Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn thực hiện pháp luật về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án và kiến nghị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án

3.1.1 Thực tiễn thực hiện các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa Tòa án các cấp

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 trên tinh thần kế thừa các quy định chính còn có một số thay đổi cơ bản so với các văn bản pháp luật trước đây. Trong những năm qua, việc áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự và thủ tục tố tụng dân sự dân chủ, công khai đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Bên cạnh đó việc áp dụng những điểm tiến bộ của hệ thống các quy định về thẩm quyền sơ thẩm của tòa dân sự cũng góp phần bảo đảm thuận lợi, tối giản cho người tham gia tố tụng, đề cao vai trò và trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động tố tụng dân sự.

Qua quá trình nghiên cứu và đi sâu vào phân tích các quy định về phân định thẩm quyền dân sự sơ thẩm giữa các Tòa án ở Việt Nam, thực tiễn việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án đã bộc lộ những bất cập nhất định trong hệ thống pháp luật và thực tiễn thi hành; một số quy định chưa đáp ứng được các yêu cầu cam kết quốc tế đa phương và song phương; một số quy định thậm chí mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác, chồng chéo; các quy định không tường mình và trong sáng dẫn tới các cách hiểu khác nhau:

  • Thứ nhất: Việc phân định thẩm quyền giải quyết theo vụ việc giữa tòa cấp tỉnh và huyện còn chưa phù hợp.

Quy định về một số những yêu cầu về kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền của Tòa cấp tỉnh là chưa thực sự phù hợp với thực tế. Theo quy định của pháp luật thì việc xác định thẩm quyền giữa Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện thường căn cứ vào tính chất của vụ việc và năng lực giải quyết tranh chấp giữa của các cấp Tòa án. Tuy nhiên Bộ luật Tố tụng dân sự lại không có những quy định, hướng dẫn cụ thể chi tiết về việc phân định thẩm quyền này nên dẫn tới những khó khăn nhất định trong thực tiễn áp dụng thi hành trong ngành Tòa án.

Có những tranh chấp về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động… là những vụ án có nhiều khó khăn, phức tạp lại thuộc thẩm quyền của Tòa cấp huyện. Đơn cử như một số tranh chấp về nhà ở, các tranh chấp về quyền sử dụng đất, những vụ án có giá ngạch lớn đòi hỏi quá trình tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ rất khó khăn về việc xác minh quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với nhà ở và đất đai. Ngược lại, một số những yêu cầu về kinh doanh, thương mại, lao động có nội dung đơn giản hơn lại thuộc thẩm quyền của Tòa cấp tỉnh. Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Sự nhanh chóng và hiệu quả trong giải quyết các tranh chấp dân sự phụ thuộc rất lớn vào trình độ và kĩ năng nghiệp vụ của cán bộ Tòa án nơi trực tiếp thụ lý và giải quyết vụ việc. Tuy nhiên tính chất phức tạp của vụ việc sẽ quyết định tới vấn đề thu thập chứng cứ. Do đó nếu việc phân định thẩm quyền giữa Tòa án cấp Huyện và cấp Tỉnh không hợp lý sẽ dẫn tới những khó khăn cho Tòa án cấp Huyện trong việc đảm đương xử lý những vụ án có tính chất phức tạp; đồng thời kéo theo thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài, hiệu quả của hoạt động tố tụng giảm sút, ảnh hưởng tới quyền lợi của các đương sự và các bên liên quan.

  • Thứ hai: Quy định về không thay đổi thẩm quyền của Tòa án chưa thực sự hợp lý.

Hiện nay có nhiều trường hợp sau khi thụ lý Tòa án mới xác định được vụ án cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự hoặc cho Tòa án nước ngoài thì theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý tiếp tục giải quyết vụ việc dân sự đó. Quy định trên dẫn tới bất hợp lý là trên thực tế những vụ việc có cùng bản chất là cần phải ủy thác cho cơ quan Lãnh sự, cho Tòa án nước ngoài nhưng thời điểm phát hiện ra sự việc cần phải ủy thác tư pháp lại có ý nghĩa quyết định vụ việc sẽ thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh hay cấp huyện. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2005 NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về không thay đổi thẩm quyền giải quyết của Toà án :”Đối với vụ việc dân sự không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự và được hướng dẫn tại các tiểu mục 4.1, 4.2 và 4.3 mục 4 này và được Toà án nhân dân cấp huyện thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, nếu trong quá trình giải quyết mới có sự thay đổi, như có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài thì theo quy định tại Điều 412 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân cấp huyện đã thụ lý tiếp tục giải quyết vụ việc dân sự đó”.

Bên cạnh đó đối với những vụ việc có tài sản hoặc có đương sự ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài mà Tòa án cấp tỉnh đã thụ lý đúng thẩm quyền nếu trong quá trình giải quyết mới có sự thay đổi, như về quốc tịch, nơi cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có tình tiết mới làm cho vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài thì Tòa án đó vẫn tiếp tục phải giải quyết (Điều 471, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Trong điều kiện thực tiễn thực hiện pháp luật ở Việt Nam cho thấy việc hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán theo hướng Tòa án cấp tỉnh vẫn tiếp tục giải quyết các vụ việc có sự thay đổi dẫn tới không còn đương sự, tài sản ở nước ngoài hoặc không cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự ở Việt Nam ở nước ngoài là hợp lý và linh hoạt. Tuy nhiên đối với trường hợp áp dụng theo hướng Tòa án nhân dân cấp Huyện đã thụ lí vụ án mà có sự thay đổi theo hướng vụ việc có tài sản hoặc có đương sự ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài lại không thực sự phù hợp do cơ sở vật chất, điều kiện và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ không đủ để đáp ứng.

