Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng quy định về thông tin môi trường tại các Khu công nghiệp

2.1.1. Các quy định pháp luật về thông tin môi trường tại Khu công nghiệp

Hoạt động thông tin về tình hình môi trường nói chung, môi trường Khu công nghiệp nói riêng là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và các chủ thể liên quan theo quy định của pháp luật. Hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra khái niệm thông tin môi trường Khu công nghiệp. Theo quy định tại khoản 29 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014 thì thông tin môi trường là số liệu, dữ liệu về môi trường dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự. Theo Luật bảo vệ môi trường 2014 có hai phương thức để công chúng tiếp cận thông tin môi trường:

Một là, các cơ quan nhà nước, cơ sở sản xuất, kinh doanh chủ động công khai thông tin theo quy định và mọi người đều có thể tiếp nhận những thông tin này. Theo Điều 131 đối với phương thức này pháp luật quy định rõ những thông tin buộc phải công khai,hình chức công khai, người có trách nhiệm phải công khai. Ưu điểm của phương thức này là công chúng có thể dễ dàng tiếp cận thông tin mà không phải qua những thủ tục phức tạp, tốn kém. Hạn chế là nội dung và chất lượng thông tin lại tùy thuộc vào các cơ quan nhà nước. Trên thực tế các cơ quan nhà nước cũng chủ động công khai thông tin qua các văn bản, báo cáo định kỳ đã phân tích tương đối toàn diện và bao quát các vấn đề liên quan đến môi trường từ điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội cho đến các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến môi trường. Thông qua việc công khai báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường sẽ giúp người dân có được thông tin từ tổng thể đến cụ thể liên quan đến môi trường;

Hai là, người dân chủ động yêu cầu cơ quan nhà nước, cơ sở sản xuất, kinh doanh cung cấp thông tin về môi trường. Theo quy định của Luật bảo vệ môi trường 2014 các chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin về môi trường gồm: tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đại diện cộng đồng dân cư [12]. Quy định pháp luật hiện hành không cho phép cá nhân, hộ gia đình được trực tiếp yêu cầu cung cấp thông tin về môi trường mà phải thông qua đại diện cộng đồng dân cư hoặc các tổ chức mình tham gia để yêu cầu.

Qua đó ta có thể hiểu thông tin môi trường Khu công nghiệp là một dạng cụ thể của thông tin môi trường. Có thể hiểu thông tin môi trường Khu công nghiệp là số liệu, dữ liệu về môi trường trong Khu công nghiệp dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự.

Trong Khu công nghiệp vấn đề thông tin môi trường rất quan trọng với các chủ thể liên quan. Đối với cơ quan nhà nước đó là căn cứ để đưa ra các quyết định quản lý đúng đắn. Đối với tổ chức, cá nhân đó là cơ sở để thực hiện các quyền cơ bản, đưa ra các yêu cầu về chất lượng cuộc sống.

2.1.2. Nội dung và hình thức thông tin môi trường tại Khu công nghiệp Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Theo khoản 1 Điều 131 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định về thông tin môi trường phải được công khai gồm: Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; thôn tin về nguồn thải, chất thải, xử lý chất thải; khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái ở mức nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường; các báo cáo về môi trường; kết quả thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường.

Pháp luật chưa có quy định riêng về nội dung thông tin môi trường Khu công nghiệp phải được công khai. Vì vậy, chủ thể quản lý dựa vào quy định về công khai thông tin môi trường nói chung để yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các thông tin môi trường khu công nghiệp thuộc danh mục bí mật nhà nước thì không được phép công khai.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 131 Luật bảo vệ môi trường 2014 thì hình thức công khai phải bảo đảm thuận tiện cho những đối tượng có liên quan tiếp nhận thông tin.Việc công khai môi trường Khu công nghiệp phải công khai và bảo đảm cho các chủ thể được tiếp cận thông tin. Trong Khu công nghiệp thông tin môi trường thường được công khai dưới các hình thức đa dạng. Một số phương tiện cơ bản thường được sử dụng để công khai thông tin môi trường trong Khu công nghiệp gồm: bảng tin của Khu công nghiệp; đài phát thanh của Khu công nghiệp,.. Ngoài ra, còn một số phương tiện khác mà cơ quan quản lý có thể sử dụng để công khai thông tin môi trường Khu công nghiệp như: công khai trong các cuộc họp tổng kết hoạt động của Khu công nghiệp,…

2.2. Thực trang quy định về đánh giá tác động môi trường Khu công nghiệp Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

2.2.1. Nội dung quy định về đánh giá tác động môi trường Khu công nghiệp

Tại khoản 23, Điều 3, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó.

Từ định nghĩa về ĐTM và các đặc điểm của Khu công nghiệp, có thể nói đánh giá tác động môi trường trong Khu công nghiệp là hoạt động phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư, các hoạt động trong Khu công nghiệp, từ đó đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án và các hoạt động tại môi trường có dự án.

Pháp luật về đánh giá tác động môi trường tại Khu công nghiệp là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong quá trình lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo cáo ĐTM tại Khu công nghiệp nhằm đảm bảo ĐTM như một công cụ pháp lý trong công tác quản lý môi trường. Những hành vi vi phạm ĐTM sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Các nội dung cơ bản của pháp luật ĐTM tại Khu công nghiệp gồm có: đối tượng phải lập báo cáo ĐTM trong các Khu công nghiệp; nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường; lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; tham vấn ý kiến cộng đồng quá trình lập báo cáo ĐTM.

Theo Điều 18 Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định đối tượng phải thực hiện ĐTM gồm:

  • Một là các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
  • Hai là các dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịch sử – văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng;
  • Ba là các dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường.

Trong Điều 66, Điều 67 Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định về bảo vệ môi trường Khu công nghiệp, Khu chế xuất, khu CNC và cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu kinh doanh dịch vụ tập trung. Việc đánh giá tác động môi trường cần phải được thực hiện trước, trong và sau khi thực hiện dự án. Để thực hiện các giải pháp về bảo vệ môi trường thì các chủ đầu tư Khu công nghiệp, các doanh nghiệp cần phải giảm thiểu tác động xấu đến môi trường. Nhà nước, các doanh nghiệp cần phải thực hiện chương trình quản lý và giảm sát môi trường thong qua việc quản lý chất thải nguy hại, chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí trong Khu công nghiệp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường là công việc nhà đầu tư chịu trách nhiệm thực hiện và được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án. Ngoài ra, để báo cáo đánh giá tác động môi trường được thông qua và triển khai, các cơ quan chức năng phải thực hiện công việc thẩm định và phê duyệt báo cáo. Chi phí lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc nguồn vốn đầu tư dự án do chủ dự án chịu trách nhiệm theo Điều 19 Luật bảo vệ môi trường 2014.

  • Một là lập báo cáo đánh giá tác động môi trường

Nhà đầu tư tự mình hoặc thuê tổ chức tư vấn thực hiện đánh giá tác động môi trường. Theo khoản 1, Điều 19 Luật bảo vệ môi trường 2014 thì chủ dự án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện đánh giá tác động môi trường. Bên cạnh đó, Điều 20 Luật bảo vệ môi trường 2014 cũng quy định bổ sung về vấn đề lập lại báo cáo ĐTM. Theo đó, chủ dự án phải lập lại báo cáo ĐTM trong các trường hợp sau: Không triển khai dự án trong thời gian 24 tháng kể từ thời điểm quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM; thay đổi địa điểm thực hiện dự án so với phương án trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt; tăng quy mô, công suất, thay đổi công nghệ làm tăng tác động xấu đến môi trường so với phương án trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt. Đây là quy định mới so với Luật bảo vệ môi trường 2005 giúp nâng cao trách nhiệm của các chủ dự án trong quá trình lập báo cáo ĐTM, tránh tình trạng lập báo cáo mang tính hình thức, không thực hiện trên thực tế và loại bỏ các dự án, tác động xấu đến môi trường

  • Hai là thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường

Khái niệm: đây là việc các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường sử dụng quyền lực nhà nước để xem xét, đánh giá một cách toàn diện mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà dự án đem lại với lợi ích môi trường cần phải bảo vệ, giữa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

  • Tại Điều 23 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định rất chi tiết về thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM, đó là:

Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; các dự án liên ngành, liên tỉnh thuộc các dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịch sử – văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng và các dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường, trừ các dự án thuộc bí mật quốc phòng, an ninh; dự án do Chính phủ thẩm định;

Bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt đầu tư của mình nhưng không thuộc đối tượng là các dự án liên ngành, liên tỉnh thuộc các dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịch sử – văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng và các dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường, trừ các dự án thuộc bí mật quốc phòng, an ninh; dự án do Chính phủ thẩm định;

Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt đầu tư của mình và các dự án thuộc bí mật quốc phòng, an ninh;

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định, báo cáo ĐTM đối với dự án đầu tư trên địa bàn, trực các dự án thuộc thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

Về hình thức thẩm định theo Điều 24 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định trong trường hợp cần thiết cơ quan thẩm định tổ chức khảo sát thực tế, lấy ý kiến phản biện của cơ quan, tổ chức và chuyên gia để thẩm định báo cáo ĐTM. Đây là quy định khác so với Luật bảo vệ môi trường 2005 bảo đảm được tính chặt chẽ trong quá trình thẩm định, nâng cao chất lượng báo cáo ĐTM.

Theo khoản 5 Điều 1 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường quy định việc Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật bảo vệ môi trường, cụ thể như sau:

Thẩm định thông qua việc lấy ý kiến cơ quan, tổ chức có liên quan do Thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan được giao nhiệm vụ thẩm định quyết định. Trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định có thể lấy ý kiến của một số chuyên gia về môi trường và lĩnh vực liên quan đến dự án. Cơ quan, tổ chức, chuyên gia được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn tối đa 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến kèm theo hồ sơ báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án. Các dự án thẩm định thông qua việc lấy ý kiến gồm: Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Các dự án đầu tư trong khu công nghiệp mà các Khu công nghiệp đó đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc đã hoàn thành các thủ tục về môi trường tương đương, đã hoàn thiện kết cấu hạ tầng xử lý nước thải và được xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật, phù hợp với nhóm ngành nghề được phép thu hút đầu tư vào khu công nghiệp, trừ các dự án thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường quy định như: Khai thác, làm giàu quặng khoáng sản độc hại; Luyện kim; tinh chế, chế biến khoáng sản độc hại; phá dỡ tàu biển;…

Các dự án thuộc đối tượng phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường quy định tại Nghị định;

Các dự án áp dụng phương pháp kỹ thuật tốt nhất hiện có và kinh nghiệm quản lý môi trường tốt nhất theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Các dự án không thuộc đối tượng quy định ở trên, việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được thực hiện thông qua hội đồng thẩm định do Thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan được giao nhiệm vụ thẩm định thành lập với tổng số ít nhất 07 thành viên tham gia.

  • Ba là phê duyệt báo cáo ĐTM

Việc phê duyệt báo cáo ĐTM của dự án có ý nghĩa quan trọng để doanh nghiệp được cấp phép xây dựng, thực hiện dự án.

Theo khoản 1, Điều 25 Luật bảo vệ môi trường 2014 trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo ĐTM đã được chỉnh sửa theo yêu cầu của cơ quan thẩm định, thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan thẩm định có trách nhiệm phê duyệt báo cáo ĐTM, trường hợp không phê duyệt phải trả lời cho chủ dự án bằng văn bản và nêu rõ lý do. Phê duyệt báo cáo ĐTM được thể hiện dưới hình thức là bản quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM theo mẫu quy định của pháp luật.

