Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

4.1. BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018 – 2025 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

4.1.1. Bối cảnh quốc tế

Trên thế giới, trong những năm tới tình hình sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

  • Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng.
  • Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia.
  • Tình hình chính trị – an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh mạng, chiến tranh cục bộ,… tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực.
  • Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới và các khu vực. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt, chủ nghĩa thực dụng ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế.
  • Những vấn đề toàn cầu nổi lên như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh; an ninh truyền thống, phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng và các hình thái chiến tranh kiểu mới.
  • Kinh tế thế giới phục hồi chậm, lạm phát, thất nghiệp và nợ công cao khiến các nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, thách thức và có nhiều biến động khó lường.
  • Các quốc gia tham gia ngày càng sâu vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Biến động của giá cả thế giới, sự bất ổn về tài chính, tiền tệ và vấn đề nợ công tiếp tục gây ra những hiệu ứng bất lợi đối với nền kinh tế thế giới. Tương quan sức mạnh kinh tế giữa các quốc gia, khu vực đang có nhiều thay đổi.
  • Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á, tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa kinh tế – chính trị chiến lược ngày càng quan trọng trên thế giới. Đồng thời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn, có nhiều nhân tố bất ổn. Tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông tiếp tục diễn ra gay gắt, phức tạp. ASEAN trở thành cộng đồng, tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác, liên kết kinh tế trong khu vực, nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức cả bên trong và bên ngoài.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

4.1.2. Bối cảnh trong nước Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Sau giai đoạn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam chịu nhiều tác động tiêu cực và đối mặt với nhiều khó khăn. Những bất ổn của nền kinh tế như môi trường kinh tế vĩ mô tiềm ẩn nhiều rủi ro, lạm phát và nhập siêu còn lớn, tỷ lệ nợ công cao, tỷ giá hối đoái không ổn định, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản hoạt động khá trầm lắng… đã tác động xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân.

Trước diễn biến tình hình kinh tế trong và ngoài nước có tác động sâu sắc đến nền kinh tế Việt Nam khiến tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới sẽ gặp nhiều khó khăn, cụ thể như sau:

Thứ nhất, giai đoạn 2018 – 2025 là thời kỳ Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết trong Cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chậm lại, hoạt động xuất khẩu gặp nhiều khó khăn. Thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm chắc chắn sẽ tác động đến tình hình kinh doanh của các ngành liên quan. Bên cạnh đó, nhiều nước tăng cường bảo hộ sản xuất trong nước nên dẫn đến các rào cản cũng như hiện tượng cạnh tranh cao hơn của các nước xuất khẩu khác. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Thứ hai, biến động giá cả trên thế giới tác động mạnh đến hoạt động kinh tế trong nước. Giá dầu thô được dự báo tiếp tục không ổn định trong thời gian tới do vẫn chịu sự tác động của bất ổn chính trị ở Trung Đông làm cho nguồn cung không ổn định.

Thứ ba, vốn đầu tư toàn xã hội giảm do những khó khăn về nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài suy giảm. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng ở Châu Âu nên trong thời gian tới, dự báo thu hút vốn đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục khó khăn và có xu hướng giảm xuống. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công châu Âu, các nhà đầu tư và các tổ chức xếp hạng tín dụng quan tâm hơn về vấn đề nợ công của các quốc gia. Việt Nam đang bị đánh giá ở mức rủi ro khá cao so với nhiều nước trong khu vực Asean. Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới việc thu hút các nguồn vốn đầu tư cũng như nguồn vốn vay nước ngoài. Ngoài ra, chính sách mới của Tổng thống Mỹ cũng có tác động tiêu cực đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Việt Nam thực hiện kế hoạch phát triển KTXH trong giai đoạn tới với nhiều khó khăn hơn, điều đó đòi hỏi Việt Nam phải có những nỗ lực cao hơn trong việc tạo môi trường tốt để thu hút vốn đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước.

Thứ tư, quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng vẫn chưa chuyển biến mang tính đột phá. Ba trọng tâm cơ cấu lại nền kinh tế và bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra tiếp tục tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; khoảng cách giàu – nghèo, phân hóa xã hội ngày càng tăng, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại, làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Nhà nước.

Thứ năm, bảo vệ chủ quyền biển, đảo đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn. Tình hình chính trị – xã hội ở một số địa bàn còn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định.

Có thể thấy, tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn tới còn nhiều khó khăn. Những khó khăn nội tại và những rủi ro từ nền kinh tế thế giới sẽ tác động rất nhiều đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Do vậy, đòi hỏi Chính phủ phải chủ động, kịp thời và linh hoạt trong việc điều hành nền kinh tế để hạn chế những bất cập và tăng cường được sức cạnh tranh của nền kinh tế.

4.2. QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018 – 2025 VÀ TẦM NHÌN 2030 Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

4.2.1. Quan điểm điều hành chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025 và tầm nhìn 2030

Đến năm 2025 và tầm nhìn 2030 phải đạt được mục tiêu xây dựng nền tài chính quốc gia lành mạnh, đảm bảo giữ vững an ninh tài chính, ổn định kinh tế vĩ mô, tài chính – tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy TTKT gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế.

Trong bối cảnh tình hình kinh tế – chính trị trong nước và thế giới còn nhiều khó khăn, kinh tế thế giới vẫn tăng trưởng chậm, kinh tế châu Âu chưa phục hồi, xung đột địa chính trị ở một số khu vực và đặc biệt giá dầu thế giới giảm là một thách thức lớn cho Việt Nam trong điều hành CSTK. Hiện nay, chi NSNN đã ở mức cao, các chính sách miễn, giảm thuế đã được thực hiện trên diện rộng, bội chi đã cao hơn mục tiêu đề ra, nợ công cũng tiến sát mức trần Quốc hội cho phép. Vì vậy, để đạt được các mục tiêu phát triển KTXH thì trong thời gian tới cần phải dựa vào các chính sách khác như: CSTT, tín dụng; chính sách điều chỉnh cơ cấu xuất nhập khẩu để phát triển nền sản xuất có khả năng cạnh tranh cao; bên cạnh đó cần có biện pháp huy động các nguồn lực của khu vực tư nhân và nguồn tiết kiệm trong dân cư để phát triển kinh tế. Để đạt được các mục tiêu phát triển KTXH thì trong thời gian tới, điều hành CSTK ở Việt Nam cần quán triệt các quan điểm sau:

  • Cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công phải đặt trong tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm hiệu quả, toàn diện, công bằng, bền vững, động viên hợp lý các nguồn lực. Thực hành triệt để tiết kiệm, chống lãng phí; xác định tiết kiệm là quốc sách hàng đầu; chỉ chi trong khả năng của nền kinh tế và chỉ vay trong khả năng trả nợ. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính – NSNN, tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cấp về thu, chi NSNN, sử dụng vốn vay và xử lý nợ công, hạn chế và tiến tới xóa bỏ cơ chế “xin – cho”.
  • Kết hợp hài hòa giữa giải quyết các vấn đề quan trọng, cấp bách với các vấn đề cơ bản, dài hạn, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương, phát huy sự chủ động, sáng tạo của các bộ, ngành, địa phương; thu hút tối đa nguồn lực của xã hội. Điều chỉnh quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển; tiết kiệm chi thường xuyên để tăng tỉ trọng chi đầu tư phát triển, chi trả nợ trong tổng chi NSNN và giảm bội chi NSNN. Thực hiện huy động, phân bổ, sử dụng nguồn lực NSNN gắn với các ưu tiên chiến lược của nền kinh tế.
  • Đổi mới công tác quản lý tài chính – NSNN phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, hỗ trợ hiệu quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền đất nước.

4.2.2. Định hướng điều hành chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025 và tầm nhìn 2030 Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Từ những quan điểm nêu trên, để tăng cường hiệu quả trong điều hành CSTK giai đoạn 2018 – 2025, đồng thời góp phần thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển KTXH giai đoạn 2011 – 2020, Kế hoạch Tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016 – 2020,…việc đổi mới CSTK cần phải tuân theo các định hướng sau đây:

Một là, tiếp tục thực hiện CSTK theo hướng thắt chặt, đảm bảo an toàn – an ninh tài chính, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy TTKT, đảm bảo ASXH vẫn sẽ là các mục tiêu chủ yếu mà CSTK cần hướng tới.

Hai là, về chính sách thu NSNN: Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số chính sách pháp luật về thuế theo hướng cơ cấu lại nguồn thu, đảm bảo bền vững trong thu NSNN; đảm bảo tỷ trọng thu nội địa không thấp hơn mức quy định trên, phù hợp với sự phát triển của đất nước. Đảm bảo tỷ trọng hợp lý giữa thuế trực thu và thuế gián thu; tăng tỷ trọng thu nội địa; giảm tỷ trọng các khoản thu từ dầu thô, tài nguyên, xuất nhập khẩu; khai thác tốt nguồn thu từ cổ tức, lợi nhuận được chia cho phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Thực hiện cắt giảm thuế quan theo các hiệp định thương mại tự do, hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong điều hành thu NSNN cần tạo sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan trong thực hiện quản lý thu NSNN; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, quản lý chặt chẽ hoàn thuế; Đẩy mạnh thực hiện các biện pháp chống thất thu, chống chuyển giá, buôn lậu, gian lận thương mại; Tập trung xử lý thu hồi nợ đọng thuế và đôn đốc thu hồi các khoản phải thu NSNN. Hạn chế tối đa việc đề ra các chính sách làm giảm thu NSNN.

Ba là, về chính sách chi NSNN: tiếp tục thực hiện chính sách chi tiết kiệm, hiệu quả; Tăng cường kiểm soát chặt chẽ các khoản chi, hạn chế ứng trước dự toán và chi chuyển nguồn; Chủ động rà soát, sắp xếp các khoản chi theo thứ tự ưu tiên.

Giữ cơ cấu hợp lý giữa tích lũy và tiêu dùng, tăng tỷ trọng chi ĐTPT, giảm tỷ trọng chi thường xuyên, đảm bảo chi cho con người, ASXH và chi cho quốc phòng, an ninh. Phấn đấu bảo đảm 20% tổng chi NSNN cho giáo dục, đào tạo; 2% tổng chi ngân sách cho khoa học công nghệ.

Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đầu tư công.

Bốn là, về chính sách bội chi NSNN và nợ công: Giảm dần tỷ lệ bội chi NSNN đến năm 2020 xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP. Thực hiện tốt kỷ luật tài khóa, duy trì dư nợ Chính phủ và nợ quốc gia trong giới hạn an toàn, tăng cường dự trữ Nhà nước nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu đột xuất của nền kinh tế.

Cơ cấu lại các khoản nợ công, giảm tỷ trọng nợ nước ngoài, tăng tỷ trọng nợ trong nước. Chỉ được sử dụng vay bù đắp bội chi NSNN cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên. Tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả vốn vay, chỉ vay trong khả năng trả nợ; Kiểm soát chặt khoản vay của chính quyền địa phương, DNNN; Thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý nợ công, nhất là quản lý sử dụng có hiệu quả vốn vay, quản lý tốt nợ trung hạn và quỹ tích lũy trả nợ, quản lý và xử lý kịp thời rủi ro, tiếp tục cơ cấu lại các khoản vay; Tăng cường quản lý các khoản vay mới, khoản vay có bảo lãnh của Chính phủ.

Xây dựng thị trường trái phiếu, hạn chế phát hành trái phiếu quốc tế, giữ kỳ hạn TPCP trên 5 năm là chủ yếu, nâng kỳ hạn trung bình TPCP phát hành trong giai đoạn 2018 – 2025 lên khoảng 6 – 8 năm. Việc phát hành TPCP với số lượng lớn trong thời gian qua đã tác động tới hoạt động sản xuất. Do vậy, Chính phủ cần xem xét để bảo đảm mức độ phát hành TPCP phù hợp hơn, lãi suất đảm bảo nằm trong tổng thể mặt bằng lãi suất huy động chung trong các năm tiếp theo.

Năm là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự chủ đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 và Nghị quyết số 77/NQ-CP. Thực hiện cơ chế quản lý như DN đối với đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện; Cổ phần hóa các đơn vị sự nghiệp công có đủ điều kiện, trừ các bệnh viện, trường học; Giải thể đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động kém hiệu quả. Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chính sách “xã hội hóa” đầu tư trong một số lĩnh vực như y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao để tăng thêm nguồn vốn đầu tư, mặt khác tăng tính cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm dịch vụ thông qua việc khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển, cung cấp dịch vụ công.

Sáu là, đẩy mạnh hợp tác công tư theo Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015, thu hút các nguồn vốn từ khu vực tư nhân đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng để hỗ trợ xu hướng giảm của đầu tư công do thu NSNN giảm, đồng thời chia sẻ gánh nặng về vốn và rủi ro giữa khu vực công và khu vực tư, nâng cao hiệu quả và chất lượng các dự án đầu tư.

Bảy là, phối hợp chặt chẽ giữa CSTK với CSTT và các chính sách khác nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và đảm bảo tốc độ tăng trưởng hợp lý. Trong quá trình phối hợp CSTK và CSTT, tránh tình trạng CSTT thực hiện theo hướng thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát thì CSTK được thực hiện mở rộng cho đầu tư công như thời gian qua.

4.3. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Ổn định kinh tế vĩ mô được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt và ưu tiên để tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững, thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII, Nghị quyết của Quốc hội về phát triển KTXH 5 năm 2016 – 2020 và Nghị quyết 01 của Chính phủ. Quan điểm chủ đạo về điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ trong thời gian tới là: Điều hành quyết liệt, chủ động, linh hoạt, kết hợp hài hòa và đồng bộ giữa các công cụ chính sách để bảo đảm ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, phấn đấu tăng trưởng năm 2018 cao hơn năm 2017 và tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh hơn, bền vững hơn trong những năm tiếp theo.

Trước những khó khăn, những thách thức của bối cảnh quốc tế và trong nước giai đoạn 2018 – 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, để thực hiện thành công mục tiêu phát triển KTXH mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, cũng như mục tiêu Chiến lược Tài chính đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Nhà nước cần sử dụng nhiều công cụ để có thể đạt được các chỉ tiêu đã đề ra, một trong các công cụ đó chính là CSTK. Trên cơ sở lý luận về CSTK, đánh giá thực trạng sử dụng CSTK của Việt Nam giai đoạn 1991 – 2017, luận án xin đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của CSTK trong việc thúc đẩy TTKT đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

4.3.1. Nhóm giải pháp chung Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

4.3.1.1. Chính sách tài khóa hướng tới mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững

Tăng trưởng cao và bền vững là điều cần thiết và không phải Việt Nam không có dư địa để thúc đẩy, nhưng vấn đề đặt ra là phải xác định những điều kiện cần để đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững.

Để đạt được tăng trưởng cao và bền vững giai đoạn 2018 – 2025, cần tập trung giải quyết các vấn đề tồn tại của giai đoạn trước như chất lượng tăng trưởng của Việt Nam chưa cao khi còn phụ thuộc vào tích lũy và gia tăng các yếu tố đầu vào, động lực tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào khu vực FDI, các yếu tố đe dọa ổn định vĩ mô trong nước dồn tích từ nhiều năm nay chưa xử lý triệt để hoặc chậm cải thiện (thâm hụt ngân sách, nợ công, nợ xấu…). Do vậy, đòi hỏi Chính phủ phải tập trung giải quyết được các vấn đề sau:

Chính sách tài khóa hướng tới mục tiêu tăng trưởng hợp lý và ổn định kinh tế vĩ mô.

Ở Việt Nam, mục tiêu và kế hoạch phát triển KTXH của từng giai đoạn sẽ được nghiên cứu và hoạch định trước. Trên cơ sở đó, CSTK sẽ được vận dụng phù hợp với các mục tiêu chiến lược trung và dài hạn. Một vấn đề quan trọng trong quá trình hoạch định mục tiêu chiến lược phát triển là phải căn cứ vào nguồn lực thực tế của quốc gia để đưa ra những mục tiêu cụ thể phù hợp với khả năng đáp ứng của NSNN. Đó là tiền đề quan trọng để xây dựng một CSTK phù hợp, khả thi và bám sát yêu phát triển đất nước, đồng thời cân đối ngân sách bền vững và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Với những khó khăn và thuận lợi hiện nay, Việt Nam cần ổn định kinh tế vĩ mô hơn là theo đuổi tốc độ tăng trưởng cao, nên duy trì mức tăng trưởng trong khoảng 5-6%. CSTK được điều hành linh hoạt và chặt chẽ, tiết kiệm chi thường xuyên, dành nguồn lực hợp lý cho đầu tư phát triển để hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng của đất nước nhằm phát triển đồng đều và giảm mức sống chênh lệch giữa các vùng miền. Bên cạnh đó, cần tăng cường giám sát, thanh kiểm tra để đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn vốn NSNN.

Tăng cường thực hiện chính sách an sinh xã hội

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ là phải đảm bảo công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về thu nhập và mức sống của người dân thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi. Do vậy, công cụ thu, chi NSNN phải đảm bảo cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo và được thực hiện theo hướng sau:

  • Về thu NSNN: tiếp tục thực hiện chính sách ưu đãi thuế đối với hoạt động SXKD ở vùng, miền có điều kiện KTXH khó khăn.
  • Về chi NSNN: cần có hình thức cấp vốn cho các hộ nghèo, hộ thuộc đối tượng chính sách để phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm…Chi NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng biên giới hải đảo… như đường xá, trạm y tế, trường học.

4.3.1.2. Xây dựng chiến lược tài khóa trung và dài hạn, lập ngân sách theo kết quả đầu ra

Nhiều cải cách theo hướng trên khó có thể cùng triển khai đầy đủ một lúc mà đòi hỏi phải triển khai từng bước. Đó là áp dụng tầm nhìn trung hạn trong lập kế hoạch tài khóa và lập ngân sách, tăng cường định hướng kết quả thực hiện nhiệm vụ trong quản lý ngân sách, triển khai lộ trình xã hội hóa, sát nhập có lựa chọn giữa cơ quan kế hoạch và tài chính, tiếp tục phân cấp cho cơ quan dân cử địa phương để có thẩm quyền đầy đủ hơn về ngân sách địa phương bao gồm cả việc nâng cao tự chủ về thu cho chính quyền cấp tỉnh. Ngoài ra, việc cải cách thể chế, bao gồm cả việc tăng cường trách nhiệm giải trình, còn chưa theo kịp với tốc độ phân cấp nhanh đã làm giảm khả năng kiểm soát hiệu quả việc bố trí và ưu tiên nguồn lực nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển. Chính vì vậy, những vấn đề này cần được xem xét lại trong bối cảnh mới hiện nay. Về chính sách tài khóa, Chính phủ ý thức rõ yêu cầu đảm bảo bền vững tài khóa và đã đặt ra mục tiêu từng bước giảm bội chi ngân sách, đồng thời đang xem xét các phương án củng cố tài khóa cụ thể.

Hầu hết các nước phát triển trên thế giới cũng đang áp dụng việc thực hiện lập kế hoạch tài chính trung hạn và trở thành một thông lệ tốt để những nước chưa thực hiện học hỏi và áp dụng cho quốc gia mình. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Việc lập kế hoạch tài chính trung hạn có nhiều ưu điểm như góp phần tăng cường kỷ luật tài khóa tổng thể thông qua việc ước tính nguồn lực khả thi trong trung hạn, qua đó xác định mức trần chi tiêu cho từng ngành, từng lĩnh vực. Do đó, CSTK theo trung hạn có thể khắc phục được những tồn tại, hạn chế của việc lập ngân sách hàng năm.

Bên cạnh đó, lập kế hoạch tài chính trung hạn tạo điều kiện sử dụng ngân sách một cách hợp lý trong phạm vi trần chi tiêu, phân bổ hiệu quả nguồn lực tài chính công phù hợp với các chính sách và ưu tiên chiến lược của Chính phủ trong một không gian tài khóa nhiều năm, từ đó, tăng tính hiệu quả trong quản lý ngân sách…

Đặc biệt, lập kế hoạch tài chính trung hạn cũng góp phần nâng cao tính minh bạch trong quản lý tài chính, NSNN; tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách.

