinois, và tích cực nỗ lực phát triển các mối quan hệ kinh doanh với các công ty luật của bang Illinois. Tòa án nhận định rằng các hoạt động này thể hiện mối liên hệ “liên tục và có hệ thống” với bang Illinois… Vì lẽ đó, Tòa án kết luận rằng Tòa án có thẩm quyền chung đối với các bị đơn trong vụ việc này là phù hợp [7].

2.2.1.2 Thẩm quyền của Tòa án nơi cư trú, nơi làm việc, nơi có trụ sở của nguyên đơn

Theo điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, pháp luật cho phép các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc, nơi có trụ sở của nguyên đơn giải quyết vụ án. Đây là một xu hướng đang được áp dụng rộng rãi trong việc giải quyết các tranh chấp về dân sự, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh thương mại trong pháp luật quốc tế. Quy định này đã thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo của pháp luật trong việc đương sự có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự, không gò bó ở những quy định cứng nhắc, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các đương sự khi tham gia tố tụng.

Tuy nhiên, trong trường hợp việc thỏa thuận của các đương sự trái với các quy định về thẩm quyền của Tòa án khác, việc xác định thứ tự áp dụng nguyên tắc này là điều cần phải được nghiên cứu và làm rõ. Nội dung này được hướng dẫn tại Sổ tay thẩm phán như sau:

“Sự thỏa thuận chọn Toà án của đương sự phải bằng văn bản và phải phù hợp với quy định của pháp luật về thẩm quyền của Toà án các cấp như sau: Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

  • Loại việc thuộc thẩm quyền Toà án cấp huyện thì không thể thỏa thuận chọn Toà án cấp tỉnh giải quyết.
  • Không được chọn Toà án không có liên quan gì về đương sự cũng như tài sản.
  • Khi đương sự chỉ có những thoả thuận chung, không nêu rõ Toà án nào, thì người khởi kiện có quyền chọn Toà án nơi mình cư trú, làm việc, để giải quyết.
  • Đối với các tranh chấp về bất động sản, các bên đương sự không có quyền thỏa thuận chọn Toà án nơi không có bất động sản giải quyết.”

Ví dụ: Trong vụ án, nguyên đơn A cư trú tại huyện M của tỉnh N và bị đơn B cư trú tại huyện X của tỉnh Y. Theo nguyên tắc Tòa án huyện X tỉnh Y nơi bị đơn B cư trú có thẩm quyền. Nếu các bên thỏa thuận Tòa án nơi nguyên đơn A cư trú thì phải bảo đảm thẩm quyền của cấp Tòa án. Nếu vụ án thuộc thẩm quyền Tòa án cấp huyện thì thỏa thuận chỉ được chấp nhận khi các đương sự thỏa thuận Tòa án huyện M của tỉnh N giải quyết. Nếu các đương sự thỏa thuận Tòa án tỉnh N giải quyết thì thỏa thuận đó không được chấp nhận. (Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012.)

2.2.1.3 Thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản

Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết (điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Đây là một trong những nội dung sửa đổi của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 so với Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011. Việc sửa đổi này nhằm khắc phục hạn chế do Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 quy định không rõ nên hiểu khác nhau về thẩm quyền Tòa án khi bị đơn ở “nơi này” bất động sản tranh chấp thì ở “nơi kia” thì thuộc về thẩm quyền của Tòa án nơi bị đơn cư trú hay Tòa án nơi có bất động sản là đối tượng tranh chấp.