Theo khoản 5 Điều 1 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường quy định Nội dung thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Sự phù hợp của dự án đối với chiến lược, quy hoạch (nếu có), quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Sự phù hợp của các phương pháp đánh giá tác động môi trường được sử dụng;

Sự phù hợp của các đánh giá về việc lựa chọn công nghệ sản xuất, hạng mục công trình và các hoạt động của dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường;

Kết quả phân tích, tổng hợp số liệu về hiện trạng môi trường, kinh tế – xã hội nơi thực hiện dự án và sự phù hợp của địa điểm lựa chọn thực hiện dự án;

Việc đánh giá và dự báo về nguồn thải, sự phát sinh, quy mô, tính chất nguy hại của nước thải, khí thải, chất thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải nguy hại và các loại chất thải đặc thù khác; các tác động của chất thải và các tác động khác của dự án đến môi trường và sức khỏe cộng đồng; đánh giá, dự báo các rủi ro sự cố môi trường do chất thải gây ra;

Các yêu cầu, quy định, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về môi trường áp dụng đối với dự án;

Sự phù hợp của các giải pháp bảo vệ môi trường, bao gồm: phương án thu gom, quản lý chất thải; biện pháp, công nghệ xử lý nước thải; biện pháp, công nghệ giảm thiểu, xử lý bụi, khí thải; phương án lưu giữ, quản lý, xử lý chất thải nguy hại; phương án lưu giữ, quản lý, xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường; phương án quản lý, biện pháp, công nghệ xử lý chất thải khác; phương án cải tạo, phục hồi môi trường (nếu có); các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực khác của dự án đến môi trường; các phương án phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường do chất thải của dự án gây ra;

  • Sự phù hợp của chương trình quản lý và giám sát môi trường;
  • Các cam kết bảo vệ môi trường của chủ dự án

Tham vấn ý kiến cộng đồng trong quá trình lập báo cáo ĐTM Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định tham vấn ý kiến cộng đồng là một trong những thủ tục không thể thiếu đó là sự tham gia của cộng đồng, là sự trao đổi thông tin giữa chủ dự án, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các bên có liên quan trong quá trình lập, thẩm định báo cáo ĐTM của dự án.

Theo Điều 11 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định tham vấn cộng đồng, thẩm định và phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng. Sự tham gia của cộng đồng có tác động rất lớn đến việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đặc biệt tại các Khu công nghiệp. Báo cáo ĐTM trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thực chất là lời cam kết của chủ dự án trước các cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường và cả cộng đồng. Bảo vệ môi trường Khu công nghiệp cần chú trọng việc tăng cường ảnh hưởng tốt, giảm thiếu ảnh hưởng xấu của dự án đến môi trường. Chính vì vậy, sự tham gia của cộng đồng có tác động rất lớn đến việc chủ dự án đầu tư thực hiện các quy định của pháp luật về môi trường. Việc tham gia phối hợp và tác động trực tiếp liên hệ với các cơ quan quản lý về bảo vệ môi trường, cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp của dự án là việc làm cần thiết. Cộng đồng dân cư, những người dân sống xung quanh các dự án, Khu công nghiệp sẽ cảm nhận được những tích cực và tiêu cực mà dự án mang đến cho môi trường. Do đó các ý kiến phản hồi, ý kiến tham vấn sẽ vừa giúp cho các cơ quan có cái nhìn toàn diện hơn về dự án để phục vụ công tác thẩm định đạt hiệu quả. Những ý kiến phản hồi từ cộng đồng dân cư đồng thời cũng giúp chủ đầu tư xác định rủi ro tiềm ẩn tới môi trường mà quá trình thiết kế dự án có thể chưa tính đến. Việc tham vấn ý kiến cộng đồng được quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật bảo vệ môi trường 2014.

2.2.2. Việc thực thi pháp luật đánh giá tác động môi trường tại Khu công nghiệp ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Thực hiện đổi mới, nâng cao chất lượng đánh giá tác động môi trường nên trong năm 2018 đã có 469 dự án đầu tư [16, tr.16] thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chính phủ, Thủ tướng đã thực hiện ĐTM; 16 cơ sở được phê duyệt đề án bảo vệ môi trường chi tiết; nhiều dự án, hoạt động đầu tư đã thực hiện đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường. Thông qua đánh giá tác động môi trường đã có sự điều chỉnh các định hướng phát triển, bố trí không gian phát triển và đầu tư phù hợp hơn về môi trường; hầu hết các dự án đầu tư đã được yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung các biện pháp giảm thiểu tác động có hại đến môi trường, trong đó tập trung vào các giải pháp công trình phòng, ứng phó sự cố môi trường, giám sát môi trường của dự án, đặc biệt đối với dự án thuộc loại hình sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm cao.

Theo số liệu thống kê, giai đoạn 2011 – 2015, đã có hơn 9.000 dự án đầu tư trên cả nước thực hiện báo cáo ĐTM. Trong đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định, phê duyệt hơn 1.200 báo cáo ĐTM; các bộ, ngành, địa phương thẩm định, phê duyệt hơn 100 báo cáo; các địa phương thẩm định, phê duyệt hơn 8.000 báo cáo. Riêng năm 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận 477 hồ sơ và đã phê duyệt 230 báo cáo ĐTM của các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền thẩm định của Bộ. Ngoài ra, Bộ cũng đã phê duyệt 81 báo cáo ĐTM và 110 dự án, đề án cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường, với số tiền hơn 1.571 tỷ đồng [35].

Các chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực môi trường có chung nhận định: Việc thực hiện báo cáo ĐTM còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Trong đó, về lý thuyết, ĐTM được thực hiện nhằm phân tích các tác động từ những dự án phát triển cụ thể, đưa ra các thông tin giúp cơ quan quản lý ra quyết định đối với dự án. ĐTM còn có vai trò xây dựng kế hoạch, giúp nhà đầu tư quản lý tốt các vấn đề môi trường và rủi ro môi trường. Tuy nhiên, không ít nhà đầu tư nhìn nhận ĐTM như một thủ tục hành chính hơn là công cụ để quản lý môi trường, cho nên việc thực hiện ĐTM thông thường được phó mặc cho cơ quan tư vấn.

Trong khi đó, theo phân cấp trong Luật bảo vệ môi trường 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền chủ trì phê duyệt các dự án thuộc thẩm quyền đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, dự án liên tỉnh và một số loại hình dự án nhạy cảm môi trường. Các bộ, ngành khác có thẩm quyền tổ chức thẩm định ĐTM các dự án thuộc thẩm quyền đầu tư của mình và UBND cấp tỉnh chủ trì thẩm định ĐTM cho các dự án thuộc thẩm quyền địa phương. Do đó, cơ quan thẩm định ĐTM cũng là cơ quan ra quyết định đối với chủ trương xây dựng dự án, cho nên thẩm định ĐTM thường thiếu mức độ độc lập và khách quan cần thiết. Nhiều địa phương thường đặt các ưu tiên tăng trưởng kinh tế hơn là các mục tiêu về Bảo vệ môi trường.

Để việc thực hiện báo cáo ĐTM ở nước ta thực sự trở thành một trong những công cụ quản lý có hiệu quả đối với công tác Bảo vệ môi trường thời gian tới, các bộ, ngành, địa phương không phê duyệt báo cáo ĐTM đối với các dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu; dự án thuộc loại hình sản xuất gây ô nhiễm môi trường, phát thải hóa chất, các chất độc hại khó phân hủy với chi phí xử lý cao; dự án có chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nhất là đất rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn có tác động xấu đến môi trường sinh thái. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Nâng cao vai trò và trách nhiệm của hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM; xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật về ĐTM, nhất là ĐTM tổng hợp, ĐTM xuyên biên giới; thực hiện nghiêm việc kiểm tra, xác nhận các công trình Bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng bằng việc công bố dự thảo báo cáo ĐTM để lấy ý kiến của người dân, các bên liên quan trước khi phê duyệt các quy hoạch phát triển và dự án cụ thể. Đồng thời, cần xem xét quy định việc đánh giá và xây dựng kế hoạch quản lý rủi ro chi tiết cho một số loại hình dự án như hóa dầu, hóa chất, luyện thép, khai thác khoáng sản…

2.3. Thực trạng quy định về quản lý chất thải tại các Khu công nghiệp

2.3.1. Các quy định về quản lý chất thải

Điều 68 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện việc thu gom, xử lý nước thải bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường; thu gom, phân loại, lưu giữ, xử lý, thải bỏ chất thải rắn theo quy định của pháp luật; bảo đảm không để rò rỉ, phát tán khí độc hại ra môi trường; hạn chế tiếng ồn, độ rung, phát sáng, phát nhiệt gây ảnh hưởng xấu đối với môi trường xung quanh và người lao động; bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường; xây dựng và thực hiện phương án bảo vệ môi trường. Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát sinh lượng chất thải lớn, nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường phải có bộ phận chuyên môn hoặc nhân sự phụ trách về bảo vệ môi trường; phải được xác nhận hệ thống quản lý môi trường theo quy định của Chính phủ.

Chất thải công nghiệp: là những chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp, gồm có chất thải nguy hại và các chất thải thông thường. Chất thải công nghiệp, đặc biệt là chất thải nguy hại là một thách thức lớn đối với công tác quản lý môi trường của nhiều địa phương trong cả nước, các chất thải công nghiệp có thể ở dạng khí, lỏng, rắn.

Nước thải từ Khu công nghiệp: Có thành phần đa dạng, chủ yếu là các chất lơ lửng, chất hữu cơ, dầu mỡ và một số kim loại nặng. Với mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh, mỗi nhà máy, thành phần nước thải không giống nhau dẫn đến việc xử lý tập trung khó khăn. Trong nhiều trường hợp, nước thải của các nhà máy, doanh nghiệp trộn lẫn sẽ tạo thành chất gây ô nhiễm mới rất nguy hại đối với môi trường. Thông thường, ở các Khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Các doanh nghiệp không có hệ thống xử lý nước thải riêng sẽ ký hợp đồng xử lý nước thải ở cơ sở tập trung. Đến nay, trên phạm vi cả nước đã có 221/251 Khu công nghiệp, Khu chế xuất đang hoạt động có Hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, đạt 88,05% (tăng 8,05% so với năm 2017) [16, tr.18] đạt chỉ tiêu đề ra, trong đó các địa phương có số lượng Khu công nghiệp lớn như TP.Hồ Chí Minh, TP.Hà Nội, các tỉnh: Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Long An, Quảng Ninh, Bắc Ninh,.. tỷ lệ này đều đạt 100% (Phụ lục I: Tỷ lệ các Khu công nghiệp, Khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường trên phạm vi cả nước năm 2018 theo Báo cáo số 206/BC-CP ngày 15/5/2019 của Chính phủ). Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Ô nhiễm không khí, tiếng ồn tại Khu công nghiệp: Chủ yếu là do ô nhiễm bụi, ở một số Khu công nghiệp xuất hiện ô nhiễm CO, SO2, NO2. Nhìn chung, vấn đề ô nhiễm không khí thường tập trung ở những Khu công nghiệp cũ do công nghệ lạc hậu, chưa đầu tư hệ thống khí thải. Nồng độ bụi STP tại rất nhiều điểm quan trắc xung quanh các Khu công nghiệp vượt giới hạn cho phép theo QCVN 05:2013/BTNMT, thậm chí vượt nhiều lần giới hạn cho phép đối với trung bình 24 giờ và trung bình năm [31]. Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp đang hoạt động vẫn tiếp tục phát thải vào môi trường không khí một lượng bụi lớn, đó là các ngành khai khoáng, nhiệt điện, xi măng. Tại hầu hết các khu vực quan trắc xung quanh các Khu công nghiệp, mức ồn đo được đều xấp xỉ hoặc vượt theo quy chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT.

Chất thải rắn (CTR): Theo thống kê bình quân mỗi ngày các Khu công nghiệp nước ta thải ra hàng chục nghìn tất chất thải rắn; bình quân mỗi năm thải ra trên triệu tấn. Theo dự báo đến năm 2020 sẽ tăng lên 9-13,5 triệu tấn/năm. Tuy nhiên vấn đề thu gom, vận chuyển và tái chế, tái sử dụng Chất thải rắn ở các Khu công nghiệp còn nhiều bất cập, đặc biệt đối với vận chuyển, quản lý và đăng ký nguồn thải đối với chất thải nguy hại.

  • Hoạt động quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải tại Khu công nghiệp [21, tr.145]

Theo khoản 15, Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải. Việc quản lý chất thải phải bảo đảm được quản lý trong toàn bộ quá trình phát sinh, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy. Chất thải thông thường có lẫn chất thải nguy hại vượt ngưỡng quy định mà không thể phân loại được thì phải quản lý theo quy định của pháp luật về chất thải nguy hại [32]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Như vậy, để phục vụ việc quản lý chất thải, chúng ta phải tiến hành phân định để xác định một vật chất là chất thải hay không phải là chất thải, chất thải nguy hại hay chất thải thông thường và xác định chất thải đó thuộc một loại hoặc một nhóm chất thải nhất định với mục đích để phân loại và quản lý trên thực tế. Sau đó tiến hành phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có quy trình quản lý khác nhau.

Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom, lưu giữ tạm thời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trung chuyển.

Tái sử dụng chất thải là việc sử dụng lại chất thải một cách trực tiếp hoặc sau khi sơ chế mà không làm thay đổi tính chất của chất thải.