  • Thứ ba: Các quy định về thẩm quyền của Tòa án cấp Tỉnh trong trường hợp lấy vụ việc từ Tòa án cấp Huyện lên để giải quyết còn chưa cụ thể.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án cấp tỉnh có quyền lấy những vụ việc thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án cấp huyện lên để giải quyết: “Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật này mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện.” Như vậy, toàn bộ các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện có thể được Tòa án nhân dân tỉnh lấy lên để giải quyết khi thấy cần thiết.

Tuy nhiên, tại các văn bản hướng dẫn áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự không có hướng dẫn là những trường hợp nào Tòa án cấp tỉnh được quyền lấy vụ việc của Tòa án cấp huyện lên để giải quyết. Thuật ngữ “xét thấy cần thiết” cũng mang tính chung chung, thể hiện sự chủ quan, tùy ý. Đánh giá tính cần thiết phải lấy vụ việc từ cấp Huyện lên để giải quyết lúc này phụ thuộc chủ quan vào tư duy của các cán bộ Tòa án cấp tỉnh. Điều này không tạo ra tính mạch lạc dẫn tới tình trạng lúng túng khi áp dụng luật, đồng thời cũng tạo ra sự tùy tiện theo thẩm quyền của Tòa cấp tỉnh.

3.1.2 Thực tiễn thực hiện các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án cùng cấp Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

  • Thứ nhất: Sự thiếu rõ ràng trong quy định về thẩm quyền của Tòa án theo nơi bị đơn cư trú, làm việc.

Bộ luật Tố tụng dân sự quy định nếu bị đơn là cá nhân thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc. Có trường hợp nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi làm việc của bị đơn chứ không khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú và bị đơn không đồng ý theo kiện tại Tòa án này. Quy định trên cần được giải thích theo hướng nếu bị đơn cư trú một nơi nhưng làm việc một nơi thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi bị đơn cư trú. Trong trường hợp không thể xác định được nơi cư trú của bị đơn thì Tòa án nơi bị đơn làm việc có thẩm quyền giải quyết.

Việc quy định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ dựa vào nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của bị đơn còn gặp nhiều vướng mắc, khó khăn khi nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở, chi nhánh cơ quan tổ chức của người bị kiện, bị đơn thay đổi thường xuyên, đặc biệt là các doanh nghiệp. Quyền tự do lựa chọn nơi cư trú, nơi hoạt động kinh doanh của các cá nhân, tổ chức dẫn tới việc khó khăn cho người khởi kiện yêu cầu các cơ quan chức năng xác minh địa chỉ hiện tại của cá nhân, doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp, tại thời điểm trước khi thụ lí vụ án của tòa, một bên đương sự chuyển hộ khẩu, nơi làm việc, chuyển nơi hoạt động kinh doanh và người khởi kiện không thể biết được điều này. Cho tới khi tòa thụ lí vụ án mới phát hiện được việc không đồng nhất do bị đơn đã chuyển đi nơi khác, lúc này Tòa án đã thụ lí phải chuyển vụ án cho tòa có thẩm quyền do vào thời điểm thụ lí không thuộc thẩm quyền của mình. Hoặc hay có nhiều trường hợp bị đơn đã trốn tránh nghĩa vụ và đi ở nơi khác không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền hoặc người khởi kiện biết địa chỉ mới. Do vậy nên chăng cần quy định theo hướng ưu tiên trao thẩm quyền giải quyết vụ án cho Tòa án nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú gốc trong trường hợp bị đơn có nơi thường trú nhưng lại không sinh sống tại nơi đó mà thường xuyên di chuyển và không có nơi đăng ký tạm trú.

Nội dung này hoàn toàn trái ngược với tinh thần của Điều 471 Bộ luật Tố tụng dân sự về không thay đổi thẩm quyền: “Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã được một Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết theo quy định về thẩm quyền của Bộ luật này thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết có sự thay đổi quốc tịch, nơi cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có tình tiết mới làm cho vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài.” cho rằng không được thay đổi thẩm quyền vì phải thuộc thẩm quyền thì Tòa án mới thụ lí và tiếp tục giải quyết cho dù sau đó có phát sinh, thay đổi địa chỉ, đương sự làm thay đổi thẩm quyền.

Bên cạnh đó, đã có rất nhiều những nhầm lẫn trong việc xác định thẩm quyền theo nơi cư trú, làm việc của người đại diện theo pháp luật, đại diện theo ủy quyền chứ không phải theo nơi cư trú, làm việc của bị đơn. Vấn đề này cần được làm rõ theo hướng phân định thẩm quyền dựa trên nơi cư trú, làm việc của cá nhân, cơ quan, tổ chức là bị đơn trong vụ tranh chấp chứ không phải dựa trên nơi cư trú, làm việc của người đại diện theo pháp luật, đại diện theo ủy quyền của bị đơn.

