Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. BỐI CẢNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM TỪ 1991 ĐẾN 2017
3.1.1. Bối cảnh kinh tế thế giới giai đoạn 1991 – 2017
Bối cảnh quốc tế giai đoạn 1991 – 2000
Bước sang năm 1991, thế giới có nhiều biến động lớn lao và có ảnh hưởng sâu sắc đến đất nước ta. Sau những nỗ lực đổi mới, cải tổ đất nước không thành công và những biến động lớn trên chính trường, Liên Xô và hệ thống XHCN ở Đông Âu đã sụp đổ. Sự tan rã này đã làm thay đối sâu sắc cục diện thế giới, đến tiến trình lịch sử nhân loại. Công cuộc đổi mới ở nước ta cũng chịu ảnh hưởng lớn từ sự kiện này. Trong yêu cầu cấp thiết phải tăng cường hội nhập, hướng ra xuất khẩu của công cuộc đổi mới thì với sự sụp đổ này, ta đã mất đi một bạn hàng truyền thống, dễ tính và chủ lực. Điều này không chỉ làm cho nền kinh tế mà còn cả chính trị nước ta gặp vô vàn khó khăn. Bắt đầu từ năm 1991 nguồn vay bên ngoài đã giảm mạnh, sự ưu đãi về giá không còn, nợ nước ngoài đã đến kỳ hạn thanh toán hàng năm tăng lên. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Thế giới bước vào thời kỳ hậu “chiến tranh lạnh” có nhiều biến đối lớn lao vừa tạo ra thời cơ mới nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức lớn cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta. Yêu cầu khách quan của lịch sử đòi hỏi Việt Nam phải phát triển mọi mặt, nhanh chóng đổi mới KTXH xây dựng đất nước, chủ động hội nhập kinh tế thế giới để phù hợp với xu thế toàn cầu hóa. Không những thế, nước ta chưa hoàn toàn thoát khỏi thế bị bao vây về kinh tế từ nhiều nước đặc biệt là từ phía Mỹ. Ngoài ra, các thế lực phản động cũng luôn tìm cách phá hoại với âm mưu lật đố công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta bằng nhiều thủ đoạn. Những cuộc xung đột biên giới trên biến, đất liền của các nước trong khu vực đã làm Đông Nam Á trở thành thiếu ổn định, có nguy cơ xung đột tiềm ẩn. Là một quốc gia trong khu vực, điều này cũng có ảnh hưởng đến sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước.
Bối cảnh quốc tế giai đoạn 2001 – 2010
Bối cảnh quốc tế trong thời gian này có nhiều thời cơ đan xen với nhiều thách thức lớn. Một số xu thế tác động trực tiếp tới sự phát triển KTXH của nước ta là:
Khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tiếp tục có những bước nhảy vọt, ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế tri thức, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tri thức và sở hữu trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng. Trình độ làm chủ thông tin, tri thức có ý nghĩa quyết định sự phát triển. Chu trình luân chuyển vốn, đổi mới công nghệ và sản phẩm ngày càng được rút ngắn; các điều kiện kinh doanh trên thị trường thế giới luôn thay đổi đòi hỏi các quốc gia cũng như doanh nghiệp phải rất nhanh nhạy nắm bắt, thích nghi. Các nước đang phát triển, trong đó có nước ta, có cơ hội thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển, cải thiện vị thế của mình; đồng thời đứng trước nguy cơ tụt hậu, xa hơn nếu không tranh thủ được cơ hội, khắc phục yếu kém để vươn lên.
Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Quan hệ song phương, đa phương giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế, văn hóa và bảo vệ môi trường, phòng chống tội phạm, thiên tai và các đại dịch… Các công ty xuyên quốc gia tiếp tục cấu trúc lại, hình thành những tập đoàn khổng lồ chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế. Sự cách biệt giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng tăng.
Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển bảo vệ lợi ích của mình, vì một trật tự kinh tế quốc tế công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của các cường quốc kinh tế, các công ty xuyên quốc gia.
Châu Á – Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động, trong đó Trung Quốc có vai trò ngày càng lớn. Sau khủng hoảng tài chính – kinh tế, nhiều nước ASEAN và Đông á đang khôi phục đà phát triển với khả năng cạnh tranh mới. Tình hình đó tạo thuận lợi cho chúng ta trong hợp tác phát triển kinh tế, đồng thời cũng gia tăng sức ép cạnh tranh cả trong và ngoài khu vực.
Bối cảnh quốc tế giai đoạn 2011 – 2017
Trong giai đoạn này, hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc và tôn giáo, tranh giành tài nguyên và lãnh thổ, nạn khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia gia tăng cùng với những vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên… buộc các quốc gia phải có chính sách đối phó và phối hợp hành động.
Các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) bước vào thời kỳ hợp tác mới theo Hiến chương ASEAN và xây dựng Cộng đồng dựa trên ba trụ cột: chính trị – an ninh, kinh tế, văn hóa – xã hội; hợp tác với các đối tác tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu. ASEAN đang ngày càng khẳng định vai trò trung tâm trong một cấu trúc khu vực đang định hình nhưng cũng phải đối phó với những thách thức mới.
Khu vực châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn. Tuy vậy, vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh giành ảnh hưởng, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên…
Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp. Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn. Quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng. Việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu đối với các nền kinh tế. Sự tùy thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa các nước ngày càng trở thành phổ biến. Kinh tế tri thức phát triển mạnh, do đó con người và tri thức càng trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia.
Sau khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu, thế giới sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới. Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển toàn cầu thay đổi với sự xuất hiện những liên kết mới. Vị thế của châu Á trong nền kinh tế thế giới đang tăng lên; sự phát triển mạnh mẽ của một số nước khu vực trong điều kiện hội nhập Đông Á và việc thực hiện các hiệp định mậu dịch tự do ngày càng sâu rộng, mở ra thị trường rộng lớn nhưng cũng tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt. Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bước tiến mới về khoa học, công nghệ và sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên. Mặt khác, khủng hoảng còn để lại hậu quả nặng nề, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy trở thành rào cản lớn cho thương mại quốc tế. Kinh tế thế giới tuy đã bắt đầu phục hồi nhưng còn nhiều khó khăn, bất ổn; sự điều chỉnh chính sách của các nước, nhất là những nước lớn sẽ có tác động đến nước ta.
Bối cảnh quốc tế nêu trên tạo cho nước ta vị thế mới với những thuận lợi và cơ hội to lớn cùng những khó khăn và thách thức gay gắt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển KTXH và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trong thời kỳ chiến lược tới.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
3.1.2. Những thành tựu cơ bản về phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam từ 1991 đến 2017 Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Từ 1991 đến nay, mặc dù nước ta phải đổi mặt với hai cuộc khủng hoảng khu vực và thế giới, và hiện vẫn còn nhiều vấn đề đã được phát hiện cần giải quyết nhưng đã tăng trưởng với tốc độ cao và thu được những thành tựu quan trọng. Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng KTXH, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới – thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH.
Việt Nam đạt những thành tựu quan trọng trong công cuộc CNH – HĐH đất nước. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất – kỹ thuật, hạ tầng KTXH từng bước đáp ứng sự nghiệp CNH – HĐH, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển. Diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên; đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân thật sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện đường lối CNH – HĐH đất nước. Về tăng trưởng kinh tế, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn thời kỳ trước đổi mới.
Giai đoạn 1991 – 2000:
Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao. GDP bình quân giai đoạn 1991 – 1995 tăng 8,2%/năm. Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước. Từ năm 1996 đến năm 2000, Việt Nam chịu tác động của khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách. Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm.
Giai đoạn 2001 – 2010:
Giai đoạn 2001 – 2005: nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao và liên tục, GDP bình quân đạt 7,34%/năm.
Giai đoạn 2006 – 2010: do suy giảm kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,32%/năm. GDP (tính theo giá trị so sánh) năm 2010 gấp 2 lần so với năm 2000; (tính theo giá trị thực tế tính bằng đồng đô la Mỹ) đạt trên 101 tỉ USD, gấp hơn 3,2 lần năm 2000 (31,2 tỉ USD); (theo giá thực tế bình quân đầu người) đạt 1.168 USD, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra là 1.050 – 1.100 USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp và trở thành nước có mức thu nhập trung bình. Hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá [64].
Giai đoạn 2011 – 2017:
Chính phủ triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp mạnh mẽ, kiên trì về ổn định kinh tế vĩ mô và tái cơ cấu nền kinh tế nên TTKT từng bước phục hồi.
Năm 2017, GDP đạt mức 6,81%, mức cao nhất trong vòng 6 năm trở lại đây. Theo Tổng cục Thống kê, GDP năm 2017 cao hơn nhiều so với các năm từ 2011 – 2016. Trong đó, 3 năm 2012 – 2014, GDP đều dưới 6% (5.25%; 5,42% và 5,9%) và 3 năm còn lại, 2011 (6,24%), 2015 (6,68%), 2016 (6,21%) đều dưới 6,7%.
Quy mô nền kinh tế tăng nhanh. Năm 1991, GDP bình quân đầu người ở Việt Nam mới chỉ đạt 235 USD/năm, thì đến năm 2015, quy mô nền kinh tế đã đạt khoảng 204 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 2.200 USD, đến năm 2017 dự tính đạt gần 2400 USD.
Biểu đồ 3.1: Tốc độ tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người giai đoạn 1991 – 2017
Lực lượng sản xuất có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng. Chất lượng tăng trưởng có mặt được cải thiện, trình độ công nghệ sản xuất có bước được nâng lên. Đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp TFP vào tăng trưởng nếu ở giai đoạn 2001 – 2005 chỉ đạt 21,4%, giai đoạn 2006 – 2010 đạt 17,2% thì trong giai đoạn 2011 – 2015 đã đạt 28,94%. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát.
Cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại. Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và công nghiệp. Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu. Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu có cải thiện đáng kể. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Đánh giá về tình hình lạm phát, tình hình đất nước giai đoạn 1991 – 1995 đã có nhiều chuyển biến tích cực. Sản xuất và lưu thông hàng hóa đã có động lực mới, lạm phát phi mã đã được đẩy lùi nhưng tỷ lệ lạm phát vẫn còn cao, năm 1991 vẫn ở mức 67,5%. Điều hành chính sách thu-chi NSNN theo hướng thay đổi chi theo hướng tích cực, tăng cường nguồn thu trong nước để đủ cho chi thường xuyên, tình trạng đi vay hoặc dựa vào phát hành cho chi thường xuyên đã chấm dứt.
Từ năm 1996 – 2000, CPI bình quân là 3,4% còn tăng trưởng GDP bình quân là 7%. Các con số tương ứng của giai đoạn 2001-2005 là 5,1% và 7,34%; giai đoạn 2006 – 2010 là 11,4% và 6,32%. Giai đoạn 2006 – 2008, khi lạm phát tăng lên hai con số và nền kinh tế cần phải xử lý một số bất ổn vĩ mô, Chính phủ tập trung vào việc tăng cường, kiểm soát chặt chẽ và nâng cao hiệu quả chi tiêu công; giảm chi phí hành chính, giảm nhập siêu… Ngược lại, đến giai đoạn 2008 – 2010, Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp để kích thích đầu tư và tháo gỡ khó khăn cho DN. Nhờ đó, Việt Nam đã thoát khỏi tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới [59].
Đến giai đoạn 2011 – 2017, kinh tế thế giới do tác động của cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp, bất ổn chính trị trên thế giới… khiến các DN lâm vào tình trạng khó khăn. Kết quả đạt được trong giai đoạn đã khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, ngành, địa phương cùng nỗ lực thực hiện. Đà phục hồi TTKT dường như không đi kèm với áp lực lạm phát. Trên thực tế, lạm phát được kiểm soát ở mức tương đối ổn định: Chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 2,66% trong năm 2016 và 3,53% trong năm 2017. Trong những năm gần đây, tỉ lệ lạm phát có xu hướng giảm rõ rệt, năm 2017 là dưới 5% (thấp hơn tỉ lệ lạm phát trung bình giai đoạn 2011 – 2017 là 6,5%) [65].
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1991 – 2017
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện trong giai đoạn 1991 – 2017. Kinh tế vĩ mô được duy trì, các mặt như chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng được bảo đảm và ổn định. Trong đó, những thành tựu rất đáng khích lệ về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội gắn bó chặt chẽ với TTKT, phát triển nguồn lao động và chất lượng lao động, khoa học và công nghệ. Thành tựu đó ngày càng khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của đổi mới, khích lệ, động viên nhân dân tiếp tục hưởng ứng, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước với những bước tiến cao hơn trong những năm tiếp theo.
Như vậy, có thể thấy thời gian 1991 – 2017, nền kinh tế Việt Nam có sự biến động lớn về hai biến số kinh tế vĩ mô tăng trưởng và lạm phát. Tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn vừa qua có xu hướng giảm và lạm phát không ổn định. Đó chính là những cản trở cho việc thực hiện CSTK ở Việt Nam. Ở nội dung tiếp theo, luận án sẽ phân tích thực trạng CSTK mà Chính phủ đã thực hiện để đối phó với sự biến động kinh tế thời gian qua ở Việt Nam.
3.2. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GIAI ĐOẠN 1991 – 2017 Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Dựa vào mục tiêu của Chiến lược phát triển và tình hình thực tế của nền KTXH ở Việt Nam, CSTK trong giai đoạn 1991 – 2017 đã được Chính phủ điều chỉnh linh hoạt để ứng phó kịp thời trước các biến động của nền kinh tế.
3.2.1. Giai đoạn 1991 – 2000
Việt Nam bắt đầu công cuộc chuyển đổi nền kinh tế từ sau đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986. Từ đó đến nay, với nhiều chủ trương và chính sách ở tầm vĩ mô, cũng như vi mô, nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước theo định hướng XHCN dần dần được hình thành và không ngừng phát triển. Trong mô hình kinh tế đó, CSTK của Việt Nam cũng dần được đưa vào nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn.
Bước sang thập niên 1990 của Thế kỷ XX, khi đổi mới kinh tế đã đi vào chiều sâu, cơ chế thị trường được khẳng định trên thực tế, các biện pháp thu, chi NSNN dần dần chuyển sang nguyên tắc mới của cơ chế thị trường. Dấu ấn của việc triển khai xây dựng và thực thi CSTK thời kỳ này là công cuộc cải cách thuế bước một được triển khai và thực hiện một cách triệt để theo đó các luật thuế mới được ban hành và thực thi, cụ thể là:
- Luật Thuế doanh thu ban hành năm 1990.
- Luật Thuế lợi tức ban hành năm 1990.
- Luật thuế tiêu thụ đặc biệt ban hành năm 1990.
- Đặc biệt là lần đầu tiên ở Việt Nam, năm 1996 Luật Ngân sách nhà nước được xây dựng và đưa vào thực hiện trong thực tế, đây là dấu mốc quan trọng trong điều hành, quản lý NSNN, trong xây dựng và thực thi CSTK. Có thể nói, trong giai đoạn 1991 – 2000, CSTK có nhiều biến đổi sâu sắc cả trong nhận thức quan điểm cũng như phương thức hoạch định, điều hành cụ thể.