Sơ chế chất thải là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật cơ – lý đơn thuần nhằm thay đổi tính chất vật lý như kích thước, độ ẩm, nhiệt độ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân loại, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý, xử lý nhằm phối trộn hoặc tách riêng các thành phần của chất thải cho phù hợp với quy trình quản lý khác nhau.

Tái chế chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu lại các thành phần có giá trị từ chất thải.

Thu hồi năng lượng từ chất thải là quá trình thu lại năng lượng từ việc chuyển hóa chất thải.

Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải.

Đồng thời xử lý chất thải và việc kết hợp một quá trình sản xuất sẵn có để tái chế, xử lý, thu hồi năng lượng từ chất thải trong đó chất thải được sử dụng làm nguyên vật liệu, nhiên liệu thay thế hoặc được xử lý.

2.3.2. Hoạt động quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn thông thường tại Khu công nghiệp Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

  • Các quy định pháp luật

Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu quy định chất thải rắn (CTR) là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Như vậy, trong Khu công nghiệp tồn tại cả Chất thải rắn công nghiệp và chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn công nghiệp là Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, bao gồm cả Chất thải rắn, bùn sinh ra từ hệ thống xử lý chất thải lỏng và khí thải. Chất thải rắn công nghiệp không bao gồm Chất thải rắn sinh hoạt của cán bộ, công nhân tại các Khu công nghiệp.

CTR trong Khu công nghiệp phải phân loại Chất thải rắn thông thường, chất thải y tế và chất thải nguy hại, trường hợp không thể phân loại được thì phải quản lý theo quy định về chất thải nguy hại; bùn cặn của nhà máy xử lý nước thải tập trung, hệ thống thoát nước của Khu công nghiệp và các cơ sở trong Khu công nghiệp phải được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái sử dụng theo quy định của pháp luật về quản lý bùn thải [7].

Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong Khu công nghiệp là chủ nguồn thải Chất thải rắn công nghiệp thông thường thực hiện trách nhiệm phân định, phân loại, lưu giữ Chất thải rắn công nghiệp thông thường theo quy định của pháp luật; tự tái sử dụng, sơ chế, tái chế, xử lý, đồng xử lý, thu hồi hoặc ký hợp đồng chuyển giao cho đơn vị có chức năng vận chuyển, xử lý Chất thải rắn công nghiệp thông thường. Định kỳ báo cáo tình hình phát sinh, quản lý chất Chất thải rắn công nghiệp thông thường trong báo cáo giám sát môi trường định kỳ (Phụ lục II: Yêu cầu kỹ thuật, quy trình quản lý chất thải rắn công nghiệp thông thường theo Nghị định số 40/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ).

Thực trạng pháp luật quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý Chất thải rắn thông thường tại Khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Theo Báo cáo về công tác bảo vệ môi trường năm 2018 của Chính phủ báo cáo Quốc hội: Hàng năm, Chất thải rắn công nghiệp phát sinh khoảng 25 triệu tấn, trong đó tro xỉ nhiệt điện, xỉ thép và thạch cao từ các nhà máy sản xuất phân bón hóa học khoảng 16,9 triệu tấn. Lượng tro xỉ phát sinh từ các nhà máy nhiệt điện than khoảng 13 triệu tấn/năm. Hiện nay lượng tro, xỉ tồn trữ tại các bãi chứa khoảng 34,3 triệu tấn và phải sử dụng tổng diện tích bãi thải xỉ khoảng 1.000 ha, chứa nhiều tạp chất gây ô nhiễm [4]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Theo số liệu hiện tay tỷ lệ thu gom Chất thải rắn công nghiệp đạt tỷ lệ khá cao, đạt trên 90% khối lượng Chất thải rắn công nghiệp phát sinh. Tỷ lệ này đạt được do chủ nguồn thải xác định và có đăng ký với Ban Quản lý Khu công nghiệp.

Hầu hết các cơ sở trong Khu công nghiệp ký hợp đồng với các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển chất thải (chiếm tỷ lệ 74,2%) các cơ sở bán chất thải có giá trị kinh tế chiếm tỷ lệ 18%; một số cơ sở thực hiện nghiền nát chất thải làm nguyên liệu đun [33].

Lượng Chất thải rắn công nghiệp ở nước ta những năm gần đây phát sinh rất lớn, đặc biệt là ở những vùng có ngành công nghiệp phát triển như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Dương, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu… Riêng TP. Hồ Chí Minh, trong năm 2016, khối lượng Chất thải rắn công nghiệp ước phát sinh khoảng 1.500 – 2.000 tấn/ngày từ hơn 2.000 nhà máy lớn và khoảng 10.000 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, nằm trong và ngoài các Khu chế xuất – Khu công nghiệp và Cụm công nghiệp; tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũng phát sinh lượng lớn Chất thải rắn thông thường khoảng 1.000 tấn/ngày, chủ yếu là xỉ thép, tạp chất từ phế liệu thép nhập khẩu, xỉ than đá, bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải…Theo số liệu của Tổng cục Môi trường, lượng Chất thải rắn thông thường phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp ước tính khoảng 25 triệu tấn/năm, riêng từ các Khu công nghiệp là khoảng 8,1 triệu tấn/năm [1]. Theo đánh giá, thành phần Chất thải rắn công nghiệp có thể thay đổi theo hướng gia tăng chất thải nguy hại, đây là kết quả của quá trình gia tăng mức độ công nghiệp hóa và sử dụng hóa chất ngày càng cao.

Với lợi thế là mô hình sản xuất tập trung, các Khu công nghiệp có nhiều thuận lợi hơn trong việc quản lý chất thải, do đó, tỷ lệ thu gom Chất thải rắn tại khu vực này cao hơn so với các Cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất ngoài Khu công nghiệp. Tại các Khu công nghiệp, Chất thải rắn thường được tận dụng tái chế, tái sử dụng tối đa, phần thải bỏ sẽ ký hợp đồng với đơn vị/doanh nghiệp xử lý chất thải để xử lý tập trung. Phần lớn các Cụm công nghiệp vẫn chưa hoàn thiện các công trình thu gom, xử lý chất thải tập trung. Đối với các cơ sở sản xuất nằm ngoài Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp việc quản lý, kiểm soát ô nhiễm còn gặp nhiều khó khăn.

Thực tế, còn tồn tại hiện tượng các chất thải không có giá trị kinh tế được thu gom và đổ lẫn với chất thải sinh hoạt, gây khó khăn trong việc thu gom, xử lý. Trước khi chuyển giao cho các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển, Chất thải rắn công nghiệp thường được chất thành đống trong kho chứa, hoặc tại các khu vực trống trong các khuôn viên cơ sở. Tuy nhiên, tại nhiều cơ sở sản xuất hệ thống kho chứa Chất thải rắn công nghiệp chưa đạt yêu cầu, không có mái che, để lộ thiên trong khuôn viên. Việc thu gom Chất thải rắn công nghiệp trong nội bộ các nhà máy, xí nghiệp trong Khu công nghiệp do đội vệ sinh của nhà máy đảm nhiệm và Ban quản lý Khu công nghiệp chịu trách nhiệm quản lý chung. Tại nhiều Khu công nghiệp chưa có nhiều điểm tập trung thu gom Chất thải rắn theo quy định. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Hiện nay, trong cả nước đang rất thiếu các khu xử lý Chất thải rắn công nghiệp, đặc biệt là khu xử lý có quy mô lớn. Việc xử lý Chất thải rắn công nghiệp mới thực hiện ở quy mô nhỏ. Ngoài ra, có một số cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài KCH hợp đồng với các tổ chức, cá nhân không có chức năng thu gom, vận chuyển dẫn đến việc đổ chất thải không đúng nơi quy định, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.

Việc tái chế, tái sử dụng Chất thải rắn công nghiệp diễn ra khá phổ biến chủ yếu là tự phát tại các cơ sở công nghiệp. Trước đây, tro xỉ than chỉ được tái chế để làm gạch không nung, phụ gia bê tông, phụ gia xi măng,.. tuy nhiên mới chỉ đạt 30% tổng lượng tro, xỉ phát sinh. Do vậy, đã có một số giải pháp sử dụng tro xỉ, thạch cao tại các nhà máy nhiệt điện, hóa chất đã được áp dụng. Mục tiêu là xử lý phế thải đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để sử dụng làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng. Các giải pháp này sẽ giúp giảm diện tích bãi thải; tiết kiệm tài nguyên khoáng sản trong sản xuất vật liệu xây dựng. Tuy nhiên hiện nay việc triển khai còn nhiều khó khăn do lượng xỉ than thường có khối lượng lớn và trong thành phần có chứa nhiều tạp chất.

2.3.3. Hoạt động quản lý và xử lý khí thải tại Khu công nghiệp

  • Các quy định của pháp luật về quản lý khí thải tại Khu công nghiệp

Theo Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định về các nguồn khí thải cố định: Quy định nguồn phát thải khí phải được chủ nguồn thải và cơ quan nhà nước có thẩm quyền đánh giá và kiểm soát (khoản 1 Điều 62) đồng thời tại quy định các nguồn thải này cũng phải xác định về lưu lượng, tính chất và đặc điểm của khí thải (khoản 1 Điều 64). Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tính toán sức chịu tải của môi trường không khí để xem xét, phê duyệt dự án và hoạt động có phát thải khí, bảo đảm không có tác động xấu đến con người và môi trường (khoản 2 Điều 64). Việc cấp giấy phép xả khí thải vào môi trường cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguồn phát thải khí công nghiệp lưu lượng lớn (khoản 4 Điều 64). Các chủ nguồn thải cũng phải có trách nhiệm quản lý nguồn thải của mình, theo đó: các cơ sở sản xuất, kinh doanh có nguồn phát thải khí công nghiệp lớn phải đăng ký nguồn gây ô nhiễm, đo đạc, thống kê, kiểm kê và xây dựng cơ sở dữ liệu về lưu lượng, tính chất, đặc điểm khí thải. Trường hợp bụi, khí thải có yếu tố nguy hại vượt ngưỡng quy định phải được quản lý theo quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại (Điều 102).

Theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP đã cụ thể các quy định trên: Đăng ký, kiểm kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về khí thải công nghiệp (Điều 45); cấp phép xả thái khí công nghiệp (Điều 46); quan trắc khí thải công nghiệp tự động liên tục (Điều 47);

Theo Điều 10 Thông tư 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao quy định thì các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong Khu công nghiệp phát sinh khí thải, tiếng ồn phải đầu tư, lắp đặt hệ thống xử lý khí thải, giảm thiểu tiếng ồn bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

  • Thực trạng pháp luật về quản lý khí thải tại Khu công nghiệp

Qua thực tế triển khai ta có thể thấy rằng các quy định pháp luật về quản lý khí thải trong Luật bảo vệ môi trường 2014 còn chưa thật cụ thể, khó áp dụng trong thực tiễn. Ví dụ: đối với các doanh nghiệp có lưu lượng khí thải công nghiệp lớn luật yêu cầu lắp đặt hệ thống quan trắc khí thải tự động và đấu nối trực tiếp để cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể kiểm tra bất cứ lúc nào. Tuy nhiên đối với những doanh nghiệp có lưu lượng khí thải nhỏ hơn thì không phải lắp đặt hệ thống quan trắc tự động nên khó kiểm soát nguồn khí thải. Trong Nghị định 38/2015/NĐ-CP có hướng dẫn quy định về cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguồn phát khí thải công nghiệp có lưu lượng lớn nhưng chưa có hướng dẫn, phân biệt giữa cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguồn phát thải khí công nghiệp có lưu lượng lớn với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguồn phát thải khí công nghiệp lớn.

Có những quy định đã cụ thể, nhưng lại chưa đủ sức răn đe: quy định mức xử phạt quá thấp dẫn đến doanh nghiệp vi phạm sẵn sàng nộp phạt mà không thực hiện các biện pháp xử lý khí thải trong khi đó có những quy định lại không khả thi, không áp dụng trên thực tiễn. Bên cạnh đó trách nhiệm của cơ quan nhà nước với tư cách là chủ thể tham gia kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí nhưng khi gây ra thiệt hại lại chưa quy định trách nhiệm pháp lý cụ thể.

2.3.4. Hoạt động thu gom, xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Nước thải là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. Pháp luật quy định các Khu công nghiệp phải có hệ thống thu gom riêng nước mưa và hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn môi trường. Hệ thống xử lý nước thải phải bảo đảm đủ công suất xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh của các cơ sở trong Khu công nghiệp. Mạng lưới thu gom và hệ thống thoát nước mưa, nước thải phải được thường xuyên duy tu, bảo dưỡng định kỳ để bảo đảm luôn trong điều kiện vận hành bình thường.

