Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động bảo lãnh Ngân hàng tại Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam – thực trạng và các giải pháp hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI EXIMBANK TRONG THỜI GIAN TỚI

1. Sự cần thiết khách quan phải hoàn thiện và phát triển hoạt động bảo lãnh tại Eximbank

Việc gia nhập WTO đã mở ra những cơ hội phát triển mới cho thị trường tài chính Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh đó, đầu tư trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng cũng đặt ra nhiều thách thức và rủi ro đối với các ngân hàng thương mại của Việt Nam.

Có thể nói, bức tranh hệ thống ngân hàng ở Việt Nam sau 10 năm nữa sẽ có những thay đổi đáng kể. Điều đó sẽ diễn ra do kết quả của quá trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại quốc doanh, quá trình mua bán, sáp nhập và hợp nhất giữa các ngân hàng thương mại cổ phần và sự tham gia ngày càng sâu rộng của các ngân hàng nước ngoài vào thị trường Việt Nam, cũng như sự hình thành các định chế tài chính mới, khi các thị trường vốn phát triển hơn. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

Vì vậy, một điều chắc chắn là thị trường ngân hàng sẽ cạnh tranh lành mạnh hơn, mức độ cạnh tranh cao hơn, với quy mô thị trường có thể tăng từ mức tổng tài sản có của hệ thống ngân hàng chiếm 90% GDP hiện nay lên đến mức 120-140% GDP.

Với mức tăng trưởng trung bình 20%/ năm, tổng dư nợ nghiệp vụ bảo lãnh của 10 ngân hàng thương mại lớn của Việt nam vào khoảng 43 ngàn tỷ đồng. Không “ồn ào” như cuộc đua lãi suất nhưng “cuộc chiến ” giành thị phần bảo lãnh giữa các ngân hàng đang ngày một quyết liệt. Là một công cụ tài trợ và dịch vụ của ngân hàng thương mại, bảo lãnh đã và đang được sử dụng phổ biến trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt trong thương mại quốc tế. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh bảo hành… đều được sử dụng trong giao dịch giữa các ngân hàng tại Việt Nam với ngân hàng đại lý nước ngoài. Trong điều kiện toàn cầu hoá nền kinh tế, bảo lãnh ngân hàng sẽ là phương tiện hiệu quả hỗ trợ các doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh với các đối tác nước ngoài. Việc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) ký được hợp đồng bảo lãnh trọn gói cung ứng tín dụng và các dịch vụ ngân hàng cho hai tổng công ty lớn là Vinashin với hạn mức tín dụng lên đến 1.200 tỷ đồng và làm đầu mối cho các dự án đồng tài trợ là 2.000 tỷ đồng; và Vinamotor: hạn mức tín dụng 700 tỷ đồng và hạn mức bảo lãnh 200 tỷ đồng, đã khiến không ít đối thủ cạnh tranh mất ăn, mất ngủ. Dịch vụ bảo lãnh đang dần trở thành nguồn thu đáng kể trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại.

Vì vậy, để không ngừng đáp ứng nhu cầu bảo lãnh ngày càng tăng của các doanh nghiệp đồng thời củng cố vị trí cạnh tranh, nâng cao uy tín của mình trong ngành cũng như với các đối tác, Eximbank cần phải phát triển hơn nữa nghiệp vụ bảo lãnh của mình.

Hiện nay, Eximbank cũng như hầu hết các ngân hàng thương mại khác đều rất thận trọng trong việc bảo lãnh mở L/C mua hàng trả chậm, bảo lãnh vay vốn nước ngoài vì đã có rất nhiều vụ án kinh tế lớn xảy ra gây thiệt hại về tài chính và uy tín của các ngân hàng thương mại. Mặc dù các doanh nghiệp đó đã cố tình làm trái, lừa đảo nhưng các ngân hàng lại phải chịu trách nhiệm do những yếu kém về quy trình nghiệp vụ bảo lãnh, sự thoái hoá của không ít cán bộ ngân hàng. Điều này một mặt sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính trong lúc nhu cầu về vốn, trang thiết bị máy móc nhập khẩu từ nước ngoài đang rất lớn, mặt khác cũng làm giảm thu nhập của ngân hàng.

Hơn nữa, bảo lãnh chỉ được coi là một nghiệp vụ đơn giản khi không xảy ra thanh toán. Các ngân hàng Việt Nam thường không đề cập đến yếu tố chứng từ và thường nội địa hoá giao dịch bảo lãnh bằng những việc làm khá tuỳ tiện. Nhiều khái niệm chung chung, thiếu chuẩn mực được đưa ra trong thư bảo lãnh chính là cơ sở phát sinh tranh chấp giữa các bên. Ví dụ có ngân hàng phát hành thư bảo lãnh với cam kết sẽ trả tiền thay cho bên được bảo lãnh khi họ không trả được tiền nhưng lại không đề cập cụ thể căn cứ nào khẳng định là không thể trả được tiền, hay người được bảo lãnh không muốn trả tiền. Hay như bảo lãnh độc lập và bảo chứng khác nhau về tính chất, nhưng các văn bản pháp luật của ta lại chưa phân biệt hai loại bảo lãnh này. Đây chỉ là một vài ví dụ nhỏ minh chứng cho một thực tế giao dịch bảo lãnh tại Việt Nam là tính pháp lý của bảo lãnh thiếu nhất quán, thiếu đồng bộ, thiếu hướng dẫn giao dịch cụ thể, nhiều khi mang tính tự phát.

Đối với ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam, mặc dù nghiệp vụ bảo lãnh còn chiếm một vị trí khá khiêm tốn so với nghiệp vụ cho vay nhưng cũng còn tồn tại những vướng mắc chung như toàn hệ thống ngân hàng thương mại. Tiềm năng của nghiệp vụ bảo lãnh rất lớn trong bối cảnh hoạt động tài chính-tiền tệ phát triển theo xu hướng toàn cầu hoá kinh tế đòi hỏi Eximbank cần có những giải pháp trước mắt cũng như lâu dài để hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Khóa Luận Tốt Nghiệp

2. Định hướng phát triển hoạt động bảo lãnh tại Eximbank trong thời gian tới Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

Với những mục tiêu phát triển nghiệp vụ bảo lãnh, phát huy tiềm năng của nghiệp vụ này trong tương lai, Eximbank đã xác định cho mình một định hướng phát triển trong thời gian tới, vừa phải phù hợp với nội lực của bản thân vừa thích ứng với hoàn cảnh khách quan, với mục tiêu tổng quát là tiếp tục giữ vị trí là một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu, thực hiện kế hoạch lợi nhuận theo xu hướng ngày càng tăng nhanh và ổn định.

