Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA

2.1.1. Khái niệm chính sách tài khóa

Có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách tài khóa, ở các nguồn tài liệu tham khảo hầu như đều thống nhất với nhau về những nội dung cơ bản, các yếu tố cấu thành CSTK. Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Theo Samuelson, CSTK là chương trình của Chính phủ liên quan đến việc mua bán hàng hóa dịch vụ, chi tiêu cho các khoản thanh toán chuyển nhượng và các mức thuế, các sắc thuế [46].

Theo David Begg: Chính sách tài khóa là việc Chính phủ sử dụng thuế khóa và chi tiêu công cộng để điều tiết mức chi tiêu chung của nền kinh tế. Nói cách khác: CSTK là các quyết định của Chính phủ về chi tiêu và thuế khoá [40, tr.48].

Giáo trình bài giảng chính sách tài khóa, chương trình kinh tế Fullbright đưa ra định nghĩa “Chính sách tài khóa là sự thay đổi chính sách thuế và chi tiêu Chính phủ nhằm đạt được mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô” [35].

Giáo trình “Kinh tế học vĩ mô” của Học viện Tài chính đưa ra định nghĩa “Chính sách tài khóa là chính sách mà Chính phủ sử dụng hai công cụ thuế và chi tiêu của Chính phủ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế” [9].

Trong nền kinh tế thị trường, CSTK là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng mà Chính phủ các nước thường sử dụng để điều hành vĩ mô nền kinh tế. CSTK nhằm điều chỉnh thu nhập và chi tiêu của Chính phủ để hướng nền kinh tế vào mức sản lượng và việc làm mong muốn.

Nói chung, các tài liệu đều thống nhất về nội dung, khi nói đến CSTK là nói đến NSNN với hai công cụ là thu ngân sách và chi tiêu của chính phủ, qua đó tác động tới kinh tế vĩ mô.

Chính sách tài khóa có thể hiểu là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến hệ thống thuế khóa và chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và lạm phát. Như vậy, việc thực thi CSTK sẽ do chính phủ thực hiện, liên quan đến những thay đổi trong các chính sách thuế và chi tiêu chính phủ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2.1.2. Phân loại chính sách tài khóa Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Dựa vào các tiêu chí khác nhau có nhiều cách phân loại CSTK, có một số cách phân loại chủ yếu sau:

Chính sách tài khóa trung lập là chính sách cân bằng ngân sách khi đó G = T (G: chi tiêu chính phủ, T: thu nhập từ thuế). Chi tiêu của chính phủ hoàn toàn được tài trợ từ nguồn thu từ thuế và nhìn chung là có tác động trung tính lên mức độ của các hoạt động kinh tế. Trong một số trường hợp, nếu xét trong khoảng thời gian nhất định, ngân sách có thể tạm thời có sự chênh lệch: thu lớn hơn chi hoặc thu ít hơn chi trong khoảng thời gian ngắn và không đáng kể, đồng thời không có sự điều chỉnh chính sách thu-chi gây tác động đến nền kinh tế đều có thể xem là cân bằng.

Chính sách tài khóa mở rộng (G > T) là chính sách tăng cường chi tiêu của chính phủ thông qua chi tiêu, chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt hoặc kết hợp cả hai nhằm để tăng thêm và kích thích tổng cầu trong xã hội. Tăng chi của Chính phủ chủ yếu bao gồm tăng chi cho các công trình công cộng, tăng tiêu dùng hoặc sử dụng dịch vụ… trực tiếp ảnh hưởng tới các tổng cầu. Mặt khác, có thể thông qua các giải pháp kích cầu nhằm kích thích tiêu dùng và đầu tư của tư nhân, gián tiếp tăng thêm tổng cầu. Đồng thời, có thể thông qua tăng chi của Chính phủ sẽ đem lại gia tăng việc làm, tiền lương cho người lao động. Tương tự như vậy, giảm thuế cũng có thể đem lại kết quả mở rộng tổng cầu, vì giảm thuế thu nhập cá nhân (TNCN) dẫn đến cá nhân còn lại phần thu nhập cao hơn để chi tiêu, tăng tiêu dùng; giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) sẽ dẫn đến tăng vốn đầu tư còn lại của doanh nghiệp (DN), kích thích đầu tư. Tuy nhiên, tăng chi tiêu Chính phủ và giảm thuế thông thường đều dẫn tới bội chi ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn trước đó.

Chính sách tài khóa thắt chặt (G < T) là chính sách giảm bớt chi tiêu hoặc tăng nguồn thu của Chính phủ.

Việc điều hành CSTK theo hướng nào tùy thuộc vào quan điểm của từng chính phủ gắn với các bối cảnh kinh tế vĩ mô cụ thể. Có những Chính phủ theo đuổi CSTK trung lập, trong khi cũng có những Chính phủ theo đuổi các CSTK mở rộng hoặc thắt chặt gắn với từng bối cảnh cụ thể của nền kinh tế vĩ mô. Chính sách này thường được sử dụng khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng. Khi đó, giảm bớt chi tiêu của Chính phủ, bao gồm giảm bớt đầu tư cho các công trình công cộng, cắt giảm chi tiêu công, một mặt có thể giảm thấp phần chi tiêu của Chính phủ trong tổng cầu toàn xã hội, mặt khác có thể hạn chế tiêu dùng và đầu tư các nhân thông qua biện pháp tăng thuế.

Căn cứ vào xu hướng tác động của CSTK đối với chu kỳ kinh tế, CSTK được chia thành chính sách thuận chu kỳ và chính sách ngược chu kỳ.

Chính sách tài khóa thuận chu kỳ (Pro – cyclical) là CSTK được chính phủ các nước tiến hành CSTK mở rộng vào lúc có lạm phát và tiến hành CSTK thắt chặt vào lúc suy thoái.

Chính sách tài khóa ngược chu kỳ (Counter – cyclical) là CSTK được Chính phủ các nước tiến hành CSTK thắt chặt khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng nóng, và CSTK mở rộng khi nền kinh tế đang ở trạng thái suy yếu.

Thông thường khi nền kinh tế suy thoái thì Chính phủ sẽ thực thi CSTK mở rộng và ngược lại khi nền kinh tế tăng trưởng thì Chính phủ sẽ thực thi CSTK thắt chặt. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, ở các nước phát triển thường CSTK có tính ngược chu kỳ, ngược lại ở các nước đang phát triển thì CSTK lại thường có tính thuận chu kỳ.

Căn cứ vào tính ổn định của chính sách tài khóa, CSTK được chia thành CSTK ổn định và CSTK tùy nghi.

  • Chính sách tài khóa ổn định là CSTK dựa trên các cải cách thuế lâu dài và tự ổn định.
  • Chính sách tài khóa tùy nghi là chính sách mà Chính phủ sẽ tùy nghi hành động nhằm thay đổi các chính sách thuế và chi tiêu tùy theo tình hình thực tế và yêu cầu quản lý của từng thời điểm mà không phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế.

Chúng ta có thể nhận thấy điều này khi nền kinh tế rơi vào tình trạng tăng trưởng hoặc suy thoái. Chẳng hạn, khi nền kinh tế tăng trưởng nguồn thu thuế của chính phủ cũng sẽ tăng lên trong khi nhu cầu chi tiêu hay quy mô của các gói trợ cấp của chính phủ cũng sẽ giảm đi. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái thì nguồn thu thuế của chính phủ cũng sẽ bị suy giảm và nhu cầu trợ cấp của chính phủ cũng sẽ tăng lên. Một số nghiên cứu cho rằng, một CSTK tùy nghi là cần thiết, đôi khi để củng cố, đôi khi để giảm thiểu, khắc phục những hệ quả tiền tệ của các dao động ngắn hạn trong hoạt động kinh tế.

2.1.3. Mục tiêu của chính sách tài khóa Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Mục tiêu của CSTK là nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và tạo ra nhiều công ăn việc làm làm tốt cho người lao động. CSTK tác động đến nền kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, CSTK tác động đến sản lượng thực tế và vấn đề lạm phát nhằm mục tiêu ổn định nền kinh tế. Trong dài hạn, CSTK có chức năng điều chỉnh về cơ cấu kinh tế là quan trọng hơn cả để nhằm đạt mục tiêu TTKT.

