Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện công tác lập và phân tích báo cáo tài chính hợp nhất ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Báo cáo tài chính của Tập đoàn là công cụ hữu hiệu nhất cung cấp thông tin tài chính cho các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của tập đoàn: gồm nhà quản lý, nhà đầu tư, ngân hàng cho vay… Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Dưới góc độ của nhà quản lý, việc nắm bắt tổng thể tình hình tài chính của Tập đoàn là rất quan trọng trong việc quản lý hoạt động, định hướng phát triển và phân bổ nguồn lực. Mà đối với các Tập đoàn, Tổng công ty, tình hình tài chính của tập đoàn không đơn thuần chỉ là các số liệu, thông tin được phản ánh trên báo cáo tài chính riêng của chính Tập đoàn đó, mà phải là các thông tin tài chính trên báo cáo tài chính hợp nhất của cả Tập đoàn được nhìn nhận dưới góc độ là một “thực thể kinh tế”.

Đối với nhà đầu tư việc đọc hiểu báo cáo tài chính là vô cùng quan trọng để ra được quyết định đầu tư đúng đắn. Họ cũng cần nắm được tổng thể tình hình tài chính, nguồn vốn đầu tư được thực hiện và phân bổ như thế nào trong cả Tập đoàn. Đồng thời, kết quả kinh doanh của tập đoàn cũng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các cổ đông, chứ không đơn thuần chỉ là kết quả kinh doanh của công ty mẹ. Trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là các Tập đoàn kinh tế của nhà nước thực hiện quá trình cổ phần hóa gắn liền với việc niêm yết cổ phiếu và chào bán chứng khoán ra công chúng thì nhu cầu sử dụng báo cáo tài chính hợp nhất của nhà đầu tư càng trở nên cần thiết hơn.

Trong khi đó, hệ thống báo cáo tài chính hợp nhất ra đời cùng với sự xuất hiện của mô hình công ty mẹ – công ty con là một hệ thống báo cáo mới, rất phức tạp cần phải được nghiên cứu và hoàn thiện dần trong thực tiễn.

Bởi vậy em đã chọn vấn đề “Hoàn thiện công tác lập và phân tích báo cáo tài chính hợp nhất ở Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Nghiên cứu và làm rõ những vấn đề thuộc về cơ sở lí luận của việc lập báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ – con.

Thực trạng lập báo cáo tài chính hợp nhất tại các tập đoàn kinh tế Việt Nam theo mô hình công ty mẹ – con.

Nghiên cứu vấn đề thuộc cơ sở lí luận của việc phân tích báo cáo tài chính.

Nghiên cứu thực trạng phân tích báo cáo tài chính hợp nhất tại Việt Nam

Đề xuất các giải pháp để tiếp tục hoàn thiện công tác lập và phân tí ch báo cáo tài chính hợp nhất cho các tập đoàn Việt Nam.

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lí luận và thực tiễn về việc lập và phân tích báo cáo tài chính hợp nhất tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở:

  • Các bước lập báo cáo tài chính hợp nhất;
  • Những nguyên tắc điều chỉnh các chỉ tiêu khi lập báo cáo tài chính hợp nhất;
  • Phân tích cấu trúc tài chính và tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh
  • Phân tích tình hình, khả năng thanh toán của tập đoàn
  • Phân tích hiệu quả kinh doanh của tập đoàn

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Để nghiên cứu đề tài, các tác giả sử dụng một số phương pháp như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh.

5. KẾT CẤU ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất tại Việt Nam

Chương 2: Thực trạng công tác lập và phân tích báo cáo tài chính hợp nhất tại Việt Nam

Chương 3: C á c giải pháp hoàn thiện công tác lập và phân tích báo cáo tài chính hợp nhất ở Việt Nam.

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC LẬP VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT TẠI VIỆT NAM

1.1 Lý luận chung về công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất tại Việt Nam Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

1.1.1 Khái niệm và các thuật ngữ sử dụng

1.1.1.1 Khái niệm

Báo cáo tài chính hợp nhất: Là báo cáo tài chính của một Tập đoàn, Tổng công ty được trình bày như báo cáo tài chính của một doanh nghiệp độc lập, không tính đến ranh giới pháp lý của các pháp nhân riêng biệt là công ty mẹ hay các công ty con trong Tập đoàn. Báo cáo này được lập trên cơ sở hợp nhất báo cáo của công ty mẹ và các công ty con.

1.1.1.2 Các thuật ngữ sử dụng

Tập đoàn: bao gồm nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ – công ty con.

  • Công ty mẹ: một công ty được coi là Công ty mẹ của một công ty khác nếu có quyền kiểm soát công ty đó.
  • Công ty con: là công ty chịu sự kiểm soát của công ty khác (công ty mẹ).
  • Quyền kiểm soát: là quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của công ty con. Công ty mẹ thường được xem là có quyền kiểm soát trong các trường hợp sau đây:
  • Công ty mẹ nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết trực tiếp hoặc gián tiếp ở Công ty con;
  • Công ty mẹ có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm hoặc bãi miễn đa số các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của Công ty Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN
  • Điều 26 khoản 1 nghị định 139/2007/NĐ-CP về hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của luật doanh nghiệp con;
  • Công ty mẹ có quyền bỏ đa số phiếu tại các cuộc họp của Hội đồng quản trị hoặc cấp quản lý tương đương;
  • Công ty mẹ có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của Công ty con;
  • Các nhà đầu tư khác thoả thuận dành cho Công ty mẹ hơn 50% quyền biểu quyết;
  • Công ty mẹ có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động theo quy chế thoả thuận.
  • Quyền kiểm soát trực tiếp: là quyền kiểm soát được thiết lập do Công ty mẹ nắm giữ trực tiếp quyền biểu quyết ở Công ty con thông qua số vốn Công ty mẹ đầu tư trực tiếp vào Công ty con.

Ví dụ: Công ty A sở hữu 2.600 cổ phiếu phổ thông trong tổng số 5.000 cổ phiếu phổ thông đang lưu hành của Công ty B. Như vậy Công ty A nắm giữ trực tiếp 52% (2.600/5.000) quyền biểu quyết tại Công ty B và A là Công ty mẹ của Công ty B.

Quyền kiểm soát gián tiếp: là quyền kiểm soát được thiết lập do Công ty mẹ nắm giữ gián tiếp quyền biểu quyết tại một Công ty con thông qua một Công ty con khác trong Tập đoàn.

Ví dụ: Công ty X sở hữu 8.000 cổ phiếu phổ thông trong số 10.000 cổ phiếu phổ thông đang lưu hành của Công ty Y. Công ty Y đầu tư vào Công ty Z với tổng số vốn là: 600 triệu đồng trong tổng số 1.000 triệu đồng vốn điều lệ đã góp đủ của

Quyền biểu quyết trực tiếp của Công ty Y tại Công ty Z là 60% (600/1.000) và quyền biểu quyết gián tiếp của công ty X với công ty Z qua Công ty Y là 60%.

Lợi ích của cổ đông thiểu số là một phần của kết quả hoạt động thuần và giá trị tài sản thuần của một công ty con được xác định tương ứng cho các phần lợi ích không phải do công ty mẹ sở hữu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các công ty con.

1.1.2 Mục đích của báo cáo tài chính hợp nhất

Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu tại thời điểm kết thúc năm tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và các dòng lưu chuyển tiền tệ trong năm tài chính của Tập đoàn, Tổng công ty như một tập đoàn độc lập không tính đến ranh giới pháp lý của các pháp nhân riêng biệt là Công ty mẹ hay các Công ty con trong tập đoàn.

Cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá thực trạng tình hình tài chính và kết quả kinh doanh và các dòng lưu chuyển tiền tệ của Tập đoàn, Tổng công ty trong năm tài chính đã qua và dự đoán trong tương lai. Thông tin của Báo cáo tài chính hợp nhất là căn cứ quan trọng cho việc đề ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, hoặc đầu tư vào Tập đoàn hoặc Tổng công ty của các chủ sở hữu, của các nhà đầu tư, của các chủ nợ hiện tại và tương lai,…

1.1.3 Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính hợp nhất Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Hệ thống Báo cáo tài chính hợp nhất gồm Báo cáo tài chính hợp nhất năm và Báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ. Báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ gồm Báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ dạng đầy đủ và Báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ dạng tóm lược. Song nhìn chung, báo cáo tài chính hợp nhất luôn bao gồm:

  • Bảng cân đối kế toán hợp nhất;
  • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất;
  • Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất;
  • Bản thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất.

1.1.4 Trách nhiệm lập báo cáo tài chính hợp nhất

Kết thúc kỳ kế toán, Công ty mẹ có trách nhiệm lập Báo cáo tài chính hợp nhất để phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và các dòng lưu chuyển tiền tệ của cả Tập đoàn. Trường hợp Công ty mẹ đồng thời là Công ty con bị một công ty khác sở hữu toàn bộ hoặc gần như toàn bộ và được các cổ đông thiểu số trong công ty chấp thuận thì Công ty mẹ này không phải lập và trình bày Báo cáo tài chính hợp nhất.

Đối với trường hợp hợp nhất kinh doanh, theo quy định của chuẩn mực kế toán số 25, công ty mẹ không phải lập báo cáo tài chính hợp nhất tại ngày mua mà phải lập báo cáo tài chính hợp nhất tại thời điểm sớm nhất theo quy định hiện hành.

1.1.5 Phạm vi hợp nhất

Công ty mẹ khi lập Báo cáo tài chính hợp nhất phải hợp nhất Báo cáo tài chính riêng của mình và của tất cả các Công ty con ở trong nước và ngoài nước do Công ty mẹ kiểm soát, trừ các trường hợp: quyền kiểm soát của Công ty mẹ chỉ là tạm thời vì Công ty con này chỉ được mua và nắm giữ cho mục đích bán lại trong tương lai gần (dưới 12 tháng); hoặc hoạt động của Công ty con bị hạn chế trong thời gian dài (trên 12 tháng) và điều này ảnh hưởng đáng kể tới khả năng chuyển vốn cho Công ty mẹ.

Công ty mẹ không được loại trừ ra khỏi Báo cáo tài chính hợp nhất các Báo cáo tài chính của Công ty con có hoạt động kinh doanh khác biệt với hoạt động của tất cả các Công ty con khác trong Tập đoàn.

1.1.6 Nguyên tắc lập báo cáo tài chính hợp nhất Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Có 7 nguyên tắc cần phải tuân thủ khi lập báo cáo tài chính hợp nhất:

Công ty mẹ khi lập báo cáo tài chính hợp nhất phải căn cứ vào báo cáo tài chính của tất cả các công ty con ở trong nước và ngoài nước do công ty mẹ kiểm soát.

Công ty mẹ không được loại trừ ra khỏi Báo cáo tài chính hợp nhất các báo cáo tài chính của công ty con có hoạt động kinh doanh khác biệt với hoạt động của tất cả các công ty con khác trong tập đoàn.

Báo cáo tài chính hợp nhất được lập và trình bày theo nguyên tắc kế toán và nguyên tắc đánh giá như báo cáo tài chính hàng năm của tập đoàn độc lập theo qui định của Chuẩn mực kế toán số 21”Trình bày báo cáo tài chính” và qui định của các chuẩn mực kế toán khác.

Báo cáo tài chính hợp nhất được lập trên cơ sở áp dụng chính sách kế toán thống nhất cho các giao dịch và sự kiện cùng loại trong những hoàn cảnh tương tự trong toàn bộ tập đoàn.

Nếu công ty con sử dụng các chính sách kế toán khác với chính sách kế toán áp dụng thống nhất trong tập đoàn thì công ty con phải có điều chỉnh thích hợp các báo cáo tài chính trước khi sử dụng cho việc lập Báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn.

Trường hợp nếu công ty con không thể sử dụng chính sách kế toán một cách thống nhất làm ảnh hưởng đến hợp nhất báo cáo tài chính của tập đoàn thì phải giải trình về các khoản mục đã được hạch toán theo các chính sách kế toán khác nhau trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính hợp nhất.

Các báo cáo tài chính của công ty mẹ và công ty con sử dụng để hợp nhất báo cáo tài chính phải được lập cho cùng một kỳ kế toán năm. Báo cáo tài chính sử dụng để hợp nhất có thể được lập vào thời điểm khác nhau miễn là thời gian chênh lệch đó không vượt quá 3 tháng. Nếu ngày kết thúc kỳ kế toán năm là khác nhau quá 3 tháng, công ty con phải lập thêm một bộ báo cáo tài chính cho mục đích hợp nhất có kỳ kế toán trùng với kỳ kế toán năm của tập đoàn.

Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty con sẽ được đưa vào Báo cáo tài chính hợp nhất kể từ ngày mua công ty con, là ngày công ty mẹ thực sự nắm quyền kiểm soát công ty con theo Chuẩn mực kế toán “Hợp nhất kinh doanh”.

Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty con bị thanh lý được đưa vào Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất cho tới ngày thanh lý công ty con, là ngày công ty mẹ thực sự chấm dứt quyền kiểm soát đối với công ty con.

Số chênh lệch giữa khoản thu từ việc thanh lý công ty con và giá trị ghi sổ còn lại của tài sản trừ đi nợ phải trả của công ty con này tại ngày thanh lý được ghi nhận trong Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất như khoản lãi, lỗ thanh lý công ty con.

Để đảm bảo nguyên tắc so sánh của báo cáo tài chính từ niên độ kế toán này đến niên độ kế toán khác, cần cung cấp thông tin bổ sung về ảnh hưởng của việc mua và thanh lý các công ty con đến tình hình tài chính tại ngày báo cáo, kết quả của kỳ báo cáo và ảnh hưởng đến các khoản mục tương ứng của năm trước.

Khoản đầu tư vào một công ty phải hạch toán theo Chuẩn mực kế toán “Công cụ tài chính”, kể từ khi công ty đó không còn là công ty con nữa và cũng không trở thành một công ty liên kết như định nghĩa của Chuẩn mực số 07 “Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết”. Giá trị ghi sổ của khoản đầu tư tại ngày công ty không còn là một công ty con được hạch toán là giá gốc.

1.1.7 Lập báo cáo tài chính hợp nhất Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

1.1.7.1 Phương pháp lập báo cáo tài chính hợp nhất

Báo cáo tài chính hợp nhất được lập trên cơ sở hợp nhất các báo cáo tài chính của công ty mẹ và của các công ty con trong tập đoàn theo từng khoản mục bằng cách cộng các khoản mục tương đương trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh của công ty mẹ và công ty con theo nguyên tắc sau:

  • Đối với các khoản mục không phải điều chỉnh thì được cộng trực tiếp để xác định khoản mục tương đương trên báo cáo tài chính hợp nhất;
  • Đối với những khoản mục phải điều chỉnh thì phải thực hiện điều chỉnh theo nguyên tắc và phương pháp điều chỉnh thích hợp sau đó mới cộng để hợp nhất khoản mục này và trình bày trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất, báo cáo kết quả kinh doanh.