Về chính sách thu NSNN
Nét nổi bật của chính sách thu trong giai đoạn này là hệ thống các sắc thuế đã được pháp luật hóa ở mức cao và luôn có sự bổ sung, hoàn thiện, áp dụng thống nhất cho toàn quốc. Về cơ bản, thuế và các khoản thu khác của NSNN đã được chế tài bằng luật và các văn bản pháp quy dưới luật. Nhờ vậy, nguồn thu NSNN được ổn định, chính phủ có cơ sở pháp lý điều hành NSNN. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Bước vào giai đoạn này, tình hình kinh tế đất nước đã có nhiều chuyển biến tích cực nên chính sách thu – chi NSNN được điều chỉnh theo hướng tích cực, tăng cường nguồn thu trong nước để đủ cho chi thường xuyên, tình trạng đi vay hoặc dựa vào phát hành cho chi thường xuyên đã chấm dứt. Tổng thu NSNN năm 2000 gấp 8,77 lần so với năm 1991. Trong đó số thu từ thuế lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu NSNN. Bình quân thu từ thuế, phí và lệ phí đạt khoảng 95% trong tổng số thu.
Về quy mô, thu NSNN so với tổng GDP tăng từ 13,8% GDP năm 1991 lên đến đỉnh cao 23,3% năm 1995. Quy mô thu NSNN bình quân giai đoạn 1991 – 2000 là 20,5% GDP [59].
Về chính sách chi NSNN
Tổng chi NSNN chiếm 20,5% GDP năm 1990 đã giảm xuống còn 15,9% năm 1992. Sau đó tăng đột ngột lên 29,4% năm 1993. Từ năm 1994, tổng chi so với GDP lại giảm liên tục, từ 29,4% (năm 1993) xuống còn 22,7% GDP (năm 1998), tương ứng với việc cắt giảm 1/5 tổng chi NSNN. Nhưng xét bình quân giai đoạn 1991-1995 chi NSNN đạt 24,5% GDP và khoảng 24,1% GDP giai đoạn 1996 – 2000 là tăng mạnh so với mức bình quân 19,7% giai đoạn 1986 – 1990 [3].
Bảng 3.1: Thu – chi NSNN so với GDP giai đoạn 1991 – 2000
Trong giai đoạn 1996 – 2000, chính sách chi NSNN cũng có nhiều đổi mới quan trọng từ phương thức quản lý, cho đến nội dung, cơ cấu chi. Ngày 20/3/1996, luật NSNN chính thức được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-1997. Từ đây, hầu hết các khoản chi NSNN được tập trung về một đầu mối.
Xét chung trong giai đoạn này, quy mô chi của NSNN tăng giảm thất thường, song xu hướng cơ bản là giảm. Năm 1993 chi NSNN là 29,4% GDP thì đến năm 1998 chỉ còn 22,7% GDP, tính ra cắt giảm gần 1/5 tổng chi NSNN. Về tốc độ chi cũng có sự biến đổi thất thường theo hàn thử biểu của nền kinh tế.
Cơ cấu chi NSNN đã dần dần thay đổi theo hướng tích cực. Giai đoạn 1991-2000, chi NSNN được kết cấu lại theo hướng chi trên cả ba lĩnh vực chi đầu tư, chi thường xuyên và chi trả nợ. Trong đó, chi ĐTPT, nhất là chi đầu tư XDCB được quan tâm. Mặc dù chi thường xuyên vẫn chiếm tỷ trọng lớn, bình quân khoảng 63,5% tổng chi NSNN, nhưng nguồn thu trong nước đã đủ cho chi thường xuyên, tình trạng đi vay hoặc dựa vào phát hành tiền cho chi thường xuyên đã chấm dứt. Đồng thời tỷ trọng chi ĐTPT đã vươn lên đạt mức bình quân khoảng 25%, chi viện trợ và trả nợ chiếm hơn 11% trong tổng chi NSNN.
Bảng 3.2 : Cơ cấu chi NSNN giai đoạn 1991 – 2000
Về chi NSNN, giai đoạn này đã có sự chú ý rõ rệt đến chi ĐTPT và chi hỗ trợ doanh nghiệp. Chương trình “kích cầu” của Chính phủ trong các năm cuối thập niên 1990 đối với các hoạt động đầu tư công cộng quy mô nhỏ ở nông thôn và xuất khẩu đã có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng nhất định trong thời kỳ khủng hoảng tài chính khu vực. Nhiều công trình đầu tư công cộng quan trọng đã được thực hiện trong giai đoạn này có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển tốt.
Đánh giá về chi NSNN giai đoạn này nổi lên một số điểm chính sau:
- Chi NSNN bước đầu cắt giảm đáng kể những khoản chi mang tính bao cấp, không thuộc chức năng, nhiệm vụ của NSNN như một số nội dung chi cho các sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao.
- Mặc dù ưu tiên chi ngân sách cho ĐTPT nhưng mục tiêu kiềm chế lạm phát giai đoạn vẫn luôn được coi là chủ đạo. Trong chi ĐTPT từ nguồn vốn NSNN, thì tính tập trung, dứt điểm và hiệu quả đầu tư vẫn đang là vấn đề nhức nhối, còn quá dàn trải, lãng phí ngay từ khâu thiết kế và lựa chọn dự án đầu tư. Mặt khác, trong khi quy hoạch đầu tư tổng thể chưa rõ ràng thì vẫn còn thiếu cơ sở lý luận về việc sử dụng hiệu quả công cụ tài khóa để tác động vào tổng cầu nhằm kích thích tăng trưởng, nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài cho NSNN.
- Những khoản chi vì lợi ích lâu dài – yếu tố cơ bản đảm bảo tăng trưởng bền vững còn chưa được quan tâm đúng mức (các khoản chi cho khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường, giáo dục, đào tạo nghề…).
- Tuy đã giảm nhiều khoản chi bao cấp từ NSNN nhưng nhiều nội dung bao cấp vẫn còn tồn tại ngay trong quá trình lập và chấp hành NSNN.
Mặc dù vẫn còn những tồn tại nêu trên, tuy nhiên trong điều hành CSTK trong giai đoạn 1991 – 2000, chính sách chi ngân sách đã bám sát mục tiêu kiềm chế lạm phát.
Về bội chi NSNN:
Trong giai đoạn 1991 – 1995, tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP chỉ ở mức 1,4% đến 4,17% [59]. Như vậy, có thể thấy bội chi NSNN trong những năm 1991 – 1995 là rất thấp, thể hiện chính sách thắt chặt chi tiêu của Chính phủ trong thời kỳ này.
Giai đoạn 1996 – 2000, do tác động của khủng hoảng tài chính ở các nước Đông Nam Á nên nền kinh tế gặp không ít khó khăn. Trong những năm này, tỷ lệ bội chi NSNN ở mức từ 3,0% GDP năm 1996 lên 4,95% GDP năm 2000. Tỷ lệ bội chi bình quân 5 năm là 3,87% GDP, cao hơn mức bình quân năm 1991 – 1995 (2,64%). Năm 2000 có bội chi cao nhất là 4,95% GDP và năm 1998 có bội chi thấp nhất là 2,49% [59]. Đây là thời kỳ suy thoái và thiểu phát, nên mức bội chi NSNN như trên không tác động gây ra lạm phát mà có tác động làm cho nền kinh tế chuyển sang giai đoạn đi lên.
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP giai đoạn 1991-2000
Trong giai đoạn này, Quốc hội và chính phủ kiên quyết thực hiện chủ trương kiểm soát chặt chẽ bội chi NSNN và khống chế mức bội chi không được vượt quá 5% GDP. Trong thực tế, năm 1993 là năm có mức bội chi cao nhất, lên tới 6,5% GDP. Lý do chủ yếu là Nhà nước đã tập trung xây dựng đường dây tải điện 500KV Bắc – Nam. Sau đó, bội chi được kiểm soát chặt chẽ và kiềm chế ở mức dưới 5% GDP. Bình quân giai đoạn 1991 – 2000 bội chi NSNN khoảng 4% GDP. Do Chính phủ kiên quyết cắt giảm chi tiêu nên mức thâm hụt đã giảm dần. Từ năm 1992, Nhà nước không phát hành tiền để bù đắp bội chi nên giảm được áp lực tăng chỉ số giá tiêu dùng, góp phần ổn định nền tài chính quốc gia, chặn đứng lạm phát phi mã và khống chế chỉ số CPI ở mức dưới 10% [48]. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Có thể nói rằng trong giai đoạn 1991 – 2000, tổng chi cả chi ĐTPT và chi thường xuyên, chủ yếu bị giới hạn trong tổng số những gì thu được từ nội bộ nền kinh tế. Vay bù đắp bội chi chủ yếu được sử dụng tập trung cho ĐTPT, trong đó chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng KTXH, thực hiện “vay bù đắp bội chi NSNN phải bảo đảm nguyên tắc: Không sử dụng cho tiêu dùng; chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển, phải có kế hoạch thu hồi vốn vay và bảo đảm cân đối ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn”.
Xét về kết quả của CSTK trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:
Đây là giai đoạn đầu thời kỳ mở cửa, tạo cú hích cho sự phát triển và là thời kỳ tăng trưởng cao nhất giai đoạn mở cửa đến nay (tăng trưởng có năm đạt 10% như năm 1995; tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 7,9%; bội chi NSNN chiếm trung bình 2,83% GDP) [59]. Tăng trưởng giai đoạn này ngoài yếu tố do đầu tư tăng mạnh, còn do yếu tố tác động từ CSTK nới lỏng, tỷ lệ chi ngân sách/GDP và thu ngân sách/GDP đều tăng nhưng tỷ lệ chi ngân sách/GDP luôn tăng cao, mặc dù thực hiện nới lỏng CSTK nhưng nguồn thu ngân sách tăng cao do vậy tỷ lệ bội chi ngân sách giảm liên tục. Bên cạnh đó, từ năm 1992, Chính phủ ngừng sử dụng biện pháp in tiền để bù đắp thâm hụt cũng góp phần làm giảm cung tiền và góp phần hạ nhiệt tốc độ tăng giá cả.
Chính sách tài khóa giai đoạn này đã kịp thời đổi mới theo từng giai đoạn, theo kịp và đáp ứng được nhu cầu của công cuộc đổi mới cơ chế quản lý, bảo đảm tốc độ tăng trưởng cao và ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát ở mức thấp. Trong thời kỳ này, nền kinh tế còn kém phát triển, mức thu nhập của dân cư thấp, mức thu NSNN thấp. CSTK của Việt Nam trong những tình huống cụ thể tùy theo mức độ biến động của nền kinh tế, tiền tệ mà có sự điều chỉnh linh hoạt không rập khuôn cứng nhắc, CSTK bước đầu đã hướng mục tiêu đảm bảo cân đối ngân sách, xử lý vấn đề thâm hụt NSNN theo hướng an toàn, bền vững của nền kinh tế.
Chính sách tài khóa được thực hiện theo hướng mở rộng trong những năm từ 1991 – 1996 rồi chuyển sang CSTK thắt chặt ở những năm 1997 – 1999, kiên quyết kiểm soát bội chi NSNN. Nguồn thu NSNN từ năm 1991 có cải thiện đáng kể theo từng năm, nên cân đối NSNN giai đoạn này tốt hơn rất nhiều so với giai đoạn đầu đổi mới (1986 – 1990). Nguồn thu NSNN không những đảm bảo đủ chi thường xuyên mà đã tích cực góp phần vào chi ĐTPT và hỗ trợ kinh tế. Số thâm hụt NSNN giảm dần qua từng năm: giai đoạn 1991 – 1995 tỷ lệ bội chi ở mức trung bình 2,64%/năm [59].
Năm 1997, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Châu Á kéo theo làm suy thoái kinh tế, từ tăng trưởng cao chuyển sang giảm dần và giảm sâu nhất vào năm 1999. Bên cạnh ảnh hưởng khủng hoảng, kinh tế trong nước suy giảm cũng có thể do một phần từ CSTK thắt chặt, tỷ lệ thu ngân sách/GDP tăng, trong khi tỷ lệ chi ngân sách/GDP giảm. Chính sách này góp phần cải thiện tỷ lệ bội chi NSNN, tỷ lệ thâm hụt ngân sách năm 1998 thấp nhất trong cả giai đoạn 1991 – 2000. Giai đoạn 1996 – 2000, tỷ lệ bội chi có tăng lên do tác động của khủng hoảng tài chính khu vực nhưng mới chỉ ở mức trung bình 3,77%/năm [59].
Đáng chú ý trong giai đoạn này là về CSTK là việc thực hiện Luật NSNN năm 1996. Lần đầu tiên Việt Nam ban hành và áp dụng Luật NSNN theo nguyên tắc thị trường. Ngoài các ý nghĩa khác, Luật này đã ràng buộc Chính phủ trong sử dụng các công cụ thu, chi, bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường.
3.2.2. Giai đoạn 2001 – 2010 Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Đây là thời kỳ mà CSTK ở Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới và đã để lại những dấu ấn rất rõ nét trong sự điều hành CSTK của Chính phủ trước những biến động rất phức tạp của tình hình quốc tế và sự phát triển KTXH trong nước. Diễn biến về sự điều hành CSTK của Chính phủ thời kỳ này có những nét đặc thù sau:
- Thứ nhất, với việc thực hiện các cam kết ASEAN về thuế (năm 1998), ký Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (năm 2001) và gia nhập WTO (năm 2006), sự tác động của hội nhập khu vực và quốc tế đòi hỏi CSTK của Việt Nam phải đổi mới theo hướng tuân thủ các cam kết quốc tế và định hướng thị trường mạnh hơn.
- Thứ hai, nền kinh tế sau một thập niên tăng trưởng khá cao đã đạt trình độ phát triển nhất định cho phép tăng nguồn thu, tăng chi đầu tư và cải cách cơ cấu.
- Thứ ba, năng lực của bộ máy quản lý nhà nước về tài chính ở các cấp đã có bước cải thiện đáng kể.
- Thứ tư, từ năm 2007, khủng hoảng tài chính thế giới có tác động rất mạnh đến quan điểm và các biện pháp tài khóa của ViệtNam.
Giai đoạn này, CSTK dần dần được định hình về tên gọi, quan điểm và phương pháp. Mới đầu, vẫn là các chương trình, quyết định chi tiêu công trong hệ thống các biện pháp thu – chi NSNN, dần dần các quyết định chi tiêu được định hướng rõ rệt hơn về đối tượng tác động, hình thành các chương trình sách gắn với các mục tiêu kinh tế vĩ mô trong điều hành quản lý.
Đáng chú ý trong giai đoạn này, Nhà nước ban hành Luật NSNN năm 2002 mang tính đổi mới triệt để hơn theo cơ chế thị trường. Luật NSNN 2002 cho phép các cơ quan Nhà nước thực hiện CSTK có căn cứ pháp lý đầy đủ hơn, quy trình chặt chẽ hơn trong các quyết định thu, chi, đồng thời nâng cao trách nhiệm tài chính của các cấp ngân sách và bảo đảm kỷ luật tài chính và trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân ra quyết định về chính sách.
Về chính sách thu NSNN:
Cùng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu NSNN trong giai đoạn này đã tăng lên đáng kể. Tổng thu NSNN giai đoạn 2001 – 2010 tăng gấp 5,62 lần so với giai đoạn 1991 – 2000. Nếu năm 2001 thu NSNN mới đạt 103.888 tỷ đồng, thì đến năm 2010 là 588.428 tỷ đồng. So với GDP (theo giá hiện hành), quy mô thu NSNN bình quân giai đoạn 2001 – 2010 là 25,5% GDP. [59]
Bảng 3.3: Thu NSNN giai đoạn 2001 – 2010
Qua bảng số liệu trên có thể thấy, tổng thu NSNN năm 2009 vẫn vượt dự toán được giao, nhưng có thấp hơn so với năm 2008 vì do cuộc suy thoái kinh tế dẫn đến NSTW vẫn hụt do giá dầu giảm (dự toán là 70USD/thùng nhưng 9 tháng đầu năm, giá thực tế chỉ 53USD/thùng, cả năm chỉ đạt 60USD/thùng, hụt 10USD/thùng), cộng thêm nhiệm vụ phải thực hiện chính sách hỗ trợ các địa phương hụt thu và giảm thu khi thực hiện chính sách miễn giảm thuế để phục hồi nền kinh tế. Trong 5 năm (2006 – 2010), tổng thu NSNN vẫn đạt 1.547 nghìn tỷ đồng, vượt 16,2% (tăng 216 nghìn tỷ đồng) so với dự toán và gấp 2,8 lần tổng số thu giai đoạn 2001 – 2005. Trong đó, thu nội địa (trừ dầu) đạt 1.162 nghìn tỷ đồng, vượt 16,1% (tăng 162 nghìn tỷ đồng) so với dự toán pháp lệnh, đạt mức tăng trưởng bình quân 22% năm [59].