Thông thường, trong điều hành CSTK của chính phủ, CSTK luôn cần đạt được ba mục tiêu cơ bản sau:

Ổn định kinh tế vĩ mô

Trong ngắn hạn, CSTK tác động đến sản lượng thực tế và vấn đề lạm phát nhằm mục tiêu ổn định nền kinh tế. Ổn định kinh tế là kết quả của việc giải quyết tốt những vấn đề kinh tế cấp bách, trên cơ sở thực hiện bình thường hóa các quan hệ kinh tế, nền kinh tế quốc dân có thể duy trì liên tục phát triển trong thời gian dài, làm giảm bớt dao động của chu kỳ kinh tế để tránh lạm phát cao và thất nghiệp nhiều. Kinh tế ổn định hay không thường biểu hiện qua tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp. Điều tiết vĩ mô thông qua công cụ thuế và chi tiêu nhằm tìm kiếm điểm dung hòa mỹ mãn nhất giữa tỉ lệ tăng trưởng, tỷ lệ thất nghiệp và tỉ lệ lạm phát, để thực hiện sự phát triển ổn định nền kinh tế trong điều kiện lạm phát thấp, thất nghiệp ít.

Tăng trưởng kinh tế

Trong dài hạn, CSTK có chức năng điều chỉnh về cơ cấu kinh tế là quan trọng hơn cả để nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế, là mong muốn làm cho tốc độ tăng của sản lượng đạt được ở mức cao nhất mà nền kinh tế có thể đạt được. Mục tiêu này thường được biểu hiện bằng tỷ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc dân hoặc tổng sản phẩm quốc nội.

Tạo công ăn việc làm

Mục tiêu này thể hiện trên một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, thông qua công cụ thuế khóa hợp lý, khuyến khích đầu tư xã hội, kích thích kinh tế phát triển, qua đó tạo nhiều công ăn việc làm tốt trong xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp.

Thứ hai, thực hiện phân phối, sử dụng vốn NSNN một cách hợp lý, đặc biệt là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, tạo cơ sở kinh tế cho các khu vực kinh tế phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội.

Thứ ba, thực hiện đầu tư vốn từ NSNN phát triển khoa học công nghệ, phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, giúp đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, người lao động có trình độ năng lực, trình độ tay nghề cao, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, các ngành, các khu vực của nền kinh tế, tạo nền tảng để kinh tế phát triển, càng tạo thêm nhiều công ăn việc làm hơn trong ngắn hạn và dài hạn.

2.1.4. Công cụ của chính sách tài khóa Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Để CSTK đạt được các mục tiêu đề ra cần thông qua các công cụ sau:

Thứ nhất, chi tiêu của Chính phủ (Chi NSNN).

Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.

Chi tiêu của Chính phủ nhằm thỏa mãn nhu cầu của Nhà nước đối với việc thực hiện các mục tiêu chung toàn xã hội. Theo Luật NSNN năm 2015, chi ngân sách nhà nước bao gồm:

  • Chi đầu tư phát triển.
  • Chi dự trữ quốc gia.
  • Chi thường xuyên.
  • Chi trả nợ lãi.
  • Chi viện trợ.
  • Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.

Chi đầu tư phát triển là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật.

Chi đầu tư xây dựng cơ bản là nhiệm vụ chi của NSNN để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Chi dự trữ quốc gia là nhiệm vụ chi của NSNN để mua hàng dự trữ theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia.

Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của NSNN nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Chi trả nợ là nhiệm vụ chi của NSNN để trả các khoản nợ đến hạn phải trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác phát sinh từ việc vay.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, đầu tư của chính phủ chủ yếu cho những ngành nghề, những lĩnh vực có hiệu ứng bên ngoài lớn, có tác dụng châm ngòi cho đầu tư của khu vực tư nhân. Vì vậy, năng lực đầu tư và phương hướng đầu tư của chính phủ có tác dụng then chốt đối với sự điều chỉnh cơ cấu huy động nguồn lực tài chính của xã hội để phát triển nền kinh tế quốc dân.

Thứ hai, thuế.

Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các pháp nhân và thể nhân cho Nhà nước theo luật định nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước và có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác như sau:

  • Thuế là một khoản đóng góp thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho nhà nước mang tính bắt buộc. Đây là một thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác.
  • Việc đóng góp thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính chất hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
  • Việc đóng góp thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước bằng luật pháp.

Có nhiều loại thuế khác nhau như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế bất động sản… nhưng tựu trung lại có thể chia thành hai loại là: thuế trực thu và thuế gián thu.

Thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp lên tài sản hoặc thu nhập của người dân. Thuế gián thu là thuế đánh lên giá trị hàng hóa, dịch vụ trong lưu thông thông qua các hành vi sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế trở thành công cụ quan trọng để huy động nguồn lực tài chính cho Chính phủ và thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Sử dụng công cụ thuế để huy động nguồn lực tài chính có ưu điểm:

  • Thuế là một công cụ phân phối có lĩnh vực và phạm vi rộng lớn. Đối tượng nộp thuế bao gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân hoạt động kinh tế và phát sinh nguồn thu nhập nộp thuế. Vì thế, thuế trở thành công cụ huy động nguồn lực chủ yếu của Chính phủ. Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
  • Phương thức huy động tập trung nguồn lực của thuế sử dụng phương pháp chuyển giao thu nhập bắt buộc. Do vậy, Nhà nước đảm bảo thực hiện sự công bằng trong việc phân bố gánh nặng của các khoản chi tiêu công cộng, mặt khác việc động viên thông qua thuế mang tính pháp lý cao.
  • Nguồn huy động tập trung thông qua thuế là tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc nội, nhờ đó mà một bộ phận đáng kể thu nhập của xã hội được tập trung vào trong tay nhà nước một cách nhanh chóng, thường xuyên và ổn định để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho các biện pháp KTXH.
  • Tính ưu thế của động viên thông qua thuế so với các công cụ tài chính khác ở chỗ: Thuế kết hợp giữa phương thức bắt buộc, được qui định dưới hình thức pháp luật cao với kích thích vật chất nhằm tạo ra sự quan tâm của các chủ thể kinh tế đến chất lượng và hiệu quả kinh doanh.

Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực cũng chứa đựng những khuyết tật vốn có. Mục tiêu can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của nền kinh tế thị trường là nhằm:

  • Đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển có hiệu quả. Chính phủ phải cố gắng duy trì môi trường cạnh tranh thuận lợi và sửa chữa những khuyết tật của thị trường như độc quyền.
  • Đảm bảo yêu cầu công bằng xã hội bằng biện pháp phân phối lại thu nhập.
  • Đảm bảo cho nền kinh tế phát triển trong thế ổn định theo hướng làm giảm tính chu kỳ của nền kinh tế, giảm thất nghiệp, kiềm chế lạm phát và thúc đẩy TTKT.

Thuế là công cụ tác động mạnh mẽ tới mục tiêu của CSTK. Thông qua chính sách thuế với mục tiêu khuyến khích hay hạn chế đầu tư, khuyến khích hay hạn chế sản xuất kinh doanh, khuyến khích hay hạn chế tiêu dùng sẽ ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp tới tăng, giảm sản lượng, đến công ăn việc làm và công bằng xã hội. Nó còn góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế qua đó góp phần ổn định và thúc đẩy kinh tế phát triển.

2.1.5. Nội dung chính sách tài khóa

Có thể nói: Chính sách tài khóa là quyết định của Chính phủ về chi tiêu và thuế khóa. Vì vậy, CSTK bao gồm ba nội dung chủ yếu, đó là: chính sách động viên NSNN, chính sách chi NSNN và chính sách cân đối NSNN. Trong từng bộ phận đó lại có nhiều chính sách cụ thể phục vụ các mục đích khác nhau. Các bộ phận luôn có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau để tạo nên sức mạnh tổng hợp của chính sách.