Trong đó, các chỉ tiêu chủ yếu phải điều chỉnh liên quan đến Bảng cân đối kế toán hợp nhất

  • Khoản đầu tư của công ty mẹ vào các công ty con;
  • Phân bổ lợi thế thương mại;
  • Lợi ích của cổ đông thiểu số;
  • Ảnh hưởng của các giao dịch nội bộ tập đoàn.
  • Các khoản phải thu, phải trả nội bộ giữa các đơn vị trong cùng tập đoàn;

1.1.7.2 Các bước lập báo cáo tài chính hợp nhất

Việc lập báo cáo tài chính hợp nhất được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Cộng hợp các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty mẹ và công ty con.

Bước 2: Xác định và ghi nhận các bút toán điều chỉnh các khoản mục cần điều chỉnh.

Bước 3: Lập bảng tổng hợp các bút toán điều chỉnh và bảng tổng hợp các chỉ tiêu hợp nhất.

Bước 4: Lập bảng báo cáo tài chính hợp nhất dựa trên bảng tổng hợp các chỉ tiêu hợp nhất sau khi đã được điều chỉnh và loại trừ ở bước 2.

1.1.7.3 Nguyên tắc điều chỉnh các chỉ tiêu khi lập Bảng cân đối kế toán hợp nhất Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Điều chỉnh khoản đầu tư của công ty mẹ vào các công ty con

Giá trị ghi sổ của khoản đầu tư của công ty mẹ trong từng công ty con và phần vốn của công ty mẹ trong vốn chủ sở hữu của công ty con phải được loại trừ hoàn toàn trên báo cáo tài chính hợp nhất.

Phân bổ lợi thế thương mại

Theo quy định của chuẩn mực kế toán số 27 và thông tư 161/2007/TT-BTC, với trường hợp hợp nhất kinh doanh, tại ngày mua nếu phát sinh lợi thế thương mại, thì lợi thế thương mại có thể được ghi nhận ngay vào chi phí sản xuất, kinh doanh nếu giá trị nhỏ hoặc nếu giá trị lớn, được phân bổ dần vào kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất theo phương pháp đường thẳng trong thời gian không quá 10 năm.

Ngược lại nếu phát sinh bất lợi thương mại, doanh nghiệp không được ghi nhận ngay khoản bất lợi thương mại này mà phải đánh giá lại giá trị hợp lý của các tài sản, nợ phải trả có thể xác định được, nợ tiềm tàng một lần nữa. Nếu sau khi đánh giá lại vẫn còn bất lợi thương mại thì mới được ghi nhận vào thu nhập khác.

Do Báo cáo tài chính hợp nhất được lập trên cơ sở Báo cáo tài chính riêng của Công ty mẹ và các Công ty con nên khi phân bổ lợi thế thương mại, kế toán phải điều chỉnh cả số đã phân bổ luỹ kế từ ngày mua đến ngày đầu kỳ báo cáo. Khi đã phân bổ hết lợi thế thương mại, kế toán vẫn phải lập bút toán điều chỉnh để phản ánh ảnh hưởng của số đã phân bổ đến lợi nhuận sau thuế chưa phân phối và lợi thế thương mại cho đến khi thanh lý công ty con.

Điều chỉnh để xác định lợi ích của cổ đông thiểu số

Trước hết, phải xác định lợi ích của cổ đông công ty con hợp nhất. Lợi ích của cổ đông thiểu số con hợp nhất, gồm:

  • Thiểu số trong tài sản thuần của trong tài sản thuần của công ty
  • Giá trị lợi ích của cổ đông thiểu số tại ngày mua được xác định phù hợp với Chuẩn mực kế toán số 11 “Hợp nhất kinh doanh”;
  • Lợi ích của cổ đông thiểu số trong sự biến động của tổng vốn chủ sở hữu kể từ ngày mua đến đầu năm báo cáo; và

Lợi ích của cổ đông thiểu số trong sự biến động của tổng vốn chủ sở hữu phát sinh trong năm báo cáo.

Các khoản lỗ phân bổ cho cổ đông thiểu số có thể lớn hơn phần vốn của họ trong công ty con. Khoản lỗ vượt trội này được tính giảm vào phần lợi ích của cổ đông đa số trừ khi cổ đông thiểu số có nghĩa vụ ràng buộc và có khả năng bù đắp các khoản lỗ đó. Nếu sau đó công ty con có lãi, khoản lãi đó sẽ được phân bổ vào phần lợi ích của cổ đông đa số cho tới khi phần lỗ trước đây do các cổ đông đa số gánh chịu được bồi hoàn đầy đủ.

Lợi ích của cổ đông thiểu số trong tài sản thuần của công ty con hợp nhất trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất phải được trình bày thành một chỉ tiêu riêng biệt tách khỏi phần nợ phải trả và phần vốn chủ sở hữu của cổ đông của công ty mẹ, ở mục C thuộc phần Nguồn vốn “C- Lợi ích của cổ đông thiểu số – Mã số 439”.

Loại trừ ảnh hưởng của giao dịch nội bộ tập đoàn

Chuẩn mực kế toán Việt Nam và các thông tư hướng dẫn đã hướng dẫn rất kỹ về việc loại trừ ảnh hưởng của các giao dịch trong nội bộ tập đoàn:

  • Loại trừ ảnh hưởng của giao dịch bán hàng trong nội bộ tập đoàn.
  • Loại trừ ảnh hưởng của giao dịch bán tài sản cố định trong nội bộ tập đoàn.
  • Loại trừ ảnh hưởng của giao dịch chuyển hàng tồn kho thành tài sản cố định trong nội bộ tập đoàn.
  • Loại trừ cổ tức được chia từ lợi nhuận sau ngày mua
  • Loại trừ các khoản vay nội bộ.

Nguyên tắc điều chỉnh ảnh hưởng của giao dịch bán hàng nội bộ:

Trong Báo cáo tài chính hợp nhất, doanh thu và giá vốn của hàng tiêu thụ trong nội bộ Tập đoàn phải được loại trừ toàn bộ.

Lãi hoặc lỗ chưa thực hiện trong giá trị hàng tồn kho cuối kỳ phải được loại trừ khỏi giá trị hàng tồn kho cuối kỳ, đồng thời lãi hoặc lỗ chưa thực hiện trong giá trị hàng tồn kho đầu kỳ cũng phải được loại trừ khỏi giá vốn hàng bán trong kỳ. (Chỉ phải loại trừ các khoản lỗ nội bộ chưa thực hiện khi chi phí tạo nên khoản lỗ đó không thể thu hồi được).

Việc loại trừ lãi hoặc lỗ chưa thực hiện trong giao dịch Công ty mẹ bán hàng cho Công ty con không ảnh hưởng đến việc phân chia lợi ích cho các cổ đông thiểu số của Công ty con. Trường hợp ngược lại, công ty con bán hàng cho công ty mẹ thì lãi hoặc lỗ chưa thực hiện trong giá trị hàng tồn kho phải được phân bổ giữa Công ty mẹ và các cổ đông thiểu số theo tỷ lệ lợi ích của các bên. Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Khi loại trừ lãi (lỗ) chưa thực hiện phát sinh từ giao dịch nội bộ trong tập đoàn sẽ làm giá trị ghi số của hàng tồn kho trong báo cáo tài chính hợp khác với cơ sở tính thuế được xác định trên cơ sở hoá đơn mua hàng đã có lãi hoặc lỗ từ các giao dịch bán hàng nội bộ. Do vậy sẽ làm phát sinh một khoản chênh lệch tạm thời theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 17 – Thuế thu nhập tập đoàn. Khoản chênh lệch tạm thời này sẽ làm phát sinh tài sản thuế thu nhập hoãn lại (chi phí thuế thu nhập hoãn lại) trong bảng cân đối kế toán hợp nhất của tập đoàn, đồng thời làm giảm (tăng) chi phí thuế thu nhập tập đoàn hoãn lại trong báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất của cả Tập đoàn.