Tỷ lệ động viên thu NSNN qua các năm đều có sự bứt phá trong suốt giai đoạn 2001 – 2010. Nếu tính chung, tỷ lệ động viên bình quân trong cả thời kỳ thì giai đoạn 2001 – 2010 tỷ lệ động viên thu NSNN đạt 24,57%, cao hơn rất nhiều so với giai đoạn 1996 – 2000 (20,7%) [59].
Biểu đồ 3.4: Tỷ trọng thu NSNN so với GDP của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010
Như vậy, sự chuyển dịch về quy mô và tỷ lệ động viên thu NSNN trong giai đoạn 2001 – 2010 cho thấy xu hướng chuyển dịch tăng nhanh về quy mô thu NSNN và tỷ lệ động viên nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính góp phần thực hiện các mục tiêu của Quốc gia trong cả giai đoạn 2001 – 2010.
Cơ cấu thu NSNN giai đoạn 2001 – 2010 đã chuyển dịch theo hướng tích cực, đảm bảo nguồn thu ngày càng tăng lên để phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chi tiêu cơ bản của Nhà nước. Cơ cấu và chính sách thu NSNN đã có hướng chuyển dịch theo sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế, đồng thời tác động đến thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thông qua việc ưu đãi miễn, giảm thuế TNDN, tiền sử dụng đất,… chính sách thuế đã khuyến khích các dự án đầu tư vào ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ; đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; từ đó tăng tỷ trọng sản phẩm công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP), … điều đó đã góp phần tăng nhanh số thu NSNN và làm thay đổi đáng kể cơ cấu thu NSNN.
Mặt khác, chính sách thu NSNN đã được chuyển dịch theo hướng tăng cơ cấu thu trong nước, giảm cơ cấu nguồn thu ngoài nước. Điều đó thể hiện sự dịch chuyển tích cực cơ cấu thu NSNN do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mức độ phát triển KTXH trong từng giai đoạn.
Bảng 3.4: Cơ cấu thu NSNN giai đoạn 2001 – 2010
Như vậy, trong giai đoạn 2001 – 2010, mục tiêu chính sách thu NSNN đã được xác định rõ ràng theo hướng tập trung nguồn lực tài chính để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển KTXH; cơ cấu thu NSNN đã được điều chỉnh phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo xu hướng mở cửa và giảm tỷ trọng các nguồn thu chịu tác động bởi những yếu tố bên ngoài, tăng thu nội địa, động viên các nguồn thu sát với các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển.
Về chính sách chi NSNN
Giai đoạn 2001 – 2010 do quy mô thu NSNN tăng cao nên quy mô chi NSNN cũng có điều kiện tăng nhanh. Quy mô chi NSNN tăng đã đáp ứng được nhu cầu thực hiện các mục tiêu phát triển KTXH của nước ta trong từng thời kỳ. Mức chi bình quân so với GDP đã tăng từ mức 28,57% giai đoạn 2001 – 2005 lên 29,73% giai đoạn 2006 – 2010. Nếu năm 2001 quy mô chi NSNN mới đạt khoảng 129.773 tỷ đồng thì năm 2006 đạt 385.666 tỷ đồng và 2010 quy mô chi NSNN đã tăng 850.874 tỷ đồng.
Trong vòng 10 năm tổng chi NSNN đã tăng khoảng 5 lần. Tổng chi NSNN đã tăng từ 24,3% GDP trong giai đoạn 1991 – 2000 lên 29% GDP giai đoạn 2001 – 2010. Tốc độ tăng chi NSNN qua từng năm cũng đạt mức khá cao, nếu năm 2001 mức tăng chi đạt 19,10% so với năm 2000, thì các năm sau đã tăng nhanh, lần lượt là: 22,25% (2003); 22,65% (2005); 23,61% (2007); 23,97% (2009); và năm 2010 tăng 15,60% so với năm 2009 [59].
Khái quát tình hình chi NSNN giai đoạn 2001 – 2010 ở đồ thị sau:
Biểu đồ 3.5: Quy mô chi NSNN giai đoạn 2001-2010
Cùng với việc tăng quy mô và tốc độ chi NSNN, tỷ lệ chi NSNN so với GDP cũng đạt mức cao. Tỷ trọng chi NSNN so với tổng GDP giai đoạn 2001 – 2010 đều chiếm trên 25%, đặc biệt các năm từ 2008 – 2010 tỷ lệ này trên 30% đến 35%, năm 2009 là 35%, năm 2008 xấp xỉ 32% [2]. Tỷ lệ này cho thấy vai trò của Nhà nước trong hoạt động điều hành nền kinh tế thể hiện qua chi NSNN cho nền kinh tế là rõ nét, Nhà nước đảm bảo vai trò chủ đạo trong đầu tư vào các lĩnh vực mà các khu vực khác không thể làm hoặc không muốn làm.
Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ chi NSNN so với GDP giai đoạn 2001 – 2010
Đặc biệt, nhìn vào đồ thị ta thấy tỷ lệ chi NSNN so với GDP có xu hướng tăng nhanh. Nếu năm 2001 tỷ lệ chi NSNN mới đạt gần 27% GDP thì năm 2009 đã tăng lên 34,29% GDP. Năm 2010 tỷ lệ này tuy có giảm đi so với năm 2009 nhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao là 31,88% GDP. Điều này cho thấy, Chính phủ đã chú trọng tăng quy mô chi để thực hiện các nhiệm vụ KTXH trong giai đoạn 2001 – 2010.
Về chính sách bội chi và vay nợ:
Việc thực hiện gói kích thích kinh tế quy mô lớn trong một thời gian ngắn cũng có tác động tiêu cực đến các mục tiêu dài hạn của kinh tế vĩ mô. Trước hết, việc chi ra những gói kích thích kinh tế quy mô lớn dồn dập trong 1-2 năm làm tăng chi (mặc dù đã có những biện pháp giảm chi tiêu công), tăng bội chi NSNN. Các chỉ tiêu về bội chi NSNN năm 2009 và 2010 đều ở mức rất cao (6,9% và trên 6,5%); nợ Chính phủ (nợ công) trong đó có nợ nước ngoài tăng rất nhanh và đã đến ngưỡng báo động phải kiểm soát.
Đáng chú ý trong cân đối NSNN những năm qua là mức bội chi NSNN giai đoạn này cao hơn thời kỳ 1991 – 2000, đạt mức trung bình trên 5%/năm và có xu hướng tăng cao trong 3 năm: 2007, 2008, 2009 (xem Biểu đồ 3.7).
Biểu đồ 3.7: Bội chi Ngân sách và nguồn bù đắp bội chi giai đoạn 2000 – 2010
Xét về tốc độ tăng bội chi, ta thấy xu hướng những năm cuối thời kỳ tốc độ tăng khá cao, đạt 18%/năm, cao hơn nhiều so với tốc độ TTKT và tỷ lệ lạm phát. Đây chính là yếu tố tác động tiềm tàng từ việc thực hiện CSTK mở rộng đến tình hình kinh tế vĩ mô, là nguyên nhân quan trọng dẫn đến lạm phát tăng cao và nợ công ở mức báo động.
Xét về quy mô nợ công, theo The Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm 2001 mới là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh số nợ công xấp xỉ 144 USD. Nhưng tính đến hết năm 2010, nợ công đã tăng lên 55,2 tỷ USD, tương đương 54,3% GDP và hiện tại, Việt Nam được xếp vào nhóm nước có mức nợ công trên trung bình. Như vậy, trong vòng 10 năm từ 2001 đến 2010, quy mô nợ công đã tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15% mỗi năm.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, nợ công Việt Nam năm 2007 chiếm khoảng 33,8% GDP, năm 2008 chiếm 36,2% GDP, năm 2009 chiếm 41,9% GDP, năm 2010 chiếm 52,6% GDP và năm 2011 chiếm 58,7% GDP. Còn theo đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nợ công Việt Nam tăng từ 31,7% GDP năm 2001 lên 42,2% GDP năm 2005, đạt 52,7% GDP năm 2010. Tính trong giai đoạn 2007 – 2010, nợ công Việt Nam đã tăng khoảng 25%, đạt mức tăng trung bình 5%/năm. Tính theo tốc độ tăng trung bình, đến năm 2019, dự báo nợ công Việt Nam sẽ đạt mức 100% GDP. Nợ công tăng cao khiến thâm hụt ngân sách của Việt Nam luôn ở mức lớn, dừng ở mức -5,8% GDP năm 2010 theo đánh giá của Bộ Tài chính, và ở mức -6% năm 2010 theo đánh giá của IMF [2].
Xét việc thực hiện CSTK nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:
Dấu ấn nổi bật của việc điều hành và thực thi CSTK trong giai đoạn này thông qua chính sách thuế được thể hiện trên những nét nổi bật:
- Thực hiện giảm thuế quan theo cam kết với các nước ASEAN và đặc biệt là theo cam kết khi gia nhập WTO theo đúng lộ trình đã ký kết. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
- Trong nội địa: Tiến hành điều chỉnh giảm thuế TNDN từ 32% xuống 28% và xuống 25%… Đặc biệt là đã có sự thống nhất mức thuế giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI, tạo ra sự bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, hoàn thiện môi trường đầu tư thúc đẩy TTKT; Điều chỉnh giảm thuế suất thuế GTGT của một số mặt hàng từ 10% xuống 5% để giảm bớt khó khăn cho các DN khi kinh tế rơi vào suy thoái [25]; Điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu và thuế TTĐB một số mặt hàng nhạy cảm như: xăng dầu, sắt thép, xi măng, ô tô, xe máy, vàng… để góp phần bình ổn giá cả thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô. Tiếp tục rà soát và cắt giảm nhiều loại phí và lệ phí tạo điều kiện giảm chi phí cho các DN.
Biểu đồ 3.9: Ảnh hưởng của CSTK đến tốc độ tăng trưởng của Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010
Có thể thấy rằng, CSTK thời kỳ 2001 – 2010 đã được chính phủ điều hành một cách linh hoạt tùy theo sự biến động của tình hình KTXH. Giai đoạn đầu tiên được điều chỉnh nới lỏng với những chương trình tăng chi NSNN để thúc đẩy đầu tư được thực hiện mạnh vào những năm 2005 – 2007 nhằm tranh thủ sự thuận lợi của tình hình kinh tế thế giới và trong nước. Tuy nhiên, đến cuối năm 2007 và đầu năm 2008 trở đi, trước tình hình diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới, bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính của nước Mỹ, sau đó lan rộng ra Châu Âu và toàn thế giới, cùng với những khó khăn và những yếu kém bất ổn trong nội tại của nền kinh tế Việt Nam đã làm cho lạm phát bùng phát vào 6 tháng đầu năm 2008, nguy cơ mất ổn định và suy thoái kinh tế. Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã quyết liệt triển khai và thực hiện 8 giải pháp của Chính phủ để kiềm chế lạm phát ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó chủ yếu là kiên quyết thực hiện CSTK và CSTT thắt chặt. Đồng thời, các mục tiêu kinh tế vĩ mô cũng được điều chỉnh và xác định rõ ràng là “kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế, bảo đảm tốc độ tăng trưởng”. Thực hiện CSTK thắt chặt, Chính phủ đã có một loạt biện pháp cắt giảm chi tiêu công.
Cụ thể, năm 2008, Chính phủ đã cam kết và có biện pháp cụ thể cắt giảm 2.700 tỷ đồng chi thường xuyên và 5.992 tỷ đồng chi ĐTPT. Mục tiêu hoạt động của CSTK là cắt giảm chi tiêu 10% so với dự toán. Bên cạnh cắt giảm chi tiêu chính phủ, tiết kiệm chi thường xuyên trong các đơn vị thụ hưởng vốn NSNN, Chính phủ còn yêu cầu các NHTM nhà nước chuyển trả hơn 50.000 tỷ đồng vốn dự trữ của KBNN mà kho bạc đã chuyển sang cho các ngân hàng kinh doanh trong suốt hơn 10 năm qua, qua đó để giảm khối lượng tiền trong lưu thông. Mặt khác, Chính phủ còn yêu cầu các Tập đoàn kinh tế Nhà nước, các tổng công ty thực hiện cắt giảm chi đầu tư XDCB, tiết giảm chi phí SXKD. Chủ trương của chính phủ đã được các Tập đoàn, các Tổng công ty nghiêm túc chấp hành, có những đơn vị đã cắt giảm chi XDCB hàng nghìn tỷ đồng, như: Tập đoàn Dầu khí cắt giảm hơn 6.000 tỷ, Tập đoàn Bưu chính viễn thông hơn 1.000 tỷ,… Với các giải pháp cấp bách và quyết liệt của Chính phủ, sự ủng hộ và đồng thuận của các ngành các cấp, sự ủng hộ của nhân dân, hiệu quả của CSTK và CSTT thắt chặt của Chính phủ đã có kết quả cụ thể: Lạm phát bị đẩy lùi và bị chặn đứng vào những tháng cuối năm 2008, giá cả trở lại ổn định, chỉ số CPI đứng ở mức thấp. Có thể thấy rằng mục tiêu kiềm chế lạm phát của Chính phủ bước đầu đã được thực hiện.
Đến cuối năm 2008, mục tiêu của chính phủ trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô và CSTK thắt chặt về cơ bản đã được thực hiện. Tuy nhiên, do ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế quốc tế, mặc dù lạm phát được kiềm chế và đẩy lùi, nhưng nền kinh tế lại rơi vào tình trạng trì trệ, suy thoái, tốc độ TTKT bị chặn đứng, hàng loạt các DN rơi vào tình trạng khó khăn do bị cắt hợp đồng, bị thiếu vốn kinh doanh, chi phí đầu vào tăng cao do lãi suất ngân hàng tăng lên đến trên 20%, các yếu tố đầu vào tăng cao bất thường do giá quốc tế tăng,…Trong tình thế đó, để thoát khỏi khủng hoảng và suy thoái, không thể thực hiện CSTK thắt chặt như trước được nữa, vì như thế sẽ đẩy nền kinh tế chìm sâu vào suy thoái và khủng hoảng. Do vậy, Chính phủ đã quyết đoán bẻ ngoặt CSTK từ thắt chặt sang CSTK và CSTT mở rộng nhằm ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ASXH (Nghị quyết 30/2008/NQ-CP, ngày 11/12/2008), thì gần như ngay lập tức các giải pháp cấp bách đã được triển khai một cách kiên quyết, kịp thời và đủ độ phát huy hiệu quả. Trong đó, một gói kích thích kinh tế trị giá 17.000 tỷ đồng (tương đương 1tỷ USD) đã được triển khai ngay từ đầu năm 2009 và nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của toàn bộ nền KTXH. Đây thực sự là dấu ấn nổi bật trong điều hành CSTK của Chính phủ trong năm 2009 và cả thời kỳ này.