Chính sách động viên ngân sách

Trong đó chủ yếu là chính sách thuế, nội dung của nó thường bao gồm các yếu tố:

  • Mức độ động viên: Đây là yếu tố cơ bản thể hiện tác động trực tiếp của CSTK đến nền kinh tế, qua đó tác động đến tổng cung và hệ quả là thúc đẩy hay hạn chế TTKT. Khi cần thúc đẩy TTKT, các Chính phủ thường hạ thấp tỷ lệ động viên để tăng khả năng tích lũy của các DN và dân cư, qua đó làm tăng tổng cung của nền kinh tế và ngược lại, khi kinh tế tăng trưởng quá nóng, lạm phát bùng phát, chính phủ thường nâng tỷ lệ động viên vào NSNN, hạn chế đầu tư, đặc biệt những ngành phát triển quá nóng, hạn chế chi tiêu của khu vực các hộ gia đình,qua đó làm giảm tổng cung của nền kinh tế, sản lượng thực tế sẽ dịch chuyển về sản lượng tiềm năng, nền kinh tế sẽ trở về trạng thái cân bằng và ổn định. Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
  • Phương thức động viên và đối tượng động viên: Đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng và nhạy cảm của mỗi quốc gia, vì nó liên quan đến lợi ích của nhà nước, lợi ích của các DN, của các cá nhân, các chủ thể khác trong nền kinh tế. Vấn đề là thu thuế, phí, lệ phí từ đâu, của ai, và cách thức thu như thế nào để vừa động viên tập trung được vốn cho nhà nước, vừa giải quyết hài hòa các mặt lợi ích khác nhau, vừa phát huy tác dụng tích cực của chính sắc thuế đối với các vấn đề kinh tế và xã hội. Vì vậy mỗi quốc gia cần phải căn cứ vào những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để xây dựng một hệ thống thuế, phí, lệ phí phù hợp, tích cực để vừa khai thác và động viên một cách hợp lý, hiệu quả các nguồn thu, đồng thời phát huy tính tích cực thúc đầy tăng trưởng, đảm bảo công bằng xã hội…

Chính sách chi NSNN

Thông thường chính sách chi NSNN được quán triệt trong nội dung của CSTK bao gồm các nội dung:

  • Xác định chính xác mục tiêu chi NSNN: Xác định rõ ràng, nhất quán qua đó tập trung sử dụng vốn cho đầu tư phát triển, cho các vấn đề xã hội sẽ tác động đến tổng cầu đến tạo dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và hiệu quả sẽ đảm bảo nền kinh tế ổn định và phát triển bền vững.
  • Xác định chính xác quy mô chi NSNN cho từng năm tài khóa và cho các kế hoạch trung và dài hạn: Đây là yếu tố quan trọng, trực tiếp quyết định độ mở của CSTK. Điều chỉnh quy mô chi NSNN sẽ có tác động trực tiếp tới tổng cầu để tác động đến nền kinh tế.
  • Xác định chính xác phạm vi chi NSNN: mặc dù không trực tiếp làm thay đổi tổng cầu nhưng nó tác động đến chi tiêu của xã hội, qua đó tác động gián tiếp làm thay đổi tổng cầu của nền kinh tế. Như các khoản chi đầu tư phát triển tạo điều kiện xây dựng phát triển hạ tầng cơ sở, khuyến khích khu vực doanh nghiệp, các hộ gia đình tăng đầu tư; các khoản chi an sinh xã hội góp phần tăng chi các hộ gia đình.

Chính sách cân đối NSNN

Cân đối NSNN là một bộ phận quan trọng của CSTK, phản ánh mối quan hệ tương tác giữa thu và chi ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu KTXH.

Tình trạng các khoản chi của NSNN lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách.

Chính sách cân đối ngân sách thể hiện: Quy mô và mức độ bội chi ngân sách (thường được thể hiện qua chỉ tiêu tỷ lệ bội chi ngân sách so với GDP).

Theo phái trọng cầu: Cần tăng trưởng chi NSNN, chấp nhận thâm hụt ngân sách để ổn định và phát triển kinh tế, thậm chí có thể in thêm tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách.

Phái trọng cung cho rằng: không phải kích cầu mà là tăng cung để tăng thu nhập, sản lượng và tiết kiệm, kích thích TTKT, qua đó tăng thu cho NSNN. Muốn tăng cung thì phải giảm thuế để tăng lợi nhuận ròng cho các doanh nghiệp và kích thích đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh. Trong ngắn hạn, cách này có thể làm thu NSNN giảm xuống, thâm hụt ngân sách tăng lên, tuy nhiên, trong dài hạn, nền kinh tế phát triển sẽ làm thu ngân sách tăng, giảm bội chi ngân sách.

Theo thuyết “kinh tế hỗn hợp”: Sử dụng CSTK linh hoạt, coi sự thay đổi thu, chi NSNN, nhất là các chương trình mục tiêu, mua sắm hàng hóa, dịch vụ công và thâm hụt NSNN là những yếu tố hữu hiệu để tác động đến việc thực hiện những mục tiêu kinh tế vĩ mô.

Vấn đề quan trọng là cần xác định rõ việc sử dụng bội chi như thế nào và lấy nguồn nào để bù đắp bội chi nhằm sử dụng tốt công cụ này thúc đẩy TTKT chứ không phải để nó lại tác động tiêu cực đến KTXH.

2.1.6. Các nguyên tắc tài khóa Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

2.1.6.1. Nguyên tắc cân bằng ngân sách

Trong lĩnh vực tài chính công, một nguyên tắc quan trọng của NSNN được các nhà kinh tế học cổ điển hết sức coi trọng và hiện nay vẫn được ghi nhận trong pháp luật hầu hết các quốc gia, đó là nguyên tắc ngân sách thăng bằng. Ngân sách thăng bằng được hiểu là một ngân sách mà số thu bằng số chi. Điều này giúp Nhà nước tiết kiệm chi tiêu, quyết định chi tiêu trên cơ sở khả năng bảo đảm của nguồn thu ngân sách. Lợi thế của chính sách này là giữ ngân sách ổn định. Chính phủ phải cân đối giữa các khoản thu và chi từ NSNN trong ngắn hạn và cũng cần dự báo và tạo ra các khoản thu trong dài hạn (bởi vì nhu cầu chi luôn là vô tận còn các khoản thu luôn có giới hạn).

Hiện nay trên thế giới, mặc dù tài chính công vẫn dựa trên nguyên tắc ngân sách thăng bằng, nhưng khái niệm thăng bằng không được hiểu một cách cứng nhắc như quan niệm của các nhà kinh tế học cổ điển, mà đã có sự uyển chuyển hơn.

2.1.6.2. Nguyên tắc vàng

Nguyên tắc vàng là dùng doanh thu từ thuế để tài trợ cho các khoản chi tiêu thường xuyên của chính phủ và vay mượn để tài trợ cho các khoản đầu tư công.

Nguyên tắc vàng trong quản lý và sử dụng ngân sách được giới thiệu tại Anh từ năm 1998 và từ đó góp phần quan trọng trong việc ổn định các khuôn khổ tài khóa của nước này.

Theo nguyên tắc này, trong trường hợp ngân sách phải đi vay thì phần vay mượn chỉ dành cho các khoản đầu tư phát triển, còn số thu từ các khoản thuế, phí để tài trợ cho các khoản chi tiêu thường xuyên của chính phủ. Nói cách khác, không sử dụng tiền đi vay dành cho chi thường xuyên. Việc thực hiện nguyên tắc này giúp chính phủ các nước cải thiện khả năng trả nợ và giảm áp lực trả nợ các khoản vay của chính phủ.

Đối với các nước giàu, chính sách này có thể khả thi, mặc dù các nhà chính trị sẽ phải cực kỳ tuân theo nguyên tắc và kỷ luật với chi tiêu của mình.

Nhưng ở các nước nghèo, chính sách này rất khó thực hiện, bởi vì chính phủ phải cắt giảm bớt đầu tư vào thời kỳ kinh tế suy yếu. Chi tiêu hiện tại của chính phủ và doanh thu thuế trong một chu kỳ kinh tế cho phép chính phủ tiêu dùng nhiều hơn trong thời kỳ khủng hoảng. Nhưng chính phủ ở các nước nghèo chỉ có thể vay nợ vào lúc kinh tế phát triển.

2.1.6.3. Nguyên tắc các quỹ bình ổn Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Trên thế giới đã có nhiều quỹ bình ổn được hình thành ở nhiều quốc gia, chẳng hạn như quỹ bình ổn dầu của Na Uy, Nga hoặc Chilê. Quỹ bình ổn được hình thành chủ yếu là nhờ vào các nguồn lợi từ khai thác và xuất khẩu các nguồn tài nguyên thiên nhiên và năng lượng không thể tái tạo lại, phổ biến là dầu mỏ.