Nguyên tắc điều chỉnh việc giao dịch bán tài sản cố định trong tập đoàn.

Các khoản thu nhập khác, chi phí khác, lãi hoặc lỗ chưa thực hiện phát sinh từ các giao dịch bán tài sản cố định trong nội bộ Tập đoàn phải được loại trừ hoàn toàn.

Trong Báo cáo tài chính hợp nhất của Tập đoàn, giá trị ghi sổ của tài sản cố định (nguyên giá, hao mòn lũy kế) phải được điều chỉnh lại như thể không phát sinh giao dịch bán tài sản cố định trong nội bộ Tập đoàn.

Trường hợp tài sản cố định được bán có lãi thì chi phí khấu hao đang được ghi nhận trong Báo cáo tài chính riêng của bên mua tài sản cố định sẽ cao hơn chi phí khấu hao xét trên phương diện của cả Tập đoàn, do đó trong Báo cáo tài chính hợp nhất kế toán phải điều chỉnh giảm chi phí khấu hao và hao mòn luỹ kế do ảnh hưởng của giao dịch bán tài sản cố định trong nội bộ Tập đoàn.

Tương tự như trường hợp bán hàng trong nội bộ Tập đoàn, việc điều chỉnh lãi (lỗ) chưa thực hiện sẽ làm phát sinh một khoản chênh lệch tạm thời theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 17 – Thuế thu nhập tập đoàn. Khoản chênh lệch tạm thời này sẽ làm phát sinh tài sản thuế thu nhập hoãn lại (chi phí thuế thu nhập hoãn lại) trong bảng cân đối kế toán hợp nhất của Tập đoàn, đồng thời làm giảm (tăng) chi phí thuế thu nhập tập đoàn hoãn lại trong báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất của cả Tập đoàn.

Trường hợp phát sinh lãi hoặc lỗ chưa thực hiện từ giao dịch Công ty con bán tài sản cố định trong nội bộ Tập đoàn thì khi xác định lợi ích của cổ đông thiểu số, kế toán phải xác định phần lãi hoặc lỗ chưa thực hiện cần phân bổ cho các cổ đông thiểu số và điều chỉnh lợi ích của cổ đông thiểu số.

Nguyên tắc điều chỉnh ảnh hưởng của giao dịch chuyển hàng tồn kho thành tài sản cố định trong nội bộ Tập đoàn.

Trường hợp một đơn vị trong Tập đoàn bán hàng hoá, thành phẩm cho đơn vị khác trong Tập đoàn sử dụng làm tài sản cố định thì toàn bộ doanh thu bán hàng hoá, giá vốn hàng bán và lợi nhuận chưa thực hiện trong nguyên giá TSCĐ phải được loại trừ hoàn toàn.

Đồng thời nếu giao dịch bán hàng nội bộ có lãi thì chi phí khấu hao đang được ghi nhận trong Báo cáo tài chính riêng của bên mua tài sản cố định sẽ cao hơn chi phí khấu hao xét trên phương diện của cả Tập đoàn, do đó trong Báo cáo tài chính hợp nhất kế toán phải điều chỉnh chi phí khấu hao và hao mòn luỹ kế do ảnh hưởng của giao dịch chuyển hàng tồn kho thành tài sản cố định trong nội bộ Tập đoàn.

Khi loại trừ lãi chưa thực hiện trong nguyên giá tài sản cố định trong nội bộ sẽ làm phát sinh tài sản thuế thu nhập hoãn lại tương ứng với số lãi chưa thực hiện nằm trong nguyên giá TSCĐ. Trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, khoản mục Chi phí thuế thu nhập tập đoàn hoãn lại cũng phải được ghi giảm số tiền tương ứng với thuế thu nhập tập đoàn hoãn lại phát sinh từ việc giảm lợi nhuận của Tập đoàn. Tài sản thuế thu nhập hoãn lại phát sinh do việc loại trừ lãi chưa thực hiện trong nguyên giá tài sản cố định của bên mua hàng sẽ được hoàn nhập dần hàng kỳ khi kế toán điều chỉnh giảm chi phí khấu hao của Tập đoàn.

Trường hợp hàng tồn kho được bán lỗ thường thể hiện lợi ích kinh tế mang lại trong tương lai của tài sản nhỏ hơn giá gốc của nó. Trường hợp này kế toán sẽ không loại trừ lỗ từ giao dịch bán hàng trong nội bộ Tập đoàn trừ khi chắc chắn rằng khoản lỗ này có thể được thu hồi.

Khi loại trừ lãi (lỗ) chưa thực hiện phát sinh từ lợi nhuận trong giao dịch Công ty con bán hàng hoá, thành phẩm thì kế toán phải xác định phần lãi, lỗ chưa thực hiện cần phân bổ cho các cổ đông thiểu số khi xác định lợi ích của cổ đông thiểu số.

Nguyên tắc điều chỉnh cổ tức được chia từ lợi nhuận sau thuế

Toàn bộ cổ tức được chia từ lợi nhuận sau ngày mua từ các Công ty con trong Tập đoàn phải được loại trừ hoàn toàn trong Báo cáo tài chính hợp nhất.

Loại trừ toàn bộ cổ tức và lợi nhuận được chia từ kết quả hoạt động kinh doanh sau ngày mua của các Công ty con đang nằm trong khoản mục “Doanh thu hoạt động tài chính” bằng cách ghi giảm chỉ tiêu này trên Báo cáo kết quả kinh doanh đồng thời với việc ghi giảm số cổ tức đã trả trong phần tổng hợp biến động vốn chủ sở hữu trên Thuyết minh báo cáo tài chính.

Nếu Công ty mẹ chưa nhận được số cổ tức hoặc lợi nhuận được chia này do Công ty con chưa chuyển tiền thì khi lập Báo cáo tài chính hợp nhất phải loại trừ số phải thu, phải trả về số cổ tức lợi nhuận được chia đang phản ánh trong khoản mục phải thu khác trong Báo cáo tài chính riêng của Công ty mẹ và khoản mục phải trả khác trong Báo cáo tài chính riêng của Công ty con chia lợi nhuận.

Nếu số cổ tức nhận được là cổ tức của kỳ kế toán trước khi Công ty mẹ mua khoản đầu tư thì khi lập Báo cáo tài chính hợp nhất phải loại trừ ảnh hưởng của nghiệp vụ nhận cổ tức này như hướng dẫn trong mục 4.2 Phần XIII của Thông tư này.

Nguyên tắc điều chỉnh các khoản vay trong nội bộ Tập đoàn

Các khoản vay trong nội bộ Tập đoàn chưa trả phải được loại trừ hoàn toàn khi lập Báo cáo tài chính hợp nhất. Theo đó, các khoản thu nhập từ cho vay và chi phí đi vay cũng phải loại trừ toàn bộ trong Báo cáo tài chính hợp nhất. Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Nếu các đơn vị trong một Tập đoàn có quan hệ vay mượn lẫn nhau thì số dư tiền vay trong nội bộ Tập đoàn đang phản ánh trong các khoản mục “Vay và nợ ngắn hạn”, khoản mục “Vay và nợ dài hạn”, khoản mục “Đầu tư ngắn hạn”, “Đầu tư dài hạn khác” phải được loại trừ toàn bộ.