Gói kích thích kinh tế thứ 2 trị giá khoảng 7 tỷ USD được triển khai từ ngày 21/4/2009 đến 31/12/2011 để tiếp tục hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp vay vốn trung và dài hạn, mở rộng thêm các đối tượng thụ hưởng, bổ sung các giải pháp hỗ trợ sản xuất kinh doanh, mở rộng đầu tư XDCB…Như vậy với 2 gói kích thích kinh tế, Nhà nước đã quyết định chi chương trình kích cầu 160.000 tỷ đồng (hơn 8 tỷ USD). Hai biện pháp dường như trái chiều này đã được thực hiện khá thành công trên thực tế và đã góp phần đáng kể vào việc bình ổn kinh tế vĩ mô, chống suy giảm TTKT trong các năm 2009 – 2010. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Gói kích thích kinh tế 160.000 tỷ đồng là kinh nghiệm đầu tiên có quy mô lớn được sử dụng ở Việt Nam. Đây không phải là một khoản chi NSNN thông thường mà là một khoản chi có mục tiêu nhằm kích thích kinh tế, bình ổn kinh tế vĩ mô. Gói kích thích kinh tế được thực hiện kéo dài từ 2008 đến 2010 cho các đối tượng thụ hưởng là DN và dân cư nằm trong đối tượng của chính sách. Gói kích kích thích kinh tế này được phân bổ cho các mục đích chi như sau: (xem bảng số 3.4).
Bảng 3.5: Gói kích thích kinh tế công bố tháng 5 năm 2009
Như vậy, ta thấy, trong gói kích thích kinh tế chỉ có 4 khoản đầu tiên, chiếm 38,7% là mang tính chất “chi ròng” từ NSNN cho doanh nghiệp và dân cư. 61% gói kích cầu còn lại là mang tính chất điều chuyển nghiệp vụ của chi NSNN từ dài hạn sang ngắn hạn hoặc từ năm này sang năm khác, không phải cân đối nguồn tài chính trong dài hạn.
Đến nay, có cơ sở để nhận xét rằng, các biện pháp CSTK đặc biệt là gói kích thích kinh tế của Chính phủ Việt Nam vừa qua đã có hiệu ứng rất mạnh. Ví dụ, gói hỗ trợ lãi suất 17.000 tỷ đồng có hiệu ứng đòn bẩy kích thích tín dụng sản xuất kinh doanh lên 25 lần, tức là bảo đảm một lượng tín dụng được kích thích lên đến 425 nghìn tỷ đồng. Trên thực tế, tính đến cuối năm 2009, theo số liệu của NHNN, đã có 446.952 tỷ đồng dư nợ tín dụng được hỗ trợ lãi suất, chiếm 80% số đối tượng được thụ hưởng ưu đãi của chính sách. Gói hỗ trợ lãi suất cùng với biện pháp miễn giảm thuế đã có tác dụng duy trì nguồn vốn cho doanh nghiệp trước biến động của khủng hoảng và cơn sốt tăng chi phí vốn, góp phần đáng kể giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, bảo đảm ổn định sản xuất, việc làm, ổn định kinh tế vĩ mô. Với gói kích thích kinh tế hỗ trợ lãi suất của Chính phủ trong năm 2009, theo báo cáo khảo sát của các địa phương và Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), việc thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất đã đạt được mục tiêu là tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hộ sản xuất giảm chi phí vay vốn khoảng 30 – 40%, giảm giá thành từ 2,5 – 6%, duy trì được sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động. Cũng nhờ đó, khoảng 9,1% DNNVV duy trì được sản xuất kinh doanh [2].
Bên cạnh gói hỗ trợ lãi suất, đối với chi đầu tư XDCB, Bộ Tài chính đã cải cách quy trình kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư, tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn FDI và ODA, cho phép ứng trước NSNN nhằm giải quyết vấn đề giải ngân, tạo vốn cho các đơn vị. Trong năm 2009, Bộ Tài chính đã thông báo ứng trước 31.393 tỷ đồng cho các Bộ, cơ quan Trung ương, các địa phương nhằm phục hồi và phát triển kinh tế.
Như đã phân tích ở trên, gói kích thích kinh tế tập trung chủ yếu cho việc bù lãi suất cho vay của các ngân hàng, mở rộng đối tượng được tài trợ lãi suất 4% cho tất cả các dự án đầu tư mới với thời hạn 2 năm; miễn, giảm và giãn thuế cho đối tượng chịu thuế; tăng chi ngân sách, đẩy mạnh trợ cấp thất nghiệp. Ngoài ra, Chính phủ còn thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ: điều chỉnh hạ lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở (OMO); tiếp tục cơ cấu lại nợ và lãi suất cho vay; điều chỉnh giá theo nguyên tắc thị trường để thực hiện mục tiêu hỗ trợ lãi suất cho các DN…. Việc triển khai thực hiện vốn kích cầu của Chính phủ khá kịp thời, đã tạo ra “cú hích” cho nền kinh tế đang trong tình trạng trì trệ và suy giảm, đem lại những kết quả tích cực bước đầu. Về cơ bản, kích cầu của Chính phủ đã tác động đúng vào các đối tượng, nhất là các chính sách bảo đảm ASXH, hỗ trợ người nghèo, cho đồng bào ở vùng sâu, vùng xa…
Bên cạnh những mặt tích cực, gói kích thích kinh tế cũng còn tồn tại một số hạn chế. Chính sách bù lãi suất mang tính bình quân không tạo cơ hội để tái cấu trúc lại nền kinh tế, giảm bớt những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Việc thực hiện miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp cũng chưa sát theo tinh thần Nghị quyết số 21/2008/QH 12 của Quốc hội, vì các doanh nghiệp được miễn, giảm lại là những doanh nghiệp có thu nhập, không thuộc đối tượng gặp khó khăn cần miễn, giảm thuế, còn các doanh nghiệp gặp khó khăn thực sự lại không có thu nhập để được miễn, giảm. Mặt khác, việc miễn, giảm bình quân 30% thuế TNDN và giãn thời hạn nộp 9 tháng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng là một sự công bằng đối với DN gặp khó khăn và DN không gặp khó khăn. Kết quả là, ngân sách thì giảm thu, nhưng mục tiêu hỗ trợ DN khó khăn lại bị hạn chế. Hoặc nhiều ý kiến cho rằng, số vốn ứng trước ngân sách và chuyển nguồn vốn đầu tư quá lớn (37.200 tỷ đồng năm 2009), trong đó vốn ứng trước cho các dự án có khả năng hoàn thành trong năm 2009-2010 là 26.700 tỷ đồng, cũng tác động không tốt đến an ninh tài chính quốc gia. Việc cho ứng trước ngân sách để thực hiện đầu tư sẽ đẩy ra thị trường lượng vốn lên khá lớn, gây khó khăn cho việc thực hiện CSTT và nguy cơ lạm phát cao.
3.2.3. Giai đoạn 2011 – 2017 Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Trong giai đoạn 2011 – 2017, chính sách thu đã đi theo hướng tập trung tháo gỡ khó khăn cho SXKD, thúc đẩy TTKT thông qua việc thực hiện miễn, giảm, gia hạn thời hạn nộp thuế và một số khoản thu NSNN. Bên cạnh đó, công tác rà soát và hoàn thiện hệ thống chính sách thuế theo hướng giảm thuế suất (như thuế TNDN sửa đổi năm 2013), tăng mức giảm trừ cho bản thân và người phụ thuộc (thuế TNCN sửa đổi năm 2012)… đã góp phần giảm gánh nặng về thuế đối với các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân. Ngoài ra, việc tăng cường quản lý thuế cũng đã đem lại kết quả thu NSNN tích cực.
Về chính sách thu NSNN:
Để tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, thu hút nhiều hơn vốn đầu tư, đồng thời góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng thấp, chính sách thu NSNN trong giai đoạn 2011 – 2017 đã điều chỉnh lại theo hướng giảm động viên, thực hiện miễn, giảm, giãn các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu NSNN. Mặc dù vậy, quy mô thu NSNN giai đoạn này vẫn tăng trưởng khá, bằng gần hai lần giai đoạn 2006 – 2010 và hơn năm lần giai đoạn 2001 – 2005. Tỷ lệ huy động thu NSNN bình quân đạt 23,4% GDP (đạt mục tiêu 23 – 24% GDP của CLTC), trong đó tỷ lệ huy động từ thuế, phí đạt 21,6% GDP (khá sát với mục tiêu 22 – 23%) [59].
Cơ cấu thu đã có chuyển biến tích cực trong đó thu nội địa tăng mạnh, tỷ trọng thu nội địa bình quân giai đoạn đã tăng từ 58,9% (giai đoạn 2006 – 2010) lên khoảng 68% (giai đoạn 2011 – 2016), do nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng dương và duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức hợp lý để thúc đẩy TTKT. Thu nội địa trong tổng thu NSNN từ mức 61,5% năm 2011 đến 2015 tăng lên 75% và 79% vào 2016 và dự toán 2017 sẽ chiếm 81,7% [59].
Tỷ lệ huy động từ thuế, phí vào NSNN bình quân khoảng 21% GDP, khá sát với kế hoạch đề ra (không quá 22% – 23%), xấp xỉ mức động viên của giai đoạn 2001 – 2005 (khoảng 22% GDP) và thấp hơn giai đoạn 2006 – 2010 (24,8% GDP). Mặt khác, thu từ dầu thô cũng theo chiều hưởng giảm tỷ trọng trong tổng
thu NSNN. Nếu năm 2011, khoản thu này chiếm tỷ lệ 15,3% thì đến năm 2016 chỉ còn 3,6% và dự toán 2017 chỉ còn 3,2%, như vậy, chỉ bằng 50% tổng thu của thuế TNCN. Tỷ trọng từ thu thuế XNK cũng giảm từ mức 21,6% năm 2011 xuống 15,7% năm 2016 và dự toán 2017 còn 14,8% [55].
Biểu đồ 3.10: Cơ cấu thu NSNN giai đoạn 2011-2017
Cơ cấu thu theo các sắc thuế cũng có sự thay đổi: Tỷ lệ thuế gián thu có xu hướng tăng dần (giai đoạn 2001 – 2005 khoảng 46%; giai đoạn 2006-2010 khoảng 50%; giai đoạn 2011 – 2015 khoảng 54%) nhưng chậm so với quy mô phát triển của nhiều dịch vụ.
Tỷ trọng thuế trực thu tuy có giảm do chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) nhưng cũng cho thấy, hiệu quả của nền kinh tế được cải thiện. Cơ cấu các khoản thu giữa NSTW và ngân sách địa phương (NSĐP) được phân định rành mạch theo quy định của Luật NSNN, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tại địa phương và khuyến khích các địa phương tăng cường quản lý thu thuế.
Về chính sách chi NSNN:
Trong giai đoạn này, chính sách chi tiếp tục được thực hiện theo hướng chặt chẽ, hiệu quả, tiết kiệm. Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, việc rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách chi NSNN đã được đưa ra, cùng với đó là việc tiết kiệm ngân sách đã được áp dụng triệt để. Theo đó, trong những năm gần đây, mặc dù khó khăn trong khai thác nguồn thu, nhưng NSNN vẫn đảm bảo nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ chi đề ra, đảm bảo tỷ lệ chi NSNN đối với một số lĩnh vực theo các nghị quyết của Quốc hội và quyết định của Chính phủ.
Ngoài ra, ngành tài chính cũng tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định về quản lý và sử dụng nguồn NSNN trong một số lĩnh vực, nội dung như hướng dẫn lồng ghép các nguồn vốn thực hiện Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn các huyện…
Chi tiêu của Chính phủ so với GDP vẫn duy trì ở mức cao. Tổng chi NSNN (bao gồm cả chi từ nguồn trái phiếu) bình quân chiếm 29,2% GDP trong giai đoạn 2011 – 2017, là mức cao so với khu vực và các quốc gia có mức phát triển tương đương [62].
Cơ cấu chi thay đổi theo hướng chi thường xuyên chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Tỷ lệ so sánh giữa chi thường xuyên và đầu tư là khoảng 70:30 trong thời kỳ 2011 – 2015, cao hơn so với tỷ lệ 63:37 của thời kỳ 2006 – 2010. Chi thường xuyên tăng chủ yếu là do tăng chi để thực hiện các chính sách mới về ASXH, chi lương và phụ cấp và chi trả lãi các khoản vay, xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào ở các xã đặc biệt khó khăn, miền núi vùng sâu, vùng xa… Tổng chi cho giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, sự nghiệp bảo vệ môi trường tiếp tục được đảm bảo theo các nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước. Chi trả nợ được đảm bảo đầy đủ đối với các khoản vay đến hạn, các khoản nợ nước ngoài (cả gốc và lãi); đối với nợ trong nước, từ năm 2012 đảm bảo chi trả lãi và trả một phần nợ gốc, đồng thời thực hiện vay đảo nợ. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Mặc dù giảm tỷ trọng chi đầu tư trong tổng chi tiêu NSNN, nhưng vẫn được duy trì ở mức cao so với khu vực và thế giới. Nếu so với tổng đầu tư toàn xã hội, chi đầu tư từ NSNN chiếm khoảng 29,1% trong giai đoạn 2011 – 2017, tăng nhẹ so với mức 28,4% của thời kỳ 2006 – 2010 [62].
Biểu đồ 3.11: Cơ cấu chi NSNN giai đoạn 2011 – 2017
Xét về cơ cấu chi NSNN, tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi NSNN có xu hướng tăng dần, từ 50,4% tổng chi NSNN năm 2005 lên mức 61,7% năm 2012 (không kể chi chuyển nguồn), trong đó chi cho lương và các khoản phụ cấp, đóng góp theo lương chiếm khoảng 50% tổng chi thường xuyên và 30% tổng chi NSNN. Điều này cho thấy, kết quả của quá trình cải cách hành chính, cụ thể là chính sách tinh giản biên chế chưa được như mong đợi. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nên nhu cầu chi cho đảm bảo ASXH, chi hỗ trợ đối tượng chính sách, đối tượng nghèo vẫn tăng lên. Tuy nhiên, nhiều chính sách an sinh xã hội còn trùng lắp, chi sự nghiệp trong cơ cấu chi của một số Chương trình mục tiêu quốc gia có xu hướng tăng lên… đã ảnh hưởng đến hiệu quả chi NSNN.
Xét về quy mô vốn đầu tư, đầu tư của khu vực nhà nước và đầu tư từ NSNN luôn tăng. Tuy nhiên, nếu so sánh quy mô vốn đầu tư bình quân của giai đoạn trước so với giai đoạn sau cho thấy xu hướng tăng đã giảm đi rõ rệt. Cụ thể: vốn đầu tư khu vực nhà nước bình quân giai đoạn 5 năm trước so với giai đoạn 5 năm sau trong thời kỳ 1986 – 2010 (giai đoạn 1991 – 1995 so với giai đoạn 1986 – 1990; giai đoạn 1996 – 2000 so với giai đoạn 1991 – 1995; giai đoạn 2000 – 2005 so với giai đoạn 1996 – 2000; giai đoạn 2006 – 2010 so với giai đoạn 2001 – 2005) lần lượt là 13,5 lần; 3,9 lần; 2 lần; 1,9 lần. Đối với vốn đầu tư từ NSNN, khi so sánh quy mô vốn bình quân từng giai đoạn 5 năm trong cùng thời kỳ như trên cũng cho thấy xu hướng giảm lần lượt là 10,2 lần; 3,3 lần; 2,3 lần; 2,1 lần [60].