Quy định này thể hiện sự linh hoạt và hợp lý trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ do sự đặc biệt trong bản chất của đối tượng đặc thù này (bất động sản). Thứ nhất, do bất động sản thường gắn liền với đất nên Tòa án nơi có bất động sản sẽ dễ dàng hơn trong việc điều tra, thu thập và đánh giá chứng cứ, và đương sự thuận lợi hơn trong quá trình chứng minh. Cụ thể hơn, quá trình phát triển của bất động sản thường là lâu dài và các vấn đề pháp lý xung quanh nó phức tạp với các loại tài liệu, chứng thư. Để xác định được tính hợp pháp của loại tài sản này và các chứng cứ của vụ án, Tòa án nơi có bất động sản sẽ có điều kiện thuận lợi nhất để thu thập đầy đủ các thông tin chính xác. Ngoài ra, thẩm quyền xét xử của Tòa án cũng có mối liên hệ chặt chẽ với quá trình thi hành án. Trong trường hợp đối tượng của tranh chấp là bất động sản, sau khi giải quyết vụ án, việc thi hành án cũng sẽ thực hiện trên bất động sản đó. Vì vậy việc quy định chỉ Tòa án nơi có bất động sản là đối tượng của tranh chấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc giải quyết và thi hành án. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Tuy nhiên, để xác định được như thế nào là đối tượng của tranh chấp về bất động sản. Thực tiễn cho thấy các đương sự, thậm chí là các tòa án địa phương vẫn còn nhiều lúng túng trong việc xác định những trường hợp áp dụng theo quy định này, đặc biệt là đối với các tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán nhà ở. Điều này dẫn tới tình trạng các tòa án “đẩy qua đẩy lại” vì cho rằng không thuộc thẩm quyền của Tòa mình. Ví dụ như một tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán căn hộ chung cư theo công văn số 45/2019/CV-TA của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xin ý kiến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Theo đó, Tòa án gặp phải một vướng mắc liên quan đến giải quyết việc phân định thẩm quyền giải quyết vụ án có liên quan đến bất động sản. Nguyên đơn là chủ căn hộ khởi kiện chủ đầu tư liên quan đến “vi phạm về kích thước hành lang thực tế sai so với hợp đồng, các dịch vụ tiện ích không đúng như trong hợp đồng, không có hạng mục nước sạch sinh hoạt, không làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho chủ căn hộ…”. Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội đã xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về hợp đồng mua bán theo quy định tại khoản 3, Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đối tượng tranh chấp là quyền, nghĩa vụ các bên khi thực hiện hợp đồng đã ký chứ không phải căn hộ, do đó chuyển về Tòa án nhân dân quận Ba Đình, TP Hà Nội. Tuy nhiên, sau đó, Tòa án nhân dân quận Ba Đình lại chuyển vụ án về Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng vì cho rằng đối tượng của tranh chấp là căn nhà – một bất động sản, nên phải áp dụng quy định về thẩm quyền theo điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Những trường hợp tương tự như vậy không hề hiếm, và điều này gây ra nhiều khó khăn và phiền hà cho các đương sự cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, cần có văn bản hướng dẫn thống nhất vấn đề này để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

Theo quan điểm của tác giả, đối tượng tranh chấp là bất động sản cần phải hiểu thống nhất là những tranh chấp nhằm việc xác định ai là người có quyền đối với bất động sản đó (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt). Đối với những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của một trong các bên như ví dụ trên là trường hợp tranh chấp “có liên quan đến bất động sản” và cần áp dụng theo nguyên tắc chung về phân định thẩm quyền, tức Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở chính.

Như vậy, đối với các tranh chấp có đối tượng là bất động sản thì khi thụ lý đơn khởi kiện, Tòa án cần xác định đúng địa điểm của bất động sản mà các đương sự đang tranh chấp có nằm trên địa giới hành chính của Tòa án mình hay không nếu không thuộc địa giới hành chính của Tòa án mình thì phải chuyển đơn khởi kiện và hướng dẫn cho đương sự. Mặt khác đối với vụ án có tài sản là bất động sản nhưng không có tranh chấp hoặc có tranh chấp nhưng không phải là quan hệ pháp luật chính cần giải quyết thì không áp dụng quy định là Toà án nơi có bất động sản giải quyết.

2.2.2 Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Song song với việc quy định thẩm quyền giải quyết vụ việc của Tòa án theo lãnh thổ, luật còn quy định cho nguyên đơn, người yêu cầu được quyền lựa chọn Tòa án giải quyết vụ việc dân sự. Việc quy định thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu là nhằm:

  • Bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tự định đoạt những vấn đề theo cách họ cho rằng có lợi nhất.
  • Tạo mọi thuận lợi cho đương sự trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ngay từ khi nộp đơn khởi kiện, yêu cầu.
  • Quyền lựa chọn Tòa án của nguyên đơn

Theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong một số trường hợp cụ thể.

Quyền lựa chọn này được phát sinh thông thường do việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 gặp khó khăn ví dụ như: không biết nơi cư trú, làm việc, nơi có trụ sở của bị đơn; bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau; bất động sản có tranh chấp ở nhiều nơi. Hoặc trong một số loại tranh chấp, nguyên đơn thường ở vị thế yếu hơn so với bị đơn như tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động; hoặc nguyên đơn được cho là là nạn nhân chịu thiệt thòi, tổn thất do hành vi của bị đơn gây ra như tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

  • Quyền lựa chọn Tòa án của người yêu cầu Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc hoặc có trụ sở  hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết đối với các yêu cầu về dân sự quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Ngoài ra, đối với yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết. Đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi người con cư trú giải quyết (điểm b, c khoản 2 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

Nhằm cụ thể hóa những quy định của Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 cũng có những quy định chi tiết về các trường hợp cần lưu ý về quyền lựa chọn Tòa án của nguyên đơn, người yêu cầu. Theo đó, có hai nhóm quyền lựa chọn là: lựa chọn có điều kiện và lựa chọn không có điều kiện ràng buộc.

Đối với trường hợp mà pháp luật tố tụng dân sự quy định yêu cầu lựa chọn Tòa án giải quyết vụ việc dân sự phải có điều kiện, thì Tòa án chỉ chấp nhận yêu cầu khi điều kiện đó xảy ra. Ví dụ: Điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: “Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”. Như vậy, chỉ trong trường hợp không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn, thì nguyên đơn mới có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết.