Trường hợp vay nội bộ để đầu tư xây dựng hoặc sản xuất sản phẩm, nếu các khoản chi phí đi vay đủ điều kiện được vốn hoá vào giá trị tài sản đầu tư xây dựng dở dang hoặc tài sản sản xuất dở dang cũng phải được loại trừ hoàn toàn. Việc loại trừ này sẽ làm giảm khoản mục “Doanh thu hoạt động tài chính” trong

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất và giảm các khoản mục “Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản dở dang” hoặc “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” và “Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối” trong Bảng cân đối kế toán hợp nhất. Trường hợp này làm phát sinh tài sản thuế thu nhập hoãn lại do giá trị ghi sổ của tài sản trên Báo cáo tài chính hợp nhất thấp hơn cơ sở tính thuế của nó. Khi kết thúc thời kỳ đầu tư hoặc xây dựng tài sản dài hạn số lợi nhuận chưa thực hiện này được chuyển vào giá thành sản xuất thông qua chi phí khấu hao và chuyển thành lợi nhuận thực hiện. Thời gian khấu hao của TSCĐ là thời kỳ hoàn nhập của tài sản thuế thu nhập hoãn lại. Kế toán phải mở sổ theo dõi việc phân bổ khoản lãi tiền vay này vào giá thành sản xuất thông qua chi phí khấu hao để loại trừ khoản chi phí khấu hao này trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất.

Trường hợp lãi vay chưa được thanh toán và đang phản ánh trong các khoản mục phải thu, khoản mục phải trả thì các khoản mục chứa đựng số phải thu, phải trả này cũng phải được loại trừ hoàn toàn.

Nguyên tắc điều chỉnh số dư các khoản phải thu, phải trả giữa các đơn vị nội bộ trong cùng Tập đoàn

Số dư các khoản phải thu, phải trả giữa các đơn vị nội bộ trong cùng Tập đoàn phải được loại trừ hoàn toàn bằng cách ghi giảm khoản mục “Phải thu nội bộ” và giảm khoản mục “Phải trả nội bộ” đối với các đơn vị có liên quan.

1.2 Phân tích báo cáo cáo tài chính hợp nhất

1.2.1 Khái niệm phân tích báo cáo tài chính hợp nhất

Báo cáo tài chính hợp nhất là loại cáo cáo kế toán, phản ánh một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn trong một thời kì nhất định. Báo cáo tài chính hợp nhất không chỉ cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài Tập đoàn như: các nhà đầu tư, chủ nợ, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan thống kê,…. Mà còn cung cấp những thông tin cho các nhà quản trị Tập đoàn, giúp họ đánh giá, phân tích tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn.

Phân tích báo cáo tài chính hợp nhất cũng như phân tích báo cáo tài chính thông thường, đều là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính hợp nhất sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của Tập đoàn.

1.2.2 Các phương pháp phân tích báo cáo tài chính Tập đoàn Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

1.2.2.1 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến nhất và là phương pháp chủ yếu trong phân tích tài chính để đánh kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến đổi của chỉ tiêu phân tích.

So sánh là một phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến động và xác định mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích.

Nội dung so sánh gồm:

  • So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kì kinh doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của Tập đoàn. Đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của các hoạt động tài chính của Tập đoàn.
  • So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định mức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi mặt hoạt động tài chính của Tập đoàn.
  • So sánh giữa số liệu của Tập đoàn với số liệu trung bình của ngành, của Tập đoàn khác nhằm đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn tốt hay xấu, khả quan hay không khả quan.

1.2.2.2 Phương pháp tỉ lệ Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Một tỉ lệ là sự biểu hiện mối tương quan tương đối giữa một chỉ tiêu này với một chỉ tiêu khác. Bản chất của phương pháp tỉ lệ là tính toán và so sánh các tỉ lệ với một tỉ lệ tiêu chuẩn nào đó hoặc tỉ lệ trung bình của ngành. Mức độ và xu hướng của những tỉ lệ này sẽ giúp ta đánh giá được tình hình tài chính của công ty.

Có 5 nhóm tỉ lệ thường được sử dụng trong phân tích tài chính là:

  • Nhóm tỉ lệ đòn bẩy: chỉ ra quy mô, mức độ nợ trong cấu trúc vốn của Tập đoàn.
  • Nhóm tỉ lệ về khả năng thanh toán nhanh: Cho thấy khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của Tập đoàn.
  • Nhóm tỉ lệ về khả năng hoạt động: Bằng việc đo lường số vòng luân chuyển của tài sản, vốn để thấy được công ty hoạt động, sử dụng tài sản, vốn hiệu quả như thế nào.
  • Nhóm tỉ lệ về khả năng sinh lời: Sử dụng các phân tích cận biên để thấy được thu nhập trên vốn sử dụng.
  • Nhóm tỉ lệ về khả năng trả nợ: Thể hiện khả năng của công ty tạo ra dòng tiền đủ để thanh toán các khoản nợ và lãi.

1.2.2.3 Phương pháp loại trừ

Loại trừ là một phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởng lần lượt của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích. Khi phân tích ảnh hưởng của nhân tố này thì phải loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác. Có 2 phương pháp để loại trừ ảnh hưởng của nhân tố không phải nhân tố đang được phân tích.

  • Phương pháp thay thế liên hoàn: là tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố theo một trình tự nhất định. Nhân tố nào được thay thế nó sẽ xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu phân tích. Còn các chỉ tiêu chưa thay thế phải được giữ nguyên kỳ kế hoạch, hoặc kỳ kinh gốc.
  • Phương pháp số chênh lệch: dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếp của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích. Thực chất phương pháp số chênh lệch là phương pháp rút gọn của phương pháp thay thế liên hoàn.

1.2.2.4 Phương pháp Dupont

Trong phân tích tài chính, người ta thương vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Phương pháp Dupont là phương pháp phân tích một tỉ lệ sơ cấp (phản ánh hiện tượng) thành các tỉ lệ thứ cấp (phản ánh các nhân tố ảnh hưởng).

Ví dụ như: phân tích hiệu quả kinh doanh của Tập đoàn.

Từ phân tích trên ta có thể phân tích được triệt để các yếu tố ảnh hưởng đến ROA đồng thời thấy được mối quan hệ tương tác giữa các chỉ tiêu tài chính.

1.2.3 Nội dung phân tích tài chính Tập đoàn Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

1.2.3.1 Phân tích quy mô, cấu trúc tài chính và tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh

1.2.3.1.1 Phân tích quy mô, cơ cấu tài chính của Tập đoàn

Phân tích quy mô, cơ cấu của tài sản

Tất cả số liệu sử dụng trong việc phân tích quy mô, cơ cấu của tài sản ta đều lấy ở bảng cân đối kế toán. Để đánh giá quy mô, cơ cấu của tài sản và ta sử dụng phương pháp so sánh, xác định giá trị của từng khoản mục tài sản, nguồn vốn qua các năm, sự biến động về giá trị tuyệt đối cũng như tỉ trọng của từng khoản mục qua các năm.