Về chính sách cân đối NSNN và vay nợ:
Giai đoạn 2011 – 2017, kinh tế thế giới do tác động của cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp, bất ổn chính trị trên thế giới… khiến các DN lâm vào tình trạng khó khăn. Do vậy, CSTK giai đoạn này đã được điều hành theo hướng chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, hiệu quả và tháo gỡ khó khăn cho DN (năm 2012 và 2013), giảm nợ xấu, giúp DN quay vòng nhanh sản xuất, kinh doanh.
Trong giai đoạn này, thâm hụt NSNN ngày càng lớn với tốc độ bội chi năm 2012 tăng lên tới 55% so với năm 2011, tương ứng với mức bội chi tăng từ 4,4% GDP năm 2011 lên 5,36% GDP năm 2012, vượt xa mức dự toán là 4,8% GDP. Năm 2015, tình hình kinh tế vĩ mô có dấu hiệu khả quan, Quốc hội đã thông qua dự toán ngân sách năm 2015 với mức bội chi giảm xuống còn 5% GDP, tuy nhiên trong quyết toán thu-chi NSNN của Bộ Tài chính mức bội chi vẫn vượt khá xa, cụ thể là 6,28% [62]. Như vậy, mặc dù chi NSNN đã từng bước được thắt chặt, tốc độ tăng chi giảm dần, thậm chí quy mô chi đầu tư giảm cả về số tuyệt đối nhưng thâm hụt ngân sách vẫn liên tục xảy ra và ở mức cao so với mục tiêu đặt ra.
Trong giai đoạn 2011 – 2017, tỉ lệ thâm hụt ngân sách ở Việt Nam luôn nằm ở ngưỡng trên dưới 5.5% GDP và có xu hướng không ổn định. Đây là một tỉ lệ rất cao và bị xem là đáng báo động [62].
Biểu đồ 3.12: Tình hình thu, chi, thâm hụt và bội chi NSNN Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017
Cân đối NSNN giai đoạn 2011 – 2017 gặp nhiều khó khăn do tác động tiêu cực từ kinh tế thế giới và trong nước, ảnh hưởng đến nguồn thu NSNN, trong khi nhu cầu chi tăng lớn, dẫn đến bội chi NSNN cao hơn mức Quốc hội cho phép. Mức huy động vốn từ phát hành TPCP trong thời gian qua đã tăng lên đáng kể, điều này sẽ gây sức ép trả nợ sau này ngày càng lớn. Việc điều chỉnh tăng bội chi NSNN trong năm 2013 – 2014 để hỗ trợ cho tổng cầu trong ngắn hạn là cần thiết, song không thể kéo dài. Bội chi NSNN ngày càng tăng về quy mô và tỷ trọng so với GDP trong điều kiện hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ NSNN chưa cao dễ tác động bất lợi tới an ninh tài chính quốc gia. Theo đó, giảm bội chi NSNN đang là yêu cầu đặt ra đối với việc điều hành CSTK trong thời gian tới. Tuy nhiên, cho đến nay, việc xử lý bội chi NSNN vẫn là một bài toán không đơn giản đối với Việt Nam.
Bên cạnh việc phát hành TPCP để bù đắp cho bội chi NSNN ngày càng tăng còn phát hành TPCP để đầu tư các công trình giao thông, thủy lợi, y tế,… Tuy nhiên, các khoản này hiện chưa được đưa vào cân đối ngân sách nhưng vẫn được tính vào mức dư nợ Chính phủ. Do đó, đã tác động đến mức dư nợ của Chính phủ. Trong cơ cấu nợ công thì nợ Chính phủ đang chiếm tỷ trọng lớn nhất và nợ Chính phủ của Việt Nam có tỷ lệ tương đối cao so với nhiều nước đang phát triển. Nợ Chính phủ tăng tác động lên nợ công của Việt Nam.
Biểu đồ 3.13: Tỷ lệ nợ công so với GDP giai đoạn 2011-2017
Tỷ lệ nợ công của Việt Nam những năm gần đây đang có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt kể từ năm 2011. Theo bản tin nợ công số 5 năm 2017, trong khoảng thời gian 2010 – 2015, nợ công Việt Nam đã tăng gần 3 lần. Đến cuối năm 2015, dư nợ công lên đến 2608 nghìn tỷ đồng; tỷ lệ nợ công/GDP ở mức 62,2%, áp sát mức trần 65% mà Quốc hội cho phép. Tới cuối năm 2016, nợ công đã lên tới 63,6% GDP. Từ 2011 – 2016, tỉ lệ nợ chính phủ/GDP đã tăng từ 39,3% đến 52,7% [55].
Bảng 3.6: Gánh nặng nợ công Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017
Về quy mô nợ công, trong giai đoạn 2011 – 2017, quy mô huy động từ vay nợ đạt bình quân 14% GDP, chiếm khoảng 44% vốn đầu tư toàn xã hội, với tốc độ tăng bình quân 19%/năm. Về tỷ lệ nợ công trên GDP, nếu năm 2001 là 36,5% thì đến năm 2016 đã là 63,6% GDP, năm 2017 tỷ lệ này còn 61,3%. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Nghĩa vụ trả nợ công so tổng thu NSNN dự báo có xu hướng tăng mạnh thời gian tới. Bên cạnh đó, trong tương lai, điều kiện vay nước ngoài sẽ khó khăn hơn do tính chất ưu đãi của các khoản vay đang có xu hướng giảm khi Việt Nam không còn là nước thu nhập thấp. Việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi sẽ khó khăn hơn và chắc chắn sẽ phải trả chi phí cao hơn nếu chuyển sang các nguồn vốn vay thương mại. Điều này đòi hỏi Chính phủ xây dựng và thực hiện một chiến lược quản lý nợ công toàn diện, có chất lượng, đảm bảo tính bền vững để nợ công không trở thành gánh nặng cho tăng trưởng và phát triển của đất nước.
Ngoài ra, trong khi đầu tư tư nhân chưa được cải thiện nhiều, nếu căn cứ vào mức tăng vốn đầu tư khu vực tư nhân và mức tăng trưởng tín dụng trong quý I/2014. Trong khi đó, vốn đầu tư thuộc NSNN, vốn TPCP quý I/2014 đạt thấp so với cùng kỳ 2013 lần lượt là 2,3% và 14,8%. Tiến độ thực hiện chi NSNN, đặc biệt là chi ĐTPT so với dự toán đạt thấp và giảm 4,9% so với cùng kỳ 2013. Ngoài ra, tỷ lệ chi trả nợ, viện trợ hiện đã chiếm 12,8% tổng chi NSNN và chiếm 14,8% tổng thu NSNN, cho thấy việc vay mới đã phải dành một phần để trả nợ cũ.
Biểu đồ 3.14: Tỷ lệ nợ công và nợ chính phủ so với GDP giai đoạn 2010 – 2017
Tính đến 31/12/2013, dư nợ công bằng 55,2% GDP, dư nợ Chính phủ bằng 43,2% GDP, dư nợ nước ngoài bằng 39% GDP, thì đến 31/12/2015 nợ công bằng 62,2% GDP, dư nợ chính phủ bằng 50,3% GDP, dư nợ nước ngoài bằng 43,1% GDP. Nhìn vào con số thì thấy rằng nợ công và nợ nước ngoài nằm trong giới hạn quy định (Theo Chiến lược Tài chính quốc gia đến năm 2020 thì nợ công đến năm 2015 không được vượt quá 65% GDP, nợ nước ngoài quốc gia không được vượt quá 50% GDP), nợ chính phủ vượt 0,3% [55].
Khi nợ công tăng nhanh thì hậu quả sẽ làm giảm uy tín của Chính phủ, một mặt Chính phủ sẽ gặp khó khăn trong vay nợ, hạn chế đầu tư, làm giảm tổng cầu. Mặt khác, nợ công tăng, Chính phủ sẽ phải đi vay với lãi suất cao, khi đó sẽ có tác dụng chèn ép đầu tư tư nhân, qua đó cũng tác động làm giảm tổng cầu và giảm cả tổng cung, ảnh hưởng đến TTKT.
Xét việc thực hiện CSTK nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:
Với những điều chỉnh trong CSTK thời gian qua, tình hình kinh tế đã có những chuyển biến tích cực. Tình hình TTKT của Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2017 bình quân đạt khoảng 5,91%, mặc dù có thấp hơn so với mục tiêu 6,5% – 7%, tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam và thế giới đang gặp nhiều khó khăn, thách thức thì đây là mức tăng khá cao. Đặc biệt, Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng 6,68% năm 2015, là mức cao nhất trong vòng 8 năm qua. Năm 2016, tăng trưởng kinh tế giảm còn 6,21% chủ yếu là do ảnh hưởng của giá dầu và tăng trưởng thương mại thấp và năm 2017 mức tăng trưởng được dự báo ở mức 6,7% [55].
Trong suốt giai đoạn 1991 – 2017, CSTK được thực hiện hết sức linh hoạt, bám sát vào tình hình biến động của nền kinh tế trong từng giai đoạn. CSTK được điều chỉnh linh hoạt theo các hướng: nới lỏng, thắt chặt, … để thực hiện các mục tiêu giữ ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát. Bên cạnh đó, Nhà nước đã tăng cường phối hợp CSTK và CSTT trong điều hành kinh tế nhằm tăng cường tính thống nhất, hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế vĩ mô, ứng phó kịp thời hiệu quả với các biến động KTXH trong và ngoài nước trong từng thời kỳ, thực hiện mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, hướng đến TTKT bền vững.
3.3. KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Các lý thuyết kinh tế cũng như quá trình nghiên cứu về thực trạng nền kinh tế Việt Nam đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa CSTK và tăng trưởng kinh tế trong suốt các giai đoạn phát triển cho tới nay. Tuy nhiên, để thấy rõ hơn những tác động của CSTK tới TTKT Việt Nam thì rất cần thiết phải chỉ ra những tác động mang tính định lượng rõ ràng và mô hình kinh tế lượng sẽ là một trong những công cụ thích hợp cho thực hiện mục tiêu nghiên cứu này.
Mô hình nghiên cứu là mô hình cầu nghiên cứu tác động của CSTK tới tăng trưởng kinh tế thông qua: (i) chính sách chi cho đầu tư phát triển của nhà nước và (ii) chính sách động viên thuế của Chính phủ.
Theo lý thuyết kinh tế, vốn đầu tư là một trong hai yếu tố quan trọng đầu tiên cho thực hiện quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội (vốn và lao động). Do vậy, khi tăng vốn chi cho đầu tư phát triển thì sẽ làm cho năng lực sản xuất được tăng lên và đây là yếu tố trực tiếp làm tăng GDP và ngược lại.
Còn đối với chính sách thuế, lý thuyết về thuế đã khẳng định thuế có chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Cơ sở của chức năng điều tiết kinh tế của thuế là phát sinh từ chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính cho Nhà nước và chức năng này đã được thể hiện trong một số lý thuyết kinh tế, đặc biệt là lý thuyết của Keynes:
- Thuế được sử dụng để hạn chế tiết kiệm và kích thích tiêu dùng. Do tốc độ tiết kiệm có xu hướng tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập nên nhà nước có thể sử dụng mức thuế hợp lý đánh vào tiết kiệm và điều tiết mức thu nhập đủ để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng hoặc hướng thu nhập đầu tư vào sản xuất kinh doanh, tăng việc làm và tăng thu nhập.
- Thuế được sử dụng để điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao. Do khuynh hướng tiêu dùng ở những người có thu nhập thấp sẽ cao hơn ở những người có thu nhập cao nên có khuynh hướng tăng tiết kiệm nhiều hơn so với tiêu dùng. Đánh thuế thu nhập theo biểu thuế suất lũy tiến để phân phối lại thu nhập của những người có thu nhập cao, kích thích tiêu dùng.
- Thuế được sử dụng để điều tiết tính chu kỳ của tăng trưởng. Khi nền kinh tế tăng trưởng: tăng thuế hợp lý để tăng thu NSNN đồng thời hạn chế tăng trưởng nóng. Khi kinh tế suy thoái: giảm thuế để kích thích đầu tư và tiêu dùng.
Như vậy, về cơ sở lý thuyết, mô hình được được xây dựng trên cơ sở lý thuyết Keynes, trong đó đầu tư và tiết kiệm là những đại lượng có vai trò rất quan trọng được sử dụng để thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Keynes cho rằng, muốn có cân bằng kinh tế vĩ mô thì nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế bằng những chính sách thích hợp. Vì vậy, mô hình được xây dựng với mục tiêu là nghiên cứu mức độ tác động của các yếu tố: đầu tư Chính phủ và mức độ động viên thu từ thuế tới nền kinh tế. Các yếu tố này chính là những nội dung quan trọng của CSTK mà Chính phủ thường sử dụng phối hợp với CSTT trong điều tiết nền kinh tế.
Mô hình bao gồm 10 phương trình, trong đó có 5 phương trình hành vi và 5 phương trình định nghĩa. Tổng số biến trong mô hình là: 14, trong đó biến nội sinh là 10 và biến ngoại sinh là: 4.
Cụ thể, mô hình lý thuyết được xây dựng bao gồm các bộ phận sau:
Các biến sử dụng trong mô hình là:
- GDP: Tổng sản phẩm trong nước
- TLUY: Tích lũy
- TDCC: Tiêu dùng cuối cùng
- CP: Tiêu dùng tư nhân
- CG: Tiêu dùng chính phủ
- EX: xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
- IM: Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
- I: Tổng vốn đầu tư xã hội
- IG: Tổng vốn đầu tư nhà nước
- IKH: là vốn đầu tư khác
- THUTAX: Tổng thu các loại thuế
- THUKH: Thu từ dầu khí, phí, lệ phí, đất, thu viện trợ và thu khác
- MTAX: Mức độ động viên thuế
Các biến: IG (đầu tư của nhà nước) và MTAX sẽ là các biến ngoại sinh được sử dụng để nghiên cứu về tác động của chính sách tài khóa tới GDP.
Các phương trình nghiên cứu trong mô hình là:
Cơ chế hoạt động của mô hình có thể tóm tắt là:
Đối với mức động viên thuế, khi Chính phủ tăng hoặc giảm thuế suất (tăng, giảm mức độ động viên thu) thì sẽ có tác động theo hai hướng:
Hướng thứ nhất, tăng thuế (thuế gián thu) sẽ làm cho tiêu dùng giảm, cầu sản phẩm giảm và tác động tới cung giảm. Như vậy, tăng thuế gián thu sẽ tác động làm cho kinh tế phát triển chậm lại. Đối với thuế trực thu, tăng thuế tức là lợi nhuận của nhà đầu tư sẽ ít đi và do vậy đây là chính sách không khuyến khích đầu tư, nền kinh tế cũng vì thế mà chậm phát triển. Như vậy, nếu tăng mức động viên, dù là thuế gián thu hay thuế trực thu thì cũng sẽ tác động tiêu cực tới nền kinh tế làm cho tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại (mức động viên sẽ biến động ngược chiều với GDP) và việc giảm sút về GDP cũng sẽ làm cho thu NSNN giảm đi một mức nhất định.