Thực tiễn xác minh địa chỉ của người bị kiện theo yêu cầu của Tòa án hiện nay không thống nhất giữa các Tòa án cấp quận, huyện. Khi tiến hành nhận hồ sơ, thụ lí vụ án Tòa án đã từ chối thụ lí do người khởi kiện không cung cấp được giấy xác nhận cư trú của bị đơn; hoặc trường hợp người khởi kiện yêu cầu công an xã, phường cung cấp giấy xác nhận cư trú nhưng bị từ chối do không có văn bản yêu cầu xác minh của Tòa án… Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Trường hợp đương sự cung cấp địa chỉ ở nước ngoài thì Tòa án phải tiến hành ủy thác tư pháp mới có thể xác định được địa chỉ đúng của đương sự. Tuy vậy đối với một số quốc gia mà Việt Nam chưa kí kết điều ước quốc tế hoặc không thể áp dụng nguyên tắc có đi có lại, trong khi chưa có quy định cụ thể về việc đương sự phải cung cấp văn bản xác định địa chỉ đúng của người bị kiện trong giai đoạn thụ lí vụ án. Một số bất cập cho thấy hiện nay có rất nhiều tình trạng đương sự cung cấp địa chỉ một cách tùy tiện, thiếu căn cứ pháp lý; số vụ việc mà Tòa án phải ủy thác tư pháp là rất nhiều và hầu như không có kết quả.

Thứ hai: Việc xác định thẩm quyền của Tòa án trong trường hợp tranh chấp về tài sản là bất động sản vẫn còn chưa chặt chẽ. Theo điểm c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản. Tuy nhiên quy định làm rõ như thế nào là tranh chấp về bất động sản lại chưa có. Do vậy, trong những văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự cần có hướng dẫn rõ về vấn đề này.

Quan điểm xác định Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết vụ việc tranh chấp dựa trên tính thuận lợi cho việc xét xử, do bất động sản là tài sản không thể di dời, đồng thời cần phải có xác minh căn cứ giấy tờ dựa trên cơ quan quản lý tài sản nơi có bất động sản. Thông qua đó, Tòa án thụ lý vụ việc có điều kiện thuận lợi để thu thập, xác minh làm căn cứ giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, hợp lý và chính xác.

Tuy nhiên trên thực tế tồn tại các cách hiểu khác nhau về quy định thẩm quyền thuộc Tòa án nơi có bất động sản. Một là tất cả các tranh chấp liên quan đến bất động sản nào thì phải thuộc Tòa án nơi có bất động sản đó. Hai là chỉ với những tranh chấp mà đối tượng tranh chấp là bất động sản và đó là đối tượng tranh chấp chính của vụ việc thì Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết.

Trên cơ sở phân tích tại chương 2 về thẩm quyền tranh chấp thuộc về Tòa án nơi có bất động sản thì khái niệm tranh chấp bất động sản được hiểu là tranh chấp có đối tượng chính là bất động sản, và nếu tranh chấp liên quan đến nhiều quan hệ pháp luật thì tranh chấp chính phải liên quan đến đối tượng là bất động sản. Đối tượng của các tranh chấp về bất động sản được hiểu là tranh chấp về quyền sở hữu như chủ sở hữu kiện đòi nhà ở bị chiếm giữ bất hợp pháp, tranh chấp vật kiến trúc, cây lâu năm trên đất, kiện đòi trả nhà, đất cho thuê, tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng, yêu cầu chia thừa kế nhà, quyền sử dụng đất, tranh chấp diện tích mua bán, mốc giới phân chia đất đai…Bên cạnh đó, đối với trường hợp tranh chấp về giá trị liên quan đến giao dịch mua bán bất động sản (như đất, tài sản trên đất…) về tiền mua, tiền cho thuê thì đương sự phải khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc chứ không thể khởi kiện tại Tòa án nơi có bất động sản (là đối tượng của hợp đồng mua bán).

Thông qua 2 ví dụ dưới đây có thể hiểu rõ về sự khác biệt giữa 2 loại tranh chấp thuộc thẩm quyền của 2 loại Tòa án khác nhau.

Ví dụ thứ 1: Anh A và chị B cùng sinh sống và có hộ khẩu thường trú tại quận Cầu giấy. Anh A có mua của chị B một căn nhà 2 tầng tại quận Thanh Xuân. Sau khi viết hợp đồng mua bán và hoàn tất thanh toán, anh C là chồng chị B phát hiện được việc mua bán trên và kiện ra tòa đòi lại căn nhà do anh cho rằng nhà chị B bán là tài sản chung vợ chồng, chị đã tự ý bán khi chưa được sự đồng ý của anh C. Trong trường hợp này, Tòa án thụ lý vụ án có thẩm quyền giải quyết chính là Tòa án quận Thanh Xuân – nơi có căn nhà thuộc đối tượng của giao dịch chứ không phải là quận Cầu giấy – nơi bị đơn là anh A sinh sống.