4.3.1.3. Thực hiện nghiêm kỷ luật tài khóa, đảm bảo bền vững ngân sách

Bội chi ngân sách liên tục ở mức cao khiến khiến nợ công tăng nhanh, trong khi nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) giảm xuống càng cho thấy tầm quan trọng của việc phải xây dựng một lộ trình ngân sách bền vững. Tỷ lệ nợ công so với GDP đã tăng lên nhanh chóng, lên đến 58% năm 2014 và 61% năm 2015, khiến cho dư địa vay nợ của Việt Nam bị thu hẹp lại. Hơn nữa, cơ cấu nợ trong những năm gần đây cũng có sự chuyển dịch đáng kể, theo hướng vay trong nước ngày càng nhiều hơn, chi phí vay cao và kỳ hạn vay ngắn. Xu hướng này dự kiến sẽ tiếp tục do khả năng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi sẽ bị thu hẹp trong điều kiện Việt Nam đã trở thành quốc gia thu nhập trung bình.

Chính phủ cần tích cực triển khai Nghị quyết 07-NQ/TW về chủ trương giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững và Luật NSNN 2015. Cần thực hiện minh bạch thông tin về thâm hụt ngân sách và nợ công để đánh giá chính xác an toàn nợ công và tăng mức tín nhiệm quốc gia trên thị trường.

Việc điều hành CSTK cần linh hoạt, trên cơ sở tối ưu hóa việc sử dụng ngân sách cũng như kiểm soát hiệu quả thâm hụt ngân sách. Thâm hụt ngân sách là một vấn đề đáng lo ngại cả trong ngắn, trung và dài hạn. Tùy thuộc vào nguyên nhân của thâm hụt ngân sách sẽ gây ra ra những hậu quả cho nền kinh tế. Nếu thâm hụt ngân sách bắt nguồn từ việc đầu tư cho những dự án và trong tương lai sẽ mang lại lợi ích cho nền kinh tế thì không đáng ngại. Nhưng nếu thâm hụt ngân sách do việc đầu tư vào những dự án không mang lại hiệu quả kinh tế hoặc do việc giải cứu doanh nghiệp không có khả năng tồn tại… thì sẽ gây ra hậu quả rất xấu và rất đáng lo ngại. Và việc tài trợ thâm hụt ngân sách cũng là vấn đề rất đáng quan tâm. Nếu thâm hụt được tài trợ nhờ tăng thuế do doanh nghiệp và nền kinh tế phát triển thì đáng mừng nhưng nếu tận thu thuế sẽ chèn ép khu vực doanh nghiệp tư nhân và gây ra nguy cơ lạm phát. Do vậy, Chính phủ cần chi tiêu một cách tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.

4.3.1.4. Tăng cường công khai, minh bạch tài khóa Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Công khai minh bạch tài khóa là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả của CSTK cũng như việc huy động, quản lý và sử dụng NSNN. Thông qua công khai minh bạch tài khóa sẽ không chỉ nâng cao trách nhiệm của Chính phủ trước các lựa chọn CSTK, trong quản lý và điều hành ngân sách, mà còn tạo điều kiện cho công tác giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan chính phủ, các tổ chức xã hội, và người dân. Qua đó, thấy được những rủi ro tiềm ẩn đối với triển vọng tài khóa để có các đề xuất chính sách ứng phó, các phương án quản lý tài chính ngân sách phù hợp và hiệu quả. Công khai minh bạch tài khóa còn đòi hỏi phải nâng cao trách nhiệm giải trình, giảm thiểu tình trạng phân bổ và sử dụng ngân sách lãng phí, chống tham nhũng… Luật NSNN 2015 đã có nhiều điều khoản thúc đẩy mạnh mẽ công khai, minh bạch ngân sách; tạo ra những triển vọng để Việt Nam có nhiều cơ hội cải thiện tính minh bạch; sự tham gia của công chúng trong quản lý NSNN gắn với trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền, để đảm bảo ngân sách được chi tiêu một cách hiệu quả hơn.

Thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nâng cao tính minh bạch ngân sách với những hình thức chủ yếu là công khai các chính sách liên quan đến định mức phân bổ, định mức chi tiêu, giao nhiệm vụ thu chi ngân sách và công khai, phổ biến các số liệu và tài liệu liên quan đến việc lập ngân sách hàng năm và quyết toán hàng năm của các cấp ngân sách và đơn vị thụ hưởng ngân sách. Tuy nhiên, việc thực hiện công khai minh bạch cũng còn một số hạn chế. Trong đó, nổi lên là các vấn đề như mức độ và phạm vi công khai ngân sách của Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá xa so với nhiều quốc gia trên thế giới; các báo cáo, số liệu công khai chủ yếu dừng lại ở mức độ cung cấp thông tin tổng hợp về thu – chi NSNN, chưa đi kèm các đánh giá cụ thể về hiệu quả của việc huy động cũng như thực hiện các nội dung chi ngân sách; nhiều chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo tài khóa, ngân sách vẫn chưa được thực hiện theo các chuẩn mực quốc tế được thừa nhận chung; chế tài và cơ chế ràng buộc các cơ quan nhà nước trong việc phải thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch trong quản lý còn thiếu đồng bộ nên mức độ tuân thủ và hiệu quả chưa cao…

Để tiếp tục thiện mức độ minh bạch và công khai NSNN, Việt Nam cần ưu tiên thực hiện một số hành động như công bố dự thảo dự toán trình Quốc hội rộng rãi trên cổng thông thông tin điện tử. Trong đó, các số liệu càng chi tiết càng tốt để người dân dễ theo dõi. Đồng thời, Chính phủ cần chú ý công bố báo cáo kiểm toán đúng hạn; xây dựng báo cáo giữa kỳ đúng, đủ và công bố đúng thời hạn…

Chính phủ cần tăng cường sự tham gia của công chúng trong quá trình xây dựng NSNN. Cần thiết lập cơ chế để các cơ quan của Chính phủ và công chúng trao đổi quan điểm, thảo luận về các vấn đề ngân sách trong quá trình xây dựng NSNN; hay thiết lập và thực hiện cơ chế giải trình công khai giữa cơ quan lập pháp và người dân hoặc đại diện các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng và phê duyệt ngân sách…

4.3.2. Nhóm giải pháp cụ thể Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

4.3.2.1. Nhóm giải pháp về chính sách thu ngân sách nhà nước nhằm khuyến khích nguồn thu, thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo ổn định và tăng trưởng kinh tế

Phần thực trạng ở chương 3 đã cho thấy, cơ cấu thu NSNN đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn chỉ đáp ứng được nhu cầu chi tối thiểu. Thu NSNN phụ thuộc nhiều vào nguồn thu từ dầu thô và xuất nhập khẩu – những nguồn thu này thường không ổn định, phụ thuộc nhiều vào thị trường và giá cả thế giới. Mức động viên thu NSNN so GDP đang có xu hướng giảm, nhất là tỷ trọng thu từ thuế và phí, trong khi nhu cầu chi ngân sách tăng nhanh. Tốc độ tăng thu trong giai đoạn 2011 – 2015 (sau khi loại trừ yếu tố tăng giá) tuy vẫn tích cực, nhưng đã chậm hơn tốc độ TTKT. Tỷ lệ thu từ NSNN so GDP đã giảm từ 26,4% trong giai đoạn 2006 – 2010 xuống 23,4% trong giai đoạn 2011 – 2015. Nguyên nhân chủ yếu là do giảm thu từ dầu thô (từ 4,8% xuống 3%), từ hoạt động xuất nhập khẩu (5,5% xuống 4,2%) và các khoản thu về đất (2,5% xuống còn 1,7%). Bên cạnh đó, tình trạng thất thu còn khá phổ biến đặc biệt là ở khu vực kinh tế công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh và xuất nhập khẩu. Do vậy, mức động viên vào NSNN đã không đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Vì vậy, trong những năm tiếp theo, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường thu NSNN từ nội lực nền kinh tế. Phấn đấu thu từ thuế, phí không thấp hơn 21-22% GDP, các nguồn thu cần tập trung đầy đủ vào ngân sách theo quy định của Luật NSNN năm 2015. Tăng cường số thu nội địa, bảo đảm tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 2011 – 2015; tỷ trọng thu nội địa đạt khoảng 84-85% tổng thu NSNN để bù đắp cho số thu xuất nhập khẩu và thu từ dầu thô có xu hướng giảm dần. Trong số tăng thu nội địa thì tốc độ tăng thu và mức đóng góp của khu vực doanh nghiệp nhà nước cần tương xứng với nguồn lực đầu tư của Nhà nước, bảo đảm công bằng với các thành phần kinh tế khác. Tiến tới xác định số thu nội địa cần loại trừ số thu tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết, thu từ bán tài sản của nhà nước, để phản ánh chính xác chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế.

Thứ hai, điều chỉnh cơ cấu thu hợp lý. Nhà nước cần có biện pháp nhằm tăng cường tính bền vững của thu NSNN cả về quy mô và cơ cấu. Trong thời gian tới, nên điều chỉnh tăng thuế suất từ những nhóm thuế có ảnh hưởng tới phát triển bền vững như: thuế môi trường, thuế thu nhập cao, thuế khai thác tài nguyên môi trường. Bên cạnh đó, giảm dần thuế suất và mở rộng cơ sở tính thuế đối với các loại thuế thu nhập.

Để đảm bảo nguồn thu của NSNN một cách ổn định và vững chắc đến năm 2025 và những năm sau đó, dựa vào cơ cấu thu NSNN năm 2016 và dự toán thu NSNN năm 2017, nghiên cứu sinh đề xuất tỷ trọng thu nội địa đạt từ 80 – 84% tổng thu NSNN. Sở dĩ, nghiên cứu sinh đưa ra con số 84% bởi lẽ, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN đạt mức 81,7% dự toán 2017, năm 2018 tăng lên 83,3%. [57] Với mức TTKT ổn định, xu hướng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm dần do thực hiện các cam kết, hiệp định quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết, bên cạnh đó giá dầu thô còn diễn biến phức tạp thì cơ cấu thu NSNN trong những năm tới theo kiến nghị trên đây có thể khả thi, bảo đảm được nguồn thu cho NSNN.