Hướng thứ hai, tăng mức động viên thu sẽ làm cho thu ngân sách nhà nước tăng lên trong ngắn hạn và nhà nước cũng có thể sử dụng rộng rãi hơn công cụ tài khóa để đầu tư phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong trung và dài hạn thì lợi ích tăng thu sẽ mất dần ưu thế do khi giảm thuế đã tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, GDP tăng lên và đây là cơ sở làm tăng số thu ngân sách. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Về tăng chi tiêu Chính phủ cho đầu tư phát triển. Theo hàm sản xuất, thì vốn và lao động là hai yếu tố quan trọng không thể thiếu để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh. Do vậy, tăng vốn đầu tư là một trong những điều kiện quan trọng đầu tiên để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế và tăng GDP. Chi đầu tư chính phủ tăng sẽ tạo ra nhiều tài sản cố định mới để sản xuất ra số lượng sản phẩm nhiều hơn và làm cho kinh tế phát triển hơn, thu ngân sách nhà nước sẽ lớn hơn. Tuy nhiên, chi tiêu dùng chính phủ nếu mở rộng quá mức sẽ có tác động tiêu cực tới phát triển kinh tế do nền kinh tế sẽ phát triển nóng, lạm phát sẽ tăng cao và các cân đối kinh tế vĩ mô sẽ bị mất cân đối. Như vậy, vốn đầu tư và GDP là các chỉ tiêu luôn có biến thiên cùng chiều.
- Số liệu sử dụng trong mô hình là chuỗi thời gian từ 1991-2016. Nguồn số liệu: Niên Giám Thống kê các năm từ 1991-2016 và số liệu từ Bộ Tài chính.
- Phần mềm sử dụng trong mô hình là EVIEWS
- Kiểm định các phương trình hành vi
- Các chỉ số kết quả kiểm định mô hình cho thấy chất lượng của kiểm định là tương đối tốt, cụ thể là xác suất bác bỏ của các biến trong mô hình gần như là bằng 0, điều đó có nghĩa là các biến đều được chấp nhận trong mô hình.
- Kết quả các chỉ tiêu dự báo đều đúng với kỳ vọng, không có sai lệch với lý thuyết. Cụ thể, dấu của các chỉ tiêu GDP, THUNS, THUTHUE, I, EX, IM, TDCC, TLUY… đều đúng với lý thuyết.
- Giá trị các chỉ tiêu dự báo năm sau luôn cao hơn so với năm trước và tương ứng với xu hướng tăng lên của các số liệu thống kê (dữ liệu đầu vào của mô hình). Điều đó cho thấy giữa các biến số có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đặc biệt là sự biến động của các biến nội sinh hoàn toàn có mối liên hệ chặt chẽ với biến ngoại sinh trong mô hình.
- Mức độ sai lệch giữa số liệu thống kê và số liệu dự báo trong các năm từ 2013 – 2016 (4 năm) là không lớn và chủ yếu là xoay quanh mức 5% và dưới 5%. Đặc biệt, ba chỉ tiêu quan nhất GDP, thu ngân sách và thu thuế trong hai năm (2015 và 2016) chênh lệch chỉ có dưới mức 3%.
Với hệ thống số liệu khá phức tạp và có chất lượng không thật tốt, song các chỉ tiêu dự báo thử trong mô hình có độ chênh lệch với số liệu thống kê không lớn, như vậy có thể khẳng định là mô hình có chất lượng và có thể sử dụng mô hình để dự báo phục vụ cho nghiên cứu những tác động của chính sách thuế và chi tiêu ngân sách cho đầu tư phát triển tới TTKT trong các năm từ 2018 – 2020.
3.4. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TRONG VIỆC THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾGIAI ĐOẠN 1991 – 2017 Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
3.4.1. Kết quả đạt được
Trong giai đoạn 1991 – 2017, CSTK được Chính phủ điều chỉnh linh hoạt, ứng phó kịp thời trước các biến động của KTXH. Nhìn lại những dấu ấn của CSTK trong thời gian qua, có thể chỉ ra những kết quả sau:
3.4.1.1. Cải cách hành chính được đẩy mạnh
Thể chế tài chính ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, đảm bảo tính đồng bộ, ổn định theo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Các quy định về thủ tục hành chính và quy trình nghiệp vụ trong lĩnh vực tài chính – NSNN đã dần được chuẩn hóa theo hướng đồng bộ, đơn giản. Hệ thống quản lý thu NSNN đã được bố trí theo hướng bao quát rộng khắp trên toàn quốc; đến tận các địa phương thông qua các tổ, đội thuế; đến tận các cửa khẩu thông qua các chi cục hải quan cửa khẩu… Qua đó nhằm phục vụ tốt việc đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế với Nhà nước; làm giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Quy trình ngân sách được cải tiến theo hướng đổi mới, các khâu của quá trình quản lý ngân sách, công nghệ thông tin được áp dụng ở tất cả các khâu từ việc lập, chấp hành và quyết toán NSNN, theo đó rút ngắn chu trình ngân sách hơn, tạo điều kiện cho các cấp địa phương có thời gian trong thực hiện. Dự toán và quyết toán ngân sách từ sau đổi mới mang tính khép kín, nay đã công khai minh bạch quy trình về thu, chi ngân sách tại các cơ quan tài chính, KBNN. Sự liên kết giữa cơ quan thu ngân sách với hệ thống NHTM đã được đẩy mạnh, góp phần đẩy nhanh quá trình thu và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế nộp tiền vào ngân sách.
Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về tài chính – NSNN và quản lý nợ công trong giai đoạn 1991 – 2017 từng bước được hoàn thiện theo hướng công khai, minh bạch, tiếp cận với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo. Những văn bản quan trọng như Luật NSNN, các Luật thuế đều được nghiên cứu ban hành và hoàn thiện dưới hình thức văn bản Luật.
Sau khi Hiến pháp năm 2013 chính thức có hiệu lực (từ 1/1/2014), công tác hoàn thiện thể chế quản lý ngân sách nhà nước (NSNN) nhằm cụ thể hóa Hiến pháp 2013 và các nghị quyết của Quốc hội về NSNN đã được chú trọng hơn. Các văn bản quy phạm pháp luật được hoàn thiện theo đúng lộ trình và có chất lượng.
Hệ thống luật pháp về kinh tế – tài chính đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Hiến pháp. Hệ thống thể chế chặt chẽ phù hợp đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho công tác quản lý, giám sát và điều hành NSNN những năm vừa qua…
3.4.1.2. Chính sách thu ngân sách nhà nước được cải cách, đổi mới phù hợp với yêu cầu tăng trưởng kinh tế Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Trong những năm qua, chính sách thu NSNN được hoàn thiện theo các mục tiêu, định hướng đề ra trong các Chiến lược tài chính và Chiến lược phát triển KTXH, đã góp phần tăng quy mô và tỷ lệ động viên GDP vào NSNN, nhờ đó đã thu hút hiệu quả, động viên hợp lý, kịp thời các nguồn lực từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ xuất nhập khẩu và các nguồn lực từ tài nguyên, đất đai,…
Chính sách thu NSNN được ban hành đã thực hiện tốt vai trò động viên nguồn thu cho NSNN và thực hiện điều tiết kinh tế vĩ mô. Thể hiện rất rõ là, trong giai đoạn 2001 – 2007, chính sách thu đã động viên được nguồn lực tài chính lớn để đảm bảo nhiệm vụ chi thực hiện được mục tiêu TTKT nhanh. Còn trong giai đoạn 2008 – 2012, CSTK đã trở thành công cụ có hiệu quả trong thực hiện các mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vượt qua suy thoái và những khó khăn do tác động của khủng hoảng tài chính thế giới. Chính phủ điều hành CSTK lúc thắt chặt, lúc mở rộng và những chính sách thiết thực hỗ trợ các DN để giải quyết những vấn đề về thiếu vốn, thiếu thị trường, giải quyết công nợ… tạo điều kiện cho DN phát triển sản xuất kinh doanh.
Quy mô thu NSNN liên tục tăng cao, đảm bảo nguồn lực tài chính cho các nhu cầu chi quan trọng như chi ĐTPT cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo, ASXH và đảm bảo an ninh quốc phòng. Cơ cấu thu chuyển biến tích cực và bền vững theo ngành và thành phần kinh tế. Tỷ trọng số thu ngân sách từ các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng lên, giảm dần sự phụ thuộc vào số thu từ khu vực kinh tế nhà nước. Tỷ trọng thu nội địa tăng dần trong tổng thu NSNN. Thu ngân sách đã tập trung vào việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, khuyến khích các DN phát triển để tăng nguồn thu nội địa, giảm thiểu các tác động từ bên ngoài tới nguồn thu, đảm bảo kế hoạch thu NSNN.
Ngoài ra, công tác cải cách quản lý thuế cũng đã đạt nhiều thành tựu lớn trong những năm gần đây. Trong đó, việc Chính phủ triển khai Nghị quyết 19/2014/NQ-CP và Nghị quyết 19/2015/NQ-CP đã giúp giảm đáng kể thời gian nộp thuế thông qua việc đơn giản hóa các quy định về tuân thủ thuế. Việc đưa vào vận hành Hệ thống quản lý thuế (TMS) đã giúp hiện đại hóa các chức năng quản lý thuế cơ bản, như đăng ký, kê khai, xử lý tờ khai, kế toán thuế, nộp thuế và quản lý nợ đọng.
3.4.1.3. Chính sách chi ngân sách nhà nước được điều chỉnh hợp lý, tăng cường đầu tư, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Chi tiêu NSNN được cơ cấu lại theo hướng xóa bao cấp trong chi ngân sách, tăng chi ĐTPT, xóa đói giảm nghèo, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế…; thu hút thêm nguồn lực của dân cư thông qua việc xã hội hóa một số mặt hoạt động kinh tế, xã hội, nhờ đó nhiều nhu cầu chi được đáp ứng tốt hơn.
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, chi NSNN tập trung ưu tiên bố trí các lĩnh vực: Chi giáo dục đào tạo đạt 20% tổng chi NSNN, chi khoa học công nghệ cơ bản đạt 2%, bảo vệ môi trường đạt 1% và ưu tiên tăng chi quốc phòng, an ninh để đảm bảo giữ vững an ninh, chủ quyền lãnh thổ và trật tự an toàn xã hội.
Chi cải cách tiền lương và chi ASXH cũng là mục tiêu ưu tiên trong bố trí chi NSNN. Giai đoạn 2006 – 2010, nhất là từ năm 2008 khi nền kinh tế nước ta rơi vào nguy cơ suy giảm, lạm phát cao, đời sống nhân dân khó khăn, nhiều chính sách ASXH được ban hành, mức tăng chi cho ASXH bình quân trên 33%/năm, cao hơn tốc độ tăng thu, chi NSNN nói chung. Đồng thời, NSNN đã thực hiện 4 lần điều chỉnh tiền lương tối thiểu với tốc độ tăng cao hơn tốc độ tăng giá trong cùng thời kỳ. Việc thực hiện các chính sách tiền lương và ASXH đã góp phần cải thiện đời sống người lao động hưởng lương từ NSNN và các đối tượng chính sách, tạo niềm tin của xã hội vào Đảng và Nhà nước.
Việc phân bổ nguồn lực chi NSNN đã hướng tới việc đảm bảo tính hiệu quả, tính công khai, minh bạch và công bằng. Trong đó, phân bổ nguồn lực NSNN đã dựa trên các nguyên tắc và tiêu chí minh bạch có tính đến đặc thù từng lĩnh vực, vùng, miền và đối tượng… Cùng với đó là quá trình đổi mới tư duy về kinh tế, chính sách chi NSNN cũng trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau, phụ thuộc vào các ưu tiên về phát triển KTXH của đất nước trong từng thời kỳ.
Chính sách chi ngân sách đã được đổi mới theo hướng giảm dần sự bao cấp của NSNN, đặc biệt là chế độ bao cấp đối với các DNNN và các đơn vị sự nghiệp công. Nhà nước đã thực hiện tách bạch giữa hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động sản xuất, kinh doanh, giữa hoạt động quản lý hành chính và hoạt động sự nghiệp. Theo đó, TCNN và TCDN đối với các DNNN đã dần được phân định rõ; điển hình là Luật số 69/2014/QH13 về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào SXKD tại doanh nghiệp.
Cơ chế quản lý tài chính khu vực hành chính sự nghiệp cũng được đổi mới nhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tiết kiệm chi NSNN để dành nguồn lực cho các mục tiêu phát triển KTXH. Đối với các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, cơ chế khoán chi đã được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý hành chính Nhà nước và hỗ trợ quá trình tinh giản biên chế. Đối với các đơn vị sự nghiệp, cơ chế tự chủ về tài chính bên cạnh tự chủ về bộ máy, về nhân lực là động lực thúc đẩy các đơn vị sự nghiệp đổi mới phương thức hoạt động nhằm cung ứng tốt hơn dịch vụ công cho xã hội. Nhà nước cũng thực hiện xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế trong việc cung ứng dịch vụ công, tạo tiền đề cho việc hình thành và phát triển thị trường các dịch vụ công, giảm dần sự bao cấp của NSNN.
3.4.2. Những hạn chế của chính sách tài khóa trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1991 – 2017 Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện CSTK trong những năm qua vẫn còn những hạn chế nhất định sau:
3.4.2.1. Chính sách tài khóa chưa phát huy được vai trò điều tiết, duy trì được sự ổn định và tăng trưởng nền kinh tế
Trong giai đoạn 1991 – 2017, ở nhiều thời điểm, CSTK được điều hành theo hướng mở rộng khi nền kinh tế tăng trưởng tốt do có nguồn lực lớn từ thu NSNN. Ngược lại, CSTK được sử dụng theo hướng thắt chặt khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, nguồn lực đầu tư bị suy giảm do thu NSNN không đủ đáp ứng.
Có thể dẫn chứng để thấy CSTK phản ứng không phù hợp với trạng thái chu kỳ kinh tế. Nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái vào cuối năm 1997, nhưng CSTK lại được điều hành theo hướng thắt chặt. Hoặc ở giai đoạn 2005 – 2007, kinh tế tăng trưởng cao nhưng CSTK và CSTT lại được điều chỉnh theo hướng mở rộng, tăng cường đầu tư từ NSNN, do vậy có một lượng tiền khá lớn được đưa ra thị trường nên dẫn đến tăng trưởng nóng, giá cả leo thang. Bên cạnh đó, hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn này tăng rất cao (>5), cho thấy khả năng hấp thụ vốn đầu tư cho tăng trưởng rất thấp. Nghĩa là, tổng cầu đầu tư càng cao do kích thích tài khóa, cuối cùng chỉ cho thấy giá cả càng cao chứ không làm gia tăng sản lượng.
Khi nền kinh tế có dấu hiệu lạm phát, Chính phủ thực hiện CSTK thắt chặt để kiềm chế lạm phát khiến cho tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm xuống. Khi lạm phát có dấu hiệu bị đẩy lùi, Chính phủ đã kích thích tăng trưởng theo hướng mở rộng CSTK, kích cầu đầu tư, kích cầu tiêu dùng. Các giải pháp này được áp dụng triệt để đã khiến lạm phát bùng phát trở lại. Hiện tượng này đã lặp đi lặp lại trong giai đoạn 2005 – 2013 khiến cho kinh tế vĩ mô mất ổn định, gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hoạt động SXKD. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Sau một thời gian liên tục điều chỉnh CSTK từ mở rộng (2005 – 2007) – CSTK thắt chặt (2007 – 2008) – CSTK mở rộng (2009 – 2010). Từ năm 2011 đến 2017, kinh tế trong nước tiếp tục suy thoái, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, số lượng DN giải thể và phá sản tăng cao. Tuy nhiên, CSTK không được điều hành theo hướng mở rộng để kích thích nền kinh tế mà lại được điều hành thận trọng theo hướng thắt chặt. Nguyên nhân là do nguồn thu NSNN giảm sút, nhu cầu chi NSNN ngày một lớn, dẫn đến cân đối NSNN gặp khó khăn, không đủ nguồn lực để thực hiện chính sách kích thích tiêu dùng.