Ví dụ thứ 2: Bà Lan ngụ tại quận Hoàng Mai và cô Linh hiện đang sinh sống tại quận Ba Đình thực hiện hợp đồng giao dịch mua bán một căn hộ chung cư tại khu đô thị Tây Hồ – quận Tây Hồ. Hợp đồng vừa được kí thì chị Linh nhận 400 triệu tiền cọc của bà Lan. Ngay sau đó anh Lâm là anh trai của chị Linh phát hiện đươc sự việc mua bán nên đã không chấp nhận và yêu cầu chấm dứt giao dịch do căn nhà là tài sản thừa kế do bố mẹ để lại cho hai anh em. Biết được tin, bà Lan đã khởi kiện ra tòa dân sự yêu cầu chị Linh trả lại 400 triệu tiền đặt cọc mà bà Lan đã giao cho chị Linh. Trong trường hợp này, Tòa án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân quận Ba Đình – nơi chị Linh đang sinh sống và cư trú chứ không phải Tòa án nhân dân quận Tây Hồ – nơi có căn nhà chung cư là đối tượng của giao dịch. Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Như vậy thông qua phân tích ở trên, khái niệm thẩm quyền Tòa án thuộc về nơi có bất động sản nên được hiểu rõ trong khái niệm về tranh chấp có bất động sản. Thông qua việc làm rõ để thấy tranh chấp có đúng đối tượng chính là bất động sản hay không và nếu tranh chấp phát sinh nhiều quan hệ thì quan hệ tranh chấp bất động sản phải là quan hệ chính để có thể xác minh đúng được Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết các vụ việc tranh chấp về bất động sản.

Đối với những vụ án, tuy có tranh chấp về bất động sản nhưng loại tài sản là bất động sản đó không phải là quan hệ pháp luật chính cần giải quyết thì không áp dụng điểm c khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tùy thuộc vào quyền định đoạt của đương sự, nếu đương sự muốn tách vụ án liên quan đến bất động sản để khởi kiện tại Tòa án nơi có bất động sản thì Tòa án nơi đó sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Đơn cử như ví dụ dưới đây. Ông A mất để lại cho vợ là bà B cùng các con là C, D, E một mảnh đất tại quận Cầu giấy và căn nhà sống chung tại quận Hai Bà Trưng. Trong quá trình yêu cầu Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật, bà B và các con đã thống nhất chỉ chia căn nhà sống chung tại quận Hai Bà Trưng mà không phân chia mảnh đất tại Cầu giấy. Nhiều năm sau đó, một trong các thành viên là chị E đã khởi kiện tại tòa Cầu giấy yêu cầu phân chia tài sản dựa trên mảnh đất tại quận Cầu giấy mà không phải là Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng nơi các thành viên trong gia đình sinh sống.

  • Thứ ba: Vướng mắc trong việc xác định thứ tự ưu tiên của các tiêu chí khi xác định thẩm quyền của Tòa án.

Trên thực tế có những trường hợp tranh chấp về bất động sản nhưng các bên lại thỏa thuận lựa chọn Tòa án nơi nguyên đơn cư trú giải quyết (điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự). Vậy trong trường hợp này thì Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự hay Tòa án nơi nguyên đơn cư trú theo thỏa thuận với bị đơn sẽ có thẩm quyền giải quyết (điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự).

Dựa vào việc phân tích cơ sở lý luận tại chương một và quy định pháp luật tại chương hai cho thấy pháp luật quy định về thẩm quyền của Tòa án cần quy định và giải thích luật pháp theo hướng căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì chỉ có Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bất động sản. Quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự không áp dụng trong trường hợp tranh chấp về bất động sản.

Thực tế áp dụng pháp luật về thứ tự ưu tiên gặp nhiều phân vân trong trường hợp này. Lấy ví dụ như một vụ án ly hôn của chồng anh T và chị H sinh sống tại Huyện Thuờng Tín. Trong thời kì chung sống vợ chồng anh chị đã góp tiền và mua được căn nhà tại huyện Thạch Thất. Tới nay anh chị nộp đơn ra Tòa án nhân dân yêu cầu giải quyết vụ việc ly hôn đồng thời phân chia tài sản là căn nhà tại huyện Thạch Thất. Trong trường hợp này quan hệ cần giải quyết chính là quan hệ ly hôn do đó Tòa án nhân dân huyện Thường Tín – nơi anh Tân và chị Hoa sinh sống sẽ đủ thẩm quyền giải quyết, đồng thời việc phân chia tài sản là căn nhà là quan hệ phát sinh sẽ được giải quyết kèm theo. Mặt khác có ý kiến lại cho rằng trong trường hợp này nên ưu tiên Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất giải quyết do tài sản phân chia là căn nhà nằm trên địa bàn huyện Thạch Thất sẽ thuận lợi hơn cho việc xác minh thu thập thông tin, đồng thời việc ly hôn có thể do các đương sự cung cấp hoặc ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện Thường Tín xác minh về vấn đề này. Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Như vậy thứ tự ưu tiên thẩm quyền xét xử của Tòa án theo điểm a, b khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự không được áp dụng trong trường hợp đối tượng tranh chấp chính là bất động sản. Về mặt lý luận nếu có nhiều tranh chấp trong một vụ án thì Tòa án có thẩm quyền ưu tiên sẽ là Tòa án xác định theo quan hệ tranh chấp chính. Tuy nhiên để tránh có những lúng túng, hiểu nhầm dẫn tới áp dụng sai thì cần có những quy định và hướng dẫn rõ ràng, cụ thể hơn về vấn đề này.

  • Thứ tư:  Vướng mắc trong việc xác định thẩm quyền trong trường hợp tranh chấp về quan hệ về tài sản, bao gồm cả động sản và bất động sản.

Đối với những vụ việc chỉ có một quan hệ pháp luật tranh chấp là quan hệ về tài sản, trong đó bao gồm cả động sản và bất động sản (ví dụ: tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn tồn tại, yêu cầu chia di sản thừa kế…) thì việc phân chia tài sản không đơn thuần xác định dựa vào nguyên tắc Tòa án nơi có bất động sản.