Khi phân tích có thể lập bảng như sau:

Bảng 01: Bảng phân tích cơ cấu tài sản

Cột tỷ trọng (cột L, O): phản ánh sự thay đổi đó đóng góp bao nhiêu % vào sự thay đổi chung của tổng tài sản.

Bằng việc xem xét bảng phân tích trên, các nhà quản lý sẽ thấy được những đặc trưng trong cơ cấu tài sản của Tập đoàn, xác định được tính hợp lý của việc sử dụng (đầu tư) vốn. Từ đó ra quyết định đầu tư vào loại tài sản nào là thích hợp, đầu tư vào thời điểm nào; xác định được việc gia tăng hay cắt giảm hàng tồn kho cũng như lưu trữ hàng tồn kho hợp lý trong từng thời kỳ để vừa đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, vừa không làm tăng chi phí tồn kho,….

1.2.3.1.2 Phân tích quy mô, cơ cấu của nguồn vốn Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Việc phân tích quy mô, cơ cấu của nguồn vốn được thực hiện tương tự như phân tích cơ cấu tài sản. Nhà phân tích cũng cần phải tính và so sánh: sự tăng giảm về giá trị tuyệt đối và tương đối của các khoản mục nguồn vốn, sau đó lập thành bảng như sau:

Bảng 02: Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn

Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu (Đòn bẩy tài chính): phản ánh khả năng trả các khoản nợ của Tập đoàn bằng vốn chủ sở hữu. Trị số này càng cao càng chứng tỏ mức độ phụ thuộc của Tập đoàn vào chủ nợ càng lớn, mức độ độc lập về

Theo nguyên tắc lập báo cáo tài chính hợp nhất, lợi ích của cổ đông thiểu số được ghi trong mục vốn chủ sở hữu nhưng không được xem là vốn chủ sở hữu. Tài sản thuần của Tập đoàn = Tổng tài sản – Nợ phải trả – Lợi ích của cổ đông thiểu số. Song để tính toán chỉ số đòn bẩy tài chính chính xác hơn, thể hiện rõ tình trạng nợ của Tập đoàn, cần phải tính lợi ích cổ đông thiểu số vào vốn chủ sở hữu.

Hệ số nợ so với tổng nguồn vốn

Hệ số tài trợ:

Trong đó: Vốn chủ sở hữu bao gồm cả lợi ích của cổ đông thiểu số.

Hệ số này thể hiện mức độ độc lập của Tập đoàn về vốn, cứ 1 đồng vốn tài trợ tài sản của Tập đoàn thì có bao nhiêu đồng là vốn chủ sở hữu.

Nếu các chỉ tiêu hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu, hệ số nợ so với tổng nguồn vốn quá cao (tức là Tập đoàn nợ quá nhiều) hoặc hệ số tài trợ quá thấp sẽ rất khó thuyết phục các nhà đầu tư cho vay. Do vậy, Tập đoàn cần tìm các giải pháp thích hợp để giảm số nợ phải trả, tăng số vốn chủ sở hữu.

1.2.3.1.3 Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Để thấy được toàn bộ chính sách huy động và sử dụng vốn của Tập đoàn ngoài việc phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn, còn phải phân tích mối quan hệ giữa chúng. Để phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, ta dùng những chỉ tiêu sau:

Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn: là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư vốn chủ sở hữu vào tài sản. Do tài sản dài hạn là các tài sản có thời gian luân chuyển dài nên nếu vốn chủ sở hữu của Tập đoàn không đủ để tài trợ tài sản dài hạn của mình mà sử dụng bằng vốn vay thì khi các khoản nợ đáo hạn, Tập đoàn sẽ gặp khó khăn trong thanh toán. Vì thế trị số của chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ vốn chủ sở hữu đầu tư vào tài sản dài hạn càng lớn, song điều này cũng đồng nghĩa với việc hiệu quả kinh doanh sẽ không cao, do vốn CSH ít sử dụng vào kinh doanh, chủ yếu dùng vào tài trợ tài sản dài hạn.

Trong đó: vốn chủ sở hữu bao gồm cả lợi ích của cổ đông thiểu số.

Ngoài ra ta cũng có thể tính riêng cho từng khoản mục thuộc tài sản dài hạn như: nợ phải thu dài hạn, bất động sản đầu tư dài hạn,… Trong đó đặc biệt chú ý đến hệ số tự tài trợ tài sản cố định. Khác với các khoản mục thuộc tài sản dài hạn khác, tài sản cố định không thể dễ dàng đem bán, đó là phương tiện thiết yếu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Hệ số nợ so với tài sản: phản ánh mức độ tài trợ tài sản của Tập đoàn bằng các khoản nợ. Trị số này càng cao càng chứng tỏ mức độ phụ thuộc của Tập đoàn vào chủ nợ càng lớn, mức độ độc lập về mặt tài chính càng thấp. Do vậy, Tập đoàn sẽ có ít cơ hội và khả năng để tiếp nhận các khoản vay.

Cách tính này cho thấy để giảm hệ số nợ so với tài sản phải tăng hệ số tài trợ của Tập đoàn

Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu: phản ánh mức độ đầu tư tài sản của Tập đoàn bằng vốn chủ sở hữu. Trị số của chỉ tiêu này nếu càng lớn hơn 1 thì mức độ độc lập về tài chính của Tập đoàn càng giảm dần.

Vốn chủ sở hữu bao gồm cả lợi ích của cổ đông thiểu số.

Như vậy để giảm “hệ số tài sản so với vốn CSH”, cần phải tìm mọi biện pháp giảm tỷ lệ Nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu.

1.2.3.2 Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Vốn hoạt động thuần:

Vốn hoạt động thuần = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn = Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu (bao gồm cả Lợi ích cổ đông thiểu số) – Tài sản dài hạn.

Vốn hoạt động thuần là chỉ tiêu phản ánh số vốn tối thiểu của Tập đoàn được sử dụng để duy trì hoạt động diễn ra thường xuyên tại Tập đoàn.

Vốn hoạt động thuần < 0: khi Tài sản dài hạn > Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu hay Tài sản ngắn hạn < Nợ ngắn hạn, tức là Tập đoàn đang sử dụng 1 phần nợ ngắn hạn để tài trợ tài sản dài hạn. Do vậy Tập đoàn đang phải chịu áp lực thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán đang mất cân bằng (cân bằng xấu). Vốn hoạt động thuần càng nhỏ hơn 0, Tập đoàn càng khó khăn trong thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.

Ngoài ra để phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh, các nhà phân tích còn sử dụng các chỉ tiêu sau:

  • Hệ số tài trợ thường xuyên: chỉ tiêu này càng lớn, tính ổn định và cân bằng tài chính của Tập đoàn càng cao.
  • Hệ số tài trợ tạm thời: Ngược lại với hệ số tài trợ thường xuyên, chỉ tiêu này càng nhỏ, tính ổn định và cân bằng tài chính của Tập đoàn càng cao.
  • Hệ số vốn CSH so với nguồn tài trợ thường xuyên: cho biết tỉ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng số nguồn tài trợ thường xuyên. Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, tính tự chủ và độc lập về tài chính của Tập đoàn càng cao.

Trong đó: Vốn chủ sở hữu bao gồm cả lợi ích của cổ đông thiểu số.