Nguyên tắc của các quỹ bình ổn là doanh lợi thu được từ các nguồn tài nguyên như dầu mỏ, khí ga, kim loại có thể được đầu tư vào các loại trái phiếu quốc tế để tạo ra doanh thu về dài hạn và tạo nguồn tài trợ cho chi tiêu chính phủ cũng như lúc giá cả nguyên nhiên liệu ở mức thấp.

Mục đích của các quỹ bình ổn là ổn định chi tiêu của chính phủ khi có sự biến động giá cả, sự cạn kiệt tài nguyên và do tính không chắc chắn của các nguồn thu ngân sách, giảm thiểu những tác động tiêu cực của biến động thị trường nhằm mục tiêu ổn định chu kỳ kinh tế. Vào thời kỳ kinh tế suy thoái, một phần quỹ bình ổn có thể được sử dụng để bù đắp vào phần suy giảm của NSNN, qua đó giúp chi tiêu của chính phủ ít phụ thuộc vào các chu kỳ kinh tế cũng như việc phải đi vay hay phát hành các công cụ nợ.

2.1.6.4. Nguyên tắc 1% của Chilê

Nguyên tắc 1% được áp dụng tại Chilê kể từ năm 2000, một nguyên tắc quản lý và sử dụng NSNN được thực hiện tại Chilê đã giúp quốc gia này đạt được nhiều thành tựu trong việc triển khai các CSTK ngược chu kỳ.

Nguyên tắc này cho rằng, chính phủ cần đều đặn theo chu kỳ điều chỉnh thặng dư ngân sách của mình phải ở mức ít nhất 1%. Nguyên tắc này được tạo ra để phá vỡ tính thuận chu kỳ của các chính sách.

Từ năm 2001 Chilê đã đều đặn theo chu kỳ điều chỉnh thặng dư ngân sách của mình phải ở mức ít nhất 1% GDP. Đến năm 2007, mục tiêu được giảm xuống mức thặng dư 0,5% GDP và vào năm 2009 là 0%. Thực tế cho thấy, những năm sau đó xảy ra thâm hụt ngân sách ở Chilê do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, mức thâm hụt là thấp và có thể hiểu được khi chính phủ nước này nỗ lực thực hiện các công cụ tài khóa ngược chu kỳ kinh tế nhằm khắc phục hậu quả do tổng cầu suy giảm.

Ngày nay, nguyên tắc 1% của Chilê được nhắc nhiều trong các công trình nghiên cứu về CSTK và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này một lần nữa khẳng định nguyên tắc cân bằng ngân sách đóng vai trò quan trọng vào thời kỳ suy thoái, làm giảm một cách có hiệu quả những ảnh hưởng tiêu cực do yếu tố bên ngoài gây ra, tạo tiền đề cho nền kinh tế phục hồi và gia tăng tính bền vững của tăng trưởng kinh tế.

2.2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

2.2.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Khái niệm tăng trưởng kinh tế lần đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm Của cải của các dân tộc” của Adam Smith xuất bản năm 1776. Theo đó, A.Smith cho rằng, tăng trưởng kinh tế là tăng sản lượng đầu ra bình quân theo đầu người hoặc tăng sản phẩm của lao động. Theo ông, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào 5 nhóm nhân tố là: đất đai (Đ), lao động(L), tư bản(V), tiến bộ kỹ thuật (K) và môi trường kinh tế – xã hội (M) và dùng hàm sản xuất để biểu thị [47]:

Yt = f (Lt, Vt, Đt, Kt, Mt) Trong đó, Yt là sản lượng đầu ra tại thời điểm t.

A.Smith cho rằng tăng trưởng đầu ra bình quân đầu người, một mặt phụ thuộc vào số lượng và chất lượng lao động đầu vào, mặt khác do tỷ lệ giữa người lao động sản xuất và phi sản xuất quyết định. A.Smith coi trọng vai trò của tích lũy tư bản đối với tăng trưởng kinh tế. Theo ông, muốn tăng của cải thì phải tăng số lượng người lao động sản xuất và nâng cao năng suất lao động, còn muốn tăng năng suất lao động cần phải tăng đầu tư tư bản để cải tiến máy móc, thiết bị [47].

David Ricardo (1772-1823) với tác phẩm: “Các nguyên tắc của chính trị kinh tế học và thuế khóa”, năm 1817, Ricardo cho rằng: Tăng trưởng là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí này lại phụ thuộc vào đất đai [29]. Do đó, đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng. Cũng như A.Smith, Ricardo coi đất đai, lao động, tư bản tiến bộ kỹ thuật và môi trường thể chế KTXH là các nhân tố tác động đến tăng trưởng. Tuy nhiên, những nội dung cơ bản liên quan đến TTKT trong lý thuyết của ông có những điểm khác với A.Smith. Điểm cốt lõi trong lý luận về TTKT của D.Ricardo là tích lũy cơ bản. Ngoài ra, ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của ngoại thương đối với TTKT của một nước.

Lý thuyết của K.Marx (1818-1883) đóng góp lớn vào lý thuyết tăng trưởng kinh tế với công trình nổi tiếng “Tư bản”:

KMarx là nhà kinh tế học, nhà xã hội học, nhà triết học, chính trị học và lịch sử nổi tiếng của thế kỷ XIX. K.Marx đã đưa ra các yếu tố tác động đến TTKT bao gồm: lao động, tư bản, tiến bộ khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên (đất đai), cũng như yếu tố sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. K.Marx cho rằng, chỉ có lao động mới tạo ra giá trị, ông đánh giá rất cao vai trò của lao động trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế cũng như trong việc sản xuất giá trị thặng dư. Vai trò của khoa học kỹ thuật, tư bản và lao động được K.Marx đặc biệt coi trọng trong thúc đẩy TTKT. Trong khi đó, tài nguyên thiên nhiên là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình sản xuất, song K.Marx không cho rằng đất đai là giới hạn của tăng trưởng. [45] Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế của trường phái Tân cổ điển:

Lý thuyết của trường phái này xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh có sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật. Hàng loạt các phát minh khoa học và các tài nguyên được khai thác phục vụ cho phát triển kinh tế. Với các đại diện: Stanley Jevons (Anh); Carl Menger (Áo); LéonValras (Pháp); Eugenvon Bohm – Bawerk (Áo); Alfred Marshall (Anh). Các nhà Tân cổ điển cũng đưa ra khái niệm: sự phát triển theo chiều sâu, có nghĩa là gia tăng vốn cho một đơn vị lao động trong sản xuất, còn sự gia tăng về vốn phù hợp với gia tăng về lao động được gọi là: phát triển kinh tế theo chiều rộng. Các nhà kinh tế Tân cổ điển còn cho rằng tiến bộ khoa học kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, cũng như trường phái cổ điển, trường phái tân cổ điển cho rằng: trong điều kiện thị trường cạnh tranh, khi nền kinh tế có biến động thì sự linh hoạt về giá cả và tiền công là nhân tố cơ bản khôi phục nền kinh tế về vị trí sản lượng tiềm năng với việc sử dụng hết nguồn lao động. Họ cho rằng chính sách kinh tế của nhà nước không thể tác động vào sản lượng, nó chỉ có thể tác động vào mức giá của nền kinh tế, do đó, vai trò của chính phủ là mờ nhạt trong tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Lý thuyết của John Maynard Keynes (1884 – 1946):

Năm 1936, ông đã xuất bản cuốn sách rất nổi tiếng “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ”. Ông đã có sự thay đổi quan điểm và cách nhìn về nền kinh tế và vai trò của Nhà nước trong xã hội. Keynes cho rằng: để thúc đẩy tăng trưởng, thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, Chính phủ phải điều tiết bằng chính sách kinh tế, những chính sách này nhằm tăng cầu tiêu dùng. Ông đề nghị, Chính phủ cần tăng chi tiêu NSNN để kích thích đầu tư thông qua các đơn đặt hàng của chính phủ và trợ cấp vốn cho các DN. Để kích thích đầu tư phải có biện pháp tăng lợi nhuận và giảm lãi suất, muốn vậy phải tăng khối lượng tiền tệ trong lưu thông. Keynes đề nghị giảm thuế khi kinh tế suy thoái để khuyến khích đầu tư, tăng lợi nhuận cho các DN, tăng thu nhập khu vực các hộ gia đình, làm cho chi tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình tăng lên, thúc đẩy đầu tư xã hội. Ông tán thành việc gia tăng đầu tư của chính phủ vào các công trình công cộng và các biện pháp khác nhau như một loại bơm trợ lực khi đầu tư tư nhân giảm sút để thúc đẩy tăng trưởng [43].