Trên thực tế, những vụ phân chia tài sản thừa kế bao gồm phân chia quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất đặt ra nhiều quan điểm khác nhau. Có nhiều quan điểm cho rằng phân chia thừa kế về động sản và bất động sản không hẳn là phân chia tài sản là bất động sản, mà trước hết vấn đề của Tòa án đặt ra là ai có đủ quyền nhận thừa kế. Trong số các đương sự, có những người chỉ yêu cầu chia về giá trị tài sản chứ không yêu cầu chia hiện vật. Do đó vấn đề xác định thẩm quyền của Tòa án trong trường hợp này vẫn còn chưa rõ ràng.

Pháp luật một số nước làm rõ hơn vấn đề này bằng cách ghi nhận nguyên tắc Tòa án có thẩm quyền giải quyết nơi thừa kế được mở, không kể tới tài sản là bất động sản hay động sản. Đơn cử, khoản 2 điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự Liên Bang Nga quy định: “chủ nợ của người để lại tài sản thừa kế khởi kiện tại Tòa án nơi mở thừa kế trước khi những người được thừa kế nhận tài sản thừa kế”. Tương tự Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp cũng ghi nhận tại điều 45 về thẩm quyền của Tòa án nơi mở thừa kế.

Trên thực tế, luật thực định Việt Nam chưa có nguyên tắc này, do vậy chúng ta vẫn áp dụng nguyên tắc ưu tiên dựa trên nơi có tài sản là bất động sản để yêu cầu Tòa án giải quyết. Để phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, cũng như tính hợp lý của nguyên tắc thẩm quyền Tòa án theo nơi mở thừa kế lần đầu đối với những vụ việc chia tài sản thừa kế thì pháp luật Việt Nam nên thiết kế theo hướng linh hoạt hơn. Đối với các vụ việc khác về chia tài sản gồm cả động sản và bất động sản có thể giữ nguyên tắc ưu tiên thẩm quyền thuộc về Tòa án nơi có bất động sản. Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

  • Thứ năm: Quy định về phạm vi các Tòa án mà đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn còn hạn chế.

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 chỉ hạn chế quyền của đương sự trong việc thỏa thuận về Tòa án có thẩm quyền giải quyết trong phạm vi các Tòa án nơi cư trú, làm việc, hoặc có trụ sở của nguyên đơn mà chưa quy định mở rộng quyền thỏa thuận này đối với các Tòa án khác như Tòa án nơi các bên thực hiện hợp đồng, nơi một bên có chi nhánh, nơi có tài sản…

Nghiên cứu pháp luật của một số nước cho thấy việc xây dựng nên các quy định linh hoạt về quyền thỏa thuận lựa chọn Tòa án có thẩm quyền đã tạo điều kiện mới cho đương sự. Chẳng hạn như Bộ luật Tố tụng dân sự Nga và Pháp đều quy định các bên đương sự có quyền thỏa thuận về Tòa án có thẩm quyền xét xử nhất là đối với các tranh chấp về hợp đồng. Bộ luật dân sự Pháp quy định như sau:” Khi tranh chấp pháp sinh, các bên đương sự có thể thỏa thuận về việc sẽ đưa tranh chấp ra xét xử tại một Tòa án mặc dù Tòa án này không có thẩm quyền xét xử theo giá ngạch của yêu cầu”.

Việc quy đinh trao quyền thỏa thuận cho các đương sự rất có ý nghĩa trong việc tạo ra tính linh hoạt, hiệu quả cao trong giải quyết các tranh chấp dân sự, nhất là đối với những tranh chấp về hợp đồng liên quan tới kinh tế, lao động với đặc trưng cần nhanh chóng và đạt hiệu quả. So với các quy định của pháp luật tố tụng dân sự của các nước trên thế giới thì quy định của pháp luật Việt Nam chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự.

  • Thứ sáu: Pháp luật chưa có quy định việc xử lý trong trường hợp thỏa thuận của đương sự về lựa chọn Tòa án không đúng pháp luật.

Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành cho thấy ngoài việc quy định khá hạn hẹp về các Tòa án mà các đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn thì việc xử lý như thế nào khi thỏa thuận của các đương sự không phù hợp với các quy định về phân định thẩm quyền giữa các Tòa án cũng không được quy định. Vấn đề đặt ra là khi đương sự thỏa thuận với nhau về Tòa án giải quyết tranh chấp không phù hợp với quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ trong Bộ luật Tố tụng dân sự thì sẽ xác định thẩm quyền của Tòa án theo sự thỏa thuận của đương sự hay ưu tiên xác định thẩm quyền theo quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ. Trong thực tiễn việc áp dụng pháp luật những trường hợp này cũng chưa thống nhất, dẫn đến nhiều vụ án phải chuyển đi chuyển lại do có nhiều quan điểm khác nhau.

  • Thứ bảy: Mâu thuẫn về thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật tại Điều 39 và Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Điều 39 và điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được sao chép gần như toàn bộ nội dung nguyên bản của điều 35 và Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự 2011. Về nội dung thẩm quyền của Tòa án đối với các yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật cơ bản không có sự thay đổi. Mặc dù sau nhiều lần sửa đổi nhưng bộ luật vẫn còn thể hiện sự bất hợp lý và không rõ ràng trong việc quy định yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật theo lãnh thổ với theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người có yêu cầu.