Thứ ba, cải cách hệ thống thuế theo hướng đẩy mạnh hơn nữa vai trò thuế gián thu (dựa trên tiêu dùng) trong mối tương quan với thuế trực thu (dựa trên thu nhập), điều chỉnh hợp lý tỷ trọng giữa thuế gián thu và thuế trực thu. Đồng thời kết hợp với việc triển khai áp dụng thuế tài sản theo thông lệ phổ biến quốc tế. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Cần xem xét một số Luật thuế đã được ban hành, nhất là việc thuế suất giảm khá nhiều và Luật thuế sửa đổi, bổ sung nhiều lần làm mất tính ổn định của hệ thống thuế, tạo tâm lý không yên tâm cho các nhà đầu tư. Các chính sách ưu đãi thông qua miễn, giảm thuế trên diện rộng đối với nhiều đối tượng đã làm giảm tỷ lệ huy động GDP vào NSNN thông qua thuế và phí. Trong thời gian tới, cần tiếp tục cải cách chính sách thuế theo hướng đẩy mạnh huy động thu nội địa, thông qua một số phương án chính sách cụ thể như:

  • Mở rộng cơ sở thu thuế để phát triển nguồn thu, bao quát các nguồn thu mới phát sinh.
  • Đối với thuế GTGT: cần cân nhắc từng bước thu hẹp danh mục không thuộc diện chịu thuế GTGT, chuyển các nhóm hàng hóa chịu thuế suất 5% sang 10%, hướng đến áp dụng một mức thuế suất GTGT duy nhất.

Đối với thuế TNDN: rà soát và điều chỉnh các hình thức ưu đãi thuế, nhằm phát huy đúng hiệu quả của các chính sách ưu đãi, tránh ưu đãi không phù hợp, dàn trải, gây lãng phí nguồn lực, đồng thời đảm bảo công khai, minh bạch và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn giữa các loại hình doanh nghiệp.

Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt: Tăng thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt với một số mặt hàng không khuyến khích tiêu dùng (ví dụ như thuốc lá, rượu, bia, nước ngọt có ga), giúp tăng thêm nguồn thu và hạn chế tiêu dùng các mặt hàng không có lợi cho sức khỏe của người dân và môi trường.

Đối với thuế TNCN: Mở rộng cơ sở thu thuế TNCN phù hợp với thông lệ quốc tế, thông qua điều chỉnh các mức thuế suất phù hợp với thu nhập chịu thuế và đối tượng nộp thuế.

Đối với thuế xuất khẩu: Cơ cấu lại biểu thuế để khuyến khích sản xuất, xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, hạn chế xuất khẩu khoáng sản tài nguyên chưa qua chế biến.

  • Đối với thuế tài sản: Xây dựng hệ thống thuế tài sản thống nhất, hiện đại, thay cho chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và thuế sử dụng đất nông nghiệp hiện hành, đưa thuế tài sản trở thành một trong những nguồn thu quan trọng và ổn định cho NSNN và phân cấp nguồn thu này cho NSĐP, đồng thời nâng cao động lực sử dụng đất đai và tài sản hiệu quả hơn.
  • Đối với thuế tài nguyên: Hợp lý hóa các chính sách thu liên quan đến tài nguyên và bảo vệ môi trường:

Đối với thuế tài nguyên: cần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với từng giai đoạn phát triển KTXH, bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, thúc đẩy khai thác tài nguyên gắn liền với chế biến sâu, bảo vệ môi trường, hạn chế tối đa xuất khẩu tài nguyên chưa qua chế biến, góp phần khuyến khích khai thác hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm và bền vững nguồn tài nguyên khoáng sản quốc gia.

Đối với thuế bảo vệ môi trường: cần nghiên cứu bổ sung đối tượng chịu thuế, thời điểm tính thuế, điều chỉnh khung, mức thuế suất đảm bảo phù hợp với chính sách phát triển KTXH trong giai đoạn tới dựa theo mức độ gây tác động xấu đến môi trường của hàng hóa và các thông lệ quốc tế, khuyến khích sản xuất, sử dụng, tiêu dùng hàng hóa thân thiện với môi trường, góp phần động viên nguồn thu cho NSNN.

Đẩy mạnh việc xử lý dứt điểm các khoản nợ đọng thuế, có hình thức xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm; công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán thuế phải khách quan, chính xác nhằm phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực quản lý thuế.

Cần có chế tài mạnh hơn nhằm xử lý nghiêm tình trạng trốn thuế của các đối tượng nộp thuế cũng như những hành vi bao che hoặc nhận hối lộ trong quá trình thực hiện chính sách thu NSNN.

Thứ tư, tập trung hoàn thiện thể chế chính sách, pháp luật về thu NSNN. Trong đó, tiếp tục rà soát hệ thống các chính sách thu NSNN để hoàn thiện theo hướng tăng cường tính công khai, minh bạch, giảm thủ tục hành chính thuế, tạo thuận lợi cho DN trong khai nộp thuế. Trong quản lý điều hành, tổ chức triển khai thực hiện tốt các Nghị quyết của Trung ương, của Quốc hội, của Chính phủ, các luật như Luật NSNN, Luật phí và lệ phí năm 2015; tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ thu NSNN trong những năm tiếp theo; hạn chế tối đa việc đề xuất, ban hành các chính sách mới làm giảm thu NSNN (trừ các cam kết quốc tế). Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện cho phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh. Đẩy mạnh kê khai thuế qua mạng điện tử, thực hiện quy trình thu nộp theo phương thức điện tử tự động tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế cũng như nâng cao hiệu quả trong quản lý thuế.

4.3.2.2. Nhóm giải pháp về chính sách chi ngân sách nhà nước Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Vấn đề tiết kiệm chi tiêu ngân sách là một trong những yêu cầu, giải pháp rất quan trọng trong bối cảnh NSNN khó khăn mà Bộ Tài chính đã đề ra và thực hiện từ nhiều năm nay. Chính phủ phấn đấu giảm dần tỷ lệ bội chi NSNN đến năm 2020 không quá 3,5% GDP. Quy mô nợ công hàng năm trong giai đoạn 2016 – 2020 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài quốc gia không quá 50% GDP…

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương và địa phương điều hành chi NSNN trong những năm tới chặt chẽ theo đúng dự toán được duyệt, bảo đảm sử dụng ngân sách triệt để, tiết kiệm, hiệu quả, đúng chế độ quy định, lồng ghép các chính sách, xây dựng phương án tiết kiệm để thực hiện ngay từ khâu phân bổ dự toán và trong quá trình thực hiện. Cần làm tốt các biện pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, cơ cấu lại các khoản chi NSNN cho phù hợp với tinh thần tiết kiệm triệt để, giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên và tăng chi đầu tư phát triển, cụ thể: Đối với các khoản chi thường xuyên, chi cho bộ máy quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công phải được gắn kết với quá trình cải cách hành chính và tinh giản biên chế; đối với chi đầu tư công cần đảm bảo được cân đối nguồn vốn và đầu tư có trọng điểm, hướng tới Nhà nước chỉ thực hiện đầu tư vào các công trình hạ tầng thiết yếu và phúc lợi xã hội còn các công trình khác thì thực hiện xã hội hóa qua nhiều hình thức như: BOT (Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao); PPP (Đối tác công tư; Public Private Partnerships)… Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Theo dự toán chi NSNN năm 2017, tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi NSNN là 25,7% và mục tiêu bình quân 25 – 26%. Tỷ trọng chi thường xuyên là 64,9%, mục tiêu đến năm 2020 dưới 64%. Như vậy, dự toán đã quán triệt tinh thần cơ cấu lại NSNN, giảm chi thường xuyên nhưng các yếu tố về chi cho con người vẫn đảm bảo, ưu tiên bảo đảm chi trả nợ, chi dự trữ quốc gia,… Dựa vào cơ cấu chi NSNN năm 2016 và dự toán chi NSNN năm 2017 cùng với mục tiêu của Nhà nước đưa ra, nghiên cứu sinh mạnh dạn đề xuất cơ cấu chi NSNN hướng tới đảm bảo tính vững chắc trong cân đối tài khóa trong thời gian tới như sau: tỷ lệ chi thường xuyên chiếm khoảng 60%, chi ĐTPT khoảng 23%, chi trả nợ và viện trợ khoảng 15%, chi khác 2%.

Hình 4.2: Kiến nghị về cơ cấu chi NSNN

Nghiên cứu sinh cho rằng, trong trung và dài hạn, cần hướng tới cơ cấu như trên để đảm bảo mục tiêu bền vững của NSNN. Tuy nhiên, không thể cắt giảm đột ngột chi thường xuyên từ 65% (năm 2016) xuống còn 60% tổng chi NSNN, vì như vậy sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Do vậy, cần có lộ trình thực hiện, kết hợp với điều chỉnh chính sách thu-chi NSNN để thực hiện trong những năm tiếp theo, góp phần cân đối NSNN theo hướng tích cực, bền vững, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia. Bên cạnh đó, chi NSNN cần tiết kiệm triệt để đối với chi thường xuyên, cắt giảm những khoản chi chưa thực sự cần thiết và kém hiệu quả.

Thứ hai, tăng cường quản lý, điều hành chi NSNN.

Đối với chi thường xuyên: giám sát chặt chẽ đối với các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN. Thực hiện công khai hóa tài chính đối với tất cả các cấp, các đơn vị thụ hưởng NSNN. Nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn định mức trang cấp và sử dụng tài sản Nhà nước cho phù hợp với tình hình thực tế, công khai hóa các tiêu chuẩn định mức sử dụng tài sản Nhà nước.