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại:

Dựa vào lý thuyết của Keynes, các nhà kinh tế đã đưa ra lý thuyết TTKT hiện đại ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp, trong đó thị trường trực tiếp xác định những vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế và Chính phủ tham gia điều tiết mức độ nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường. Thực chất của nền kinh tế hỗn hợp là sự xích lại gần nhau của học thuyết kinh tế Tân cổ điển và học thuyết kinh tế của Keynes. Những ý tưởng cơ bản của học thuyết này được thể hiện rõ trong tác phẩm: Kinh tế học của P.A.Samuelson xuất bản năm 1948 [46]. Lý thuyết về TTKT hiện đại thống nhất với cách xác định mô hình kinh tế tân cổ điển về các yếu tố tác động đến sản xuất. Họ cho rằng, tổng mức cung của nền kinh tế được xác định bởi yếu tố đầu vào của sản xuất, đó là nguồn lao động, vốn sản xuất, tài nguyên thiên nhiên và khoa học công nghệ.

Y = f (K, L, R, T)

Samuelson gọi những yếu tố này là nguồn gốc của sự tăng trưởng, lý thuyết của ông cũng thống nhất với mô hình Harrot – Domar về vai trò của vốn đầu tư với TTKT, Ông cho rằng: một trong những đặc trưng quan trọng của kinh tế hiện đại là kỹ thuật công nghiệp tiên tiến hiện đại dựa vào việc sử dụng vốn lớn [46]. Do đó, vốn là cơ sở để phát huy tác dụng của các yếu tố khác, vốn là cơ sở để tạo ra việc làm và để có công nghệ tiên tiến.

Theo ông, trong nền kinh tế hỗn hợp, Chính phủ có bốn chức năng cơ bản: Thiết lập khuôn khổ pháp luật; Xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô; Tác động vào việc phân bổ tài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế; Thiết lập các chương trình tác động tới việc phân bổ thu nhập. Theo đó, Chính phủ cần tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, các hộ gia đình tham gia sản xuất và trao đổi sản phẩm. Chính phủ cũng cần đưa ra những định hướng cơ bản về phát triển kinh tế, những ưu tiên trong phát triển, sử dụng các công cụ thuế, phí, lệ phí, công cụ tín dụng, lãi suất để khuyến khích đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng. Chính phủ thường xuyên sử dụng các công cụ để duy trì công ăn việc làm ở mức cao. Đồng thời chính phủ định hướng một tỷ lệ tăng trưởng thích hợp, thực hiện phân phối lại thu nhập hợp lý để đảm bảo giải quyết hài hòa các mặt lợi ích, thực hiện công bằng xã hội. Qua đó để duy trì ổn định và thúc đẩy TTKT bền vững.

Như vậy là: Có nhiều quan điểm về TTKT, nhưng về cơ bản đều thống nhất khi cho rằng, TTKT được hiểu là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng giá trị tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người”; “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế một khoảng thời gian nhất định và thường là một năm. Sự gia tăng thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của các thời kỳ”.

Với ý nghĩa như vậy, TTKT là khái niệm diễn tả động thái của nền kinh tế phát triển. Nó nói lên sự tăng lên về sản lượng hàng hóa, sự mở rộng về quy mô sản xuất, sự tăng lên của thu nhập quốc dân GDP và sự tăng lên của thu nhập quốc dân đầu người.

Tăng trưởng về thực chất là sự gia tăng về khối lượng hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia hay một đơn vị đo lường để thể hiện tăng trưởng nhưng thông dụng nhất là các chỉ tiêu như tốc độ gia tăng Tổng sản phẩm xã hội (GDP) hàng năm hoặc tốc độ gia tăng Tổng sản phẩm xã hội thuần (GNP) hàng năm, hoặc có thể là GDP bình quân đầu người và tốc độ gia tăng của GDP bình quân đầu người.

Có thể khẳng định rằng: Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về sản lượng hàng hóa, sự mở rộng về quy mô sản xuất, sự tăng lên của thu nhập quốc dân GDP và sự tăng lên của thu nhập quốc dân đầu người nhưng không làm tổn hại đến tương lai.

2.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Để phản ánh mức độ TTKT, các nhà kinh tế thường dùng nhóm chỉ số dưới đây:

  • Tổng giá trị sản xuất (GO): là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất (giá trị của những sản phẩm vật chất và dịch vụ) của toàn bộ nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Chỉ tiêu này được xác định bằng tổng giá trị sản xuất của từng ngành kinh tế, thành phần kinh tế. Tổng giá trị sản xuất gồm các yếu tố: chi phí trung gian và giá trị mới tăng thêm.
  • Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Tổng sản phẩm quốc nội là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ được tạo ra trong năm trên phạm vi lãnh thổ quốc gia, thường được tiếp cận theo các cách khác nhau:
  • Về phương diện sản xuất, GDP được xác định bằng toàn bộ giá trị gia tăng của các ngành, các khu vực sản xuất và dịch vụ trong cả nước.
  • Về phương diện tiêu dùng, được biểu hiện ở toàn bộ sản phẩm và dịch vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành của thị trường được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ hàng năm.
  • Về phương diện tiêu dùng, tổng sản phẩm trong nước là toàn bộ giá trị mà hộ gia đình, doanh nghiệp và tổ chức nhà nước thu được do giá trị gia tăng đem lại.

Tổng sản phẩm trong nước chủ yếu phản ánh khả năng sản xuất của một nền kinh tế. Có ba cách tính GDP:

GDP danh nghĩa là cách tính tổng sản phẩm nội địa theo giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ theo giá hiện hành. Sản phẩm sản xuất ra trong thời kỳ nào thì lấy giá của thời kỳ đó. Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

GDP thực tế thì chỉ việc điều chỉnh lại của con số này vì những lý do như sự mất giá của đồng tiền để có thể ước lượng chuẩn hơn số lượng thực sự của hàng hóa và dịch vụ tạo thành GDP.

GDP tiêu dùng được tính là tổng các khoản tiêu dùng hoặc tổng của các khoản chi tiêu hoặc tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế. Về lý thuyết, dù tính theo cách nào cũng cho ra kết quả như nhau.

Tổng thu nhập quốc gia (GNI): bao gồm tổng giá trị sản xuất trong một quốc gia cộng với thu nhập nhận được từ các quốc gia khác, tương tự như các khoản thanh toán chưa được thực hiện cho các quốc gia khác.

Các khoản thu ròng từ thu nhập ban

GNI = GDP + đầu trong các nguồn thu phí cư trú

Tổng sản phẩm quốc gia (GNP): là một chỉ tiêu kinh tế đánh giá sự phát triển kinh tế của một đất nước. Nó được tính là tổng giá trị bằng tiền của các sản phẩm cuối cùng do dịch vụ mà công dân của một nước làm ra trong một khoảng thời gian nào đó, thông thường là một năm tài chính, không kể làm ra ở đâu.

Tổng sản phẩm quốc dân ròng (NNP) được tính bằng cách lấy GNP theo chi phí các yếu tố sản xuất trừ đi khấu hao.

NNP = GNP – Dp

Trong đó: Dp là giá trị khấu hao TSCĐ trong kỳ.

Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI) là thu nhập của hộ gia đình sau khi nộp thuế va khoản thu nhận chuyển giao. Nó cho biết khoản tiền có sẵn để hộ gia đình chi tiêu và tích lũy.

Thu nhập quốc gia trên đầu người là GNP thực tế tính theo đầu người. GNP thực tế cho thấy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nhưng chưa thể hiện được mức sống cá nhân chung của từng quốc gia.