Tại điểm g, khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định như sau: “Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật”. Điều này có nghĩa là Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc đăng ký kết hôn trái pháp luật chỉ có thể là Tòa án nơi các đương sự thực hiện việc đăng ký kết hôn trái pháp luật. Trong khi đó thì tại điểm b khoản 3 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 lại quy định rằng đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 29 Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi cư trú của một trong các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết. Khoản này chỉ ra rằng người yêu cầu được trao quyền tự do định đoạt lựa chọn Tòa án mà một trong các bên cư trú. Điều này tạo ra tính linh hoạt và mềm dẻo hơn khi các đương sự thực sự cảm thấy quyền lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết tạo được những thuận lợi về mặt địa lý, thời gian cho người yêu cầu.

Có thể tham khảo ví dụ sau để thấy sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa hai quy định tại điều 39 và điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Một tình huống ví dụ khác giữa anh Nông Chính L và chị Lại Hoàng Y là hai vợ chồng đăng ký kết hôn và có hộ khẩu thường trú tại huyện X, Cao Bằng. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên tháng 2 năm 2011 anh Lâm đã làm đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Trung An, Cao Bằng. Yêu cầu đã được Tòa án nhân dân huyện Trung An thụ lý và quyết định cho anh Lâm ly hôn chị Yến. Tuy nhiên chị Yến ngay sau đó cảm thấy không thuận tình và đồng ý với quyết định của Tòa án sơ thẩm nên đã kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật. Trong thời gian chờ cấp phúc thẩm xem xét giải quyết yêu cầu kháng cáo thì năm 2012, anh Lâm đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại huyện Trung An, Cao Bằng với chị Mai Lan Dung có hộ khẩu thường trú tại Thường Tín, Hà Nội. Sau khi về gia đình anh Lâm tìm hiểu và biết được sự việc, chị Dung nhận thấy việc kết hôn của mình là trái pháp luật nên đã làm đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị và anh Lâm.

  • Xoay quanh vụ án này có hai quan điểm như sau: Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Quan điểm thứ nhất: Nhiều người cho rằng trong trường hợp của chị Dung, yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật sẽ thuộc về Tòa án nhân dân huyện Trung An, nơi anh chị đã thực hiện việc đăng ký kết hôn. Bởi theo như điểm g, khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ở trên thì chỉ có Tòa án nơi các đương sự thực hiện việc đăng ký kết hôn mới có thẩm quyền giải quyết yêu cầu này.

Quan điểm thứ hai lại cho rằng chị Dung có thể nộp đơn yêu cầu tại một trong hai Tòa án là Tòa án nhân dân huyện Trung An, Cao Bằng hoặc Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội theo như quy đinh tại điểm b khoản 3 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Điều này phụ thuộc vào sự thuận tiện và phù hợp với nguyện vọng của chị Dung và một trong hai Tòa án nhận đơn đều phải có trách nhiệm nhận đơn và thụ lý theo đúng trình tự, quy định của pháp luật.

Có thể thấy rằng trong hai nhóm quan điểm trên thì quan điểm thứ hai là hợp lý hơn cả. Bởi lẽ xét về quyền tự định đoạt lựa chọn tòa nào giải quyết tạo ra sự linh hoạt, thuận tiện cho người yêu cầu. Đơn cử như việc chị Dung ở tại huyện Thường Tín, Hà Nội có thể nộp đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật tại tòa Thường Tín, thay vì phải đi rất xa để lên Cao Bằng nộp đơn hay thực hiện các công việc liên quan đến yêu cầu này. Nhưng ngược lại, nếu như chị Dung có đang sinh sống và làm ăn tại Cao Bằng và nhận thấy việc yêu cầu tại Cao Bằng là thuận tiện cho mình hơn thì lúc này Tòa án nhân dân huyện Trung An, Cao Bằng phải có trách nhiệm thụ lý yêu cầu này và giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quay lại quan điểm thứ nhất, có thể thấy chưa hoàn toàn hợp lý khi chỉ quy định thẩm quyền thuộc về Tòa án nơi hai bên thực hiện việc đăng ký kết hôn. Điều này là hoàn toàn cứng nhắc, không linh hoạt và chưa đảm bảo được quyền lợi của đương sự. Đối với các quy định của pháp luật thuộc trường hợp đương sự có quyền lựa chọn Tòa án để giải quyết việc dân sự theo yêu cầu của mình tại các điểm a, b, c khoản 2 điều 40 cần phân biệt với các điểm a, b, c khoản 1 điều 40 đối với các yêu cầu lựa chọn Tòa án chỉ khi có điều kiện như quy định của luật đặt ra. Đối với những trường hợp pháp luật quy định không cần bất cứ điều kiện gì mà chỉ mang tính tùy nghi như điểm a, b, c khoản 2 điều 40 thì đương sự hoàn toàn có quyền lựa chọn nhiều Tòa án để giải quyết việc dân sự của mình.