Trước tiên, ngân hàng cần tăng cường cải cách một cách triệt để, nâng cao năng lực tài chính và hoạt động, bằng việc đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, thông qua huy động các nguồn đầu tư trong nước, lựa chọn các đối tác chiến lược lớn có uy tín để tranh thủ vốn, công nghệ và mạng lưới hoạt động toàn cầu của ngân hàng, điều chỉnh lãi suất tiền gửi trung và dài hạn hợp lý. Ngoài ra, ngân hàng cần cơ cấu đầu tư vốn trong điều kiện mới theo hướng, giảm dần tỷ trọng cho vay ngắn hạn, tăng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn, phát triển cho vay tiêu dùng đối với các cá nhân trong nền kinh tế.

Điểm thứ hai là tăng cường hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán. Các ngân hàng thương mại cần tăng mức vốn đầu tư để trang bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, các dự án đầu tư công nghệ cần tính toán kỹ lưỡng để sử dụng công suất phù hợp với chiến lược mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Từng bước hiện đại hoá theo hướng tin học hoá các khâu trong thanh toán, truyền nhận thông tin, lưu trữ và quản lý hồ sơ để có thể thích ứng với nền thương mại điện tử.

Điểm thứ ba là nhân lực chất lượng cao là động lực để bức phá. Nâng cao năng lực cán bộ thông qua nâng cao trình độ quản trị điều hành. Việc nâng cao năng lực quản trị của các ngân hàng thương mại sẽ được thực hiện nhanh nhất và hiệu quả nhất thông qua sự trợ giúp của các đối tác chiến lược nước ngoài. Ngân hàng cũng có thể kết hợp với các trung tâm đào tạo hoặc các trường đại học như Học viện Ngân hàng, Đại học Ngoại Thương… để tiến hành đào tạo lại và tiếp nhận sinh viên mới ra trường nhằm có được đội ngũ cán bộ có chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt.

Và một phần quan trọng để khắc phục những rủi ro là thực hiện quản trị ngân hàng thương mại từ chiều rộng sang chiều sâu theo hướng nâng cao năng lực quản trị rủi ro thông qua việc hoàn thiện bộ máy tổ chức quản trị nội bộ, thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra và chế độ báo cáo thường xuyên. Thực tế hiện nay, các ngân hàng chưa chú trọng công tác quản lý rủi ro, kể cả các ngân hàng thương mại nhà nước lẫn các ngân hàng thương mại cổ phần. Do vậy, ngân hàng cần từng bước xây dựng cho mình cơ chế quản lý rủi ro hiệu quả hơn.

Việc bổ sung, hoàn thiện quy chế nghiệp vụ cho phù hợp thực tiễn cũng đóng vai trò rất quan trong. Một mặt sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong kinh doanh, mặt khác vẫn đảm bảo tính an toàn và hiệu quả của vốn.

Ngân hàng cũng cần đa dạng hóa các loại hình bảo lãnh trên cơ sở các loại bảo lãnh truyền thống ngân hàng đang thực hiện, nâng cao chất lượng dịch vụ kết hợp với các nghiệp vụ khác đem lại tiện ích tối đa cho khách hàng, và mở rộng khách hàng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau theo hướng an toàn và hiệu quả, phát huy hiệu quả hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu tăng lợi nhuận. Dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ có tính đặc thù, đòi hỏi uy tín cao. Vì vậy, ngân hàng cần xây dựng cho mình một hình ảnh đẹp, một thương hiệu mạnh, tin cậy.

II. NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

1 Hoàn thiện về luật và quy tắc áp dụng

Khi phát hàng thư bảo lãnh theo yêu cầu của đối tác nước ngoài thì ngân hàng phải dẫn chiếu điều luật áp dụng. Đây là một nguyên tắc trong giao dịch cam kết bảo lãnh quốc tế. Tuy nhiên không ít bảo lãnh đối ứng mà các ngân hàng Việt Nam nhận được lại không đề cập đến Luật hay các quy tắc điều chỉnh giao dịch. Cũng có trường hợp khi các ngân hàng của các nước phát triển thường áp dụng luật của họ mà chúng ta lại chấp nhận điều kiện như vậy dù không nắm rõ luật của đối tác. Điều này hoàn toàn bất lợi cho phía các ngân hàng Việt Nam khi xảy ra tranh chấp.

Trong thư bảo lãnh ngân hàng nên áp dụng, dẫn chiếu những quy tắc theo thông lệ quốc tế do phòng thương mại quốc tế ICC hay Liên hợp quốc phát hành, đảm bảo sự thống nhất về mẫu biểu, các kỹ thuật nghiệp vụ cụ thể: phương thức đòi tiền, thanh toán, kiểm tra chứng từ, thời hiệu của bảo lãnh. Bảo lãnh luôn được sử dụng hai chiều: nhận bảo lãnh của nước ngoài và phát hành bảo lãnh ra nước ngoài đòi hỏi các ngân hàng phải nâng cao trình độ chuyên môn và am hiểu luật pháp của các cán bộ để đề phòng sự gian lận, lừa đảo của đối tác.

2. Ứng dụng chính sách Marketing vào nghiệp vụ bảo lãnh hợp lý và hiệu quả Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

Marketing trong hoạt động ngân hàng là một đòi hỏi cần thiết hiện nay. Việc ứng dụng marketing sẽ đảm bảo nâng cao khả năng cạnh tranh, giúp ngân hàng đứng vững trong một môi trường kinh doanh vốn rất khó khăn do nhiều đối thủ cạnh tranh trên cùng một địa bàn với cùng một loại sản phẩm dịch vụ. Cơ sở để xây dựng kế hoạch hoá marketing là nhiệm vụ, mục tiêu và các nguồn lực của ngân hàng. Vị trí quan trọng nhất trong hoạt động marketing là việc kế hoạch hoá các chiến lược khách hàng, chiến lược giá cả, chiến lược sản phẩm và chiến lược giao tiếp, khuyếch trương.Vì vậy, để làm tốt công tác này, ngân hàng cần chú ý thực hiện các biện pháp quan trọng sau

2.1. Phương thức phát triển dịch vụ

Để phát triển sản phẩm vấn đề tiếp thị là một yếu tố rất quan trọng trong sự phát triển những dịch vụ của . Nhiều dịch vụ có thể được phát triển và giới thiệu với chi phí ít khi thành lập mạng lưới dịch vụ. Tương tự, sự giới thiệu nhiều dịch vụ cụ thể cần bổ sung thêm những người chuyên môn hoặc hệ thống kỹ năng bao hàm sự hứa hẹn vững vàng về thời gian và tài chính.