Theo khoản 2 Điều 8 Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì hệ thống thoát nước tại Khu công nghiệp phải bảo đảm các yêu cầu sau: tách riêng hệ thống thu gom, thoát nước thải với hệ thống thoát nước mưa; hệ thống thu gom, thoát nước thải phải có vị trí, cốt hố ga phù hợp để đấu nối với điểm xả nước thải của các cơ sở và bảo đảm khả năng thoát nước thải của Khu công nghiệp; vị trí đấu nối nước thải nằm trên tuyến thu gom của hệ thống thoát nước Khu công nghiệp và đặt bên ngoài phần đất của các cơ sở; điểm xả thải của hệ thống xử lý nước thải tập trung trong Khu công nghiệp tại nguồn tiếp nhận phải bố trí bên ngoài hàng rào Khu công nghiệp, có biển báo, có sàn diện tích tối thiểu 1m2 và có lối đi để thuận lợi cho việc kiểm tra nguồn thải.

Theo khoản 3 Điều 8 Thông tư 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 quy định đối với nhà máy xử lý nước thải tập trung (XLNTTT) trong Khu công nghiệp phải bảo đảm các yêu cầu: có thể chia thành nhiều đơn nguyên phù hợp với tiến độ lấp đầy và hoạt động của Khu công nghiệp nhưng phải bảo đảm xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; có đồng hồ đo lưu lượng nước thải đầu vào; có công tơ điện độc lập; khuyến khích việc áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng; có hệ thống quan trắc tự động, liên tục đối với cá thông số: lưu lượng nước thải đầu ra, pH, nhiệt độ, COD, TSS và một số thông số đặc trưng khác trong nước thải của Khu công nghiệp trước khi thải ra nguồn tiếp nhận theo yêu cầu của Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Hệ thống quan trắc tự động phải bảo đảm yêu cầu kỹ thuật kết nối để truyền dữ liệu tự động, liên tục về Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương.

Theo Điều 9 Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trong Khu công nghiệp phải được xử lý theo điều kiện ghi trong văn bản thỏa thuận với chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp trước khi đấu nối vào hệ thống thu gom của Khu công nghiệp để tiếp tục xử lý tại nhà máy XLNTTT bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi xả ra nguồn tiếp nhận; trường hợp nước thải từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý phải có hợp đồng xử lý nước thải với đơn vị có chức năng phù hợp theo quy định hiện hành.

Ngoài các quy định chung về thu gom, xử lý nước thải Khu công nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ trong Khu công nghiệp còn phải tuân thủ các quy chuẩn quốc gia về nước thải đối với các ngành sản xuất đặc thù như: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp chế biến cao su thiên nhiên QCVN 01: 2008/BTNMT); Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (QCVN 08:2008/BTNMT); Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm 9QCVN 09: 2008/BTNMT); Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ 9QCVN 10: 2008/BTNMT); Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp chế biến thủy sản (QCVN 11: 2008/BTNMT); Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột giấy (QCVN 12: 2008/BTNMT);… Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

2.3.5. Hoạt động quản lý thu gom chất thải nguy hại

Các quy định pháp luật về quản lý, thu gom, vận chuyển chất thải nguy hại (CTNH) Pháp luật quản lý chất thải nguy hại trong Khu công nghiệp là những quy phạm được phân loại trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, là tổng thể những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, thừa nhận nhằm điều chỉnh nội dung và trình tự trong quy trình quản lý chất thải nguy hại với giới hạn là phạm vi giới hạn của các Khu công nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam [30].

Việc ban hành Luật bảo vệ môi trường 2014 là một bước quan trọng hoàn thiện pháp luật về hoạt động quản lý Chất thải nguy hại trong Khu công nghiệp ở Việt Nam. Theo đó, Luật đã bổ sung các quy phạm pháp luật cụ thể trong lĩnh vực này như: quy định mọi loại chất thải được quản lý từ khi phát sinh, giảm thiểu, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý; các tổ chức, cá nhân có hoạt động giảm thiểu phát thải, tái chế, tái sử dụng chất thải được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước; quy định trách nhiệm của các chủ đầu tư Khu công nghiệp, Khu chế xuất trong quản lý chất thải; để khắc phục những mặt trái trong quản lý Chất thải nguy hại trong thời gian quan, Luật đưa ra 6 nguyên tắc trong quản lý Chất thải nguy hại; quy định bổ sung các điều kiện hành nghề xử lý Chất thải nguy hại,…

  • Nội dung pháp luật quản lý Chất thải nguy hại trong Khu công nghiệp

Về quản lý đối với chủ nguồn thải Chất thải nguy hại: Theo khoản 5 Điều 7 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu định kỳ 6 tháng/lần chủ nguồn chất thải nguy hại phải báo cáo việc lưu giữ Chất thải nguy hại tại cơ sở phát sinh với Sở Tài nguyên và Môi trường bằng văn bản riêng hoặc kết hợp trong báo cáo quản lý Chất thải nguy hại định kỳ khi chưa chuyển giao được trong các trường hợp chưa có phương án vận chuyển, xử lý khả thi; chưa tìm được chủ xử lý Chất thải nguy hại phù hợp. Đồng thời, lập, sử dụng, lưu trữ và quản lý chứng từ Chất thải nguy hại, báo cáo quản lý Chất thải nguy hại (định kỳ và đột xuất) và các hồ sơ, tài liệu, nhật ký liên quan đến công tác quản lý Chất thải nguy hại theo quy định. Khi chấm dứt hoạt động phát sinh Chất thải nguy hại, phải thông báo bằng văn bản cho Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có cơ sở phát sinh Chất thải nguy hại trong thời gian không quá 6 tháng.

Về quản lý với tổ chức, cá nhân thu gom, vận chuyển Chất thải nguy hại: Việc thu gom, vận chuyển Chất thải nguy hại chỉ được phép thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân có giấy phép xử lý Chất thải nguy hại. Để được cấp giấy phép này, đơn vị phải báo cáo đánh giá tác động môi trường được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt đối với dự án đầu tư cơ sở xử lý Chất thải nguy hại. Đồng thời, địa điểm của cơ sở này phải nằm trong quy hoạch có nội dung về quản lý, xử lý chất thải do cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh trở lên phê duyệt. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Về quản lý với chủ xử lý Chất thải nguy hại: Chủ xử lý Chất thải nguy hại trước hết phải có Giấy phép xử lý Chất thải nguy hại đồng thời ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý Chất thải nguy hại với các chủ nguồn thải Chất thải nguy hại. Theo quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 yêu cầu các chủ xử lý Chất thải nguy hại phải áp dụng tiêu chuẩn quốc gia về hệ thống quản lý môi trường (TCVN ISO 14001) trong thời hạn 02 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép xử lý Chất thải nguy hại. Tương tự như các đơn vị thu gom, vận chuyển Chất thải nguy hại, thì hoạt động của chủ xử lý Chất thải nguy hại cũng yêu cầu lập, sử dụng, lưu trữ và quản lý chứng từ Chất thải nguy hại và các hồ sơ liên quan. Ngoài ra còn cần thực hiện kế hoạch kiểm soát ô nhiễm môi trường và phục hồi môi trường khi chấm dứt hoạt động.

Thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại tại Khu công nghiệp CTNH chiếm khoảng 15-20% lượng Chất thải rắn công nghiệp. Đây là nguồn gây ô nhiễm tiềm năng rất đáng lo ngại cho sức khỏe cộng đồng. Chất thải nguy hại phát sinh từ các Khu công nghiệp của phía Nam khoảng 82.000 – 134.000 tấn/năm cao hơn các khu vực khác (gấp 3 lần miền Bắc và 20 lần miền Trung). Gần một nửa số lượng chất thải công nghiệp phát sinh ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là tại các tỉnh: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương. Thực tế lượng phát sinh Chất thải nguy hại này có thể còn lớn hơn, do chưa được quản lý đúng cách và thống kê đầy đủ, nhiều loại Chất thải nguy hại được thu gom cùng rác thải sinh hoạt rồi đổ tập trung tại các bãi rác công cộng [33].

Hiện nay, đa phần các chủ nguồn thải có phát sinh Chất thải nguy hại lớn hàng năm đều đã đăng ký và được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải nguy hại. Lượng Chất thải nguy hại phát sinh từ chủ nguồn thải này đều được thu gom và đưa đến các cơ sở đã cấp phép để xử lý. Một phần lượng Chất thải nguy hại phát sinh từ các nguồn thải được xử lý bởi chính các chủ nguồn thải (bằng các công trình bảo vệ môi trường tại cơ sở), bởi các cơ sở do địa phương cấp phép hoặc được xuất khẩu ra nước ngoài để xử lý, tái chế. Một số Chất thải nguy hại đặc thù (chất thải có chứa PCB) do chưa có công nghệ xử lý phù hợp nên được lưu giữ tại nơi phát sinh. Với tình hình như vậy nhìn chung lượng Chất thải nguy hại phát sinh tại hầu hết các chủ nguồn thải lớn đều đã được quản lý đúng với quy định hiện hành. Lượng Chất thải nguy hại phát sinh tại các chủ nguồn thải nhỏ hoặc tại vùng sâu, vùng xa chỉ phần nhỏ được thu gom; số còn lại được các làng nghề thu gom, tái chế chưa bảo đảm yêu cầu về môi trường hoặc thậm chí được chôn lấp không đúng quy định.

Năng lực thu gom xử lý Chất thải nguy hại của các cơ sở xử lý tăng cao hơn (năm 2018 tăng 05 cơ sở xử lý Chất thải nguy hại so với năm 2017, xử lý được thêm 500 nghìn tấn/năm). Tỷ lệ Chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đúng quy định đạt khoảng 75% [16, tr.20].

2.4. Thực trạng quy định về quan trắc môi trường tại các Khu công nghiệp Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

2.4.1. Khái niệm và nội dung các quy định pháp luật về quan trắc môi trường Khu công nghiệp

Theo khoản 20 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định: Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường.

Pháp luật hiện hành chưa có quy định về quan trắc môi trường tại Khu công nghiệp. Từ khái niệm trên ta có thể hiểu khái niệm: Quan trắc môi trường Khu công nghiệp là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường Khu công nghiệp, các yếu tố tác động lên môi trường Khu công nghiệp nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường Khu công nghiệp và các tác động xấu đối với môi trường Khu công nghiệp.

Quan trắc môi trường hoạt động cần thiết và có ý nghĩa lớn trong công tác quản lý bảo vệ môi trường. Những quy định về quan trắc môi trường khả thi, phù hợp với thực tế là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền có căn cứ quản lý và cũng là cơ sở để các chủ thể có nghĩa vụ tuân thủ nghiêm chỉnh quy định của pháp luật.

Theo Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định về quan trắc môi trường gồm các quy định về: hoạt động quan trắc, thành phần môi trường và chất thải cần được quan trắc, chương trình quan trắc môi trường, hệ thống quan trắc môi trường, trách nhiệm quan trắc,.. Tuy nhiên, các quy phạm này mang tính định hướng không hướng dẫn cụ thể vấn đề quan trắc môi trường tại Khu công nghiệp. Trên cơ sở quy định chung, các chủ thể có thẩm quyền vạch ra các kế hoạch quản lý vấn đề quan trắc môi trường trong từng lĩnh vực cụ thể. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Theo quy định tại Thông tư 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và môi trường về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có quy định về quan trắc môi trường như sau:

Tại khoản 1 Điều 8 quy định hệ thống quan trắc nước thải tự động là hệ thống bắt buộc phải có trong hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường Khu công nghiệp;

Tại khoản 3 Điều 8 quy định nhà máy xử lý nước thải tập trung Khu công nghiệp phải có thệ thống quan trắc tự động, liên tục đối với các thông số: lưu lượng nước thải đầu ra, pH, nhiệt độ COD, TSS và một số thông số đặc trưng khác trong nước thải của Khu công nghiệp trước khi thải ra nguồn tiếp nhận theo yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Hệ thống quan trắc tự động phải bảo đảm yêu cầu kỹ thuật kết nối để truyền dữ liệu tự động, liên tục về Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương;

Tại Điều 9 về quản lý nước thải Khu công nghiệp yêu cầu việc vận hành nhà máy xử lý nước thải tập trung phải có thiết bị đo lưu lượng đầu vào, thiệt bị quan trắc tự dộng duy trì hoạt động 24/24 giờ và truyền dữ liệu tự động, liên tục về Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương;

Tại Điều 15 về trách nhiệm của chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp yêu cầu bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường đáp ứng điều kiện phải tổng hợp, báo cáo kết quả quan trắc môi trường và công tác bảo vệ môi trường Khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong Khu công nghiệp gửi Ban quản lý các khu kinh tế, Khu công nghiệp, Sở Tài nguyên và môi trường trước ngày 31/12 hàng năm. Báo cáo gồm các nội dung: đơn vị thực hiện quan trắc; đánh giá kết quả quan trắc nước thải tự động (báo cáo hàng quý) đối chiếu với quy chuẩn kỹ thuật môi trường hiện hành; đánh giá kết quả quan trắc theo từng đợt lấy mẫu nước mặt, nước thải, nước ngầm,… so với tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành; lập biểu đồ và đánh giá diễn biến kết quả quan trắc theo từng đợt, từng năm, theo các thông số quan trắc đối với từng thành phần môi trường.