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sau rất nhiều nỗ lực đóng góp sửa đổi nhưng vẫn không khắc phục được những hạn chế cụ thể nêu trân, do vậy vấn đề đặt ra cho các cơ quan có thẩm quyền thực hiện công việc này cần có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng và chính xác hơn về cách xác định thẩm quyền theo điều 39 và 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Trên cơ sở phân tích những lý luận chung về thẩm quyền của Tòa án dân sự sơ thẩm cũng như các quy định của pháp luật, chỉ ra những mặt hạn chế trong thực tiễn thi hành pháp luật về phân định thẩm quyền dân sự sơ thẩm của Tòa án, tác giả đề xuất một số kiến nghị sau đây:

3.2.1 Kiến nghị sửa đổi các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa Tòa án các cấp

  • Thứ nhất: Cần phân định rõ ràng các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện và cấp tỉnh.

Pháp luật cần có sự sửa đổi bổ sung quy định về phân định rõ một số những yêu cầu về kinh doanh, thương mại, lao động sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa cấp huyện và cấp tỉnh. Tòa án cấp tỉnh chỉ có thẩm quyền giải quyết đối với những yêu cầu nếu có đương sự, tài sản ở nước ngoài hoặc việc giải quyết cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan tư pháp của nước ngoài. Đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện cần có tiêu chí phân biệt rõ ràng, dễ hiểu hơn để tránh việc lúng túng, chồng chéo thẩm quyền giữa các cấp.

  • Thứ hai: Thay đổi quy định pháp luật theo hướng tăng cường thẩm quyền cho Tòa án Nhân dân cấp huyện.

Trong điều kiện mở cửa hội nhập như hiện nay, các giao dịch dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động có yếu tố nước ngoài phát triển mạnh và ngày càng phổ biến. Ở nước ta số lượng tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng xảy ra nhiều hơn do vậy tất cả các tranh chấp về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài giao hết cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết là không hợp lý. Để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa các đương sự là cá nhân, tổ chức nước ngoài, đáp ứng sự phát triển kinh tế và mở rộng giao lưu hợp tác nước ngoài, nên cho Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ án có yếu tố nước ngoài[40]. Thực tiễn xét xử có nhiều vụ án có yếu tố nước ngoài nhưng tình tiết không hề phức tạp như tranh chấp cho thuê nhà, tranh chấp hợp đồng mua bán, sử dụng lao động nhưng vẫn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Điều này dẫn tới số vụ tranh chấp dồn lên Tòa án cấp tỉnh sơ thẩm và phúc thẩm tại Tòa án nhân dân cấp cao rất nhiều. Trong khi có hiện nay trình độ cán bộ Tòa án nhân dân cấp Huyện đã được quan tâm, cải thiện; nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức để có thể giải quyết các tranh chấp dân sự một cách công bằng và dân chủ.

  • Thứ ba: Sửa đổi quy định về không thay đổi thẩm quyền của Tòa án cho phù hơn với thực tiễn.

Như đã phân tích ở phần trên về những bất cập trong việc quy định không thay đổi thẩm quyền của Tòa án, Tòa án cấp tỉnh vẫn tiếp tục giải quyết vụ án mặc dù không còn đương sự, tài sản ở nước ngoài hoặc không cần phải ủy thác cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài. Điều này có thể là linh hoạt và phù hợp nếu như các vụ án có tình tiết phức tạp đòi hỏi trình độ giải quyết của cơ quan Tòa án từ cấp tỉnh trở lên. Tuy nhiên, đối với việc hướng dẫn Tòa án cấp huyện tiếp tục thụ lý vụ việc có tài sản, đương sự ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là không phù hợp với cơ sở lý luận và điều kiện thực tế. Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Nên sửa đổi quy định nêu trên theo hướng đối với những vụ án Tòa án cấp huyện đã thụ lý đúng thẩm quyền nhưng trong quá trình giải quyết vụ án mới có thay đổi theo hướng có tài sản hoặc có đương sự ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài; và những tình tiết mang tính chất làm cho vụ việc phức tạp hơn thì Tòa án cấp huyện đó phải ra quyết định chuyển vụ việc cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết để đáp ứng yêu cầu về điều kiện cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn.

  • Thứ tư: Bổ sung quy định nhằm xác định cụ thể các vụ việc mà Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện mà Tòa cấp tỉnh lấy lên để giải quyết. Điều này vô hình chung đã tạo ra sự lỏng lẻo và tính tùy tiện trong việc xác định thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự theo cấp. Đồng nghĩa với nó là Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể tùy ý lấy các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện để giải quyết. Do vậy pháp luật cần có quy định tường minh rõ ràng những trường hợp nào, khi nào thì Tòa án cấp tỉnh có thể lấy các vụ án lên để giải quyết. Cơ sở khoa học để phân định thẩm quyền trong trường hợp này là cần thiết phải ghi nhận rõ ràng để hạn chế tình trạng tùy tiện trong việc áp dụng.

Đối với tiêu chí, cơ sở khoa học để phân định cũng không thể ghi nhận chung chung bằng các thuật ngữ về vụ việc “có tính chất phức tạp” mà cần phải quy định tiêu chí cụ thể; chẳng hạn như vai trò, chức vụ của đương sự không đảm bảo tính khách quan khi xét xử tại địa phương…

3.2.2 Kiến nghị sửa đổi các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án cùng cấp Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

  • Thứ nhất: Quy định chỉ có Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết tranh chấp bất động sản.