GNP, GNI, GDP, NNP, NDI, GO và thu nhập quốc dân trên đầu người là các thước đo trạng thái tăng trưởng kinh tế. Mỗi chỉ tiêu đều có ý nghĩa nhất định và được sử dụng tùy theo mục đích nghiên cứu. Nó là những số đo mang tính chất tương đối các trạng thái và tốc độ biến đổi của TTKT. Trong các chỉ tiêu nói trên thì tổng sản phẩm quốc nội GDP là phương thức tốt nhất để đo lường hoạt động kinh tế của một quốc gia.

2.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Từ lý thuyết và thực nghiệm của các trường phái kinh tế khác nhau về TTKT, có thể thấy ở các nền kinh tế khác nhau, các yếu tố chính quyết định đến TTKT đều bao gồm: vốn, lao động, khoa học và công nghệ, tài nguyên,… Dựa vào tính chất và nội dung, các nhân tố này có thể được phân chia thành các nhóm khác nhau.

2.2.3.1. Các nhân tố tác động trực tiếp đến tổng cung

Những nhân tố tổng cung ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế gồm:

  • Vốn (K)
  • Lao động (L)
  • Khoa học và công nghệ (T)
  • Tài nguyên thiên nhiên (R)

Vốn (K)

Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng, có tác động trực tiếp đến TTKT. Vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến TTKT được hiểu vốn vật chất chứ không phải dưới dạng tiền (giá trị). Nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích lũy lại của nền kinh tế, bao gồm: nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng và các trang thiết bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào trong sản xuất. Vai trò của vốn đối với TTKT được các nhà kinh tế trường phái Keynes đánh giá rất cao. Cụ thể, nó được lượng hóa thông qua mô hình Harrod – Domar.

Vốn (vốn vật chất, máy móc thiết bị, …) còn được tạo ra bằng cách tiết kiệm và đầu tư. Các hộ gia đình, các doanh nghiệp và chính phủ tiết kiệm thu nhập của họ từ vay mượn của người khác để đầu tư. Đầu tư là bộ phận lớn và hay thay đổi. Do đó những thay đổi trong đầu tư có thể tác động lớn đến tổng cầu do đó tác động đến sản lượng và việc làm. Khi đầu tư tăng lên thì nhu cầu chi tiêu mua sắm thiết bị cũng tăng. Khi có nhiều nhà máy, phương tiện vận tải được đưa vào sản xuất sẽ làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế và từ đó thúc đẩy quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Lao động (L)

Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của sản xuất. Trước đây, người ta chỉ quan niệm lao động là yếu tố vật chất giống như vốn và được xác định bằng số lượng lao động của mỗi quốc gia. Những mô hình TTKT hiện đại gần đây đã nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động là vốn nhân lực, đó là lao động có kỹ năng sản xuất, lao động có thể vận hành máy móc thiết bị phức tạp, lao động có sáng kiến và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế… Hiện nay, TTKT của các nước đang phát triển được đóng góp bởi quy mô (số lượng) lao động, còn vốn nhân lực có vị trí chưa cao do trình độ và chất lượng nguồn nhân lực của các nước này còn thấp.

Mọi quốc gia điều nhấn mạnh đến mục tiêu “phát triển vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển”. Vì vậy, lao động có vai trò là động lực của sự phát triển, là động lực quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Vốn và lao động sẽ làm việc với nhau để tạo ra một mức GDP bình quân đầu người, được gọi là trạng thái ổn định.

Khoa học và công nghệ (T)

Khoa học và công nghệ là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng ở các nền kinh tế ngày nay. Yếu tố khoa học và công nghệ cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng:

  • Thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm và cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật. Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam
  • Thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất.

Vai trò của công nghệ đã được nhiều nhà kinh tế nổi tiếng đánh giá cao đối với tăng trưởng như Solow (1956). Solow (1956) cho rằng “toàn bộ tăng trưởng bình quân đầu người trong dài hạn đều thu được nhờ tiến bộ kỹ thuật”.

Trong suốt lịch sử loài người, TTKT rõ ràng không là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất. Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất hiệu quả hơn. Khoa học và công nghệ ngày càng phát triển nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới… có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất.

Tài nguyên thiên nhiên (R)

Tài nguyên thiên nhiên là những yếu tố của tự nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến và sử dụng để tạo ra các sản phẩm vật chất. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, phong phú được khai thác tạo điều kiện tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh chóng, nhất là đối với các nước đang phát triển.

  • Theo công dụng bao gồm: các nguồn năng lượng, khoáng sản, rừng, đất đai, nguồn nước, biển và thủy sản, khí hậu.
  • Theo khả năng tái sinh, bao gồm: tài nguyên có khả năng tái sinh thông qua hoạt động của con người (nguồn tài nguyên rừng và các loại động thực vật), tài nguyên có khả năng tái sinh vô tận trong thiên nhiên (nguồn năng lượng mặt trời, thủy triều, sức gió, thủy năng sông ngòi và các nguồn nước, không khí) và tài nguyên không có khả năng tái sinh bao gồm những tài nguyên có qui mô không đổi như đất đai và những tài nguyên khi sử dụng hết dần như các loại khoáng sản, dầu khí.

Việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên là vấn đề có tính chiến lược, lựa chọn công nghệ để có thể sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên của quốc gia là vấn đề sống còn của phát triển. Sử dụng lãng phí tài nguyên có thể được xem như sự hủy hoại môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên. Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong giai đoạn đầu của các nước đang phát triển thường quan tâm đến việc xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sản phẩm có được từ nguồn tài nguyên chưa qua sơ chế hoặc ở dạng sơ chế. Bên cạnh đó, tài nguyên thiên nhiên còn là yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích lũy vốn và phát triển ổn định. Việc tích lũy vốn đối với hầu hết các nước đòi hỏi phải trải qua một quá trình lâu dài, liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, với những nước đã được thiên nhiên ưu đãi nguồn tài nguyên lớn, đa dạng có thể rút ngắn quá trình tích lũy vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng hóa nền kinh tế tạo nguồn vốn tích ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Sự giàu có về tài nguyên, là cơ sở để phát triển nhiều ngành kinh tế. Vì vậy, những nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú có thể tăng trưởng trong những điều kiện ổn định.

2.2.3.2. Các nhân tố tác động đến tổng cầu Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Kinh tế học vĩ mô đã cho thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu, bao gồm:

Chi cho tiêu dùng cá nhân (C)

Bao gồm các khoản chi cố định, chi thường xuyên và các khoản chi tiêu khác ngoài dự kiến phát sinh. Chi cho tiêu dùng cá nhân sẽ tác động tới tổng cầu AD và từ đó tác động đến sản lượng của nền kinh tế. Chi cho tiêu dùng cá nhân sẽ tác động đến tổng cầu AD và từ đó tác động đến sản lượng của nền kinh tế. Chi cho tiêu dùng cá nhân phụ thuộc vào tổng thu nhập khả dụng (DI) và xu hướng tiêu dùng biên (MPC).

Chi tiêu của Chính phủ (G)

Chi tiêu của Chính phủ bao gồm các khoản mục chi mua hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ. Trong một nền kinh tế, chi tiêu của Chính phủ vừa tạo ra hiệu ứng thu nhập vừa tạo ra hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân, do vậy, tùy vào nền kinh tế là đóng, mở cửa với tỷ giá cố định hay tỷ giá thả nổi mà tác động của G vào sản lượng của nền kinh tế là khác nhau. Nguồn chi tiêu của Chính phủ phụ thuộc vào khả năng thu ngân sách.

Chi cho đầu tư (I)

Là các khoản chi tiêu cho các nhu cầu đầu tư của các DN và các đơn vị kinh tế. Các khoản đầu tư này sẽ là tiêu dùng của các nhà đầu tư và có tác động trực tiếp đến sản lượng của nền kinh tế. Nguồn chi cho đầu tư được lấy từ khả năng tiết kiệm từ các khu vực của nền kinh tế, trong đó đầu tư khôi phục là đầu tư bù đắp giá trị hao mòn được lấy từ quỹ khấu hao còn đầu tư thuần túy được lấy từ các khoản tiết kiệm lấy từ khu vực nhà nước, các hộ gia đình và DN.

Chi qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX = X – M)

Thực tế, giá trị hàng hóa xuất khẩu là các khoản phải chi cho các yếu tố nguồn lực trong nước, còn giá trị nhập khẩu là giá trị của các loại hàng hóa sử dụng trong nước nhưng lại không phải bỏ ra các khoản chi phí cho các yếu tố nguồn lực trong nước. Vì vậy, chênh lệch giữa kim ngạch xuất và nhập khẩu (NX) chính là khoản chi phí ròng phải bỏ ra cho quan hệ thương mại quốc tế.