Điều rất quan trọng là các nhân viên chi nhánh phải có được kiến thức về sản phẩm một cách thích đáng, để nhận biết được nhu cầu của khách hàng, và có thể đưa ra những dịch vụ của ngân hàng để thỏa mãn những nhu cầu đó. Để đạt được trình độ mong muốn về kiến thức, sự nỗ lực, quan tâm, động viên và đào tạo nhân viên là cần thiết cho ngân hàng với mọi trình độ. Đặc biệt trong những ngân hàng nơi mà các nhân viên ngân hàng được xem như những nhà quản trị đại diện cho ngân hàng thực hiện giao dịch với khách hàng. Vì thế, nguyên tắc chỉ đạo tiếp thị dịch vụ rất quan trọng cho việc cung cấp kiến thức sản phẩm. Những nguyên tắc tiếp thị dịch vụ bao gồm:

  • Nhu cầu khách hàng. Các nhân viên ngân hàng cần xác định chính xác về nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ qua nghiên cứu thị trường.
  • Tiểu sử của khách hàng. Đối với khách hàng cụ thể cần thiết tóm tắt tiểu sử để phân loại khách hàng, việc phân loại khách hàng giúp cho hoạt động của ngân hàng tránh được nhiều rủi ro.
  • Mô tả dịch vụ. Đối với dịch vụ sản phẩm mới nhân viên thực hiện cần phải biết mô tả chi tiết về nội dung và cách thức thực hiện cho khách hàng, nhằm thu hút được khách hàng. Qua mô tả dịch vụ, sản phẩm mới sẽ cho thấy được lợi ích dịch vụ đối với khách hàng, cụ thể dịch vụ nầy đem lại lợi ích gì cho khách hàng. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank
  • Nhân tố cơ bản để khách hàng chọn lựa ngân hàng giao dịch. Khi phát triển dịch vụ mới các nhà quản trị ngân hàng cần quan tâm đến nhân tố cơ bản để chọn lựa ngân hàng của khách hàng, nhân viên ngân hàng cần phải hiểu rõ các yếu tố nào khách hàng sử dụng để đánh giá và chọn lựa ngân hàng.
  • Giải quyết tình huống. Các nhân viên ngân hàng cần phải có khả năng giải quyết các tình huống có liên quan, cần hiểu rõ và nắm vững tình huống để giải quyết một cách hợp lý.
  • Sự chỉ dẫn cho việc tiên hành. Sự hướng dẫn chi tiết để cho bạn theo đó thực hiện khi bạn đã thu hút được khách hàng về sự chấp nhận dịch vụ.
  • Sự phản kháng và phúc đáp thích hợp: Nên làm rõ sự phản kháng chủ yếu của khách hàng và sự phúc đáp thích hợp là gì, từ đó bạn có thể có sự trình bày việc phát triển kinh doanh của bạn một cách thích hợp. Sự trả lời thích hợp hay sự phản đối được thể hiện qua cách ứng xử của khách hàng và qua đó ngân hàng tự đánh giá kết quả phát triển sản phẩm mới.

Thưc hiện theo sự đề nghị. Sự đề nghị về trình tự vàì nội dung của đề cương thực hiện sẽ mô tả dịch vụ một cách chi tiết và bước hành động tiếp theo cho khách hàng là gì.

Sự chấp nhận chứng từ chính thức. Bất cứ hồ sơ chứng từ nào được yêu cầu phải được hoàn thành bởi chi nhánh và (hoặc) khách hàng khi dịch vụ đã được chấp nhận.

Trong hoạt động bảo lãnh thì uy tín và tiếng tăm của ngân hàng có vai trò rất quan trọng. Vì vậy các ngân hàng cần nâng cao uy tín và tiếng tăm của mình ở trong nước và quốc tế. Những yếu tố ảnh hưởng đến tiếng tăm của một ngân hàng là:

  • Qui mô hoạt động, với qui mô hoạt động lớn sẽ đem lại tiếng tăm và uy tín nhiều hơn..
  • Sự nhận thức, khả năng chuyên môn của nhân viên.
  • Tiếng tăm được nhận biết trên thị trường.
  • Cấu trúc tổ chức, cơ cấu bộ máy tổ chức.
  • Mạng lưới chi nhánh nội địa & quốc tế.
  • Mối quan hệ giữa các chi nhánh.
  • Sự chuyên môn hóa và bí quyết công nghiêp.
  • Sự chuyên môn hóa và khả năng về vùng địa lý.
  • Sản phẩm và dịch vụ.
  • Chính sách và triết lý quản trị.
  • Kỷ năng, kiến thức trong công việc điều hành.
  • Khách hàng: Khách hàng của ngân hàng là ai? Khách hàng là doanh nghiệp hay các cá nhân, hay là cả hai? Có thể nói chi tiết hơn, khách hàng doanh nghiệp là các doanh nghiệp đủ mọi cỡ lớn, vừa, và nhỏ. Điều quan trọng là ngân hàng phải xác định rõ “khách hàng mục tiêu”.
  • Công nghệ: Ngân hàng có phải xem công nghệ là mối quan tâm hàng đầu không? Công nghệ có thành yếu tố hàng đầu của ngân hàng trong việc cải tiến và nâng cấp để tăng cường năng suất và chất lượng dịch vụ ngân hàng không? Công nghệ thanh toán, phân phối các dịch vụ có phải là điểm mạnh của ngân hàng không?
  • Vị trí ngân hàng trong kinh doanh: Ngân hàng đứng ở vị trí nào trong thị trường mà ngân hàng đang và sẽ hoạt động?
  • Thị trường: Thị trường mục tiêu của ngân hàng ở đâu? Phạm vi hoạt động là thị trường địa phương, khu vực, toàn quốc hay quốc tế. Trong đó, ngân hàng phải khẳng định được đối tượng chi tiết khu vực hoạt động trọng tâm.
  • Lợi thế cạnh tranh của ngân hàng: Mối ngân hàng có lợi thế cạnh tranh nhất định trên thị trường. Ví dụ, lịch sử hình thành và hoạt động của ngân hàng, chất lượng dịch vụ, đội ngũ nhân viên, sự đa dạng về sản phẩm kinh doanh, mức phí, hệ thống phân phối….

Từ đó ngân hàng có thể

  • Nghiên cứu và xác định thị trường hiện tại và lâu dài cho dịch vụ của mình. Thu thập đầy đủ và chính xác, có tính hệ thống các thông tin trong “hồ sơ khách hàng”
  • Lựa chọn thị trường để phục vụ và xác định nhu cầu cụ thể của khách hàng trong phân đoạn thị trường đó. Thường xuyên tổ chức hội nghị khách hàng, lấy phiếu thăm dò ý kiến khách hàng để tìm hiểu và đánh giá chất lượng phục vụ của ngân hàng mình.
  • Đặt ra các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn cho sự phát triển của dịch vụ
  • Quản lý dịch vụ cũng như quảng cáo, thuyết phục khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng mình.