Tình trạng điều hành CSTK Việt Nam đúng như nhận định của IMF: “… trong các nền kinh tế đang phát triển, CSTK có đặc thù là thuận chu kỳ – đó là, tăng thêm kích thích trong thời gian kinh tế tăng trưởng và tháo dỡ trong thời kỳ suy thoái”. Điều này gợi lên vấn đề, CSTK đó có khuynh hướng gây bất ổn định hơn là góp phần giảm biến động chu kỳ kinh tế.
Do vậy, CSTK được sử dụng là công cụ điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô, song tại nhiều thời điểm, CSTK chưa phát huy được vai trò này để duy trì sự ổn định và tăng trưởng kinh tế.
3.4.2.2. Chính sách thu ngân sách nhà nước chưa thực sự phát huy được hiệu quả là khuyến khích gia tăng nguồn thu và thúc đẩy sản xuất phát triển
Quy mô thu ngân sách so với GDP giảm nhanh, cơ cấu thu chưa hợp lý, thiếu bền vững; các nguồn lực đất đai, tài nguyên, công sản chưa được huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả; tình trạng trốn thuế, thất thu và nợ thuế còn nghiêm trọng.
Chính sách thu NSNN đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, song cũng bị ảnh hưởng dẫn đến giảm thu NSNN khá mạnh (khoảng 1% GDP/năm). Đáng chú ý là, nhiều loại thuế đã thu hẹp đối tượng chịu thuế, giảm thuế suất, tăng mức giảm trừ gia cảnh có khi nhanh hơn dự kiến ban đầu (thuế TNDN, thuế GTGT, thuế TNCN).
Thực hiện miễn, giảm thuế; cắt giảm, bãi bỏ hàng trăm khoản phí, lệ phí; gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT, TNDN và thu tiền sử dụng đất; giảm thuế suất thuế TNDN cho các DN… Các chính sách này phần nào ảnh hưởng đến nguồn thu NSNN trong ngắn và dài hạn.
Mặc dù cơ cấu thu NSNN ngày càng bền vững hơn với tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN ngày càng tăng nhưng sự sụt giảm mạnh của giá dầu thế giới vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến việc thực hiện dự toán thu NSNN, từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu phát triển KTXH của đất nước.
3.4.2.3. Chính sách chi ngân sách nhà nước còn bị động, chưa hợp lý và hiệu quả chưa cao Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Chính sách chi NSNN đứng trước những khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng, tạo điều kiện thuận lợi cho tái cơ cấu kinh tế, hội nhập quốc tế, bảo đảm ASXH nên việc chi NSNN còn một số bất cập.
Nhu cầu chi NSNN không ngừng tăng, vượt khả năng cân đối nguồn lực; thu không đủ chi, tích lũy ngân sách cho ĐTPT thấp. Cơ cấu chi ngân sách chưa hợp lý, tỷ trọng chi thường xuyên tăng cao, chi ĐTPT giảm; tỷ trọng chi NSTW giảm, chi NSĐP tăng. Tỷ trọng chi thường xuyên có xu hướng tăng rõ rệt trong thời gian qua, kéo theo đó là việc giảm tỷ trọng chi ĐTPT. Việc bố trí chi NSNN cho một số lĩnh vực như: giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, y tế… theo phân cấp ngân sách giữa trung ương và địa phương còn chưa hợp lý. Nhiều chính sách ASXH, xóa đói giảm nghèo được triển khai thực hiện, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào ở các xã đặc biệt khó khăn ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa… Việc tăng chi cho các hoạt động thường xuyên để duy trì bộ máy nhà nước đã lấn át nguồn lực dành cho chi ĐTPT – đây là khoản chi mang ý nghĩa phát triển đất nước trong dài hạn.
Hiệu quả chi NSNN chưa cao, cả trong chi ĐTPT và chi thường xuyên; công tác xã hội hóa, đổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tuy có nhiều chuyển biến tích cực, song triển khai thực hiện còn chậm, kết quả đạt được còn hạn chế, dẫn đến gánh nặng chi NSNN; tình trạng chi tiêu kém hiệu quả, lãng phí, chi sai chế độ quy định chưa được khắc phục.
Một số nguyên tắc đề ra trong Luật NSNN và các nghị quyết của Quốc hội chưa được đảm bảo, kỷ luật tài chính chưa nghiêm. Qua kết quả kiểm toán cho thấy, việc chi tiêu lãng phí, kém hiệu quả, phô trương hình thức và sai chế độ vẫn còn diễn ra ở các mức độ khác nhau. Các sai phạm về quản lý tài chính ngân sách được phát hiện, xử lý và thu hồi, giảm thanh toán theo kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước cũng tăng chóng mặt, với quy mô thành tiền lớn hơn 17 lần chỉ trong 5 năm qua, từ 317 tỷ đồng (năm 2009), lên 658 tỷ đồng (năm 2010); 708 tỷ đồng (năm 2011); 2.252 tỷ đồng năm 2012 và năm 2013 là 5.304,2 tỷ đồng…
3.4.2.4. Cân đối ngân sách nhà nước gặp nhiều khó khăn, an ninh tài chính quốc gia chưa vững chắc
Trong những năm qua, chính sách thu NSNN liên tục được hoàn thiện đã góp phần tăng quy mô và tỷ lệ động viên GDP vào NSNN. Tuy nhiên, quy mô chi NSNN tăng khá cao, điều này gây không ít khó khăn đối với cân đối NSNN. Tình trạng bội chi NSNN thường xuyên diễn ra trong nhiều năm, tỷ lệ bội chi có xu hướng tăng cao dần. Chi NSNN hàng năm đều vượt cao so với dự toán, tốc độ tăng chi cao hơn tốc độ tăng thu. Với mức chi tăng cao như vậy, NSNN vẫn chưa giải quyết được nhu cầu chi tiêu tối thiểu trong nước, để đáp ứng nhu cầu ĐTPT, nhà nước đã phải phát hành TPCP để huy động vốn. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Bội chi cao, phải vay đảo nợ, nhiều địa phương chưa có khả năng cân đối ngân sách và điều tiết về NSTW. Với nhu cầu chi khoảng 24 – 25% GDP giai đoạn 2016 – 2020 thì bội chi hàng năm vào khoảng 3 – 5% GDP, trong đó năm 2017 là 3,5% GDP. Trong khi đó yêu cầu đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, an ninh nợ công thì nợ công không được phép vượt 65% GDP, nợ Chính phủ không quá 54% GDP. Khả năng huy động vốn từ thị trường tài chính trong nước cũng rất khó khăn. Yêu cầu vay nợ năm 2017 là khá lớn với mức vay bù đắp bội chi và vay đảo nợ là 340.157 tỷ đồng (trong đó vay bù đắp bội chi là 172.300 tỷ đồng), cộng với 50.000 tỷ đồng TPCP.
Nợ công và nghĩa vụ trả nợ tăng nhanh, áp lực trả nợ trong ngắn hạn lớn, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn nhưng chưa được kiểm soát chặt chẽ; nợ đọng XDCB và ứng trước ngân sách còn lớn; việc quản lý, sử dụng vốn vay còn bất cập; thiếu gắn kết giữa quyết định đầu tư với cân đối nghĩa vụ trả nợ. Việc sử dụng ngân sách và vốn đầu tư công còn lãng phí, thất thoát, kém hiệu quả.
Tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam tăng mạnh, do CSTK nới lỏng trong những năm qua. Nợ công so với GDP tăng đáng kể từ 51,7% năm 2010 lên đến 61% năm 2015, trong đó, nợ Chính phủ chiếm 49,2%, nợ Chính phủ bảo lãnh chiếm 10,9%, còn nợ của chính quyền địa phương khoảng 0,9%. Không tính nợ bảo lãnh và vay nợ trong nội bộ, nợ trực tiếp của Chính phủ được ước tính ở mức 43,3% GDP (năm 2015) gần sát với mức bình quân của các quốc gia trong khu vực và tương đương về thu nhập. Tuy nhiên, vấn đề đáng lo ngại là Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nợ trên GDP tăng nhanh nhất (tăng khoảng 10% trong 5 năm qua), cho dù với thành tích tăng trưởng kinh tế ấn tượng. Nếu xu hướng trên vẫn tiếp diễn, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những quan ngại nghiêm trọng về bền vững tài khóa.
Chính sách quản lý nợ công còn có quan điểm khác nhau về phạm vi nợ công, các khoản nợ phát sinh từ điều hành ngân sách, nợ của DNNN, nợ của NHNN Việt Nam. Chưa có phân định rõ ràng và sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa quản lý nợ công, quản lý ngân sách và quản lý đầu tư công; yêu cầu tách bạch quy định về quản lý vốn vay của Chính phủ theo từng nguồn vốn huy động để đảm bảo quản lý chặt chẽ, hiệu quả hơn trong điều kiện Việt Nam dần không còn tiếp cận được nhiều vốn vay ODA.
Các quy định về cho vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ, cấp và quản lý bảo lãnh của Chính phủ cũng đã bộc lộ những hạn chế; Áp lực trả nợ trong ngắn hạn lớn, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn nhưng chưa được kiểm soát chặt chẽ; Việc quản lý, sử dụng vốn vay còn bất cập, hiệu quả chưa cao; phân bổ vốn đầu tư từ nguồn vốn vay còn dàn trải, thiếu gắn kết giữa quyết định đầu tư với cân đối nghĩa vụ trả nợ…
3.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế của chính sách tài khóa trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1991 – 2017 Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
3.4.3.1. Nguyên nhân khách quan
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan do những khó khăn, yếu kém của nền kinh tế nước ta và những tác động của tình hình kinh tế thế giới.
Những tác động của tình hình kinh tế thế giới
Trong giai đoạn 1991 – 2017, nền kinh tế nước ta chịu sự tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực năm 1997 và chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu ở Mỹ diễn ra từ cuối năm 2007. Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu cũng nhanh chóng lan tỏa và làm nhiều quốc gia bị ảnh hưởng. Những bất ổn này đã kéo tốc độ tăng trưởng toàn cầu sụt giảm, nền kinh tế thế giới chìm sâu vào khủng hoảng với mức độ nặng nề.
Báo cáo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho thấy, tăng trưởng GDP của kinh tế thế giới có xu hướng giảm dần: năm 2006 đạt trên 5%; năm 2007 đạt 3,4%; năm 2011 đạt 3,9%; năm 2012 đạt 3,2%; năm 2013 giảm xuống còn 2,9%. Các nước mới nổi và đang phát triển đạt 6,2% (năm 2011); 4,9% (năm 2012) và đạt 4,5% (năm 2013). Những chỉ số trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Cho đến nay, sau hàng loạt các giải pháp đối phó đã được thực hiện ở các quốc gia, nền kinh tế thế giới đã có sự khởi sắc hơn sau một thời gian dài chìm vào suy giảm và khủng hoảng, nhưng kinh tế thế giới vẫn phục hồi chậm hơn dự báo. Kinh tế suy thoái, sản xuất đình trệ đã khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao; thâm hụt NSNN và nợ công có xu hướng gia tăng. Khủng hoảng nợ công diễn ra trầm trọng hơn ở nhiều quốc gia. Nhiều nước tăng cường bảo hộ thương mại và sản xuất. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động làm cho mặt trái của chính sách kích thích kinh tế và những yếu kém nội tại của nền kinh tế bộc lộ nặng nề hơn. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Khủng hoảng chính trị ở nhiều nơi, nhiều nước; các nước lớn cạnh tranh quyết liệt giành ảnh hưởng trong khu vực. Tình hình phức tạp, căng thẳng ở Biển Đông đe dọa nghiêm trọng hòa bình, ổn định và tác động tiêu cực đến phát triển KTXH của đất nước.
Tình hình kinh tế trong nước
Qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Nền kinh tế nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, quy mô và tiềm lực ngày càng được nâng lên. Kinh tế vĩ mô dần ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ khá và có chiều hướng phục hồi. Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và thực hiện ba đột phá chiến lược đạt kết quả tích cực, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế Việt Nam phát triển chưa ổn định và bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng. Trong 10 năm gần đây, kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, phục hồi chậm. Đối với CSTK, thách thức lớn chúng ta phải đối mặt là nguồn thu NSNN có xu hướng giảm, trong khi đó chi NSNN liên tục gia tăng. Áp lực chi lớn khi vừa phải đảm bảo nhu cầu chi tiêu, vừa phải trang trải cho các gói kích thích kinh tế và hỗ trợ sản xuất, kinh doanh.
3.4.3.2. Nguyên nhân chủ quan Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Chính sách tài khóa tập trung vào mục tiêu ngắn hạn, chưa có định hướng trong trung và dài hạn
Trong Luật NSNN hiện nay chưa quy định lập dự toán ngân sách hàng năm phải gắn với kế hoạch tài chính và khuôn khổ chi tiêu trung hạn. Mặc dù hiện nay chúng ta đã có quy định về thời kỳ ổn định NSNN (thường là 3 năm) nhưng đấy mới chỉ là những quy định ổn định về thu chi ngân sách trong thời hạn 3 năm để tiết giảm các công việc trong lập dự toán NSNN, chứ không phải là đã có lập kế hoạch tài chính trung và dài hạn. Vì thế khi lập dự toán NSNN chỉ mới nhìn nhận các vấn đề trong 1 năm ngân sách, không có tầm nhìn và mối liên kết trung và dài hạn, do vậy thiếu tính dự báo tầm xa, thiếu tính liên kết trong chi tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, dẫn đến lãng phí, tốn kém trong chi tiêu, nhất là trong chi tiêu XDCB và mua sắm tài sản công.
Việc điều chỉnh CSTK không đặt trong chiến lược dài hạn cũng gây ra khó khăn trong cân đối ngân sách. Khi thực hiện tăng chi NSNN cho các gói kích thích kinh tế và việc phát hành TPCP với quy mô lớn đã làm tăng lượng tiền trong lưu thông, gây lạm phát, tăng bội chi NSNN và tăng nợ công. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc quản lý thiếu chặt chẽ, hiệu quả đầu tư công thấp, gây thất thoát và lãng phí nguồn lực ngân sách của nhà nước.
Cơ chế quản lý thu – chi NSNN chưa đạt hiệu quả cao
Những yếu tố làm giảm nguồn thu NSNN:
- Rủi ro của các yếu tố bên ngoài có thể tác động xấu đến tăng trưởng làm giảm nguồn thu NSNN. Kinh tế Việt Nam hiện đang phụ thuộc khá lớn vào biến động của kinh tế thế giới. Tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu, khi kinh tế thế giới còn khó khăn thì kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng rất lớn.
- Nguồn thu giảm do thay đổi chính sách thuế. Theo Luật thuế TNDN thời gian tới, thuế suất thuế TNDN và thuế xuất nhập khẩu cũng có thể giảm đi, khi Việt Nam tiếp tục cắt giảm thuế suất theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và cam kết theo các Hiệp định thương mại tự do.
- Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt NSNN.
- Vấn đề giá dầu thô trên thế giới. Khi giá dầu biến động mạnh sẽ tác động mạnh đến số thu ngân sách. Điều đó thể hiện ở năm 2009, khi giá dầu giảm đã làm cho thu NSNN giảm mạnh. Giá dầu thô trên thế giới vẫn diễn biến khó lường, trong khi số thu NSNN của Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào thu từ dầu thô, do vậy, cần có phương án về thu NSNN khi giá dầu giảm để có giải pháp điều hành phù hợp và không ảnh hưởng quá nhiều tới số thu NSNN.
Những yếu tố gây thất thu NSNN:
- Hệ thống pháp luật ở nước ta còn nhiều bất cập, công tác quản lý thu thuế quy mô chưa đủ lớn, việc xử lý các vi phạm còn chưa đúng theo quy định của pháp luật, tính răn đe chưa đủ mạnh nên tình trạng khai man, trốn thuế nhất là việc chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và trốn thuế, gian lận thuế ở khu vực ngoài quốc doanh vẫn khá phổ biến, gây thất thu một lượng khá lớn cho NSNN.