Tăng trưởng có thể được đo bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và GDP = C + I + G + NX. Do vậy, sự thay đổi của một trong bốn nhân tố đều có thể làm cho GDP thay đổi, sự thay đổi đó thể hiện sự biến động trong tăng trưởng kinh tế.

Dưới tác động của thị trường các yếu tố của tổng cầu thường xuyên biến đổi, nếu tổng cầu bị giảm sút sẽ gây ra lãng phí rất lớn các yếu tố nguồn lực của quốc gia đã có nhưng chưa được huy động và làm hạn chế mức tăng trưởng thu nhập. Ngược lại, nếu mức tổng cầu quá cao sẽ làm cho mức thu nhập của nền kinh tế tăng nhưng giá cả các yếu tố nguồn lực trở nên đắt đỏ, đẩy mức giá chung của nền kinh tế lên. Căn cứ vào tính chất tác động này mà Chính phủ có các chính sách điều tiết tổng cầu sao cho đảm bảo thực hiện các mục tiêu tăng trưởng tương ứng với yêu cầu ổn định giá.

Như vậy, có thể thấy nguồn gốc của tăng trưởng do nhiều yếu tố hợp thành, vai trò tương đối của chúng phụ thuộc vào hoàn cảnh và thời kỳ phát triển của mỗi quốc gia. Đối với các nước nghèo, vốn vật chất, lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng. Ngược lại, đối với các nước công nghiệp thì vai trò của vốn nhân lực và tiến bộ công nghệ quan trọng hơn. Các công trình nghiên cứu về nguồn gốc tăng trưởng của Romer (1986) cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi nền kinh tế từ hậu công nghiệp sang kinh tế tri thức, thì vốn nhân lực và khoa học công nghệ có vai trò vượt trội hơn các yếu tố truyền thống khác đối với TTKT.

2.3. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Chính sách tài khóa là chính sách kinh tế quan trọng giúp nhà nước có thể giải quyết các vấn đề kinh tế vĩ mô. Trong đó, TTKT là mục tiêu kinh tế vĩ mô mà nhà nước đặc biệt quan tâm, điều chỉnh bằng nhiều chính sách khác nhau. CSTK có ảnh hưởng tới TTKT trong cả hai trường hợp: nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái hoặc tăng trưởng quá nóng.

Sự tác động của CSTK tới mục tiêu TTKT được thông qua việc tác động tới sản lượng của nền kinh tế. Sự tác động này hướng tới việc đảm bảo sản lượng của nền kinh tế đạt tới mức sản lượng tiềm năng của quốc gia. Như vậy, các công cụ của CSTK được sử dụng để giải quyết hai trường hợp trái ngược nhau: sản lượng thực tế cao hơn mức sản lượng tiềm năng (kinh tế tăng trưởng quá nóng) và sản lượng thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năng (nền kinh tế rơi vào trạng thái suy thoái, khủng hoảng). Các công cụ của CSTK sẽ tác động để đưa sản lượng về trạng thái cân bằng.

2.3.1. Chính sách tài khóa ổn định tự động (chính sách tự điều tiết)

Trong một thế giới theo số nhân của Keynes đơn giản như vậy, CSTK có thể coi là một phương thuốc hữu hiệu để ổn định nền kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế, CSTK không có đủ sức mạnh đến như vậy, đặc biệt trong nền kinh tế hiện đại. Các nền kinh tế thị trường luôn không ổn định, chu kỳ kinh tế chịu tác động của nhiều nhân tố và luôn biến động, vì vậy cũng cần có những chính sách phù hợp để tác động tích cực đến nền kinh tế. Trong thực tế, bên cạnh những giải pháp cần phải thay đổi chính sách để can thiệp vào nền kinh tế nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, có những công cụ vẫn được sử dụng như những bộ “van” tự động để điều chỉnh kinh tế, hãy xem xét một cơ chế đặc biệt của chính sách này, đó là cơ chế ổn định tự động.

Chính sách tài khóa ổn định tự động là cơ chế tự điều tiết trong nền kinh tế, nó bao gồm các công cụ tự ổn định, tự điều tiết để tránh cho nền kinh tế rơi vào thảm họa suy thoái và tránh được các cú sốc của nền kinh tế.

Hệ thống tài chính hiện đại có những yếu tố ổn định tự động nhanh và mạnh. Đó là:

  • Những thay đổi tự động về thuế, hệ thống thuế hiện đại bao gồm thuế thu nhập lũy tiến với thu nhập cá nhân và lợi nhuận của công ty. Khi thu nhập quốc dân tăng lên, số thu về thuế tăng theo, và ngược lại, khi thu nhập giảm, thuế giảm ngay, mặc dù Quốc hội chưa kịp điều chỉnh thuế suất. Vì vậy hệ thống thuế có vai trò như là một bộ tự ổn định tự động nhanh và mạnh.
  • Hệ thống bảo hiểm bao gồm bảo hiểm thất nghiệp và các chuyển khoản mang tính chất ASXH khác. Hệ thống này hoạt động khá nhạy cảm. Khi mất việc hay thất nghiệp được nhận trợ cấp. Khi có việc thì họ bị cắt tiền trợ cấp đi. Như vậy, hệ thống bảo hiểm bơm tiền, rút ra khỏi nền kinh tế, ngược lại với chiều hướng của chu kỳ kinh tế, góp phần ổn định hệ thống kinh tế.

Tuy nhiên, những nhân tố ổn định tự động chỉ có tác dụng làm giảm một phần các biến động của nền kinh tế, mà không xóa bỏ hoàn toàn những biến động đó, phần còn lại đặt lên vai chính sách tài chính và tiền tệ chủ động của Chính phủ.

2.3.2. Chính sách tài khóa chủ động Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Chính sách tài khóa chủ động là chính sách mà Chính phủ có thể làm nhằm thay đổi mức chi tiêu hoặc thay đổi thuế suất để giữ cho tổng cầu ổn định gần với mức sản lượng tiềm năng.

Đặc điểm của chính sách này là: Nhà nước chủ động sử dụng các công cụ để can thiệp vào nền kinh tế, các công cụ đó là thuế và chi tiêu. Mặc dù các công cụ tự ổn định luôn hoạt động, các Chính phủ có thể và thực sự thực hiện những CSTK tích cực hay chủ động làm thay đổi mức chi tiêu hay thuế suất để ổn định mức tổng cầu sao cho gần với mức sản lượng toàn dụng nhân công. Khi các thành phần khác của tổng cầu được cho là ở mức thấp một cách không bình thường, Chính phủ sẽ kích thích nhu cầu bằng cách giảm thuế, tăng chi tiêu hay làm cả hai. Ngược lại, khi các cấu phần khác của tổng cầu được cho là ở mức cao một cách không bình thường, thì Chính phủ sẽ tăng thuế hay giảm chi tiêu, CSTK chủ động tác động khá nhanh.

Về mặt lý thuyết tác động của CSTK chủ động đến sản lượng cân bằng được phân tích như sau:

Trong nền kinh tế thị trường, CSTK được Chính phủ sử dụng làm công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Khi Chính phủ thay đổi chính sách thuế và chính sách chi tiêu thì sẽ tác động đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, từ đó tác động đến tổng cầu và làm thay đổi sản lượng, giá cả và việc làm trong nền kinh tế. Sự thay đổi đó, đến lượt nó lại tác động trở lại đối với các DN. Như vậy, CSTK chủ yếu là sự điều chỉnh thu nhập và chi tiêu của Chính phủ để tác động vào nền kinh tế trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn.

Trong ngắn hạn, các biện pháp điều chỉnh đó là nhằm đạt được mục tiêu ổn định kinh tế.

Trong dài hạn, chức năng điều chỉnh cơ cấu và TTKT là quan trọng hơn. Theo lý thuyết của Keynes, khi nền kinh tế không thể tự điều chỉnh đi về trạng thái cân bằng thì Chính phủ sẽ sử dụng CSTK để tác động vào nền kinh tế.