Cơ cấu chi NSNN thời gian qua đã thay đổi theo hướng tiếp tục ưu tiên đầu tư cho con người, thực hiện cải cách tiền lương, các chính sách ASXH và xóa đói giảm nghèo, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu vùng xa. Theo tính toán của Bộ Tài chính, chi NSNN cho ASXH tăng bình quân khoảng 18%/năm, cao hơn tốc độ tăng thu và tăng chi NSNN. Dẫn đến tỷ trọng chi thường xuyên trên tổng chi NSNN giai đoạn 2011 – 2015 ở mức cao, với tỷ lệ bình quân 6,5%, tăng xấp xỉ 10% so với giai đoạn 2006 – 2010. Chính điều này tạo sức ép làm giảm tỷ trọng chi ĐTPT và bền vững của NSNN. Do vậy, cần thực hiện tốt một số giải pháp cụ thể sau:

Dành nguồn lực hợp lý cho khuyến khích phát triển giáo dục, đào tạo. Kết hợp hài hòa giữa chi NSNN cho giáo dục với xã hội hóa nhằm giảm bớt gánh nặng cho NSNN, đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục. Chi NSNN cho giáo dục chủ yếu tập trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng ngành giáo dục, hỗ trợ cho những học sinh thuộc gia đình có thu nhập thấp và hỗ trợ thêm cho những giáo viên ở những địa bàn kém phát triển kinh tế, không thể đảm bảo mức thu nhập bằng cơ chế thị trường.

  • Phải căn cứ trên nhu cầu thiết thực của xã hội để dành tỷ lệ hợp lý chi NSNN cho phát triển khoa học và công nghệ, phải gắn nghiên cứu với chuyển giao kết quả nghiên cứu.
  • Thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính sách, chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão lũ; …Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để đảm bảo giảm nghèo bền vững. Cần có những chính sách và giải pháp để hạn chế phân hóa giầu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị. Hỗ trợ học nghề và tạo việc làm cho các đối tượng chính sách, người nghèo, lao động nông thôn và vùng đô thị hóa. Phát triển hệ thống ASXH đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả. Phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp,… khuyến khích và tạo điều kiện để người lao động tham gia mọi loại hình bảo hiểm.

Chi thường xuyên là cần thiết, nhưng cần tiết kiệm triệt để để giảm áp lực cân đối NSNN, tăng khả năng đầu tư phát triển và giảm gánh nặng đóng góp, nợ nần lên vai người dân và các thế hệ tương lai, thiết thực góp phần vào quá trình lành mạnh tài chính vĩ mô và phát triển bền vững đất nước.

Đối với chi ĐTPT: thực hiện tái cơ cấu và tăng cường quản lý, giám sát nhằm khắc phục tình trạng đầu tư ồ ạt, dàn trải, lãng phí. Cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Xây dựng và áp dụng quy trình hợp lý, chặt chẽ và có hiệu quả về xác định, lựa chọn, phân bổ vốn đầu tư và thực hiện dự án đầu tư nhà nước. Chỉ lựa chọn những dự án đáp ứng tiêu chí về hiệu quả KTXH, tập trung bố trí đủ vốn đầu tư thực hiện các dự án quan trọng và cấp bách.

Thực hiện kế hoạch đầu tư trung hạn; tập trung vốn đầu tư từ NSNN cho các dự án, công trình trọng điểm, quan trọng của quốc gia. Đảm bảo phân bổ và sử dụng vốn vào các ưu tiên chiến lược của nền kinh tế; đảm bảo vấn đề về cân đối nguồn lực đầu tư của Nhà nước.

Thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa thông tin về đầu tư; tăng cường thẩm quyền và năng lực của hệ thống giám sát đối với đầu tư công, khuyến khích và tạo điều kiện cho hoạt động giám sát cộng đồng đối với các dự án đầu tư công, hoạt động đầu tư công; nâng cao trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát trong đầu tư công.

Xác định rõ thứ tự ưu tiên và áp dụng nguyên tắc ưu tiên khi bố trí NSNN cho đầu tư phát triển; sửa đổi, bổ sung cơ chế quản lý đầu tư theo hướng NSNN chỉ tập trung ưu tiên đầu tư cho các công trình cơ sở hạ tầng không có khả năng sinh lời trực tiếp và không có khả năng thu hồi vốn nhưng có tầm quan trọng đối với các hoạt động kinh tế, ưu tiên cho các công trình trọng điểm của Nhà nước (giao thông, thủy lợi, …)

Bên cạnh nguồn NSNN dành cho chi ĐTPT, cũng cần tăng cường huy động mọi nguồn lực xã hội, đa dạng hóa các kênh huy động vốn, các hình thức đầu tư, có cơ chế phù hợp để khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài tham gia xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng KTXH. Đồng thời, đẩy mạnh cơ cấu lại các khoản nợ công, tăng nhanh các khoản vay trung, dài hạn, hạn chế tối đa việc huy động với thời gian ngắn, lãi suất cao; ưu tiên bố trí chi trả nợ. Chính phủ đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 tỷ trọng chi ĐTPT chiếm tỷ trọng đạt khoảng 19 – 20% trong tổng chi NSNN. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Đối với chi trả nợ:

  • Đối với nợ trong nước: mới bố trí đủ chi trả nợ lãi, chi trả nợ gốc ở mức thấp, khiến phải vay đảo nợ. Chính phủ phải huy động các khoản vay ngắn hạn với lãi suất cao nên nhu cầu chi trả nợ trong giai đoạn 2014 – 2017 tăng cao, tạo áp lực lớn trong cân đối NSNN.
  • Đối với nợ nước ngoài: Do Việt Nam đã tiệm cận nước có thu nhập trung bình trên thế giới, việc vay ưu đãi và viện trợ của các tổ chức tài chính quốc tế và Chính phủ các nước ngày càng hạn chế. Mặt khác, do nhu cầu ĐTPT ngày càng lớn, vốn vay nước ngoài cho ĐTPT cũng gây áp lực lớn đến nợ công và cân đối NSNN trong những năm vừa qua.

Về nợ công, thực hiện nghiêm túc quy định tại khoản 3 điều 7 của Luật NSNN năm 2015, theo đó, vay bù đắp bội chi chỉ dành cho ĐTPT, không vay cho tiêu dùng thường xuyên. Nghiên cứu các kịch bản để có thể xử lý các tình huống xảy ra, đi đôi với việc kiểm soát chặt chẽ mức bội chi hàng năm và trần nợ công; duy trì mức trần nợ công không quá 65% GDP (sau năm 2020 không quá 62% GDP), nợ Chính phủ không quá 55% GDP, nợ nước ngoài không quá 50% GDP. Cơ cấu lại nợ công theo hướng kéo dài kỳ hạn, giảm áp lực trả nợ ngắn hạn và chi phí vay vốn, bảo đảm khả năng trả nợ và an ninh tài chính quốc gia [37].

Để đảm bảo quản lý nợ bền vững, năm 2016, Chính phủ đã cho phép thực hiện một bước phát hành tăng tỷ trọng trái phiếu với kỳ hạn dài, giảm tỷ trọng trái phiếu ngắn hạn nhằm cơ cấu lại danh mục nợ trái phiếu chính phủ, nâng dần kỳ hạn nợ, giảm áp lực trả nợ trong ngắn hạn. Trong thời gian qua, nguồn vốn TPCP có ý nghĩa rất thiết thực và quan trọng đối với phát triển KTXH ở nước ta. Các dự án, công trình hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng là những công trình quan trọng, góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng của đất nước, đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo ở những địa phương khó khăn.

Nghĩa vụ trả nợ Chính phủ hàng năm tăng mạnh trong khi việc sử dụng nguồn vốn vay kém hiệu quả đã và đang đặt ra vấn đề về cân đối nguồn để trả nợ, từ đó ảnh hưởng đến an toàn nợ công và an ninh tài chính quốc gia.

Thứ ba, chính sách chi NSNN cần tuân thủ các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn NSNN cho chi thường xuyên, chi ĐTPT theo các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Nghị quyết 266/NQ-UBTVQH13 ngày 4/10/2016 và Nghị quyết 1023/NQ-UBTVQH13 ngày 28/8/2015), Nghị quyết số 07-NQ/T W ngày 18-11-2016 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “Chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững” trong việc thực hiện triệt để tiết kiệm, hạn chế lãng phí và chống thất thoát; Nâng cao hiệu quả chi ngân sách, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính – NSNN, tăng cường công khai minh bạch và giải trình của các cấp về thu, chi NSNN, từng bước thực hiện bố trí chi theo kết quả đầu ra, theo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ công việc, tiến tới xóa bỏ cơ chế “xin – cho”.

4.3.2.3. Nhóm giải pháp về cân đối ngân sách nhà nước và quản lý nợ công đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Bội chi NSNN tăng và kéo dài đã làm nợ công so với GDP tăng đáng kể, từ 51,7% năm 2010 lên đến 61% năm 2015, trong đó, nợ Chính phủ chiếm 49,2%, nợ Chính phủ bảo lãnh chiếm 10,9%, còn nợ của chính quyền địa phương khoảng 0,9%. Không tính nợ bảo lãnh và vay nợ trong nội bộ, nợ trực tiếp của Chính phủ ở mức 43,3% GDP (năm 2015) [55] gần sát với mức bình quân của các quốc gia trong khu vực và tương đương về thu nhập. Tuy nhiên, vấn đề đáng lo ngại là Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nợ trên GDP tăng nhanh nhất (tăng khoảng 10% trong 5 năm qua), cho dù với thành tích TTKT ấn tượng. Nếu xu hướng trên vẫn tiếp diễn, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng về bền vững tài khóa.

Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững.

Cụ thể, tỷ lệ huy động vào NSNN bình quân giai đoạn 2016 – 2020 khoảng 20 – 21% GDP; tổng thu ngân sách bằng khoảng 1,65 lần giai đoạn 2011-2015, trong đó thu nội địa chiếm khoảng 84 – 85%, thu dầu thô và thu xuất nhập khẩu khoảng 14 – 16%; tỷ trọng thu ngân sách trung ương từ 60 – 65%. Tỷ lệ chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 – 2020 bình quân khoảng 24 – 25% GDP. Trong tổng chi NSNN, chi ĐTPT đạt khoảng 25 – 26%, chi thường xuyên dưới 64%, ưu tiên bảo đảm chi trả nợ, chi dự trữ quốc gia.

Bội chi NSNN cần tính toán lại theo quy định của Luật NSNN năm 2015, bảo đảm thấp hơn 4% GDP, nhưng từ năm 2021 là 3% GDP tính theo tiêu chí mới (bao gồm cả TPCP và không bao gồm trả nợ gốc); phấn đấu bội chi NSNN giảm dần mỗi năm khoảng 0,2% – 0,3% GDP; hướng tới cân bằng thu-chi NSNN; kiểm soát chặt chẽ bội chi và nợ của chính quyền địa phương.