2.2 Xây dựng chiến lược đa dạng hóa khách hàng Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

Khách hàng khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ bảo lãnh tức là có cầu về sản phẩm. Ngân hàng trên cơ sở mức cầu đó cần thực hiện cung cấp sản phẩm sao cho thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Ngân hàng cần xác định đoạn thị trường mục tiêu của mình để tập trung năng lực phục vụ đối tượng khách hàng mục tiêu đó. Ngân hàng cần tiến hành phân loại khách hàng nhằm xác định:

  • Ngân hàng đang phục vụ những nhóm đối tượng khách hàng nào, nhu cầu của từng nhóm như thế nào. Ngân hàng phải thoả mãn như thế nào, số lượng nhu cầu chiếm bao nhiêu % thị phần. Những đối tượng khách hàng nào là chủ yếu, lâu dài, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và lợi thế của ngân hàng đang thực hiện.
  • Xác định đối tượng khách hàng nào mang lại thu nhập lớn nhất và tương lai phát triển của họ ra sao? Nhóm khách hàng nào sẽ thay thế? Nhóm khách hàng nào hiện đang đem lại thu nhập thấp nhưng có tiềm năng tăng trưởng trong thời gian tới?

Trên cơ sở các kết quả phân tích ở trên, ngân hàng sẽ có những biện pháp cụ thể để giữ khách hàng và xây dựng chiến lược phát triển khách hàng trong tương lai như:

  • Tạo dựng uy tín và quan hệ gắn bó với khách hàng, coi lợi ích và sự phát triển của khách hàng cũng là lợi ích và sự phát triển của ngân hàng.
  • Có chế độ ưu đãi và thưởng vật chất cho các doanh nghiệp có số dư bảo lãnh lớn và các khách hàng truyền thống, có quan hệ tín nhiệm lâu năm với ngân hàng.
  • Hỗ trợ, tư vấn cho khách hàng cùng giải quyết những khó khăn, vướng mắc nhằm mục tiêu thoả mãn nhu cầu của khách hàng hiện tại và khơi dậy khả năng và nhu cầu của khách hàng tiềm năng. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

Mục tiêu cụ thể trước mắt là ngân hàng cần tiếp tục duy trì quan hệ truyền thống với các khách hàng lớn. Muốn vậy ngân hàng cần có chính sách ưu tiên, ưu đãi về tỷ lệ ký quỹ, thủ tục tài sản thế chấp, tạo điều kiện cấp bảo lãnh nhanh chóng cho doanh nghiệp khi có yêu cầu, đồng thời phát triển đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp liên doanh. Và các doanh nghiệp trên các địa bàn khác. Ngân hàng cần chủ động tiếp cận đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ bảo lãnh của đối tượng khách hàng mới để kịp thời đáp ứng.

Khi tiến hành nghiên cứu thị trường, ngân hàng cần tập trung nghiên cứu tập tính, thái độ và đặc biệt là động cơ của khách hàng trong việc lựa chọn sử dụng dịch vụ của ngân hàng cũng như nhu cầu của khách hàng đối với nghiệp vụ bảo lãnh, thực hiện thu thập thông tin một cách có hệ thống, thường xuyên, tập trung vào “Hồ sơ bảo lãnh”của khách hàng cùng “Hồ sơ tín dụng”. Tiếp nhận những ý kiến phản hồi từ doanh nghiệp để có sự thay đổi hợp lý, thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Đồng thời có những cải tiến trong quy trình nghiệp vụ thuộc phạm vi quyền hạn của chi nhánh, và có những ý kiến đề xuất lên cấp trên về các vấn đề ngoài thẩm quyền của ngân hàng.

2.3 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm

Sản phẩm ở đây chính là dịch vụ bảo lãnh mà ngân hàng cung cấp. Điều quan trọng trước mắt là ngân hàng phải đa dạng hoá các hình thức cấp bảo lãnh. Ngoài các hình thức bảo lãnh truyền thống như bảo lãnh L/C trả chậm, bảo lãnh vay vốn nước ngoài, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, Eximbank cần chú trọng phát triển các hình thức bảo lãnh khác như bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh hoàn thanh toán, bảo lãnh bảo hành…hay các hình thức bảo lãnh liên quan đến chứng khoán để đáp ứng nhu cầu thị trường chứng khoán đang hoạt động hết sức sôi nổi. Bên cạnh đó, hình thức đồng bảo lãnh là giải pháp cho ngân hàng đáp ứng nhu cầu bảo lãnh những dự án, công trình lớn mà giá trị bảo lãnh vượt quá hạn mức được uỷ quyền, đồng thời hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Việc phát triển hình thức đồng bảo lãnh đòi hỏi ngân hàng phải thiết lậo được những mối quan hệ hợp tác tin cậy, đôi bên cùng có lợi với các ngân hàng khác.

Tuy nhiên, do khả năng đáp ứng các loại hình bảo lãnh giữa các ngân hàng là không có sự khác biệt lớn nên chất lượng dịch vụ bảo lãnh đóng vai trò quan trọng trong chiến lược sản phẩm.

Chất lượng sản phẩm ở đây là sự thuận tiện, chính xác, kịp thời trong quy trình nghiệp vụ, giải quyết đầy đủ các yêu cầu của khách hàng với mức phí hợp lý. Cạnh tranh về chất lượng sản phẩm là sự cạnh tranh phi giá, nhiều khi mức phí rẻ mà chất lượng phục vụ không tốt cũng không thu hút được khách hàng. ở một mức độ nào đó, các nhân tố như bề ngoài, sự giúp đỡ tận tình, thái độ lịch sự quan tâm tôn trọng khách hàng của nhân viên ngân hàng nhiều khi tạo nên ấn tượng tốt, nhận xét tích cực khi đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ của khách hàng.

2.4 Xây dựng một chiến lược giá cả phù hợp Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

Nếu so sánh bảng phí dịch vụ bảo lãnh của Eximbank với biểu phí của các ngân hàng khác thì sự khác nhau là không lớn do những quy định của ngân hàng Nhà nước về mức phí bảo lãnh. Do đó việc cạnh tranh về phí bảo lãnh là hạn chế.

Tuy nhiên, do Eximbank và hầu hết các ngân hàng khác đều áp dụng chế độ phí do các bên thoả thuận không vượt quá 2%/năm tính trên số tiền còn đang được bảo lãnh, nên ngân hàng cũng có thể thay đổi mức phí cho phù hợp với các đối tượng khách hàng, độ rủi ro nhằm thu hút khách hàng và tạo cơ hội cạnh tranh về giá với các ngân hàng khác vì các bảo lãnh khác nhau đều có những đặc điểm riêng, và các tổ chức với quy mô kinh tế khác nhau cũng như nhu cầu bảo lãnh ở các mức độ khác nhau. Thành phần đến đề nghị bảo lãnh ở ngân hàng có thể là các tổ chức kinh tế lớn như tổng công ty nhà nước, các công ty quy mô lớn, cũng có thể là các thành phần kinh tế nhỏ và cá nhân. Do vậy, ngân hàng cần phải có chính sách định giá cho từng đối tượng này một cách hợp lý và tuỳ theo mức độ quan hệ với ngân hàng.Việc định giá đối với tổ chức kinh tế (khách hàng truyền thống) nên linh hoạt hơn và ưu đãi hơn đối với cá nhân(khách hàng mới, đã có sử dụng hoặc chưa sử dụng lần nào.