Tại Điều 16 quy định trách nhiệm của chủ dự án và chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong Khu công nghiệp phải thực hiện chương trình quan trắc môi trường, báo cáo theo quy định của pháp luật và thông báo kết quả quan trắc cho chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp.

Tuy nhiên, những quy định về quan trắc môi trường Khu công nghiệp tại Thông tư này chưa tập trung vào một số điều luật cụ thể. Tổng hợp các quy định tại Thông tư, chúng ta có thể nhận thấy, vấn đề quan trắc môi trường Khu công nghiệp tập trung vào một số nội dung cơ bản sau: hệ thống cơ sở vật chất quan trắc môi trường Khu công nghiệp gồm: hệ thống quan trắc toàn Khu công nghiệp; hệ thống quan trắc môi trường của từng cơ sở sản xuất, kinh doanh; chủ thể có nghĩa vụ quan trắc và báo cáo tình hình quan trắc môi trường thuộc về cơ sở sản xuất kinh doanh; cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải có trách nhiệm quản lý vấn đề quan trắc môi trường Khu công nghiệp của các cơ sở sản xuất, kinh doanh; báo cáo kết quả quan trắc môi trường Khu công nghiệp phải tuân thủ theo mẫu chung;…

2.4.2. Việc thực thi pháp luật về quan trắc môi trường ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Theo Báo cáo của Chính phủ về công tác bảo vệ môi trường năm 2018 thực hiện Quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia giai đoạn 2016-2025, tầm nhìn đến năm 2030 [27], trong năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai Đề án quan trắc môi trường quốc gia đối với không khí và nước giai đoạn 2018-2020, tầm nhìn đến năm 2030; tiếp tục theo dõi và đánh giá hoạt động qua trắc của các Trung tâm, trạm quan trắc môi trường trên phạm vi cả nước; tiếp tục duy trì 09 chương trình quan trắc môi trường tại các lưu vực sông, nước mặt; 03 chương trình quan trắc môi trường tại các vùng kinh tế trọng điểm; 02 chương trình quan trắc tự động (Bao gồm: Quan mắc môi trường lưu vực sông Cầu; Nhuệ – Đáy; Mã; Hồng – Thái Bình; Đà; Cả La; sông Trà Trúc; hệ thống sông Đồng Nai; nước mặt vùng Tây Nam Bộ; Vu Gia – Thu Bồn; quan trắc tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, Trung, Nam; quan trắc tại khu vực khai thác bauxite, tác động của hoạt động thủy điện tại vùng Tây Nguyên).

Sau sự cố môi trường biển miền Trung, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với UBND 04 tỉnh miền Trung triển khai thực hiện dự án “Xây dựng hệ thống quan trắc và cảnh báo môi trường 04 tỉnh miền Trung” [28]; triển khai chương trình quan trắc và chất lượng môi trường biển tại 04 tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế trong 02 năm 2018-2019; xem xét việc đầu tư, xây dựng thêm một số trạm quan trắc nước biển và không khí tự động, liên tục tại 04 tỉnh nêu trên. Thủ tướng Chính phủ đã phê, chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện dự án “Điều tra, đánh giá, phân loại và xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn thải” [29].

Các địa phương đã tăng cường, buộc các cơ sở có quy mô xả thải lớn lắp đặt ngay các thiết bị quan trắc, giám sát liên tục, tự động hoạt động xả thải theo quy định của pháp luật và truyền số liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường. Một số địa phương đã mở rộng đối tượng phải lắp đặt thiết bị quan trắc, tự động: tỉnh Hưng Yên yêu cầu cơ sở có lưu lượng 100 m3/ ngày đêm phải lắp đặt thiết bị; tại các địa phương (Bình Định, Nam Định, Đồng Tháp, Hậu Giang, Lào Cai, Vĩnh Phúc) đã bố trí nguồn kinh phí để xây dựng, lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường nước mặt tự động trên các lưu vực sông và hệ thống phần mềm, hạ tầng tiếp nhận số liệu quan trắc môi trường tự động gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường; một số địa phương (Hậu Giang, Lào Cai, Vĩnh Phúc,..) đã xây dựng và ban hành quy định hoặc văn bản hướng dẫn về yêu cầu kỹ thuật, kết nối dữ liệu hệ thống quan trắc và hoạt động kiểm tra, giám sát các cơ sở thuộc đối tượng phải lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, liên tục theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Đến nay, nhiều Khu công nghiệp đã hoàn thành việc lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động như: Khai Quang, Bình Xuyên II (Vĩnh Phúc); Nam Sách, Phúc Điền, Tân Trường (Hải Dương); Điện Nam – Điện Ngọc, Bắc Chu Lai (Quảng Nam).

2.5. Thực trạng quy định về xử lý vi phạm pháp luật tại các Khu công nghiệp Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

2.5.1. Các quy định pháp luật hiện hành về thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp

Vi phạm pháp luật là hành vi xác định của con người thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Vi phạm pháp luật bao gồm 04 loại như sau:

Một là vi phạm hình sự (tội phạm): là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm hại chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa;

Hai là vi phạm hành chính: là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị sử phạt hành chính;

Ba là vi phạm dân sự: là hành vi trái pháp luật, có lỗi xâm hại tới các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân liên quan đến tài sản, quan hệ nhân thân phi tài sản

Bốn là vi phạm kỷ luật: là hành vi có lỗi, trái với các quy tắc kỷ luật lao động, học tập, công vụ nhà nước,.. trong các cơ quan, xí nghiệp, trường học, trong các ngành và lĩnh vực quản lý nhà nước được Bộ Luật lao động, Luật hành chính và các văn bản nội bộ của từng đơn vị quy định.

Xử lý vi phạm pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào những quy định của pháp luật ra các quyết định áp dụng các hậu quả bất lợi đối với chủ thể thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.

Tương ứng với bốn loại vi phạm pháp luật, khoa học pháp lý cũng phân chia xử lý vi phạm pháp luật thành 04 loại: xử lý hình sự, xử lý dân sự; xử lý hành chính; xử lý kỷ luật nhà nước.

Xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp là một dạng cụ thể của xử lý vi phạm pháp luật cũng bao gồm 04 loại xử lý vi phạm pháp luật.

2.5.2. Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

  • Xử lý hình sự

Trong thực tế, thời gian qua, tình hình vi phạm pháp luật về môi trường ở nước ta ngày càng phổ biến và có chiều hướng gia tăng trên nhiều lĩnh vực, xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi của nhân dân. Tội phạm về lĩnh vực môi trường tại khu công nghiệp có nhiều diễn biến phức tạp với chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài, cùng với hệ thống pháp luật còn nhiều “kẽ hở” mà nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước chỉ chú trọng đầu tư các phương án sản xuất kinh doanh mà chưa chú trọng xây dựng hệ thống xử lý chất thải hoặc có nhưng cố tình dùng thủ đoạn khác làm cho cơ quan quản lý khó phát hiện để xả thải ra môi trường điển hình và vụ Công ty Vedan xả xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên với lượng nước thải từ 50m³/ngày đến dưới 5.000m³/ngày ra sông Thị Vải năm 2008.

Theo quy định của Bộ Luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định tội phạm môi trường gồm: tội gây ô nhiễm không khí; tội gây ô nhiễm nguồn nước; tội gây ô nhiễm đất; tội nhập khẩu máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất không đảm bảo tiêu chuẩn môi trường;… Vi phạm về môi trường trong thời gian qua rất nhiều nhưng xử lý hình sự thì còn ít, theo Bộ Luật hình sự 1999 quy định doanh nghiệp bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng về môi trường nên trong thực tế các cơ quan chức năng rất khó xác định mức độ của hành vi vi phạm vì nó mang tính định tính nên khó truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn về chủ thể truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ truy cứu với cá nhân. Từ những bất cập trên, xuất phát từ thực tế nhiều pháp nhân, doanh nghiệp vi phạm về hành vi môi trường nhưng do Bộ Luật hình sự chưa quy định nên việc xử lý trách nhiệm hình sự gặp nhiều khó khăn. Do vậy lần đầu tiên trong nền lập pháp của nước ta quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại tại Bộ Luật hình sự 2015.

Theo Bộ Luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có 12 Điều từ Điều 235 đến Điều 246 quy định về các tội phạm liên quan đến môi trường nói chung và môi trường Khu công nghiệp nói riêng gồm: tội gây ô nhiễm môi trường; tội vi phạm quy định về chất thải nguy hại; tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường; tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam;.. Căn cứ vào quy định của Bộ Luật hình sự 2015 cho thấy tội phạm về môi trường không có tội phạm được phân loại là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong khi hậu quả của tội phạm này gây ra cho môi trường là rất lớn. Ngoài ra, hình phạt chính của tội phạm môi trường là phạt tiền chứ không phải là phạt tù. Mặt khác đối với pháp nhân thương mại chỉ bị áp dụng hình phạt tiền. Bên cạnh đó, Bộ Luật hình sự 2015 quy định liên quan đến tội phạm môi trường về hình phạt đối với pháp nhân quy định pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều 79 của Bộ Luật thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Như vậy, việc các cơ quan chức năng khi xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân sẽ căn cứ vào mức độ, tính chất nghiêm trọng của hình vi của các cá nhân thuộc pháp nhân để quyết định. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Điển hình là vụ Công an tỉnh Hà Tĩnh ngày 02/8/2016 đã quyết định khởi tố vụ án hình sự về việc vi phạm quy định về quản quản lý chất thải nguy hại xảy ra tại địa bàn TX Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Công ty Formosa là đối tượng điều tra trong vụ án. Kết quả xác minh, giữa Công ty Môi trường đô thị Kỳ Anh (MTKA) và Cty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh có hợp đồng vận chuyển xử lý bùn bánh từ xưởng xử lý nước thải sinh hoạt và công nghiệp của Formosa. Theo đó, bên B sẽ vận chuyển chất thải đến khu vực xử lý được Sở TN&MT Hà Tĩnh cấp phép hoạt động. Bên A sẽ cùng bên B đến hiện trường kiểm tra phương thức và địa điểm xử lý. Cơ quan điều tra đã làm rõ, đến ngày 11/7/2016, Công ty Formosa Hà Tĩnh đã chuyển giao cho Công ty MTKA tổng khối lượng bùn thải là 276,190 tấn (gồm 185,9 tấn bùn thải công nghiệp và 90,24 tán bùn thải sinh hoạt).Trong khi theo quy định của pháp luật thì công nghệ và quy hoạch mặt bàng khu vực xử lý chất thải của Cty MTKA chỉ được phép xử lý chất thải sinh hoạt và chất thải hầm cầu.

  • Xử lý dân sự

Theo khoản 2 Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định về quyền được bồi thường thiệt hại (BTTH) như sau: Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật. Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã quy định về quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại, theo đó, “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản Bồi thường thiệt hại” (Điều 170). Theo nguyên tắc chung của pháp luật dân sự, chủ thể được bồi thường trong mối quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là người bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe; tổ chức, cá nhân bị thiệt hại về tài sản thuộc sở hữu của mình do hành vi vi phạm pháp luật gây ra.