Trong thời gian tới, cần tăng cường năng lực quản lý nợ công và giám sát rủi ro tài khóa để giảm tỷ lệ bội chi NSNN. Nhằm nâng cao lòng tin của nhà đầu tư, mức tín nhiệm quốc gia và giảm mức chi phí vay, chuẩn bị sẵn sàng cho sự chuyển đổi khi nguồn vốn vay có tính chất ưu đãi (ODA) sẽ dần giảm xuống và nợ thương mại – trong nước và nước ngoài – sẽ trở thành nguồn huy động chính của Chính phủ, cần thực hiện tốt các biện pháp như sau:

Thứ nhất, phấn đấu mức bội chi NSNN giai đoạn 2018 – 2025 đưa về mức từ 3 – 4%. Ở nhóm giải pháp thu và chi NSNN, với mức thu NSNN phấn đấu khoảng 21 – 22% GDP, chi NSNN khoảng 26 – 27% GDP thì bội chi NSNN nằm mức 4 – 5% GDP là hợp lý. Mặc dù ở mức này so với thông lệ quốc tế là khá cao (năm 2015 thâm hụt NSNN của Việt Nam là 6,28% GDP, trong khi của Thái Lan là 1,2% GDP, Indonesia là 2,3% GDP, Campuchia là 2% GDP).

Với nguồn thu có hạn, trong khi nhu cầu chi liên tục tăng cao, muốn giảm bội chi NSNN có nghĩa phải giảm chi NSNN, điều này có nghĩa phải thực hiện CSTK thắt chặt, hạn chế tối đa các khoản chi tiêu của Chính phủ. Vì vậy, không thể giảm đột ngột tỷ lệ bội chi NSNN nhưng chính phủ cần tiết kiệm chi tiêu để giữ được mức bội chi dưới mức 5% GDP để giữ an toàn nợ công và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia. Cơ cấu lại thu NSNN theo hướng thu NSNN ổn định, bền vững và cơ cấu lại chi NSNN theo hướng giảm và tiết kiệm chi thường xuyên. Bên cạnh đó, chính quyền các cấp phải tuân thủ nghiêm kỷ luật tài khóa theo Luật NSNN năm 2015 đã quy định: nếu thu không đạt dự toán thì phải giảm chi tương ứng.

Thứ hai, tiếp tục thúc đẩy TTKT ổn định và vững chắc, vì đây chính là nguồn gốc, cơ sở tạo ra nguồn thu NSNN bền vững để trả nợ công. Theo đó, cần ban hành các cơ chế, chính sách tạo môi trường kinh doanh thuận lợi thông thoáng, khuyến khích các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân mạnh dạn đầu tư phát triển.

Đảm bảo quy mô đầu tư xã hội đạt 32 – 34% GDP ở giai đoạn 2016 – 2020; Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh, trong đó, vấn đề then chốt là phải chuyển nền kinh tế từ làm hàng gia công, khai thác nguyên liệu thô là chủ yếu sang tập trung chế biến sâu gắn với công nghệ hiện đại và công nghiệp 4.0 nhằm làm gia tăng giá trị sản phẩm; Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu với cơ cấu mặt hàng, dịch vụ đa dạng trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của Việt Nam (đây là nguồn duy nhất tạo ra lượng ngoại tệ để trả nợ nước ngoài của Chính phủ). Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Thứ ba, hoàn thiện thể chế, đặc biệt là các chính sách, công cụ, các chỉ tiêu giám sát nợ công, bộ máy quản lý nợ công, bảo đảm tuân thủ Hiến pháp và pháp luật có liên quan, phù hợp với thông lệ quốc tế, để kiểm soát toàn diện rủi ro và hiệu quả nợ công. Kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ nước ngoài quốc gia hàng năm trong giới hạn, mục tiêu đề ra; đảm bảo dư địa dự phòng cho các rủi ro tiềm ẩn; thực hiện tái cơ cấu nợ công nhằm giảm thiểu các rủi ro về kỳ hạn nợ, rủi ro tái cấp vốn, thanh khoản, tỷ giá, lãi suất, tín dụng; bảo đảm trả nợ đầy đủ, đúng hạn. Giám sát chặt chẽ việc cho vay, sử dụng vốn của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách cho các mục đích của ngân sách.

Thứ tư, tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, thực hiện công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình về NSNN và nợ công. Từng bước triển khai lập dự toán chi ngân sách theo mục tiêu, nhiệm vụ, các định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá dịch vụ, cam kết chi.

Ngoài ra, tập trung hoàn thiện các quy định về giám sát các khoản nợ để đảm bảo nợ công trong giới hạn an toàn; tăng cường quản lý hiệu quả các dự án sử dụng vốn vay, tránh thất thoát, lãng phí nguồn lực vay nợ, chủ động bố trí nguồn dự phòng, nguồn trả nợ theo lộ trình, tránh tình trạng nợ quá hạn. Đồng thời, hoàn thiện các quy định về huy động vốn trên thị trường tài chính, đa dạng hóa các sản phẩm TPCP đối với các kỳ hạn dài, tăng nguồn lực cho NSNN, giảm áp lực nợ ngắn hạn, giảm rủi ro nghĩa vụ nợ. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc vay, sử dụng vốn vay và trả nợ, nhất là đối với các khoản vay mới, vay có bảo lãnh của Chính phủ; Bảo đảm nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn quy định.

Thứ năm, nghiên cứu, rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ, ngành, cơ quan trung ương, địa phương theo hướng tinh gọn, gắn trách nhiệm quyết định chi ngân sách, vay nợ công với trách nhiệm quản lý NSNN và trả nợ công; bảo đảm hiệu quả, hiệu lực quản lý, phân bổ, cân đối NSNN, quản lý nợ, góp phần thực hiện các mục tiêu kiểm soát bội chi ngân sách, các mục tiêu về nợ công theo đúng Nghị quyết, từng bước lành mạnh hóa, phát triển bền vững nền tài chính quốc gia.

Thứ sáu, hoàn thành cơ cấu lại và xây dựng chiến lược phát triển thị trường tài chính ổn định, lành mạnh và cân bằng giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn để giảm sức ép cung ứng vốn từ hệ thống tổ chức tín dụng; giữa thị trường cổ phiếu và trái phiếu; giữa TPCP và trái phiếu doanh nghiệp để phấn đấu đến năm 2025 đưa thị trường chứng khoán là kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ đạo của nền kinh tế; giữa dịch vụ tín dụng và các dịch vụ ngân hàng phi tín dụng, phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm, thị trường chứng khoán phái sinh và tín dụng tiêu dùng. Đồng thời, đa dạng hóa các định chế tài chính cũng như hàng hóa trên thị trường.

Quản lý nợ công là một trong những vấn đề quan trọng nhất xét ở khía cạnh tác động qua lại đến bội chi NSNN và TTKT ở nước ta hiện nay. Nếu không khắc phục kịp thời những tồn tại, yếu kém về nợ công nói trên thì nó sẽ trở thành lực cản, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Ngược lại, nếu Nhà nước đổi mới cách thức quản lý nợ công với những giải pháp hữu hiệu thì nợ công sẽ có tác động tích cực đến việc lành mạnh hóa NSNN và đảm bảo cấu trúc an ninh tài chính quốc gia, từ đó, tạo bệ phóng cho nền kinh tế nước ta cất cánh vững chắc trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

4.3.2.4. Phối hợp chặt chẽ và đồng bộ chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hỗ trợ tốt nhất cho tăng trưởng kinh tế Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Chính sách tài khóa và CSTT là hai công cụ trọng yếu giữ vai trò quyết định trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Mục tiêu TTKT bền vững phụ thuộc rất nhiều vào việc hoạch định và thực thi các chính sách của một quốc gia trong khuôn khổ phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa các chính sách, nhất là CSTK và CSTT. Thiếu sự phối hợp giữa CSTK và CSTT, nền kinh tế sẽ phải đối diện với những thách thức to lớn về cân đối thu chi NSNN và ổn định tiền tệ, khó có thể đạt được mục tiêu TTKT bền vững. Vì vậy, việc phối hợp CSTK và CSTT có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Chính sách tài khóa là tổng hợp các quan điểm, cơ chế và phương thức huy động các nguồn hình thành NSNN, các quỹ tài chính có tính chất tập trung của Nhà nước nhằm mục tiêu phục vụ các khoản chi lớn của NSNN theo kế hoạch từng năm tài chính, gồm: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ quốc gia, trả nợ trong và ngoài nước đến hạn.

Chính sách tiền tệ là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ của NHNN nhằm góp phần đạt được mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc kiểm soát sự lưu thông của tiền và khối lượng tiền trong nền kinh tế. Đôi khi để đạt được một số mục tiêu của CSTK đề ra đã gây hậu quả xấu cho việc thực thi các mục tiêu của CSTT và ngược lại.

Nếu CSTK và CSTT không phối hợp nhịp nhàng trong quá trình thực thi chính sách sẽ gây ra những tác động đối kháng lẫn nhau, phá vỡ qui luật của thị trường, làm ảnh hưởng xấu đến mục tiêu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa CSTK và CSTT cần được hiểu là phải đảm bảo giải quyết các tác động của hai chính sách tới mục tiêu TTKT vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, hai chính sách phải phối hợp nhằm đạt được các mục tiêu của từng chính sách một cách có trật tự, bao gồm cả ổn định giá. Trong dài hạn, hai chính sách phải phối hợp phải đảm bảo được lợi ích cân bằng giữa mục tiêu của từng chính sách với mục tiêu TTKT bền vững, kiềm chế lạm phát.

Việc phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng và hiệu quả CSTK với CSTT để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế, qua đó, tạo cơ sở TTKT ở mức cao và ổn định.