2.5 Xây dựng chiến lược giao tiếp, khuyếch trương hoạt động bảo lãnh

Bản chất của hoạt động bảo lãnh là ngân hàng sử dụng uy tín của mình để đứng ra đảm bảo cho các giao dịch. Do vậy ngân hàng cần tạo dựng một hình ảnh nổi bật trên thương trường, tạo dựng niềm tin trong khách hàng. Đội ngũ cán bộ là điểm mấu chốt trong chính sách giao tiếp với khách hàng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thái độ phục vụ của cán bộ ngân hàng là phương pháp tuyên truyền, quảng cáo hiệu quả nhất về hình ảnh của ngân hàng. Ngân hàng cần củng cố và nâng cao chất lượng của mạng lưới phục vụ hiện có nhằm củng cố và nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng.

Chiến lược giao tiếp khuyếch trương sản phẩm cũng như hình ảnh về ngân hàng được thực hiện thông qua khâu bán hàng của các cá nhân, tuyên truyền, quảng cáo nhằm kích thích tiêu thụ. Để mở mang hoạt động của ngân hàng thì việc tuyên truyền quảng cáo về các dịch vụ trong đó có dịch vụ bảo lãnh trên các báo, tạp chí, phương tiện thông tin đại chúng là rất cần thiết. Trong tuyên truyền quảng cáo cần chú ý đến các đối tượng khách hàng của ngân hàng, các nhóm khách hàng thường xuyên và nhóm khách hàng tiềm năng để có thể lựa chọn phương pháp, phương tiện tuyên truyền quảng cáo cho phù hợp mà khách hàng thuận tiện và dễ dàng tiếp cận.

Đồng thời ngân hàng cũng nên xác định ngân sách dành cho nhiệm vụ này bởi những hoạt động trên đều đòi hỏi một số chi phí nhất định.

3. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định các yêu cầu bảo lãnh Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

Trước hết các cán bộ tín dụng phải đảm bảo quy trình và nội dung thẩm định phương án sử dụng vốn của bên yêu cầu bảo lãnh theo đúng quy trình thẩm định một món vay theo cơ chế tín dụng hiện hành. Đây là một yếu tố vô cùng quan trọng trước khi đưa ra quyết định cấp bảo lãnh bởi vì mặc dù trong nghiệp vụ bảo lãnh, ngân hàng không phải trực tiếp bỏ vốn của mình ra để giải ngân nhưng khi phát sinh thanh toán mà bên xin bảo lãnh không đủ khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ của mình thì rủi ro sẽ thuộc về ngân hàng. Lúc này, món bảo lãnh sẽ trở thành một món vay bắt buộc và được coi như là một khoản nợ quá hạn. Trong khi số tiền bảo lãnh chỉ được ngân hàng hạch toán ngoại bảng thì khi trở thành khoản nợ quá hạn sẽ tác động tiêu cực tới nguồn vố kinh doanh và chất lượng tín dụng của ngân hàng. Do đó, nâng cao chất lượng thẩm định dự án là giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro. Đây là loại biện pháp ngăn chặn trước những rủi ro gây ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động bảo lãnh.

Bên cạnh đó, biện pháp này còn có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược mở rộng đối tượng khách hàng. Với những khách hàng mới, chưa có quan hệ giao dịch tín nhiệm qua ngân hàng thì năng lực thẩm định dự án, thẩm định khách hàng sẽ là tiêu chuẩn để đưa ra quyết định có cấp bảo lãnh hay không.

Công tác thẩm định cần dựa trên cơ sở kết hợp thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để đảm bảo đầy đủ và chính xác. Nên kết hợp công tác thẩm định với việc kiêm rtra, giám sát doanh nghiệp trong suốt thời gian bảo lãnh có hiệu lực. Cán bộ ngân hàng cần xem xét, kiểm tra và đánh giá 5 điều kiện quan trọng sau:

  • Tư cách pháp nhân của doanh nghiệp
  • Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh chính
  • Khả năng quản lý, điều hành của chủ doanh nghiệp
  • Khả năng về tài chính và tài sản thế chấp
  • Hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh cụ thể trong yêu cầu bảo lãnh

Trong năm điều kiện trên thì có hai điều kiện cần tập trung xem xét, nghiên cứu cụ thể:

Hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh:

Các cán bộ ngân hàng phải có đủ năng lực, kinh nghiệm và trung thực khi đánh giá, xem xét tính khả thi của dự án dựa trên các phương diện: yếu tố thị trường, yếu tố kỹ thuật, yếu tố tài chính. Bên cạnh đó, cán bộ ngân hàng có thể tư vấn cho khách hàng về các vấn đề có liên quan đến tính khả thi của dự án. Kết quả của việc thẩm định là tiêu chuẩn quan trọng để quyết định có cấp bảo lãnh cho khách hàng hay không.

Khả năng về tài chính và tài sản thế chấp

Trước hết, khách hàng phải đáp ứng tỷ lệ ký quỹ theo quy định, còn lại sẽ được đảm bảo bằng tài sản thế chấp. Đây là biện pháp để hạn chế và bù đắp rủi ro khi phát sinh thanh toán mà doanh nghiệp không đủ khả năng hoặc không chịu thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng.

Thông thường khi đến Eximbank xin bảo lãnh, khách hàng đều muốn ký quỹ mức tối thiểu theo quy định (thường là 5% trên tổng giá trị bảo lãnh). Đồng thời khách hàng phải thực hiện việc cầm cố, thế chấp thay cho việc ký quỹ 100%.

Cán bộ ngân hàng cần xem xét kỹ quyền sở hữu tài sản, công chứng của các cơ quan công chứng Nhà nước, tính chuyển nhượng của tài sản thế chấp. Việc cầm quản kho hàng (thay thế cho việc thế chấp các tài sản khác) chỉ được đặt ra trong trường hợp ngân hàng thực sự quản lý trực tiếp được kho hàng, tránh mang tính hình thức. Ngân hàng chỉ bảo lãnh tối đa bằng 70% giá trị tài sản thế chấp, cầm cố.

Đối với các tài sản thế chấp thuộc sở hữu Nhà nước của các doanh nghiệp Nhà nước khi đem đi cầm cố phải có văn bản xác nhận đồng ý của Tổng cục quản lý vốn và tài sản của Nhà nước.