1.2.3.3 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của Tập đoàn Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

1.2.3.3.1 Phân tích tình hình các khoản phải thu, nợ phải trả của Tập đoàn

Để phân tích hình hình các khoản phải thu, nợ phải trả của Tập đoàn, các nhà phân tích tính toán sự tăng, giảm các khoản nợ phải thu, nợ phải trả giữa cuối kỳ với đầu kỳ bằng số tuyệt đối và tương đối. Từ đó thấy được biến động của các khoản phải thu, phải trả trong kỳ phân tích. Đặc biệt cần chú ý phân tích số phải thu quá hạn theo thời hạn, số phải trả quá hạn theo thời hạn. Từ đó đưa ra các biện pháp để nhanh chóng thu hồi các khoản công nợ và đáp ứng nhu cầu thanh toán của Tập đoàn.

Bảng 03: Phân tích biến động các khoản phải thu, phải trả

Bên cạnh việc phân tích sự tăng giảm các khoản mục nợ phải thu (phải trả), các nhà phân tích thường tính ra và so sánh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc các chỉ tiêu sau:

Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả (tỷ lệ vốn chiếm dụng so với vốn bị chiếm dụng):

Chỉ tiêu này lớn hơn 100% chứng tỏ vốn của Tập đoàn bị chiếm dụng nhiều.

Số vòng luân chuyển các khoản phải thu

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ, các khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ Tập đoàn thu được tiền hàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn. Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này cao quá chứng tỏ phương thức thanh toán của Tập đoàn quá chặt chẽ, ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ.

Thời gian của một vòng quay các khoản phải thu

Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền càng nhanh, Tập đoàn ít bị chiếm dụng vốn.

Tương tự ta có chỉ tiêu: số vòng luân chuyển các khoản phải trả và thời gian một vòng quay các khoản phải trả. Chỉ tiêu số vòng luân chuyển các khoản phải trả càng cao & chỉ tiêu thời gian một vòng quay các khoản phải trả càng thấp, chứng tỏ Tập đoàn thanh toán tiền hàng kịp thời, uy tín của Tập đoàn ngày càng được nâng cao.

1.2.3.3.2 Phân tích khả năng thanh toán của Tập đoàn Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Phân tích khái quát khả năng thanh toán của Tập đoàn

Để phân tích khả năng thanh toán khái quát của Tập đoàn ta dùng chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán chung (Hk):

Khả năng thanh toán Hk = Nhu cầu thanh toán

Khả năng thanh toán của Tập đoàn chính là tổng tài sản của Tập đoàn (mã 270).

Nhu cầu thanh toán của Tập đoàn có thể lấy từ chỉ tiêu nợ phải trả (mã 300).

Hk < 1: khả năng thanh toán < nhu cầu thanh toán, chỉ tiêu này càng nhỏ có thể dẫn tới Tập đoàn bị phá sản.

Ngoài ra ta còn sử dụng các chỉ tiêu: hệ số nợ so với tài sản, hệ số nợ so với tổng vốn chủ sở hữu (đã được nhắc khi phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn). Các chỉ tiêu này càng cao Tập đoàn càng phải chịu áp lực trả nợ lớn.

Phân tích khả năng thanh toán nợ ngắn hạn

Để phân tích khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của Tập đoàn trước hết ta phân tích khả năng tạo tiền của Tập đoàn bằng cách phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ, xác định tỉ trọng dòng tiền thu của từng hoạt động. Tỷ trọng này cho biết mức độ đóng góp của từng hoạt động vào tạo tiền của Tập đoàn.

Nếu việc tạo tiền được tạo ra chủ yếu nhờ hoạt động kinh doanh thể hiện tiền tạo ra chủ yếu từ hoạt động bán hàng. Nếu tỷ trọng dòng tiền thu từ hoạt động đầu tư cao chứng tỏ Tập đoàn đã thu hồi đầu tư chứng khoán, bán tài sản cố định,…Khi phân tích, việc tạo tiền của Tập đoàn không phải do hoạt động kinh doanh thì đó là điều không bình thường.

Nếu dòng tiền thu được trong các năm tiếp theo đủ để chi trả chi phí tài chính của Tập đoàn, thì Tập đoàn sẽ không phải chịu áp lực thanh toán nợ ngắn hạn, chỉ phải lo trả nợ khi đến hạn. Để ước lượng khả năng thanh toán chi phí tài chính của Tập đoàn, chúng ta thường tính toán tỷ lệ dòng tiền thuần/chi phí tài chính hàng năm.

Bên cạnh phân tích khả năng tạo tiền của Tập đoàn, các nhà phân tích còn sử dụng những chỉ tiêu sau:

Hệ số thanh toán hiện hành:

Là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản ngắn hạn cho nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của Tập đoàn, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương ứng với thời hạn của các khoản nợ đó.

Tỷ lệ này có giá trị càng cao thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của Tập đoàn càng tốt và ngược lại. Nếu hệ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 thì Tập đoàn không đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu con số này quá cao thì có nghĩa là Tập đoàn đã đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn so với nhu cầu. Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Hệ số khả năng thanh toán nhanh:

Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng thanh toán nhanh của Tập đoàn rất dồi dào, tuy nhiên nếu cao quá có thể dẫn tới tình trạng dư thừa vốn bằng tiền mặt dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp.

Vốn hoạt động thuần ngắn hạn

Vốn hoạt động thuần ngắn hạn = Tổng giá trị thuần của tài sản ngắn hạn – Tổng nợ ngắn hạn

Muốn hoạt động của Tập đoàn được liên tục, không bị đứt quãng cần thiết phải duy trì một mức vốn hoạt động thuần ngắn hạn phù hợp để thỏa mãn các khoản nợ ngắn hạn. Vốn hoạt động thuần càng lớn, khả năng thanh toán Tập đoàn càng cao, tuy nhiên cũng như các chỉ số khác, nếu vốn hoạt động thuần cao quá dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp.

Phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn của Tập đoàn

Để phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn của Tập đoàn, chúng ta thường dùng phương pháp tỉ số để phân tích các thông tin trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh.

Phân tích bảng cân đối kế toán: Ta thường sử dụng những chỉ tiêu sau để phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn của Tập đoàn:

Hệ số thanh toán nợ dài hạn khái quát:

Chỉ tiêu này cho biết khả năng sử dụng tài sản cố định và đầu tư dài hạn để thanh toán các khoản công nợ dài hạn. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng thanh toán nợ dài hạn của Tập đoàn càng tốt.

Hệ số thanh toán nợ dài hạn của năm tới

Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nợ dài hạn đến hạn phải trả của năm tới bằng vốn khấu hao thu về theo dự kiến. Chỉ tiêu này thấp (<1) chứng tỏ Tập đoàn cần phải huy động thêm vốn để thanh toán các khoản vay đến hạn thanh toán.

Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh: Các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh thể hiện khả năng sinh lợi của Tập đoàn trong tương lai. Nếu số lợi nhuận thu về hàng năm đủ khả năng thanh toán lãi vay của các khoản nợ, Tập đoàn sẽ không phải lo về việc thanh toán trong ngắn hạn, chỉ phải lo thanh toán nợ gốc khi đến hạn trả.

Để phân tích khả năng thanh toán lãi tiền vay dài hạn trong năm hiện tại, năm tới ta sử dụng chỉ tiêu hệ số thanh toán lãi tiền vay dài hạn:

Ta có thể tính chỉ tiêu này cho năm hiện tại, năm tới dựa vào dự đoán kết quả kinh doanh của năm sau. Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ khả năng thanh toán lãi vay của Tập đoàn tốt, Tập đoàn không những có đủ khả năng thanh toán phí lãi vay mà còn thanh toán nợ gốc vay.