Đối với trường hợp mà pháp luật tố tụng dân sự quy định yêu cầu lựa chọn Tòa án giải quyết vụ việc dân sự không cần bất cứ điều kiện nào, thì Tòa án chấp nhận yêu cầu đó. Ví dụ: Điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết”. Như vậy, trong trường hợp này việc yêu cầu lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự không đòi hỏi phải có bất kỳ điều kiện nào, nên nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết và Tòa án chấp nhận yêu cầu đó. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Trong trường hợp nguyên đơn, người yêu cầu được quyền lựa chọn nhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự (ví dụ: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài), thì khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, Tòa án phải giải thích cho họ biết là chỉ có một Tòa án trong các Tòa án được Điều luật quy định mới có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự để họ lựa chọn. Cho nên người khởi kiện, người yêu cầu phải cam kết trong đơn khởi kiện hoặc trong đơn yêu cầu là không khởi kiện hoặc không yêu cầu tại các Tòa án khác.

Trong trường hợp người khởi kiện, người yêu cầu nộp đơn khởi kiện, nộp đơn yêu cầu tại nhiều Tòa án khác nhau được pháp luật quy định, thì Tòa án đã thụ lý đầu tiên theo thời gian có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Các Tòa án khác, nếu chưa thụ lý thì phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; nếu đã thụ lý thì ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự, xoá tên vụ việc dân sự đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự.

Tóm lại, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được ban hành đã có những quy định khá toàn diện và cụ thể về vấn đề phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án hiện nay, đặc biệt là các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ. Tất cả những quy định này của pháp luật được xây dựng nhằm mục đích giúp các Tòa án xác định đúng phạm vi thẩm quyền trong giải quyết các vụ việc dân sự của mình, tạo điều kiện tốt nhất cho các đương sự có thể bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình khi tham gia tố tụng.

2.2.3 Chuyển vụ việc dân sự cho Tòa án khác, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền

Trong thực tiễn nhiều trường hợp sau khi đã thụ lý vụ việc dân sự thì Tòa án mới phát hiện là vụ việc đã thụ lý không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, vì vậy Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng có những quy định cụ thể để xử lý vụ việc sai thẩm quyền, cụ thể là:

Vụ việc dân sự đã được thụ lý mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Tòa án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.

Đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án đã ra quyết định chuyển vụ việc dân sự phải giải quyết khiếu nại. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Khi xét thấy vụ việc dân sự đã được thụ lý không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân địa phương khác cùng cấp hoặc khác cấp, thì Tòa án đã thụ lý vụ việc dân sự ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý. Trong trường hợp đương sự đã nộp tạm ứng án phí, thì Tòa án chuyển hồ sơ vụ việc dân sự không phải trả lại tiền tạm ứng án phí cho đương sự mà tiền tạm ứng án phí đã nộp được xử lý khi Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đó. Tuy nhiên khoản 3 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng bổ sung một quy định mới nhằm hạn chế việc xáo trộn trong tố tụng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khi cho phép không thay đổi thẩm quyền của Tòa án nếu ban đầu Tòa án thụ lý và đang giải quyết theo đúng quy định về thẩm quyền, sau đó có sự thay đổi nơi cư trú, trụ sở hoặc địa chỉ giao dịch của đương sự.

So sánh quy định liên quan, Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (Điều 37) chỉ quy định chung về việc chuyển vụ án và giải quyết tranh chấp về thẩm quyền, đồng thời giao cho Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết để hướng dẫn thi hành. Điều này dẫn đến bất cập là dù có quy định của luật nhưng không thể thi hành được mà phải chờ hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã có quy định cụ thể:

Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ của các Tòa án nhân dân cấp cao khác nhau do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Như vậy, trên cơ sở việc phân loại các vụ việc trong các lĩnh vực dân sự cơ bản, thẩm quyền xét xử dân sự sơ thẩm tại Việt Nam chủ yếu được phân định theo các cấp Tòa án và theo lãnh thổ. Có thể thấy rằng, so với các Bộ luật Tố tụng dân sự của Việt Nam trước đó, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã có những quy định toàn diện và cụ thể hơn về việc phân định thẩm quyền xét xử, nhằm đảm bảo tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khi tham gia tố tụng, phù hợp với định hướng cải cách hệ thống tư pháp của nhà nước Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay.

Tuy vậy, pháp luật hiện hành vẫn thể hiện những bất cập trong việc quy định về việc phân định thẩm quyền, gây khó khăn cho các đương sự và các cơ quan liên quan trong việc xác định đâu là Tòa án phù hợp nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tốt nhất. Biểu hiện, hệ quả và đề xuất cho những bất cập này sẽ được trình bày cụ thể hơn tại Chương 3 của đề tài này. Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án

One thought on “Luận văn: Pháp luật về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án

  1. Pingback: Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464