Xử lý dân sự là việc xác định những thiệt hại xảy ra đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân tổ chức và chủ thể gây ra thiệt hại đó phải có nghĩa vụ bồi thường. Bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra trong trường hợp xuất hiện thiệt hại là tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản, việc xác định chủ thể được bồi thường thì áp dụng nguyên tắc chung nêu trên. Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường không chỉ gây thiệt hại cho một người hay một số người mà thường gây thiệt hại đến môi trường chung. Ở Việt Nam, theo quy định tại Hiến pháp 2013, đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Là người đại diện chủ sở hữu đối với các thành phần môi trường cơ bản nhưng Nhà nước không trực tiếp sử dụng các thành phần môi trường, các nguồn tài nguyên thiên nhiên này mà chuyển giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng.

Thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gồm: suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường; thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra

  • Nguyên tắc xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường được quy định như sau:

Một là ô nhiễm môi trường và hậu quả do ô nhiễm môi trường phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, điều tra và kết luận kịp thời; Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Hai là hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường của tổ chức, cá nhân phải được phát hiện và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật;

Ba là nguyên tắc xác định trách nhiệm cá nhân được quy định như sau: người đứng đầu trực tiếp của tổ chức phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường có liên quan đến hoạt động của tổ chức mình; tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra; trường hợp cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường do thực hiện nhiệm vụ được tổ chức giao thì tổ chức phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Quy định của pháp luật về chủ thể được bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường. Người được bồi thường là người bị thiệt hại hoặc thân nhân của người bị thiệt hại, được xác định theo từng trường hợp cụ thể sau đây: Nếu thiệt hại xảy ra do tài sản bị xâm hại thì người được bồi thường là người có tài sản bị thiệt hại; nếu thiệt hại xảy ra do sức khỏe bị xâm phạm thì người được bồi thường là bản thân nạn nhân, người đã bỏ ra các khoản chi phí để chăm sóc, phục hồi sức khỏe cho nạn nhân; nếu thiệt hại xảy ra do tính mạng bị xâm phạm thì người được bồi thường là người đã bỏ ra các khoản chi phí để điều trị trước khi nạn nhân chết, các khoản mai táng phí, thân nhân của nạn nhân được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần và tiền cấp dưỡng nếu họ là người mà nạn nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống.

Qua quá trình nghiên cứu, theo dõi diễn biến một số vụ việc liên quan tới hành vi xâm phạm môi trường của Công ty TNHH Vedan; Công ty TNHH San Miguel Pure Foods Việt Nam; vụ AB Mauri có thể nhận thấy, người được bồi thường ở đây chính là người nông dân nhưng thực tế khả năng tiến hành một vụ kiện mang tính tập thể. Luật hiện hành không ghi nhận loại kiện này, mà chỉ thừa nhận quyền kiện cáo theo luật chung về trách nhiệm dân sự. Cũng theo luật chung, mỗi nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại của riêng mình để được bồi thường trực tiếp, độc lập với yêu cầu bồi thường của nguyên đơn khác. Nhà nước cam kết ủng hộ người bị thiệt hại trong việc thiết lập căn cứ pháp lý khách quan cho yêu cầu bồi thường của họ. Trong khi đó, việc điều tra, giám định để xác định mối liên hệ nguyên nhân – hệ quả giữa hành vi xả chất thải và thiệt hại được ghi nhận là công tác kỹ thuật không hề đơn giản và rất tốn kém.

Theo quy định tại Điều 584, Điều 602 Bộ Luật Dân sự năm 2015, Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại có trách nhiệm khắc phục, Bồi thường thiệt hại và chịu các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. Như vậy, các quy định trên đều xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm Bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường là các tổ chức, cá nhân và các chủ thể khác có hành vi vi phạm pháp luật gây ô nhiễm môi trường. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Một vấn đề được đặt ra là cần phân biệt người được bồi thường với người có quyền yêu cầu bồi thường. Về mặt lý thuyết, người được bồi thường đương nhiên là người có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại. Trong thực tiễn, người có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại có thể chia làm hai loại sau:

  • Thứ nhất, người có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường.

Theo quy định tại Hiến pháp 2013, hầu hết các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trường như đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời… đều thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý hoặc Nhà nước là đại diện chủ sở hữu.

Theo quy định tại Điều 198 BLDS năm 2015 quy định việc thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân:

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại diện, thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân. 2. Chính phủ thống nhất quản lý và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm tài sản thuộc sở hữu toàn dân.

Khoản 4 Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật”. Do đó, về mặt nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu nói chung (Điều 164 Bộ Luật Dân sự năm 2015), Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi trái pháp luật gây ô nhiễm môi trường làm suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường Bồi thường thiệt hại.

  • Thứ hai, chủ thể có quyền yêu cầu Bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản và lợi ích hợp pháp.

Theo quy định tại Điều 169 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định quyền yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản: “Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó hoặc có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm”; nếu hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu gây thiệt hại thì “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại” (Điều 170 Bộ Luật Dân sự năm 2015).

Như vậy, đối với những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra thì chủ thể có có quyền đòi bồi thường là tổ chức, cá nhân bị thiệt hại.

Điều 53 Hiến pháp 2013 quy định: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Theo các quy định trên, Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu về chức năng, tính hữu ích của môi trường là một lợi ích công cộng mà người đảm bảo cho lợi ích này cũng là Nhà nước. Như vậy, chủ thể có quyền đòi bồi thường trong trường hợp này là Nhà nước. Đối với quyền đòi Bồi thường thiệt hại của Nhà nước, theo quy định tại Điều 56 khoản 2 Bộ Luật tố tụng dân sự, cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách. Theo đó, cơ quan được giao quản lý nhà nước về môi trường theo quy định tại Điều 141, 143 Luật bảo vệ môi trường 2014 sẽ đại diện cho Nhà nước đòi Bồi thường thiệt hại về môi trường.

Theo Điều 3 khoản 2 Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường, trách nhiệm yêu cầu Bồi thường thiệt hại được quy định như sau:

UBND cấp xã có trách nhiệm yêu cầu Bồi thường thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý của mình; UBND cấp huyện có trách nhiệm yêu cầu Bồi thường thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn từ hai xã, thị trấn, thị tứ trở lên; UBND cấp tỉnh có trách nhiệm yêu cầu Bồi thường thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn từ hai huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên; Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm yêu cầu Bồi thường thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên. Như vậy, các cơ quan nhà nước nêu trên có nghĩa vụ trước chủ sở hữu toàn dân đối với các nguồn tài nguyên, các thành phần môi trường trong việc đòi bồi thường loại thiệt hại “suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường”. Đây là mối quan hệ đại điện theo quy định của pháp luật.

  • Xử lý kỷ luật nhà nước

Xử lý vi phạm kỷ luật nhà nước áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức quản lý, bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp. Những vẫn đề này được quy định trong Luật Công chức, viên chức. Gồm những nội dung cơ bản sau:

Một là chủ thể bị xử lý là cán bộ, công chức, viên chức quản lý và bảo vệ môi trường Khu công nghiệp;

Hai là hình thức xử lý gồm: khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; buộc thôi việc (áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý); khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; giáng chức; cách chức; buộc thôi việc (áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý). Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc sử dụng công cụ xử lý kỷ luật nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chưa hiệu quả. Có thể khẳng định để xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường Khu công nghiệp lỗi một phần không nhỏ thuộc về công tác quản lý của chủ thể có thẩm quyền. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, vì lợi ích cá nhân, chủ thể có thẩm quyền bao che cho các hành vi vi phạm. Vì thế, để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường Khu công nghiệp cần tăng cường trách nhiệm của chủ thể quản lý. Các biện pháp xử lý kỷ luật nhà nước phải đủ mạnh để bảo đảm chủ thể quản lý nhà nước phải nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp trong công tác quản lý môi trường Khu công nghiệp.

Liên quan đến sự cố môi trường biển tại 04 tỉnh miền Trung, ngày 15/8/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định thi hành kỷ luật 4 cá nhân nguyên là lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND tỉnh Hà Tĩnh do đã có những vi phạm liên quan đến Dự án Formosa Hà Tĩnh gây ra sự cố môi trường rất nghiêm trọng tại 4 tỉnh miền Trung: thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với ông Nguyễn Minh Quang, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhiệm kỳ 2011 – 2016; thi hành kỷ luật bằng hình thức xóa tư cách nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2011- 2015 đối với ông Nguyễn Thái Lai và ông Bùi Cách Tuyến; thi hành kỷ luật bằng hình thức xóa tư cách nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2005 – 2010, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2010 – 2015 đối với ông Võ Kim Cự.

  • Xử lý vi phạm hành chính

Theo khoản 2 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012: Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường hiện nay được quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016. Pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp là một bộ phận của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Có thể hiểu pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt các chủ thể có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp.

Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 bao gồm: Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Một là các hành vi vi phạm các quy định về kế hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường và đề án bảo vệ môi trường;

Hai là các hành vi gây ô nhiễm môi trường;

Ba là các hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải;

Bốn là các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ và khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu kinh doanh dịch vụ tập trung;

Năm là các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phế liệu, chế phẩm sinh học; nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng; hoạt động lễ hội, du lịch và khai thác khoáng sản;

Sáu là các hành vi vi phạm các quy định về thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường;

Bảy là các hành vi vi phạm hành chính về đa dạng sinh học bao gồm: Bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên; bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật và bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền;

Tám là các hành vi cản trở hoạt động quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính và các hành vi vi phạm quy định khác về bảo vệ môi trường.

  • Các biện pháp xử lý:

Một là biện pháp xử phạt chính: Cảnh cáo; Phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân và 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức;

Hai là hình thức xử phạt bổ sung: tước quyền sử dụng có thời hạn đối với các loại giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận liên quan đến hành vi vi phạm hành chính; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;

Ba là ngoài các hình thức xử phạt quy định trên, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả.

Tại khoản 4, Điều 12, Nghị định 155/NĐ-CP quy định hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao bị xử phạt như sau:

  • Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không báo cáo kết quả thực hiện công tác bảo vệ môi trường theo quy định; Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.
  • Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không có bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường đáp ứng điều kiện theo quy định; không có người quản lý vận hành nhà máy xử lý nước thải tập trung theo quy định;
  • Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không đảm bảo diện tích cây xanh tối thiểu trong phạm vi khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; thực hiện không đúng quy hoạch các khu chức năng trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao theo quy định;
  • Phạt tiền từ 000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi ghi chép nhật ký vận hành không đầy đủ một trong các nội dung: Lượng nước thải, lượng điện tiêu thụ, hóa chất sử dụng, lượng bùn thải;
  • Phạt tiền từ 000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi không có nhật ký vận hành nhà máy xử lý nước thải tập trung; không có kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường theo quy định;
  • Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi không có thiết bị đo lưu lượng nước thải đầu vào tại nhà máy xử lý nước thải tập trung theo quy định; không bố trí công tơ điện độc lập tại nhà máy xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao;
  • Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đấu nối hoặc đấu nối không triệt để nước thải từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao theo quy định; không kiểm soát dẫn đến các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xả nước thải vào hệ thống thoát nước mưa của khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao;
  • Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với hành vi không có hệ thống thu gom nước mưa và nước thải riêng biệt theo quy định;
  • Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với hành vi xây lắp hệ thống xử lý nước thải tập trung không đúng quy định hoặc không đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường theo quy định;
  • Phạt tiền từ 400.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng đối với hành vi không có hệ thống xử lý nước thải tập trung theo quy định.

2.5.3. Thực trạng quy định pháp luật về xử lý ô nhiễm môi trường KCN ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Theo Báo cáo của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội [36] trong giai đoạn 2016-2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức thanh tra, kiểm tra tại 1.354 cơ sở và Khu công nghiệp, xử phạt vi phạm hành chính với số tiền trên 120 tỷ đồng. tiếp nhận, xử lý 48 hồ sơ khiếu nại, tố cáo và 665 báo cáo giải trình việc khắc phục hậu quả vi phạm, năm 2018 thực hiện thanh tra, kiểm tra đối với 313 cơ sở; kịp thời chỉ đạo xử lý các vụ việc, điểm nóng về môi trường; giám sát quá trình vận hành thử nghiệm các công trình xử lý chất thải của các dự án lớn tiềm ẩn nguy cơ gây ONMT cao. Đặc biệt, trong năm 2016, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt, kịp thời việc điều tra, xác định nguyên nhân, thủ phạm, có giải pháp khắc phục, xử lý sự cố môi trường gây hải sản chết bất thường tại các tỉnh ven biển miền Trung, doanh nghiệp gây sự cố đã hoàn thành bồi thường 500 triệu USD.