Qua phân tích những bất cập còn tồn động tại quy định pháp luật về xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được quy định lại theo hướng những tranh chấp bất động sản chỉ có Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết. Trong đó quy định tại điểm c khoản 1 điều luật này như sau: “Đối với những tranh chấp bất động sản, Tòa án duy nhất có thẩm quyền là Tòa án nơi có bất động sản”. Bên cạnh đó, cần có quy định cụ thể của pháp luật giải thích thuật ngữ như thế nào là tranh chấp bất động sản. Thuật ngữ tranh chấp bất động sản cần được ghi nhận theo hướng đối tượng tranh chấp là bất động sản hoặc nội dung, đối tượng tranh chấp chính là bất động sản đối với những vụ việc có nhiều quan hệ pháp luật phát sinh cần điều chỉnh.

  • Thứ hai: Cần có hướng dẫn cụ thể về quy tắc xác định thẩm quyền trong trường hợp vụ việc có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp.

Vụ việc có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi có bất động sản tranh chấp nếu đối tượng tranh chấp là bất động sản đồng thời đó là quan hệ tranh chấp chính cần giải quyết trong vụ án dân sự đó. Trong vụ án có một quan hệ pháp luật tranh chấp là quan hệ tài sản, bao gồm cả động sản và bất động sản thì ưu tiên Tòa án nơi có bất động sản giải quyết.

  • Thứ ba: Thỏa thuận của đương sự trong việc lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp

Việc thực hiện quy định của pháp luật về xử lý trong trường hợp thỏa thuận của đương sự về lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết trái với pháp luật còn nhiều bất cập. Các quy định khá hạn hẹp dẫn tới những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng.

Pháp luật cần bổ sung quy định về việc xử lý trong trường hợp thỏa thuận của đương sự về lựa chọn Tòa án không đúng pháp luật theo hướng người khởi kiện chỉ được khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự; nếu đương sự có thỏa thuận về việc lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp nhưng thỏa thuận đó không phù hợp với pháp luật thì Tòa án được các đương sự lựa chọn không có thẩm quyền giải quyết. Trong trường hợp này, Tòa án nhận đơn phải căn cứ vào các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án để chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền đồng thời thông báo cho người khởi kiện được biết về việc chuyển đơn khởi kiện này.

  • Thứ tư: Kiến nghị cụ thể hóa hơn các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm theo sự lựa chọn của nguyên đơn.

Theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 40. Bộ luật Tố tụng dân sự đưa ra quy định đối với các vụ án có nhiều bất động sản tranh chấp thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết. Tuy nhiên, quy định này chưa rõ ràng, dẫn tới việc nguyên đơn có thể tự do lựa chọn Tòa án và sự lựa chọn đó của nguyên đơn gây ra sự bất lợi cho bị đơn khi tham gia tố tụng. Do vậy pháp luật cần có quy định rõ ràng hơn về tiêu chí chọn Tòa án trong trường hợp này.

Trên cơ sở phân tích tại phần 1 ở trên về những bất cập trong các quy định thiếu chặt chẽ của pháp luật Việt Nam về vấn đề này, có thể học hỏi và tiếp thu những điểm hợp lý của pháp luật nước ngoài để bổ sung và làm chặt chẽ các quy định của pháp luật Việt Nam.

  • TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

Việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án là một quá trình quan trọng không thể thiếu khi tiếp cận và nghiên cứu về chế định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án. Quy trình và thủ tục giải quyết các vấn đề dân sự phần lớn tập trung ở cấp sơ thẩm, vì vậy hiểu rõ và có những định hướng cải cách tiến bộ phù hợp là hết sức cần thiết. Trên cơ sở đề xuất cải cách, hệ thống pháp luật cần có sự đổi mới đồng bộ linh hoạt, tạo ra cơ chế áp dụng pháp luật nghiêm minh, đem lại hiệu quả cao cho cả những người dân, và những người tiến hành tố tụng.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

Việc nghiên cứu phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án là cơ sở căn bản, không thể thiếu khi trong quá trình giải quyết sở thẩm dân sự cũng như trong nghiên cứu về chế định sơ thẩm dân sự. Thông qua quá trình nghiên cứu về phân định thẩm quyền sơ thẩm giữa các Tòa án, người học đã đưa ra được bức tranh tổng quát, logic các quy định pháp luật cho người đọc cũng như những người áp dụng thực tiễn nắm bắt được. Nắm bắt được bức tranh cơ bản này, khi gặp những vụ việc dân sự trên thực tế, chúng ta xác định theo trình tư: Sự việc thuộc lĩnh vực gì? Sự việc diễn ra ở đâu? Chủ thể của sự việc là ai? Từ đó dễ dàng xác định Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc.

Qua nghiên cứu vấn đề lý luận cơ bản về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự, tham khảo quy định của một số nước trên thế giới, tác giả đã cho thấy việc đưa ra các tiêu chí về phân định thẩm quyền sơ thẩm giữa các Tòa án hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án và các đương sự trong việc xác định thẩm quyền. Hiện nay, các quy định của pháp luật Việt Nam về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự đã tiếp thu quan điểm các các nước tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, sự khác nhau về nền văn hóa – xã hội cũng như sự phát triển của lịch sử, thể chế chính trị giữa các quốc gia, nên việc tiếp thu của Việt Nam vẫn còn có những nhược điểm. Qua nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một số hạn chế, khó khăn khi áp dụng trên thực tế. Dựa trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất biện pháp khắc phục, tác giả mong muốn qua kết quả nghiên cứu của mình sẽ góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp đã đề ra. Luận văn: Thực tiễn về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của các Tòa án

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464