Ngoài ra, để thực hiện tốt các giải pháp đề xuất trên đây, ngân hàng cũng cần nâng cao chất lượng công tác thông tin phòng ngừa rủi ro. Đây được coi là yếu tố quan trọng của công tác thẩm định dự án đầu tư. Hiện nay Eximbank đã có một phòng ban phụ trách về thông tin tín dụng song cũng phải thừa nhận rằng việc thu thập thông tin tín dụng nói chung và bảo lãnh nói riêng của ngân hàng vẫn chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng, mất cân xứng và thiếu tin cậy, gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả bảo lãnh. Để khắc phục được nhược điểm này đòi hỏi ngân hàng cần phải: Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

  • Nâng cao chất lượng cán bộ và đào tạo cán bộ. Yêu cầu cán bộ chuyên trách làm thông tin tín dụng phải có trình độ về ngân hàng, tài chính, kinh tế, thông thạo máy tính và ngoại ngữ. Các cán bộ cần được tập huấn để biết cách thu thập, khai thác thông tin, biết phân tích và đánh giá về doanh nghiệp.
  • Hoàn thiện chương trình quản lý, phân loại khách hàng, phân loại dư nợ bảo lãnh bằng hệ thống máy vi tính và qua các mạng thông tin điện tử khác.
  • Tăng cường công tác thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp thông tin để có thể đáp ứng nhu cầu của các chi nhánh một cách chính xác và kịp thời.

4. Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong hoạt động bảo lãnh.

Công tác quản trị rủi ro nói chung và rủi ro trong hoạt động bảo lãnh là một nhân tố quan trọng tác động tới chất lượng hoạt động bảo lãnh của Chi nhánh. Bởi vậy, trong thời gian tới chi nhánh cần xây dựng một chương trình quản trị rủi ro bảo lãnh toàn diện:

Xác định hạn mức rủi ro bảo lãnh: Bộ phận nghiệp vụ quản trị rủi ro phải xác định hạn mức rủi ro cho nghiệp vụ bảo lãnh – là mức rủi ro nhất định mà chi nhánh có thể chấp nhận được trong nỗ lực có được lợi nhuận – trên cơ sở sẵn sàng chịu đựng rủi ro và sức mạnh tài chính của Chi nhánh.

Đánh giá rủi ro: Việc đánh giá rủi ro đòi hỏi phải xác định được những rủi ro liên quan đến hoạt động bảo lãnh; phải có các chốt kiểm tra nằm trong quá trình nghiệp vụ bảo lãnh (hệ thống Kiểm soát nội bộ) để kiềm chế rủi ro bảo lãnh trong hạn mức đã được đề ra. Bên cạnh đó, xây dựng các biện pháp để theo dõi các trường hợp ngoại lệ vượt hạn mức rủi ro bảo lãnh.

Quy trình đánh giá rủi ro bao gồm có bốn yếu tố:

  • Nhận biết rủi ro: Nhận biết rủi ro là khâu đầu tiên quan trọng trong quá trình đánh giá rủi ro. Các loại rủi ro bảo lãnh mà Chi nhánh có thể phải đối mặt cần được nhận biết thông qua việc phân tích đặc thù các loại hình bảo lãnh mà ngân hàng cung cấp.
  • Định lượng rủi ro: định lượng rủi ro là việc ngân hàng đề ra và xem xét lại hạn mức rủi ro bảo lãnh, từ đó xác định được loại rủi ro trong hoạt động bảo lãnh cần ưu tiên theo dõi và kiểm soát. Có ba phương pháp ước lượng cơ bản:
  • Phương pháp thống kê: Bản chất của phương pháp này là dựa trên việc tính toán xác suất xảy ra thiệt hại đối với hoạt động bảo lãnh.
  • Phương pháp kinh nghiệm: phương pháp này được hình thành dựa trên kinh nghiệm của các chuyên gia.
  • Phương pháp tính toán – Phân tích: Phương pháp này dựa trên việc xây dựng đường cong xác suất thiệt hại và đánh giá rủi ro bảo lãnh dựa trên động thái biến thiên của đồ thị toán ứng dụng bằng phương pháp ngoại suy.
  • Theo dõi rủi ro: Theo dõi rủi ro là việc thực hiện đầy đủ các hệ thống, các thủ tục kiểm soát, nhờ đó có thể theo dõi được mức rủi ro bảo lãnh.
  • Kiểm soát rủi ro: Rủi ro được kiểm soát bằng việc thực hiện các thủ tục nằm trong hệ thống kiểm soát nội bộ trong các quy trình bảo lãnh nhằm giảm thiểu rủi ro. Cần tìm ra sự cân bằng tối ưu giữa chi phí cho các thủ tục kiểm soát và lợi ích đem lại từ các thủ tục đó, từ đó lựa chọn các thủ tục kiểm soát rủi ro bảo lãnh phù hợp.

5. Tăng cường quỹ ngoại tệ tạo điều kiện bảo lãnh với nước ngoài Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

Trong sự vận động của thương mại toàn cầu và sự liên kết, hợp tác về kinh tế giữa các nước thì nhu cầu ngoại tệ của các doanh gnhiệp Việt Nam là rất lớn, vừa để khơi thông nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, vừa để tiến hành các giao dịch. Song có vay tất phải có trả. Các khoản bảo lãnh khi đến hạn sẽ phải thanh toán cho nước ngoài và khi đó, việc thu xếp đủ nguồn vốn ngoại tệ để thanh toán là một vấn đề nan giải nếu như ngân hàng không dự tính ngay từ lúc phát hành bảo lãnh. Chính vì vậy, với đặc điểm thị trường quốc tế như hiện nay, bảo lãnh L/C trả chậm và vay vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn, việc tích luỹ ngoại tệ sẽ giúp cho Eximbank đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ nước ngoài, nâng cao uy tín của ngân hàng. Để có đủ nguồn ngoại tệ kinh doanh, ngân hàng cần tập trung vào một số vấn đề sau:

  • Thực hiện tốt chính sách khách hàng, thu hút doanh nghiệp mở tài khoản và thanh toán quốc tế tại ngân hàng mình. Duy trì và phát triển hiệu quả mạng lưới thu đổi ngoại tệ, rà soát lại các hợp đồng trao đổi, đồng thời thường xuyên kiểm tra các bàn đại lý để tăng nguồn thu ngoại tệ và tránh được hiện tượng tư nhân núp dưới danh nghĩa ngân hàng để kinh doanh ngoại tệ trái với quy định của pháp luật.
  • Phát triển các dịch vụ ngân hàng khác để tăng thu ngoại tệ như dịch vụ chi trả kiều hối, dịch vụ đổi tiền mặt ngoại tệ, séc du lịch…

6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát

Một mặt cần kiểm tra giám sát việc tuân thủ những quy định của ngân hàng Nhà nước và của ngân hàng Xuất nhập khẩu trong khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh của các cán bộ ngân khác. Mặt khác cũng cần thường xuyên giám sát quá trình thực hiện hợp đồng của các doanh nghiệp, đảm bảo việc doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích, kịp thời phát hiện và xử lý những sai phạm nếu có, đồng thời có kế hoạch chuẩn bị đáp ứng nguồn vốn trong trường hợp phải trả tiền theo yêu cầu của người nhận bảo lãnh. Ngân hàng cần từng bước hiện đại hoá công tác lưu trữ và quản lý hồ sơ bảo lãnh trên máy vi tính để các cán bộ bảo lãnh có thể kiểm tra các khoản bảo lãnh của doanh nghiệp một cách nhanh chóng và chính xác.

7. Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

Đội ngũ cán bộ là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công cho ngân hàng. Họ là người trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách hàng, tiếp xúc, giao dịch với khách hàng. Đây cũng chính là người tạo ra hình ảnh của ngân hàng đối với khách hàng. Do vây, việc nâng cao năng lực trình độ, ý thức thái độ phục vụ khách hàng là nhân tố quan trọng tác động đến sự lựa chọn sử dụng các dịch vụ của ngân hàng. Đối với hoạt động bảo lãnh hiện nay thì việc cạnh tranh bằng mức phí bảo lãnh là hạn chế do những quy định về phí bảo lãnh của ngân hàng Nhà nước, vì vậy chất lượng phục vụ của đội ngũ cán bộ sẽ là yếu tố hàng đầu giúp ngân hàng cạnh tranh thắng lợi.

Công tác đào tạo cán bộ cần tập trung vào các yêu cầu chính sau:

  • Đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ thông qua các lớp đào tạo dài hạn trong và ngoài nước kết hợp với việc đào tạo tại chỗ. Cần tập trung vào việc nâng cao trình độ ngoại ngữ, sự hiểu biết về các luật và quy tắc áp dụng trong giao dịch bảo lãnh nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động giao dịch với các đối tác nước ngoài. Điều này sẽ giúp ngân hàng hạn chế được các rủi ro không lường trước được do môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp.
  • Bồi dưỡng, nâng cao ý thức, thái độ, tinh thần trách nhiệm khi phục vụ khách hàng. Mọi nhân viên cũng như các cán bộ lãnh đạo phải luôn ý thức được rằng lợi ích của khách hàng cũng chính là lợi ích của ngân hàng. Thái độ nhiệt tình, phục vụ chu đáo, chính xác chính là những yếu tố làm hài lòng khách hàng và tạo ấn tượng tốt về ngân hàng.
  • Hình thức đào tạo không chỉ là việc cử đi học mà có thể thông qua các phong trào, hội thi tại đơn vị và giữa các đơn vị giúp cho cán bộ công nhân viên bổ sung kiến thức, tạo ra bầu không khí làm việc sôi nổi, đoàn kết trong ngân hàng, khuyến khích việc tự học, tự nghiên cứu khoa học nâng cao trình độ, có biện pháp khen thưởng, khuyến khích về vật chất và tinh thần xứng đáng cho các cá nhân và tập thể có sáng kiến cải tiến trong công việc.
  • Tổ chức, phân công, sử dụng đúng người đúng việc, đảm bảo phát huy hết năng lực bảo lãnh của cán bộ, mạnh dạn sử dụng những cán bộ trẻ có năng lực đặc biệt trong lĩnh vực mới đòi hỏi sự nhanh nhậy và óc sáng tạo. Nội lực của ngân hàng chính là đội ngũ cán bộ công nhân viên. Phát huy hết tiềm năng sẵn có này sẽ đem lại sức mạnh cạnh tranh cho Eximbank trên thương trường.

8. Tiếp tục hiện đại hoá ngân hàng

Bao gồm việc áp dụng các quy trình công nghệ mới hỗ trợ cho hoạt động bảo lãnh nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung, nhất là công nghệ thông tin ngân hàng, nhằm cung cấp cho cán bộ bảo lãnh những nguồn thông tín cập nhật, đầy đủ, chính xác và kịp thời, giúp cán bộ tín dụng có được những thông tin cần thiết trong việc thẩm định và đưa ra quyết định bảo lãnh đúng đắn.

Bên cạnh đó, ngân hàng cũng nên quan tâm đến cơ sở vật chất, kỹ thuật trang thiết bị nhằm nâng cao hình ảnh của ngân hàng và tăng tiện ích cho khách hàng.

III. KIẾN NGHỊ Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

1. Đối với chính phủ và các cơ quan nhà nước

Về môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế phát triển ổn định, lành mạnh sẽ là động lực thúc đẩy hoạt động tài chính – ngân hàng nói chung và hoạt động bảo lãnh nói riêng. Bất ổn về kinh tế-chính trị-xã hội luôn đem lại những rủi ro bất khả kháng đối với các doanh nghiệp và ngân hàng. Chính vì thế Nhà nước cần nhanh chóng ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, xây dựng cơ chế thị trường đồng bộ, hoàn chỉnh hệ thống tiền tệ – tín dụng và giá cả bằng cách: đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại mở rộng các loại hình bảo lãnh chứng khoán và giảm sức ép về vốn đối với các doanh nghiệp; thực hiện chính sách kinh tế mở cửa và hợp tác với nước ngoài, ký kết các hiệp định thương mại với các nước để mở đường cho hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài. Nhà nước cũng cần tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa các ngân hàng trong kinh doanh, phân chia rõ ràng giữa hoạt động kinh doanh và hoạt động chính sách hỗ trợ của các ngân hàng thương mại để giảm bớt rủi ro cho ngân hàng.

Về môi trường pháp lý

Mọi hoạt động của các doanh nghiệp, ngân hàng đều nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Pháp luật quy định càng cụ thể, chặt chẽ thì hoạt động kinh doanh càng ít phát sinh tranh chấp, lừa đảo. Vì vậy, chính phủ cần ban hành luật sở hữu tài sản, các văn bản dưới luật liên quan đến sở hữu tài sản như cấp chứng thư sở hữu, đăng ký, chuyển nhượng, xác nhận…, cũng như hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Các bộ, ngành cần nghiêm chỉnh chấp hành các quy định về đấu thầu, quy chế quản lý đầu tư và xây dựng để hạn chế rủi ro như giải ngân vốn đầu tư chậm trễ, không đúng thời hạn và đầy đủ.