- Các cơ quan thanh – kiểm tra và kiểm toán đã phát hiện ra nhiều sai phạm nhưng chưa có biện pháp mạnh để xử lý với các đối tượng vi phạm pháp luật đặc biệt là kiến nghị xử lý người đứng đầu còn hạn chế, hầu như chỉ có kiến nghị thu hồi.
- Chưa thực hiện đồng bộ, toàn diện các giải pháp cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế. Chưa ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào tất cả các khâu, các bước trong quá trình quản lý, đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế.
Đối với quản lý chi NSNN
Chi NSNN vẫn còn tình trạng lãng phí, chi sai chế độ quy định, không đúng mục đích; sai phạm trong quản lý đầu tư xây dựng vẫn nhiều, nợ đọng XDCB, số dự án đầu tư hoàn thành chưa quyết toán tồn đọng nhiều, gây thất thoát, lãng phí NSNN.
Dự toán NSNN chưa được lập trên cơ sở các đầu ra phải đạt được, mà vẫn mang tính chất phân chia ngân sách dải đều cho các đơn vị ngân sách. Tình trạng chi thực tế luôn vượt dự toán diễn ra thường xuyên và ở mức độ lớn cho thấy kỷ cương, kỷ luật tài khóa lỏng lẻo, không chỉ tác động tiêu cực tới cân đối, thâm hụt NSNN mà còn đe dọa tính bền vững của NSNN.
Kỷ luật tài khóa chưa được thực hiện nghiêm
Trong những năm qua, ở Việt Nam việc tuân thủ kỷ luật tài khóa được đánh giá là khá lỏng lẻo khi mà mức thâm hụt ngân sách thường xuyên vượt quá mức mục tiêu, đã ảnh hưởng đến sự ổn định của nền kinh tế. Cụ thể:
Kỷ luật về cán cân ngân sách
Bội chi NSNN có xu hướng gia tăng, vượt mức dự toán được xây dựng hằng năm và mức trần bội chi do Quốc hội phê chuẩn, cụ thể: Bội chi NSNN bình quân giai đoạn 2011 – 2015 là 5,62% GDP, vượt mức trần bội chi được Quốc hội phê chuẩn 2011 – 2015 là 4,5% GDP. Điều này cho thấy việc chấp hành các chỉ tiêu pháp lệnh chưa cao, phản ánh phần nào sự hạn chế về kỷ luật tài khóa mà cụ thể là kỷ luật cán cân ngân sách.
Sự lỏng lẻo trong kỷ luật cán cân ngân sách còn được biểu hiện ở số liệu điều chỉnh dự toán, quyết toán mức thâm hụt ngân sách, cụ thể: Trong năm 2013, dự toán mức thâm hụt NSNN là 162.000 tỉ đồng, sau đó được Quốc hội điều chỉnh lên 195.500 tỷ đồng (Theo Nghị quyết số 54/2013/QH13 ngày 12/11/2013).Tuy nhiên, đến tháng 5/2015 khi có quyết toán NSNN năm 2013, con số thâm hụt NSNN được quyết toán là 236.769 tỷ đồng, vượt 41.269 tỷ đồng so với mức Quốc hội đã điều chỉnh, bằng 6,6% GDP thực tế. So với con số xin và được duyệt ban đầu thì thâm hụt NSNN bị vượt kế hoạch đến hơn 25%. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Theo Luật NSNN năm 2002 và Luật NSNN năm 2015 quy định mức thâm hụt NSNN không vượt quá mức chi đầu tư phát triển. Trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016, mức thâm hụt ngân sách đang có chiều hướng tăng nhanh qua các năm, từ mức 112.034 tỷ đồng trong năm 2011 lên mức 289.400 tỷ đồng trong năm 2016, chi thường xuyên và chi trả trả nợ có xu hướng tăng làm cho dư địa chi ĐTPT trong cơ cấu chi NSNN thấp và có chiều hướng giảm (tỷ trọng chi ĐTPT trong tổng chi NSNN giảm từ 26,5% năm 2011 xuống còn 20% năm 2016, bình quân giai đoạn 2011 – 2015 là 24,3%).
Vấn đề này đã dấy lên lo ngại là Việt Nam vay nợ không chỉ chi cho ĐTPT mà còn phải vay nợ để tài trợ một phần cho tiêu dùng, vi phạm Luật NSNN, làm suy giảm độ tin cậy và tuân thủ kỷ luật tài khóa.
Kỷ luật về thu ngân sách
Trong giai đoạn 2011 – 2016, thu NSNN luôn tăng cao và vượt dự toán. Đây là một tín hiệu tốt, tuy nhiên chúng ta cũng phải nhìn nhận thực tế là: thu thì vượt chỉ tiêu dự toán, chi thì luôn vượt ngưỡng cho phép và nợ đọng thuế ngày càng gia tăng. Điều này cho thấy, việc xây dựng kế hoạch thu NSNN đã ở dưới mức tiềm năng, đồng thời phản ánh năng lực dự báo yếu kém của cơ quan lập kế hoạch tài khóa và cũng minh chứng rằng căn bệnh thành tích vẫn còn tồn tại trong việc lập các chỉ tiêu thu NSNN thấp để cuối năm hoàn thành kế hoạch.
Thu NSNN còn phụ thuộc nhiều vào các khoản thu không bền vững, việc đưa khoản thu từ dầu thô, thu từ bán nhà thuộc sở hữu nhà nước và chuyển quyền sử dụng đất vào tính toán cán cân ngân sách chỉ sẽ làm giảm mức độ nghiêm trọng của tình trạng bội chi từ những con số báo cáo. Tuy nhiên, về bản chất thì đây là việc bán tài sản quốc gia đi để chi tiêu. Đặc biệt, khoản thu này đang có xu hướng ngày càng giảm dần về quy mô do các tài sản và nguồn tài nguyên quốc gia là hữu hạn.
Như vậy, việc thực hiện kỷ luật về thu NSNN còn chưa chặt chẽ, rất mong manh ngay từ khâu lập kế hoạch dựa trên một nền tảng các khoản thu kém bền vững với tỷ trọng còn cao trong tổng thu NSNN, chưa thể hiện được việc thiết lập mức thu NSNN một cách tối ưu là nhằm giải quyết hài hòa giữa khuyến khích tăng thu ngân sách qua việc phát triển sản xuất kinh doanh và hạn chế gánh nặng lên hệ thống thuế.
Kỷ luật về chi ngân sách
Kỷ luật chi ngân sách được đánh giá là khá yếu kém, hiện tượng phổ biến là chi NSNN hàng năm liên tục tăng và luôn vượt dự toán được giao.
Trong giai đoạn 2011 – 2016, mặc dù dự toán chi NSNN cho ĐTPT và chi thường xuyên được xây dựng với số liệu dự toán chi năm sau cao hơn năm trước, lần lượt tỷ lệ (%) tăng so với dự toán năm trước: Năm 2011: 28 %; năm 2012: 25%; năm 2013: 15%; năm 2014: 4%; năm 2015: 12% và năm 2016: 11%, nhưng trong thực tế số liệu được quyết toán vẫn tăng vượt dự toán hàng năm, cụ thể tỷ lệ (%) chi vượt dự toán qua từng năm như sau: Năm 2011: 13,7%; năm 2012: 20,8%; năm 2013: 17%; năm 2014: 12%; năm 2015: 6,8% và năm 2016 khoảng 6,3%.
Trong giai đoạn 2011 – 2016, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng khoảng 65% trong tổng chi NSNN, vượt 10% so với giai đoạn 2006 – 2010. Đặc biệt trong giai đoạn này, chi NSNN về quản lý hành chính liên tục tăng. Điều này cho thấy, chủ trương cải cách bộ máy hành chính nhà nước để giảm chi tiêu công không đạt kết quả tốt, sự cồng kềnh và chi tiêu tốn kém của bộ máy công quyền khiến việc cắt giảm chi ngân sách trở nên khó khăn và qua đó cũng thể hiện được sự lỏng lẻo trong việc thực hiện kỷ luật chi NSNN.
Còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Chính sách tài khóa và CSTT của Việt Nam được phát triển từ cơ chế bao cấp thường chủ yếu thực hiện mục tiêu hẹp của ngành. Khi chuyển sang quản lý theo kinh tế thị trường, chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả và đồng bộ giữa Bộ Tài chính và NHNN trong thực thi CSTT và CSTK. Đây đều là chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước nhưng theo sự phân công trong tổ chức điều hành, việc điều hành CSTT được giao cho NHNN đảm nhiệm còn CSTK giao cho Bộ Tài chính đảm nhiệm với sự kết hợp của Bộ kế hoạch và đầu tư. Trong những thời điểm nhất định, vẫn tồn tại những mâu thuẫn về cả mục tiêu ngành và cả lợi ích giữa Bộ Tài chính và NHNN, theo đó NHNN thường ưu tiên thực hiện mục tiêu CSTT còn Bộ Tài chính ưu tiên thực hiện dự toán NSNN được duyệt. Việc thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa hai chính sách làm cho CSTK gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả, hiệu lực của CSTT và ngược lại. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
Thực trạng CSTK và CSTT thời gian qua cho thấy, mặc dù hai chính sách này đã được sử dụng theo phương châm phải phối hợp với nhau, nhưng giới hạn chính sách đang cản trở những tác động tích cực của nhau tới phát triển KTXH và làm nảy sinh nhiều vấn đề về phối hợp chính sách. Điều này một phần do CSTT linh hoạt hơn, nhạy bén hơn so với CSTK. Việc thay đổi lượng tiền cung ứng sẽ làm thay đổi lãi suất ngay lập tức và NHNN có thể tác động ngay tới đầu tư, xuất khẩu ròng và tiêu dùng trong ngắn hạn. Hoặc NHNN có thể sử dụng CSTT để điều chỉnh mức lạm phát, gây tác động lên năng suất lao động và tăng trưởng GDP trong dài hạn. Tuy nhiên, việc thay đổi CSTK thường đòi hỏi quy trình lâu hơn và độ trễ của chính sách cũng dài hơn. Chính phủ thường phải lập kế hoạch chi tiêu, thuế và thâm hụt NSNN theo hệ thống định mức, chế độ, quy trình rất chặt chẽ, lại phải theo quy trình ngân sách hàng năm trình Quốc hội phê duyệt. Điều này tạo ra sự lệch pha giữa CSTK và CSTT, giảm khả năng và hiệu quả phối hợp hai chính sách này.
Lãng phí và tham nhũng NSNN
Việt Nam, tình trạng nguồn vốn ngân sách bị sử dụng tùy tiện gây nên lãng phí rất lớn là điều hết sức phổ biến. Có rất nhiều công trình sử dụng vốn ngân sách tiến độ thi công chậm, kéo dài, chất lượng thi công không đảm bảo. Tình trạng công trình xây xong đắp chiếu, thất thoát, tham ô, lãng phí vốn đầu tư, hiệu quả kinh tế xã hội thấp là phổ biến.
Do yếu kém trong quản lý chi ngân sách nên dẫn đến sai phạm, tham nhũng, gây lãng phí, thất thoát. Bên cạnh đó, cơ chế xin – cho là một trong những nguyên nhân chính gây ra lãng phí rất nhiều, bởi vì khi mà nguồn lực của trung ương cấp về chứ không phải là sự đóng góp của địa phương thì vai trò giám sát hay trách nhiệm theo dõi của địa phương sẽ không cao. Cơ chế xin – cho làm hao hụt ngân sách, đầu tư kém hiệu quả, điển hình là vụ án Vinashin. Tham nhũng sẽ làm ngân sách bị giảm đi và làm cho tình trạng bội chi tăng lên. Để cắt giảm bội chi ngân sách, các khoản chi cho chính sách xã hội sẽ bị cắt giảm, thuế phí sẽ tăng lên làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, kìm hãm sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Tham nhũng cũng làm giảm lòng tin của người dân và doanh nghiệp đối với Chính phủ, ảnh hưởng cả về kinh tế, chính trị và xã hội.
Những tồn tại nêu trên một mặt do những khó khăn nội tại của nền kinh tế, mặt khác do hạn chế của bản thân Luật NSNN, các văn bản hướng dẫn Luật và công tác tổ chức thực hiện Luật NSNN đã làm hạn chế phần nào vai trò của CSTK trong việc thúc đẩy TTKT ở Việt Nam.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Chính sách tài khóa luôn là chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng, được Chính phủ sử dụng một cách linh hoạt trong thực tế. Trên cơ sở khái quát lại tình hình phát triển kinh tế Việt Nam, luận án tập trung phân tích thực trạng CSTK với những nội dung chính về thu, chi, bội chi NSNN, chính sách vay nợ để bù đắp bội chi, luận án minh họa thực tế thông qua hệ thống các bảng số liệu và các biểu đồ. Số liệu được sử dụng từ năm 1991 đến 2017 cho thấy toàn cảnh thực trạng CSTK trong một thời kỳ đủ dài để đưa ra những nhận định và đánh giá xác đáng về CSTK trong thời gian qua.
Các số liệu giữa các giai đoạn được minh họa, so sánh và phân tích để từ đó thấy được toàn cảnh về bức tranh kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 1991 – 2017. Qua đó, thấy được sự điều chỉnh linh hoạt CSTK, sự ứng phó kịp thời trước các biến động kinh tế thế giới nhằm hạn chế những tác động tiêu cực đối với kinh tế Việt Nam. Điều này được thể hiện rất rõ như: CSTK lúc được sử dụng theo hướng thắt chặt, lúc được sử dụng theo hướng mở rộng, gắn với vấn đề sử dụng công cụ NSNN trong điều tiết vĩ mô, tiết kiệm chi thường xuyên, cắt giảm chi đầu tư (cuối năm 2008, đầu năm 2009 và cuối năm 2010, đầu năm 2011), cũng như các gói kích thích kinh tế dưới dạng miễn, giảm thuế, hỗ trợ lãi suất tín dụng, tăng chi đầu tư (cuối năm 2009 và thời điểm từ giữa năm 2012 đến 2017).
Cũng bằng việc đánh giá thực trạng tác động của CSTK nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam, luận án đánh giá những tác động của CSTK nhằm thúc đẩy TTKT Việt Nam trên hai mặt: những thành tựu đạt được và những hạn chế, tồn tại cần khắc phục và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế đó. Luận án đã chỉ rõ những kết quả đạt được là: cải cách hành chính được đẩy mạnh; chính sách thu NSNN được cải cách, đổi mới phù hợp với yêu cầu TTKT; chính sách chi NSNN được điều chỉnh hợp lý, tăng cường đầu tư nhằm thúc đẩy TTKT. Bên cạnh đó, luận án cũng đưa ra những tồn tại, hạn chế của CSTK trong giai đoạn nêu trên, cụ thể là: CSTK chưa phát huy được vai trò điều tiết, duy trì được sự ổn định và phát triển kinh tế; chính sách thu NSNN chưa thực sự phát huy được hiệu quả là khuyến khích gia tăng nguồn thu và thúc đẩy sản xuất phát triển; chi NSNN còn bị động, chưa hợp lý và hiệu quả chưa cao; cân đối NSNN gặp nhiều khó khăn, an ninh tài chính quốc gia chưa vững chắc. Ngoài ra, luận án cũng chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế của các nội dung điều chỉnh chính sách thu, chi và cân đối NSNN ở Việt Nam, bao gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, đây là cơ sở thực tiễn cho việc đưa ra các nhóm giải pháp ở chương 4. Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