Nghị định số 155/2016/NĐ-CP đã bổ sung những hành vi vi phạm theo quy định tại các thông tư, nghị định, quyết định và văn bản pháp luật khác của cơ quan quản lý nhà nước như vi phạm các quy định về thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường (BVMT); vi phạm quy định về Bảo vệ môi trường trong hoạt động kinh doanh hạ tầng khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp; vi phạm quy định về Bảo vệ môi trường trong hoạt động nuôi trồng thủy sản; vi phạm các quy định về Bảo vệ môi trường đất; vi phạm quy định về Bảo vệ môi trường đối với hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú ý; vi phạm quy định về bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, một số hành vi vi phạm hành chính trước đây không xử lý được do không có chế tài xử phạt, hoặc chưa quy định rõ đã được cụ thể hóa trong Nghị định như hành vi liên quan đến hoạt động vận hành thử nghiệm của dự án; hành vi thực hiện không đúng một trong các nội dung của đề án Bảo vệ môi trường đã được xác nhận; hành vi không thông báo bằng văn bản đến tổ chức tham vấn, hoặc cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM về kế hoạch vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải phục vụ giai đoạn vận hành trước khi vận hành thử nghiệm ít nhất 10 ngày kể từ ngày tổ chức, cơ quan có thẩm quyền nhận được văn bản thông báo; hành vi không báo cáo kịp thời cho cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM và cơ quan chuyên môn về Bảo vệ môi trường cấp tỉnh để hướng dẫn giải quyết Ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường trong quá trình vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải theo quy định; hành vi không dừng ngay hoạt động vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải, không tổ chức khắc phục Ô nhiễm môi trường và bồi thường thiệt hại…

Nhằm tăng hiệu lực xử lý, có tính răn đe cao đối với những hành vi gây Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP nêu rõ, các đối tượng là hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể vi phạm các quy định của Nghị định sẽ bị xử phạt như đối với cá nhân vi phạm. Các cá nhân, tổ chức có hành vi Vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường bị áp dụng các hình thức xử phạt như cảnh cáo; phạt tiền tối đa đối với một hành vi Vi phạm hành chính về Bảo vệ môi trường là 1 tỷ đồng với cá nhân và 2 tỷ đồng đối với tổ chức; bị tước quyền sử dụng có thời hạn đối với Giấy phép xử lý Chất thải nguy hại; Giấy phép xả khí thải công nghiệp; Giấy xác nhận đủ điều kiện về Bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất; Giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm là các chất độc hại, chất lây nhiễm; Giấy chứng nhận đăng ký lưu hành chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải tại Việt Nam…; hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn theo quy định tại khoản 2, Điều 25 Luật Xử lý Vi phạm hành chính từ 1 tháng – 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt Vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành… Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Ngoài ra, đối với từng hành vi vi phạm, Nghị định cũng quy định rõ mức phạt: Đối với hành vi vi phạm các quy định về thực hiện kế hoạch Bảo vệ môi trường thuộc thẩm quyền xác nhận của UBND cấp huyện, phòng đăng ký kinh doanh cấp huyện và Sở Tài nguyên và Môi trường, bị phạt cảnh cáo, hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng – 10.000.000 đồng khi thực hiện không đúng một trong các nội dung kế hoạch Bảo vệ môi trường đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận; Đối với hành vi vi phạm các quy định về thực hiện báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền phê duyệt của UBND cấp tỉnh, Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan ngang Bộ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng – 40.000.000 đồng khi thực hiện không đúng một trong các nội dung báo cáo ĐTM và các yêu cầu trong quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM, hoặc Giấy xác nhận hoàn thành công trình Bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành theo quy định; bị phạt tiền từ 140.000.000 đồng – 160.000.000 đồng khi không có Giấy xác nhận hoàn thành công trình Bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành…; Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phải lập báo cáo ĐTM trình Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng – 100.000.000 đồng khi không thực hiện khắc phục Ô nhiễm môi trường, từ 50.000.000 đồng – 100.000.000 đồng đối với hành vi không có hệ thống thu gom nước thải riêng biệt với hệ thống thoát nước mưa, không có đủ phương tiện, thiết bị thu gom, lưu giữ, phân loại Chất thải rắn tại nguồn, để phát tán khí độc hại ra môi trường, không hạn chế tiếng ồn, độ rung, phát sáng, phát nhiệt gây ảnh hưởng xấu đối với môi trường và người lao động;…

Để đảm bảo công bằng trong quá trình xử phạt, Nghị định còn đưa ra những quy định mang tính định lượng chi tiết đối với các hành vi vi phạm về xả nước thải, thải bụi, khí thải gây Ô nhiễm môi trường. Trong đó, bổ sung các mức phạt tăng thêm đối với các thông số môi trường thông thường và nguy hại tương ứng, đồng thời phân chia lại ngưỡng vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải. Cụ thể, đối với các hành vi xả nước thải, thải bụi, khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 1,1 lần đến dưới 1,5 lần, hoặc xả nước thải, thải bụi, khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải dưới 1,1 lần trong trường hợp tái phạm, vi phạm nhiều lần bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng – 400.000.000 đồng tùy vào lượng nước thải, từ 10.000.000 đồng – 850.000.000 đồng tùy vào lưu lượng khí thải; Hành vi xả nước thải, thải bụi, khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 1,5 lần đến dưới 2 lần bị phạt từ 3.000.000 đồng – 750.000.000 đồng tùy vào lượng nước thải, từ 5.000.000 đồng – 800.000 đồng tùy vào lưu lượng khí thải…

Riêng hành vi gây Ô nhiễm môi trường kéo dài, lặp lại nhiều lần mà không khắc phục được (trước đây đã bị xử phạt Vi phạm hành chính về hành vi xả nước thải, khí thải, gây tiếng ồn, độ rung vượt quy chuẩn môi trường) thì bị phạt tiền từ 130.000.000 đồng – 150.000.000 đồng. Nếu trong nước thải, bụi, khí thải có cả các thông số môi trường nguy hại, vi khuẩn, hoặc giá trị pH ngoài ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật thì chọn thông số tương ứng với hành vi vi phạm có mức phạt tiền cao nhất của mẫu nước thải, hoặc bụi, khí thải để xử phạt. Các thông số môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật còn lại của cùng mẫu chất thải đó sẽ bị phạt tăng thêm từ 10% – 50% mức phạt tiền cao nhất của hành vi vi phạm đối với mỗi thông số, tăng so với quy định cũ tại Nghị định số 179/2013/NĐ-CP từ 1% – 4%… Mức phạt tiền đối với hành vi Vi phạm hành chính quy định trên là mức phạt tiền quy định đối với hành vi Vi phạm hành chính của cá nhân, mức phạt tiền đối với hành vi Vi phạm hành chính của tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền với cùng hành vi Vi phạm hành chính của cá nhân. Ngoài các mức phạt trên, các cá nhân và tổ chức vi phạm còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Về phân định thẩm quyền xử phạt, Nghị định cũng kế thừa những ưu điểm của Nghị định số 179/2013/NĐ-CP, nhưng quy định chi tiết hơn, nhằm tạo thuận lợi cho các bên liên quan trong quá trình xử phạt, đảm bảo các chức danh được xử phạt theo đúng thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, Nghị định cũng bổ sung quy định mới tại Điều 53 về trách nhiệm và cơ chế phối hợp trong hoạt động kiểm tra, thanh tra, xử phạt Vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường, tránh chồng chéo trong quá trình thanh tra doanh nghiệp.

Trước những đòi hỏi cấp bách của việc bảo vệ môi trường nói chung, môi trường tại các Khu công nghiệp nói riêng, Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 (Nghị định 155) đã khắc phục một số hạn chế, bất cập của Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 (Nghị định 179) của Chính phủ, giúp nâng cao hiệu quả xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Nghị định 155 đã bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho lực lượng công an, mà trước đó Nghị định 179 không quy định, như: Hành vi vi phạm các quy định về thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), đề án bảo vệ môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường; hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường đối với chủ nguồn thải chất thải nguy hại, hoạt động vận chuyển chất thải nguy hại, xử lý chất thải nguy hại trong nhập khẩu phế liệu; hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu, sản xuất chế phẩm sinh học; vi phạm quy định trong nộp phí bảo vệ môi trường, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường… Ngoài ra, so với Nghị định 179, Nghị định 155 đã bỏ quy định hạn chế thẩm quyền của lực lượng cảnh sát môi trường trong thực hiện các biện pháp nghiệp vụ, điều tra, kiểm tra như quy định tại Luật Công an nhân dân và Pháp lệnh Cảnh sát môi trường.

Có thể nói Nghị định 155/NĐ-CP đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng cảnh sát môi trường trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường. Tuy nhiên, qua thực tế triển khai nhiệm vụ, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường cho biết, vẫn còn một số bất cập. Cụ thể, lực lượng cảnh sát môi trường không được xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp vi phạm các quy định về thực hiện ĐTM, mà vấn đề này thuộc thẩm quyền phê duyệt ĐTM của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Mặt khác, quy định đoàn kiểm tra do lực lượng công an chủ trì phải có sự tham gia của cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường các cấp (điểm d, khoản 3, Điều 53), nhưng lại không quy định cụ thể cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường các cấp là những cơ quan nào, khiến cơ quan chức năng lúng túng trong triển khai kế hoạch kiểm tra, giám sát, dễ tạo ra kẽ hở để doanh nghiệp buông lỏng hoặc trốn tránh trách nhiệm bảo vệ môi trường.

2.6. Đánh giá pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại khu công nghiệp và thực tiễn thi hành tại Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

2.6.1. Kết quả ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại Khu công nghiệp

Hệ thống các quy định về kiểm soát xả thải của doanh nghiệp kể từ khi ban hành Luật môi trường 2014 đến nay có 02 Luật, pháp lệnh, 10 Nghị định, 01 Chỉ thị, 04 Thông tư, 07 quy chuẩn (Phụ lục III: Danh mục các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường Khu công nghiệp, CSONC theo Báo cáo số 4012/BTNMT-TCMT ngày 27/7/2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường) và 02 quy trình kiểm soát gồm quy trình kiểm soát trong và ngoài hàng rào của cơ sở sản xuất; trong hàng rào có 10 bước kiểm tra, giám sát; ngoài hàng rào có 06 hoạt động kiểm soát và nhiều văn bản có hướng dẫn liên quan (Phụ lục III: Hệ thống quy định pháp luật liên quan đến kiểm soát xả thải của doanh nghiệp và quy trình kiểm soát xả thải trong và ngoài hàng rào của doanh nghiệp theo vòng đời).

Quy định cụ thể về bảo vệ môi trường Khu công nghiệp triển khai quy định tại Điều 66, Điều 67 Luật bảo vệ môi trường 2014 và các Nghị định có liên quan, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao trong. Một số nội dung mới được đưa vào Thông tư đã góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp, nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan gồm có: Ban quản lý Khu công nghiệp; các đơn vị xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp và các cơ sở hoạt động trong khu kinh tế, Khu công nghiệp. Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng ban hành quy định cụ thể về bảo vệ môi trường với các cơ sở ô nhiễm cao: Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh dịch vụ tập trung, làng nghề và các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ; Thông tư số 24/2017/TT-BTNMT quy định về hoạt động quan trắc môi trường. Ngày 26/01/2018, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án “Điều tra, đánh giá, phân loại và xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn thải” [29]. Việc thực hiện dự án sẽ góp phần kiểm soát công tác bảo vệ môi trường từ nguồn thải có lưu lượng từ 5 m3/ngày đêm trở lên. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Đặc biệt ngày 13/5/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường có phạm vi điều chỉnh rất rộng. Với phạm vi điều chỉnh 04 Nghị định liên quan đến công tác bảo vệ môi trường, bao gồm: Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 Quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường; Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 Quy định về quản lý chất thải và phế liệu; Nghị định số 127/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 Quy định điều kiện của tổ chức hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường. Nghị định 40/2019/NĐ-CP đã cắt giảm nhiều thủ tục hành chính không cần thiết, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, quy định quản lý chặt chẽ hơn trong việc nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất từ nước ngoài vào Việt Nam và đối tượng nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất; bổ sung thêm nội dung quy định số lượng và thời điểm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường… Các báo cáo định kỳ của chủ dự án, cơ sở và khu công nghiệp về: quan trắc và giám sát môi trường định kỳ, quan trắc tự động liên tục, quản lý chất thải rắn sinh hoạt, quản lý chất thải rắn công nghiệp thông thường, quản lý chất thải nguy hại, quản lý phế liệu nhập khẩu, kết quả giám sát và phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản, hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường và các báo cáo môi trường khác, được lồng ghép trong cùng một báo cáo công tác bảo vệ môi trường.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đang dự thảo Đề án kiểm soát đặc biệt đối với cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao góp phần chủ động phòng ngừa, hạn chế tối đa nguy cơ gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, sự cố môi trường trong tương lai; đồng thời thực hiện quyết tâm không chấp nhận việc thu hút đầu tư để ảnh hưởng đến môi trường, không đánh đổi phát triển kinh tế với hủy hoại môi trường mà Chính phủ đặt ra. Trong đó xác định 6 nhiệm vụ chủ yếu nhằm thực hiện kiểm soát đặc biệt đối với các dự án, cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao gồm [37]:

Rà soát các dự án, cơ sở sản xuất thuộc các lĩnh vực sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm môi trường, xác định đối tượng và lập danh mục các dự án, cơ sở sản xuất cần kiểm soát đặc biệt cấp Trung ương và cấp tỉnh;

Rà soát báo cáo đánh giá tác động môi trường, các báo cáo đăng ký, xác nhận, chứng nhận, giấy phép, chấp thuận điều chỉnh báo cáo đánh giá tác động môi trường, kiểm tra, thanh tra và lập hồ sơ môi trường của từng dự án, cơ sở sản xuất thuộc danh mục cần kiểm soát đặc biệt; đề xuất bổ sung, hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động môi trường nếu thấy cần thiết đối với các dự án chưa triển khai trên thực tế;

Rà soát, đánh giá nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và yêu cầu cải tiến, đổi mới về công nghệ sản xuất; cải tiến công trình và biện pháp bảo vệ môi trường; tăng cường năng lực phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường; tăng cường năng lực quản lý và giám sát môi trường; cập nhật, bổ sung, hoàn thiện hồ sơ về môi trường của từng dự án, cơ sở sản xuất thuộc danh mục cần kiểm soát đặc biệt; Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Xác lập chế độ giám sát đặc thù về môi trường; chế độ báo cáo, thanh tra, kiểm tra đối với từng dự án, cơ sở sản xuất thuộc danh mục kiểm soát đặc biệt; xây dựng và thực hiện chương trình giám sát về môi trường;

Xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu về các dự án, cơ sở sản xuất thuộc danh mục cần kiểm soát đặc biệt trên phạm vi cả nước;

Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định của pháp luật về kiểm soát đặc biệt đối với dự án, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao.

Danh mục các loại hình sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm môi trường: Luyện gang, thép; Nhiệt điện; Khai thác, chế biến khoáng sản kim loại có sử dụng hóa chất độc hại; Sản xuất giấy, bột giấy; Nhuộm (vải, sợi); Mạ; Chế biến mủ cao su; Chế biến tinh bột sắn; Sản xuất xi măng; Sản xuất hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học (trừ loại hình phối trộn); Lọc hóa dầu; Thuộc da; Chế biến thủy sản; Chế biến mía đường; Sản xuất pin, ắc quy; Xử lý chất thải.

2.6.2. Khó khăn, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Nhìn chung, từ thực tế cho thấy các quy định hiện hành về cơ bản đã thuận lợi cho việc thực hiện; các biện pháp thực thi tương đối toàn diện; vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được quy định khá cụ thể,.. Tuy nhiên trong thực tế nảy sinh một số vướng mắc sau:

Một, văn bản quy định về đánh giá sơ bộ tác động môi trường còn chồng chéo, chưa thống nhất: Theo điều 34 Luật Đầu tư 2014, Điều 47 Luật Đầu tư công quy định hồ sơ dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng quy định phải có đánh giá sơ bộ tác động môi trường, các giải pháp bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, Luật bảo vệ môi trường 2014 không có quy định về đánh giá sơ bộ tác động môi trường. Tại khoản 2 Điều 25 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định: “Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM là căn cứ để cấp có thẩm quyền quyết định chủ trường đầu tư của dự án”. Do vậy, Thủ tướng đã giao Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan chuẩn bị Báo cáo về việc tháo gỡ vướng mắc quy định pháp luật về thời điểm quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư tại quy định của Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công và Luật Bảo vệ môi trường theo tờ trình số 42/CP-PL ngày 28/02/2018 và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 2264/VPCP-PL ngày 12/3/2018 để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Hai, hiện nay chưa có biện pháp, công cụ sàng lọc dự án đầu tư theo mức độ rủi ro về môi trường: theo Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương chỉ đạo thực hiện “Cơ chế quản lý về bảo vệ môi trường theo từng loại hình và mức độ tác động đến môi trường đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh”. Nhưng đến nay, các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường chưa thể hiện rõ chủ trương này trong quá trình quản lý, chưa xác định, phân loại, nắm chắc các đối tượng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, nhất là các dự án, cơ sở sản xuất lớn, có nguy cơ xảy ra ô nhiễm, sự cố môi trường lớn, diễn ra trên diện rộng để có biện pháp xử lý phù hợp. Do đó, cần bổ sung các quy định về sàng lọc dự án đầu tư, tăng cường kiểm soát một số đối tượng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao để giải quyết thực tiễn quản lý môi trường đang đặt ra bức thiết hiện nay. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Ba, thiếu các quy định về cơ chế kiểm tra, giám sát chủ dự án đầu tư xây dựng công trình xử lý chất thải và vận hành thử nghiệm: Tại khoản 4 Điều 16 của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định, chủ dự án có trách nhiệm: “Thông báo bằng văn bản đến các tổ chức nơi tiến hành tham vấn, cơ quan đã phê duyệt báo cáo ĐTM về kế hoạch vận hành thử nghiệm các công trình xử lý chất thải phục vụ giai đoạn vận hành (từng giai đoạn hoặc toàn bộ dự án) trước khi tiến hành vận hành thử nghiệm ít nhất 10 ngày làm việc….”. Tuy nhiên, Nghị định số 18/2015/NĐ-CP chưa quy định rõ thời điểm vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải; điều kiện để đưa các công trình xử lý chất thải vào vận hành thử nghiệm; biện pháp xử lý khi vận hành thử nghiệm không đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật môi trường; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường trong việc kiểm tra, giám sát vận hành thử nghiệm. Hiện nay, chủ dự án chỉ cần thông báo cho cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM và được tự vận hành thử nghiệm, tự chịu trách nhiệm về kết quả vận hành thử nghiệm và rất khó phát hiện nếu xảy ra sự cố trong giai đoạn này. Hiện nay, nội dung này đã được nêu tại Nghị định số 40/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ.

Quy định về kiểm tra, xác nhận hoàn thành các công trình Bảo vệ môi trường của dự án còn chung chung, chưa quy định thời điểm chủ dự án phải báo cáo hoàn thành các công trình Bảo vệ môi trường và không có cơ quan nào giám sát việc thực hiện của chủ dự án (Khoản 6 Điều 16 Nghị định số 18/2015/NĐ-CP). Điều 17 Nghị định số 18/2015/NĐ-CP chưa quy định rõ các công trình Bảo vệ môi trường cần phải kiểm tra, xác nhận và nội dung kiểm tra, xác nhận, nên việc tổ chức thực hiện thiếu thống nhất, mỗi địa phương một cách khác nhau. Điều 27 Luật Bảo vệ môi trường quy định dự án chỉ được vận hành sau khi cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình Bảo vệ môi trường, nhưng không giao Chính phủ quy định chi tiết. Giấy xác nhận hoàn thành công trình Bảo vệ môi trường của dự án hiện nay đang được quy định tại Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT là chưa phù hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Bốn, công tác quan trắc, giám sát quá trình hoạt động của các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp: thiếu cơ chế khuyến khích các cơ sở lắp đặt hệ thống quan trắc tự động cụ thể là chưa có quy định việc miễn phải thực hiện quan trắc định kỳ đối với các thông số đã quan trắc tự động; việc sử dụng số liệu, chia sẻ số liệu và công khai số liệu quan trắc chưa được quy định cụ thể. Việc quan trắc môi trường định kỳ của doanh nghiệp hiện nay đang được thực hiện theo hướng ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ quan trắc. Nhưng chất lượng quan trắc định kỳ chưa phản ánh đúng thực tế. Vì vậy, cần xây dựng hình thức các doanh nghiệp nộp tiền để thực hiện quan trắc vào Quỹ bảo vệ môi trường và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện theo mô hình một số nước trên thế giới đang áp dụng. Quy định về quan trắc nước thải tự động đang áp dụng cho cá cơ sở xả thải từ 1.000m3/ngày đêm trở lên, chưa siết chặt đối với các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao như bột giấy, hóa chất,.. các cơ sở đã bị xử phạt vi phạm hành chính nghiêm trọng hoặc liên tục, kéo dài.

Năm, thiếu quy định hoặc quy định chưa đầy đủ về việc sử dụng chung hệ thống xử lý nước thải tập trung của Khu công nghiệp: Hiện nay đã có quy định cho phép các Khu công nghiệp liền kề có thể sử dụng chung hệ thống xử lý nước thải tập trung (HTXLNTTT) nhưng thiếu quy định về việc sử dụng chung Hệ thống xử lý nước thải tập trung của Khu công nghiệp và doanh nghiệp trong Khu công nghiệp và giữa các doanh nghiệp với nhau khi có liên kết đấu nối. Thiếu quy định về các thủ tục môi trường cần bổ sung khi có điều chỉnh quy mô từ cụm công nghiệp chuyển đổi thành Khu công nghiệp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Sáu, cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường chưa theo kịp, phù hợp và đồng bộ với cơ chế kinh tế thị trường: Các loại thuế, phí về môi trường theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả chi phí xử lý, khắc phục, cải tạo và phục hồi môi trường”, “người hưởng lợi từ giá trị môi trường phải trả tiền” mới chỉ bước đầu tạo nguồn thu cho ngân sách mà chưa phát huy được vai trò công cụ kinh tế điều tiết vĩ mô, hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo hướng tăng trưởng xanh. Phí bảo vệ môi trường đối với khí thải chưa được tính toán dựa trên mức độ độc hại, khối lượng nguyên liệu sản xuất đầu vào để tác động đến ý thức, trách nhiệm của người sản xuất trong giảm thiểu nguồn gây ô nhiễm môi trường; một số dự án lớn sau khi kết thúc có nguy cơ gây ra những tác động tiêu cực tới môi trường và sức khỏe con người cần thiết phải thực hiện việc ký quỹ phục hồi môi trường nhằm tạo ý thức cho các chủ thể, buộc phải tiến hành công tác phục hồi môi trường thường xuyên trong từng khâu của quá trình sản xuất và ở phạm vi tổng thể của toàn bộ chu trình sản xuất. Mặt khác, các quy định hiện hành về bảo vệ môi trường chưa tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để khuyến khích phát triển dịch vụ môi trường, sản phẩm thân thiện với môi trường, khuyến khích xã hội hóa trong một số hoạt động bảo vệ môi trường. Tại Điều 8 Nghị định số 19/2015/NĐ-CP quy định về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản còn bất cập như: thời điểm và cách thức ký quỹ; tiền ký quỹ được hưởng lãi suất bằng lãi suất cho vay của quỹ Bảo vệ môi trường nơi ký quỹ và được tính từ thời điểm ký quỹ. Quy định này gây khó khăn cho hoạt động của quỹ và chưa có hướng dẫn cụ thể về việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường tại các quỹ Bảo vệ môi trường.

Bảy, các thủ tục hành chính cho phép về môi trường (giấy phép) chưa có sự liên thông, tích hợp để bảo đảm thuận lợi cho doanh nghiệp: theo các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường hiện hành, sau đánh giá tác động môi trường, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đang sử dụng các loại giấy phép để quản lý môi trường đối với các dự án, cơ sở như: giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, giấy phép xả thải vào nguồn nước, giấy phép xả khí thải, giấy chứng nhận đủ kiều kiện nhập khẩu phế liệu, giấy phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại, sổ chủ nguồn thải, kế hoạch quản lý môi trường. Các nội dung của các giấy phép này đang được quy định trong một luật hay bởi các luật khác nhau có sự trùng lặp về mục tiêu, nội dung, thẩm quyền, hoặc quy định khác nhau; được thực hiện theo các quy trình, thủ tục khác nhau, gây lãng phí thời gian, chi phí xã hội. Do vậy vấn đề cải cách hành chính và hợp nhất, liên thông các thủ tục hành chính về môi trường là một trong những nội dung ưu tiên để thực hiện chủ trương cải cách hành chính của Chính phủ. Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường

One thought on “Luận văn: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các KCN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464