Các giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp CSTK và CSTT giai đoạn 2018 – 2025 và tầm nhìn đến năm 2030:

Thứ nhất, để tăng cường hiệu quả phối hợp của hai chính sách là việc hoạch định và thực thi CSTT phải đảm bảo duy trì tính ổn định của kinh tế vĩ mô trong khuôn khổ điều tiết lãi suất thị trường theo hướng kiềm chế lạm phát, ổn định sức mua đồng tiền, kiểm soát tỷ giá, huy động vốn và cung cấp vốn cho thị trường; phát triển hệ thống ngân hàng tạo cơ sở thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững qua đó tạo điều kiện tăng nguồn thu và huy động vốn để bù đắp thâm hụt cho NSNN.

Thứ hai, nên có sự phối hợp CSTK và CSTT trong việc xác định mục tiêu kinh tế vĩ mô ưu tiên trong từng thời kỳ và phải tuân thủ điều phối chung cho mục tiêu đó.

Trong giai đoạn tới, trên cơ sở thực trạng và diễn biến của kinh tế trong nước cũng như quốc tế, cần xác định rõ mục tiêu kinh tế vĩ mô là: tập trung tạo dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, trong đó chú ý đến các vấn đề về lạm phát và các cân đối vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển thay vì mục tiêu hướng tới tăng trưởng nhanh như giai đoạn trước đây.

Theo đó, Bộ Tài chính và NHNN nên có sự phối hợp trong việc xác định mục tiêu vĩ mô ưu tiên trong từng thời kỳ và phải tuân thủ điều phối chung cho mục tiêu đó. Đồng thời, Chính phủ nên xem xét đến việc chuyển đổi khung mục tiêu chính sách theo hướng thực hiện chính sách mục tiêu lạm phát linh hoạt – mục tiêu lạm phát linh hoạt nhằm hướng hai chính sách vào mục tiêu chung.

Trên cơ sở các mục tiêu chung, NHNN và Bộ Tài chính sẽ cùng tham gia xác định khung mục tiêu chính sách cho giai đoạn trung hạn, tạo thế chủ động và linh hoạt trong quá trình phối hợp để đạt mục tiêu, xây dựng kế hoạch tài chính – tiền tệ tổng thể cho từng năm, trong đó các vấn đề về bội chi ngân sách, đầu tư công, hiệu quả đầu tư cần phải được tính toán và xem xét cụ thể trên các vấn đề có liên quan tới CSTT như tổng phương tiện thanh toán, tăng trưởng tín dụng… để đảm bảo việc thực thi hai chính sách được đồng bộ và hiệu quả. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Thứ ba, phải có nhất quán giữa các mục tiêu chính sách ngắn hạn và dài hạn trong phối hợp CSTK – CSTT. Về ngắn hạn, CSTK – CSTT cần phối hợp chặt chẽ nhằm đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ở mức dưới một con số và hỗ trợ tăng trưởng, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho DN, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của DN. Về dài hạn, CSTK phải hướng tới việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội, hỗ trợ tăng trưởng bền vững.

Thu chi ngân sách và tín dụng nhà nước phải gắn chặt với mục tiêu ổn định tiền tệ. CSTT phải kiên trì với mục tiêu ổn định lạm phát, vấn đề kiểm soát mức độ tăng giá cần phải được đặt lên hàng đầu không chỉ trong thời kỳ có lạm phát cao mà ngay cả thời kỳ lạm phát thấp nhằm tạo lập niềm tin cho thị trường, xây dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định.

Thứ tư, thiết lập hệ thống cung cấp thông tin, thực hiện minh bạch đối với các kỳ vọng chính sách cũng như trách nhiệm giải trình của các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách.

Đối với CSTT, việc hoạch định và thực thi chính sách phải phải đảm bảo duy trì tính ổn định của kinh tế vĩ mô trong khuôn khổ điều tiết lãi suất thị trường theo hướng kiềm chế lạm phát, ổn định sức mua đồng tiền, kiểm soát tỷ giá, huy động vốn và cung cấp vốn cho thị trường; phát triển hệ thống ngân hàng tạo cơ sở thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững qua đó tạo điều kiện tăng nguồn thu và huy động vốn để bù đắp thâm hụt cho NSNN.

Đối với CSTK, cần nỗ lực tập trung các khoản thu, chi NSNN nhằm đạt được mục tiêu ổn định nền kinh tế, phát triển nền kinh tế vĩ mô bền vững, xác lập cơ sở kinh tế cho việc thực thi CSTT có hiệu quả, kiểm soát lạm phát, giữ sức mua của đồng tiền ổn định và phát triển thị trường tiền tệ.

Thứ năm, tiến tới thực hiện khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu và nâng cao kỷ luật tài khóa. Với việc xác định mục tiêu phối hợp tài khóa – tiền tệ giai đoạn tới tập trung vào việc xây dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, thì việc áp dụng chính sách khuôn khổ lạm phát mục tiêu và nâng cao kỷ luật tài khóa là lựa chọn thích hợp đối với CSTK – CSTT của Việt Nam.

Đối với điều kiện hiện nay của Việt Nam, để có thể áp dụng CSTT lạm phát mục tiêu trong tương lai cần phối hợp đồng bộ các nhóm giải pháp sau:

  • Nhóm giải pháp đổi mới thể chế: Xây dựng Luật NHTW Việt Nam thay thế Luật NHNN theo hướng đổi mới NHNN thành NHTW hiện đại;
  • Nhóm giải pháp kỹ thuật: Hoàn thiện phương pháp xác định chỉ số lạm phát (CPI);
  • Nhóm giải pháp hỗ trợ: Đẩy mạnh công tác truyền thông về lạm phát mục tiêu; Nâng cao năng lực dự báo; Phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính; Củng cố và phát triển hệ thống ngân hàng; Nâng cao tính minh bạch của CSTT; Phối hợp tốt giữa CSTK và CSTT; Hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái theo hướng linh hoạt hơn. Đối với CSTK, cần tăng cường kỷ luật tài khóa, cải thiện tính minh bạch, công khai trong quy trình ngân sách, mở rộng hình thức và nội dung công khai; tăng cường trách nhiệm giải trình.

Thứ sáu, trong quá trình phối hợp CSTK và CSTT, cần xem xét và tính đến sự phối hợp với các chính sách khác, đặc biệt là các biện pháp giám sát vĩ mô thận trọng. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng và được quan tâm nhiều trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng nhiều vào các khu vực thương mại, các hiệp định thương mại tự do (Cộng đồng Kinh tế ASEAN, TPP, Việt Nam – EU…), nhằm hạn chế sự biến động của các dòng vốn vào – ra, đồng thời tạo sự ổn định tài chính trong nền kinh tế.

4.4. ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

4.4.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý hoạt động thu và chi ngân sách nhà nước

Đối với chính sách thu NSNN

Thực hiện cải cách hệ thống thuế, phí và lệ phí phù hợp với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế và thông lệ quốc tế, đồng thời thu hút có hiệu quả, đa dạng hóa các nguồn lực trong xã hội để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, phát triển dịch vụ công. Trong đó cần chú trọng hoàn thiện chính sách thuế, chính sách thu từ đất đai, tài nguyên và tài sản khác để vừa có thể nuôi dưỡng nguồn thu, vừa đảm bảo nguồn cho các nhu cầu chi của NSNN, vừa đảm bảo khuyến khích các doanh nghiệp, các chủ thể trong nền kinh tế tích lũy vốn cho đầu tư.

Do đó, cần hoàn thiện và đổi mới hệ thống chính sách thuế theo hướng: giảm dần thuế suất, giảm chênh lệch giữa các mức thuế suất, giảm dần các ưu đãi, giảm thuế có thời hạn định trước. Mở rộng phạm vi, đối tượng nộp thuế, đảm bảo nguyên tắc quản lý thống nhất, công bằng về thuế đối với các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số chính sách pháp luật về thuế theo hướng cơ cấu lại nguồn thu, đảm bảo bền vững trong thu NSNN; Tiếp tục rà soát, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế tạo môi trường thuận lợi cho DN phát triển. Trong điều hành thu NSNN cần tạo sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan trong thực hiện quản lý thu NSNN; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, quản lý chặt chẽ hoàn thuế; Đẩy mạnh thực hiện các biện pháp chống thất thu, chống chuyển giá, buôn lậu, gian lận thương mại; Tập trung xử lý thu hồi nợ đọng thuế và đôn đốc thu hồi các khoản phải thu.

Đối với chính sách chi NSNN

Để đáp ứng những yêu cầu quản lý NSNN trong thời kỳ mới, Luật Đầu tư công đã được ban hành tháng 6/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015. Tiếp đó, tại kỳ họp tháng 6/2015, Quốc hội thông qua Luật NSNN (sửa đổi), có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2017. Nhiều nội dung mới được quy định tại hai luật này, ví dụ: kế hoạch đầu tư công trung hạn; Kế hoạch tài chính-NSNN trung hạn; phạm vi NSNN; Quy định về bội chi NSNN; Quốc hội quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ…Để các quy định này đi vào cuộc sống, sau khi ban hành Luật, cần tiếp tục triển khai các văn bản Thông tư, Nghị định hướng dẫn thực thi để đảm bảo tính thống nhất.

Cần ban hành hệ thống tiêu chí, định mức phân bổ NSNN. Đây là căn cứ cho việc lập dự toán và phân bổ ngân sách ở các cấp ngân sách. Do vậy, để đảm bảo cân đối ngân sách vững chắc, cần xây dựng hệ thống định mức, tiêu chí phù hợp với khả năng thu NSNN. Cần thực hiện tốt mục tiêu công bằng giữa các vùng miền, địa phương, các ngành và lĩnh vực; thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn. Đồng thời, cần rà soát lại các mục tiêu trọng điểm của từng thời kỳ, xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn, dài hạn theo các mục tiêu đó để đảm bảo nguồn lực tài chính được sử dụng hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước.

4.4.2. Hiện đại hóa công nghệ thông tin và nâng cao chất lượng dự báo Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Việc xây dựng hệ thống thông tin công khai minh bạch và năng lực phân tích, dự báo có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong hoạch định và chỉ đạo điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô. Muốn xây dựng được chính sách tốt, cần có hệ thống thông tin đầy đủ, có chất lượng và nghiên cứu, phân tích có chiều sâu, đánh giá tác động, ảnh hưởng trên các phương diện để lựa chọn phương án, công cụ chính sách phù hợp nhất. Đây cũng là một trong những điểm yếu của các nước đang trong quá trình chuyển đổi như nước ta, nhất là thiếu cơ sở dữ liệu, phân tích chuyên sâu mang tính chuyên ngành, đặc thù để có thể xây dựng được những chính sách mang tính ổn định dài hạn, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp tính toán phương án đầu tư, sản xuất kinh doanh phù hợp, hiệu quả.