1.2.3.4 Phân tích hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của Tập đoàn để đạt được hiệu quả cao nhất.

Phân tích hiệu quả kinh doanh cần kết hợp phân tích hiệu quả ở các bộ phận, các mặt của quá trình kinh doanh như chỉ tiêu hiệu quả vay, chi phí…

Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh

Phân tích sự biến động của từng chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Qua đó chúng ta sẽ biết được sự tác động của các chỉ tiêu và nguyên nhân ảnh hưởng đến lợi nhuận phân tích. Đồng thời so sánh tốc độ tăng, giảm của các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để biết được mức tiết kiệm của các khoản phí, sự tăng của các khoản doanh thu, nhằm khai thác điểm mạnh, khắc phục điểm yếu trong hoạt động kinh doanh.

Để dễ phân tích và so sánh, ta thường lập thành bảng sau:

Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản

Để phân tích hiệu quả sử dụng tài sản, thường dùng những chỉ tiêu sau đây:

  • Số vòng quay của tài sản: Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích, các tài sản quay được bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện nâng cao lợi nhuận cho Tập đoàn. Doanh thu thuần lấy từ chỉ tiêu mang mã số 10 trên báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất. Được tính bằng cách cộng gộp các khoản mục tương ứng trên các báo cáo kết quả kinh doanh của công ty mẹ và các công ty con sau khi đã điều chỉnh các giao dịch nội bộ.
  • Sức sinh lời của tài sản (ROA): Chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ phân tích, Tập đoàn đầu tư 1 đồng tài sản thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập Tập đoàn. Chỉ tiêu này càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản của Tập đoàn càng tốt.

Lợi nhuận sau thuế lấy từ khoản mục lợi nhuận sau thuế thu nhập Tập đoàn mã số 60 trên báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất. Việc chỉ tính riêng lợi nhuận sau thuế của Tập đoàn mà không tính phần “lợi ích của cổ đông thiểu số” là không phản ánh hết được khả năng sinh lời của tài sản.

Thời gian 1 vòng quay của tài sản:

Chỉ số này có ý nghĩa ngược lại với số vòng quay của tài sản. Chỉ tiêu này thể hiện tốc độ quay của tài sản, chỉ tiêu này càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản càng cao. Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Để phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của Tập đoàn, ngoài việc phân tích tổng tài sản nói chung, còn phân tích hiệu quả sử dụng từng khoản mục tài sản trong bảng cân đối kế toán hợp nhất. Các chỉ tiêu để tính hiệu quả sử dụng từng khoản mục tài sản tương tự như tính hiệu quả sử dụng tổng tài sản. Trong đó quan trọng nhất là việc tính hiệu quả sử dụng tài sản cố định (thuộc tài sản dài hạn) và hàng tồn kho (thuộc tài sản ngắn hạn).

Phân tích hiệu quả sử dụng vốn

Để phân tích hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của Tập đoàn, ta dùng chỉ số sức sinh lời của vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn chủ sở hữu của Tập đoàn tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ Tập đoàn càng hoạt động hiệu quả. Ta còn có thể so sánh chỉ tiêu này với lãi suất tiền vay của ngân hàng, nếu chỉ tiêu này cao hơn lãi suất tiền vay ngân hàng thì Tập đoàn nên vay tiền đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, Tập đoàn cần thu hẹp phạm vi vay tiền nhằm đảm bảo an toàn và phát triển vốn cho hoạt động kinh doanh.

Trong đó:

Vốn chủ sở hữu là vốn chủ sở hữu của Tập đoàn, không bao gồm phần lợi ích của cổ đông thiểu số.

Lợi nhuận sau thuế trên báo cáo kết quả kinh doanh là bao gồm cả phần lợi ích của cổ đông thiểu số. Song để thấy được chính xác hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của Tập đoàn thì cần thiết phải loại trừ phần lợi ích của cổ đông thiểu số.

1.2.4.3.4 Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí

Chi phí trong kỳ của Tập đoàn thường bao gồm: Giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý Tập đoàn,… Đó là các khoản chi phí bỏ ra để thu lợi nhuận trong kỳ. Để đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

Tỷ suất lợi nhuận so với giá vốn hàng bán

Tỷ suất lợi nhuận trước thuế so với tổng chi phí:

Lợi nhuận trước thuế lấy từ chỉ tiêu mã số 50 trong báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất. Tổng chi phí là tổng của các chỉ tiêu mã số 11, 22, 24, 25, 32 trên báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất.

Các chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ Tập đoàn chỉ phải mất ít chi phí để tạo ra một đồng lợi nhuận, nó có nghĩa là Tập đoàn đang hoạt động hiệu quả.

Tuy nhiên đối với Tập đoàn có nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều ngành nghề kinh doanh khác nhau hoặc các doanh nghiệp thuộc chuỗi dây chuyền sản xuất thì những chỉ số này không có ý nghĩa lắm, bởi mỗi ngành nghề khác nhau có một tỷ suất lợi nhuận khác nhau, chỉ số tính ra chỉ là chỉ số trung bình của cả thị trường.

1.2.4.4 Phân tích hiệu quả kinh doanh dành cho nhà đầu tư Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

Các nhà đầu tư (cổ đông) thường quan tâm đến các chỉ tiêu như: thu nhập trên một cổ phiếu phổ thông, tỷ lệ giá trị thị trường so với mệnh giá của một cổ phiếu, tỷ suất chi trả lãi cổ phần, tỷ suất sinh lãi cổ phần để đưa ra quyết định đầu tư.

Thu nhập trên một cổ phiếu (EPS):

Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng cổ phiếu phổ thông của nhóm công ty đầu tư thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng cao đó là sức hấp dẫn đầu tư của nhóm công ty.

Có thể lấy số liệu số cổ phiếu lưu hành bình quân trong năm qua bản thuyết minh báo cáo tài chính của nhóm công ty. Thông thường các nhóm công ty cũng công bố luôn chỉ tiêu này trên báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất mã số 20.

Tỷ lệ giá thị trường so với mệnh giá của 1 cổ phiếu. 33

Thể hiện giá trị của mỗi cổ phiếu trên thị trường chứng khoán gấp bao nhiêu lần so với mệnh giá (hệ số điểm của cổ phiếu). Xem xét chỉ tiêu này phải rất thận trọng, nếu chỉ tiêu này cao có thể là do khả năng tài chính của nhóm công ty mạnh, có triển vọng kinh doanh, song cũng có thể do niềm tin thái quá, sự thổi phồng triển vọng của Tập đoàn.

Tỷ suất chi trả lãi cổ phần:

Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ mỗi cổ phiếu thu được bao nhiêu cổ tức. Tùy thuộc vào từng mục đích của nhà đầu tư để xem xét giá trị của chỉ tiêu này. Nếu chỉ tiêu này cao nghĩa là nhà đầu tư thu được nhiều cổ tức song nó đồng nghĩa với việc nhóm công ty giữ lại ít lợi nhuận để tái đầu tư, điều này có thể làm giảm lợi nhuận trong tương lai.

Tỷ suất sinh lãi cổ phần:

Chỉ tiêu này cho biết khi nhà đầu tư bỏ ra 1 đồng đầu tư thì thu về được bao nhiêu đồng cổ tức. Chỉ tiêu này cũng có ý nghĩa tương tự với chỉ tiêu tỷ suất chi trả lãi cổ phần. Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Tổng quan báo cáo tài chính hợp nhất tại Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Công tác lập báo cáo tài chính hợp nhất ở VN

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện báo cáo tài chính ở VN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464