Các luật của Việt Nam như Luật dân sự, Luật thương mại, Luật các tổ chức tín dụng đều đề cập và đưa ra khái niệm, định nghĩa về bảo lãnh nhưng vẫn chỉ giới hạn trong việc nêu ra bản chất, nguyên tắc chung của nó. Các cơ quan ban hành pháp luật cần kết hợp với các cơ quan chuyên môn nhu Ngân hàng Nhà nước, Bộ công thương, các ngân hàng thương mại để đưa ra Luật về bảo lãnh, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động bảo lãnh. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

Chính phủ và các bộ ngành cũng cần có các văn bản hướng dẫn, quy định cụ thể về tài sản thế chấp, xử lý phát mại tài sản thế chấp, cầm cố bảo lãnh khi doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng, đặc biệt là vấn đề tài sản thế chấp của các doanh nghiệp Nhà nước. Mặc dù Bộ tài chính cho phép các doanh nghiệp được sử dụng tài sản thuộc sở hữu nhà nước để thế chấp trong bảo lãnh, nhưng việc thế chấp tài sản hầu như chỉ mang tính hình thức, vì thực tế các ngân hàng không thể phát mại được, gây rủi ro cho ngân hàng. Vì thế Chính phủ có thể xem xét việc xoá bỏ việc thế chấp tài sản đối với doanh nghiệp khi yêu cầu bảo lãnh. Tương tự như hoạt động cho vay, việc ra quyết định cấp bảo lãnh hay không sẽ hoàn toàn dựa vào tính khả thi, độ an toàn của dự án hoặc cho phép thế chấp bằng chính tài sản hình thành trong dự án; cho phép các ngân hàng được phép phát mại tài sản mà doanh nghiệp nhà nước cầm cố, thế chấp theo quy định của pháp luật. Chính phủ cũng cần đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, xác định rõ quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp với tài sản đem đi thế chấp. Việc hoàn thiện các văn bản pháp luật về bất động sản, hình thành thị trường bất động sản có sự quản lý của nhà nước cũng sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng giải toả nhanh chóng tài sản thế chấp để thu hồi lại vốn.

Chính phủ cần củng cố hệ thống doanh nghiệp, đặc biệt là việc thành lập cũng như phá sản, biến mất của các doanh nghiệp, quản lý một cách hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, ban hành các văn ban luật về kiểm toán kê toán trong doanh nghiệp kinh tế; Thường xuyên giám sát tình hình thực hiện các nguyên tắc kế toán sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tránh những hành vi gian lận và lừa đảo trong kế toán và báo cáo tài chính cũng như các gian lận trong việc lập các giấy tờ liên quan đến tài sản đảm bảo bảo lãnh.

Công khai hoá các thông tin tài chính, báo cáo tài chính, tạo ra một môi trường kinh doanh trong sáng, lành mạnh không chỉ trong hệ thống doanh nghiệp mà còn trong hệ thống ngân hàng thương mại.

2. Đối với ngân hàng nhà nước Việt Nam

Ngân hàng nhà nước không cần quy định cụ thể về mức phí, hạn mức bảo lãnh trong quy chế mà có thể để các ngânhàng thương mại chủ động, linh hoạt trong kinh doanh. Ngân hàng nhà nước chỉ cần tập trung quản lý vĩ mô, kiểm tra giám sát, phòng ngừa rủi ro thông qua quy định về quỹ bảo lãnh và ký quỹ bảo lãnh.

Ngân hàng nhà nước cần ban hành cụ thể về bảo lãnh và trích lập quỹ bảo lãnh đối với nghiệp vụ bảo lãnh trong nước, quy định khách hàng phải ký quỹ tại ngân hàng thương mại như thế nào, cũng như việc trích lập quỹ bảo lãnh, sử dụng quỹ, bởi vì hiện nay các ngân hàng thương mại đều vận dụng theo quy chế nghiệp vụ bảo lãnh đối ngoại để thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối nội.

Ngân hàng nhà nước cũng cần nâng cao chất lượng hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng nhằm cung cấp chính xác, kịp thời theo yêu cầu của các tổ chức tín dụng. Phát triển Trung tâm Thông tin tín dụng CIC của NHNN: Hệ thống Thông tin tín dụng sử dụng hiệu ứng “đẩy” và hiệu ứng “chặn” để thu hẹp phạm vi lựa chọn khách hàng tín dụng cũng như để giải quyết vấn đề về rủi ro đạo đức. Với hiệu ứng chặn, nó giúp ngăn chặn những khách hàng xấu trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng. Với hiệu ứng đẩy thì ngược lại, nó giúp các khách hàng tốt có nhiều cơ hội tiếp cận với tín dụng ngân hàng với mức chi phí hợp lý. Đặc biệt nó hỗ trợ đắc lực cho việc phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển đổi cơ cấu người vay từ khu vực không chính thức sang khu vực chính thức. Như vậy, CIC hoạt động hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh.

3. Đối với Eximbank-ngân hàng bảo lãnh Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

Ngân hàng cần xây dựng quy trình nghiệp vụ bảo lãnh cụ thể để các chi nhánh có cơ sở thực hiện, cải tiến thủ tục cấp bảo lãnh nhanh chóng thuận tiện cho doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo an toàn khi thực hiện.

Quan tâm đầu tư đúng mức cho công tác hiện đại hoá toàn bộ hệ thống, ứng dụng công nghệ hiện đại, thực hiện mối liên qua chặt chẽ giữa các chi nhánh, qua đó dễ dàng cho công tác truyền tin và cập nhật thông tin khi cần thiết, cũng như tạo ra sự hỗ trợ kịp thời giữa các chi nhánh khi có vấn đề xảy ra. Thực hiện thường xuyên công tác thanh tra kiểm tra hệ thống Eximbank Việt Nam

4. Đối với doanh nghiệp người được bảo lãnh

Các nghiệp vụ của ngân hàng chính là những công cụ hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Trong hoạt động bảo lãnh, khi phát sinh rủi ro thì người chịu thiệt chính là các doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp cần có chiến lược sản xuất kinh doanh đúng đắn, dựa trên nhu cầu của thị trường, lựa chọn đối tác kỹ càng, có tín nhiệm trước khi ký kết hợp đồng. Doanh nghiệp cần nâng cao trình độ nghiệp vụ của các cán bộ trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, năng lực đánh giá dự án về trình độ ngoại ngữ, luật pháp, sự hiểu biết về các quy tắc và thông lệ quốc tế trong giao dịch thương mại quốc tế. Việc tranh thủ sự tư vấn của ngân hàng trước khi ký kết hợp đồng ngoại thương hay hợp đồng vay vốn nước ngoài sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế được rất nhiều rủi ro. Doanh nghiệp cũng cần nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của ngân hàng về ký quỹ, tài sản thế chấp, và cần có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng và trong cam kết xin bảo lãnh với ngân hàng.

KẾT LUẬN

Trong hơn mười năm nghiệp vụ bảo lãnh được phát triển tại Việt Nam, bảo lãnh ngân hàng đã khẳng định được vai trò to lớn trong nền kinh tế thị trường, đem lại thu nhập, góp phần đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và phát triển diễn ra sôi nổi và mạnh mẽ như hiện nay.

Trước tình hình đó, có thể nói, cho đến nay ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam đã phát huy được hiệu quả của hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động bảo lãnh nói riêng, phát huy được vai trò chủ lực của một ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu, đáp ứng được nhu cầu vốn cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự đổi mới và hội nhập, Ngân hàng phải luôn nâng cao cả về chất và lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chuẩn bị một cách tốt nhất cho tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Hoạt động tại Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện xuất nhập khẩu tại Eximbank

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng bảo lãnh xuất nhập khẩu Eximbank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464