4.4.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Trong điều hành kinh tế vĩ mô, con người là yếu tố quyết định cả trong hoạch định và thực thi chính sách. Thực tiễn cho thấy nhiều Bộ, ngành, cơ quan chức năng còn thiếu nguồn nhân lực có chất lượng thực hiện nhiệm vụ hoạch định và điều hành chính sách vĩ mô, dẫn đến một số cơ chế chính sách chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu, mới ban hành đã phải sửa đổi, hoàn thiện. Cần tập trung xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu về phân tích, dự báo, hoạch định chính sách trong các cấp, các ngành, đặc biệt chú trọng trình độ trình độ chuyên môn, năng lực thực tiễn và chuyên nghiệp. Đồng thời, cần phải có quyết tâm chính trị cao, sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; sự quyết liệt và kỷ luật, kỷ cương trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của các cấp, các ngành; đặc biệt là sự đổi mới trong hoạt động của Chính phủ, xác định đúng hướng, đúng trọng tâm, trọng điểm trong điều hành kinh tế vĩ mô, như chúng ta đã thực hiện thành công trong điều hành các CSTT, CSTK, thương mại, đầu tư trong thời gian qua.

4.4.4. Sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, ban ngành và các cấp chính quyền

Để thực hiện các giải pháp đổi mới CSTK, cần triển khai thống nhất và đồng bộ ở các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương, từ các bộ, ngành quản lý đến các đơn vị dự toán ngân sách. Để thực hiện CSTK một cách hiệu quả, cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và phải triển khai một cách nghiêm túc và quyết liệt.

Quá trình lập, phân bổ ngân sách cũng như việc theo dõi quá trình thực hiện cần phải có sự tham gia sâu rộng của các cơ quan, ban ngành và các đơn vị sử dụng ngân sách. Bên cạnh đó, cần có sự giám sát của nhân dân nhằm phát hiện những vi phạm pháp luật trong quản lý và sử dụng NSNN, xử lý kịp thời để đảm bảo kỷ cương tài chính, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực chung của đất nước.

4.4.5. Tinh thần “tiết kiệm chi ngân sách nhà nước” cần được quán triệt sâu sắc, thực hiện quyết liệt ở tất cả các cấp, các ngành, các đơn vị và địa phương Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Hơn lúc nào hết, trong bối cảnh hiện nay, tiết kiệm phải trở thành nhận thức chung và cho từng đơn vị, cá nhân trong bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị trong tất cả các lĩnh vực, địa phương, cấp độ quản lý trên cả nước. Chính phủ cần đẩy mạnh thực hiện đồng bộ và thực chất các biện pháp cần thiết nhằm tăng cường quản lý biên chế hành chính và việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật tài chính chi NSNN, tăng cường trách nhiệm cá nhân, người đứng đầu, cương quyết chống lãng phí, tiêu cực, căn bệnh chạy đua các dự án “hoành tráng”, sự lạm dụng kẽ hở luật pháp và hành xử theo sự chi phối của lối tư duy nhiệm kỳ và lợi ích nhóm; kịp thời nhận diện và khắc phục triệt để các tồn tại, yếu kém trong Luật NSNN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, chống tham nhũng…

Kiên quyết cắt giảm 100% việc tổ chức lễ động thổ, lễ khởi công, khánh thành các công trình xây dựng cơ bản, trừ các công trình quan trọng quốc gia và công trình đặc biệt của địa phương; không bố trí đoàn ra nước ngoài trong chi thường xuyên các Chương trình mục tiêu quốc gia; không đề xuất, phê duyệt các dự án và các khoản chi phát sinh ngoài dự toán NSNN đã phê duyệt, các chương trình, dự án có nội dung trùng lặp, kém hiệu quả, cũng như các đề tài nghiên cứu khoa học có nội dung trùng lặp, thiếu tính khả thi; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, công khai, minh bạch trong chi tiêu, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và hạn chế tối đa việc chỉ định thầu các dự án đầu tư, mua sắm công; tăng cường xã hội hóa, phân cấp và tự chủ về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, phù hợp loại hình dịch vụ, khả năng và nhu cầu thị trường, trình độ quản lý…

Trong quá trình này, cần thực hiện nghiêm yêu cầu giảm 10% biên chế trong các cơ quan nhà nước từ nay đến năm 2020; không tăng biên chế các đơn vị hiện có và chỉ bổ sung 50% vị trí trống của những lao động trong biên chế đến tuổi nghỉ hưu. Ngoài ra, cần có sự đánh giá lại các tiêu chí yêu cầu vị trí công việc và năng lực cán bộ, lao động trong khu vực nhà nước…, từ đó có giải pháp giảm thiểu đội ngũ công chức và lao động dư thừa tương đối và tuyệt đối, gắn với tăng cường công tác bảo đảm an sinh và đồng thuận xã hội cao.

Bên cạnh đó, tinh thần tiết kiệm cũng được thể hiện qua yêu cầu nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, công khai, minh bạch trong chi tiêu, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và hạn chế tối đa việc chỉ định thầu các dự án đầu tư, mua sắm công; tăng cường xã hội hóa, phân cấp và tự chủ về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập phù hợp loại hình dịch vụ, khả năng và nhu cầu thị trường, trình độ quản lý.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

Chính sách tài khóa có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế quốc gia. Các nhà hoạch định chính sách thường sử dụng linh hoạt CSTK nhằm đạt mục tiêu chung về TTKT. Trong giai đoạn 1991 – 2017, CSTK được sử dụng kết hợp với các chính sách tài chính khác, điều chỉnh linh hoạt và kịp thời đã góp phần tích cực đưa nền kinh tế vượt qua giai đoạn khó khăn nhất. Trong những năm tiếp theo, cần phải xây dựng CSTK để phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội vững chắc, đồng thời chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và có hiệu quả, cần có những giải pháp hết sức đúng đắn và tích cực để CSTK có thể phát huy tối đa các vai trò của nó.

Để các giải pháp đưa ra có cơ sở đầy đủ hơn, xác đáng hơn, nội dung chương 4 đã tổng hợp các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, các chủ trương, chính sách của Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, qua đó xác định được những nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể của CSTK trong thời gian tới. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Với bối cảnh quốc tế và diễn biến trong nước, kế hoạch phát triển KTXH và những mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm của CSTK nhằm điều chỉnh TTKT ở Việt Nam theo đúng định hướng, kế hoạch mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, nghiên cứu sinh đã đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao vai trò của CSTK đối với việc điều chỉnh TTKT Việt Nam trong thời gian tới.

Các nhóm giải pháp nhằm nâng cao vai trò của CSTK trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030 được đưa ra trong chương 4 là: nhóm giải pháp về thu NSNN, nhóm giải pháp về chi NSNN, nhóm giải pháp về cân đối NSNN và quản lý nợ công, phối hợp chặt chẽ và đồng bộ CSTK và CSTT. Nội dung cuối cùng của chương 4 là các điều kiện để thực hiện các nhóm giải pháp trên.

KẾT LUẬN

Chính sách tài khóa là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia. CSTK được xem là một chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng trong điều chỉnh và ổn định kinh tế vĩ mô. Sử dụng CSTK để tác động đến cung, cầu hàng hóa thúc đẩy TTKT khi nền kinh tế suy thoái hoặc lạm phát, giảm kinh tế tăng trưởng nóng khi nền kinh tế lạm phát là biện pháp mà hầu hết các quốc gia trên thế giới thực hiện trong đó có Việt Nam.

Luận án với đề tài “Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” đã hoàn thành với các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu về CSTK nhằm thúc đẩy TTKT ở Việt Nam.

Thứ hai, hệ thống hóa, luận giải để góp phần hoàn thiện, nâng cao nhận thức lý luận về CSTK và TTKT. Phân tích các tác động của CSTK tới TTKT ở Việt Nam. Tìm hiểu kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc hoạch định và sử dụng CSTK, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng cho Việt Nam.

Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng của CSTK và tác động của CSTK trong việc thúc đẩy TTKT ở Việt Nam giai đoạn 1991 – 2017; chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về CSTK nhằm thúc đẩy TTKT.

Thứ tư, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện CSTK trong việc thúc đẩy TTKT Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

Trong giai đoạn 1991 – 2017, CSTK của Việt Nam đã được Chính phủ điều hành phù hợp với diễn biến của chu kỳ phát triển kinh tế và đã có những đóng góp đáng kể vào điều chỉnh kinh tế của Việt Nam, giúp cho nền kinh tế Việt Nam về cơ bản vẫn giữ được sự ổn định và nhịp độ tăng trưởng tương đối tốt so với các nước trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi CSTK do nền kinh tế Việt Nam với quy mô nhỏ, vừa mới bước vào phát triển theo mô hình kinh tế thị trường, cơ sở hạ tầng kinh tế còn yếu kém, kinh nghiệm quản lý kinh tế trong tất cả các cấp còn hạn chế, chịu nhiều tác động của các biến động giá cả và những tiêu cực của kinh tế quốc tế. Đặc biệt là những hiểu biết về CSTK, việc thực hiện CSTK vẫn còn những hạn chế vì vậy đã ảnh hưởng đến vai trò tích cực của CSTK đối với vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy TTKT, tạo công ăn việc làm.

Với những nội dung cơ bản luận án đã thực hiện, NCS hy vọng kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có đóng góp nhất định trong việc hoàn thiện cơ sở lý luận về CSTK và TTKT, tác động của CSTK tới TTKT và các giải pháp ở chương 4 phù hợp với diễn biến quốc tế cũng như hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Các giải pháp này đóng góp vào việc hoàn thiện CSTK và đảm bảo nâng cao vai trò của CSTK nhằm thúc đẩy TTKT ở Việt Nam trong thời gian tới.

Nghiên cứu sinh mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng để luận án được hoàn thiện hơn. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464