Trường hợp 1: Khi sản lượng của nền kinh tế đạt ở mức độ thấp so với mức sản lượng tiềm năng, thì cần phải có sự tác động của CSTK để đưa nền kinh tế về mức sản lượng tiềm năng. Mức sản lượng tiềm năng được hiểu là mức sản lượng cao nhất mà nền kinh tế có thể đạt được trong điều kiện nguồn nhân công đều có việc làm đầy đủ mà không gây lạm phát.

Giả sử nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, các doanh nghiệp lâm vào tình trạng làm ăn đình đốn trì trệ, họ không muốn đầu tư thêm, các hộ gia đình không muốn chi tiêu thêm cho tiêu dùng do đó tổng cầu của nền kinh tế đạt ở mức thấp so với sản lượng tiềm năng, người lao động bị đẩy vào tình trạng mất việc làm bởi vậy thất nghiệp gia tăng. Mục tiêu đặt ra của Chính phủ trong trường hợp này là phải giảm thất nghiệp và mở rộng tổng cầu bằng cách:

Giả sử Chính phủ tăng mức chi tiêu (∆G) khi đó làm cho tổng cầu (AD) tăng từ AD1 đến AD0. Sản lượng cân bằng của nền kinh tế tăng từ Q0 lên Q (sản lượng tiềm năng), giá tăng từ P1 đến P0 (giá cân bằng của thị trường). Do giá cả thị trường tăng, các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn để phát triển sản xuất tìm kiếm lợi nhuận, do đó đã tạo ra nhiều việc làm góp phần làm cho thất nghiệp giảm. Điều này được thể hiện trên đồ thị Hình 2.1

Hình 2.1: Ảnh hưởng của chính sách tài khóa

Trên hình 2.1 cho thấy: Khi Chính phủ tăng chi tiêu thêm một lượng là ∆G, tổng cầu sẽ tăng từ AD1 → AD0; từ đó kéo theo mức giá chung và sản lượng cân bằng của nền kinh tế cũng tăng lên.

Hoặc, khi Chính phủ giảm mức thuế (T) khi đó sẽ khuyến khích tiêu dùng của dân chúng và đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên làm cho tổng cầu (AD) cũng tăng từ AD1 đến AD0, dẫn đến giá tăng từ P1 đến P0, sản lượng cân bằng sẽ tăng từ Q0 đến Q, thất nghiệp giảm đi.

Trường hợp 2:

Khi nền kinh tế tăng trưởng “quá nóng”, sản lượng của nền kinh tế vượt quá sản lượng tiềm năng (Q0), nguồn cung bị giới hạn, tổng cẩu tăng mạnh, lạm phát tăng nhanh, gây ra những bất lợi cho nền kinh tế nói chung và mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN nói riêng. Trong trường hợp này, mục tiêu của Chính phủ là phải làm giảm lạm phát bằng cách cắt giảm chi tiêu hoặc tăng thuế, nhờ đó mà mức chi tiêu chung (tổng cầu) giảm, sản lượng cũng giảm và lạm phát chững lại.

Chính sách tài khóa thắt chặt (giảm G) làm giảm tổng cầu, mức giá chung và sản lượng cân bằng cũng giảm theo. Trên đồ thị cho thấy, do tổng cầu của nền kinh tế tăng từ AD1 đến AD0, sản lượng Q vượt quá mức sản lượng tiềm năng Q0, do đó giá tăng từ P1 đến P0 và gây ra lạm phát. Để kiềm chế lạm phát, Chính phủ có thể sử dụng CSTK để can thiệp vào nền kinh tế bằng cách cắt giảm chi tiêu (G) hoặc tăng thuế (T). Do đó, tổng cầu của nền kinh tế giảm từ AD0 xuống AD1 điểm cân bằng dịch chuyển từ E0 xuống E1, sản lượng cân bằng giảm từ Q xuống Q0, giá giảm từ P0 xuống P1, lạm phát cũng chững lại nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng dài hạn tại E1.

Hình 2.2: Mô tả tác động của chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tài khóa thắt chặt đối với tăng trưởng kinh tế

TÓM LẠI:

Khi nền kinh tế đang ở trạng thái suy thoái, Chính phủ có thể sử dụng CSTK nới lỏng thông qua hai công cụ G và T:

Hoặc tăng chi tiêu. – Hoặc giảm thuế.

Hoặc vừa tăng chi tiêu vừa giảm thuế.

Khi nền kinh tế đang có lạm phát cao, Chính phủ có thể sử dụng CSTK thắt chặt thông qua hai công cụ G và T:

Hoặc giảm chi tiêu. – Hoặc tăng thuế.

Hoặc vừa giảm chi tiêu vừa tăng thuế.

2.3.3. Chính sách tài khóa và vấn đề thâm hụt ngân sách

Thâm hụt ngân sách của Nhà nước: Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển SXKD và chống độc quyền. Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Thông qua hoạt động chi ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các DN thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các DN). Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các DNNN là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các DN, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, NSNN đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Ngân sách nhà nước là tổng các kế hoạch chi tiêu và thu nhập hàng năm của Chính phủ, bao gồm các khoản thu (chủ yếu thu từ thuế) và các khoản chi ngân sách.

Gọi B là hiệu số giữa thu và chi ngân sách, ta có:

B=T-G

  • Khi B > 0 hay (T > G) ta có ngân sách thặng dư (A Budget Surplus).
  • Khi B < 0 hay (T < G) ta có ngân sách thâm hụt (A Budget Deficit).
  • Khi B = 0 hay (T = G) ta có ngân sách cân bằng (A Balanced Budget). Thâm hụt NSNN hay còn gọi là bội chi NSNN, là tình trạng khi tổng chi tiêu của NSNN vượt quá các khoản thu “không mang tính hoàn trả” của NSNN.

Thặng dư ngân sách khi nền kinh tế phát triển nhanh và thâm hụt ngân sách thường xảy ra khi nền kinh tế kém phát triển.

  • Nếu G > T, xảy ra thâm hụt ngân sách.
  • Nếu G < T, xảy ra thặng dư ngân sách.
  • Nếu G = T, cán cân ngân sách cân bằng.

Các lý thuyết tài chính hiện đại cho rằng, NSNN không nhất thiết phải cân bằng theo tháng, theo năm. Vấn đề là phải quản lý các nguồn thu và chi sao cho ngân sách không bị thâm hụt quá lớn và kéo dài. Tuy vậy, trong nhiều nước đặc biệt là các nước đang phát triển, các Chính phủ vẫn phải theo đuổi một CSTK thận trọng, trong đó chi ngân sách phải nằm trong khuôn khổ các nguồn thu ngân sách.

Trong nền kinh tế thị trường, thâm hụt ngân sách thực tế chưa phải là một chỉ báo tốt về CSTK của Chính phủ.

  • Khi nền kinh tế vận động theo chu kỳ thì chính chu kỳ kinh tế có tác dụng không nhỏ đến thâm hụt ngân sách. Dễ dàng nhận thấy thu ngân sách tăng lên trong thời kỳ phồn thịnh và giảm đi trong thời kỳ suy thoái. Giả sử nền kinh tế đang đạt mức sản lượng thấp, thấp hơn mức sản lượng tiềm năng, thâm hụt ngân sách gia tăng. Nếu Chính phủ đặt mục tiêu đảm bảo ngân sách cân bằng, cho dù sản lượng thay đổi như thế nào cũng được, khi đó Chính phủ có thể sử dụng biện pháp tăng thuế hoặc giảm chi tiêu, điều này làm cho nền kinh tế đang lâm vào tình trạng suy thoái lại càng suy thoái trầm trọng hơn.
  • Chi ngân sách vận động ngược chiều với chu kỳ: Chi ngân sách tăng theo thời kỳ suy thoái và giảm trong thời kỳ phồn thịnh. Chính vì vậy, thâm hụt ngân sách sẽ trầm trọng hơn trong thời kỳ suy thoái, bất chấp sự cố gắng của Chính phủ. Giả sử nền kinh tế đang đạt mức sản lượng thấp, thấp hơn mức sản lượng tiềm năng, thâm hụt ngân sách gia tăng. Nếu Chính phủ đặt mục tiêu thúc đẩy TTKT bằng việc sử dụng CSTK mở rộng (tức là tăng chi tiêu hoặc giảm thuế) thì thâm hụt ngân sách ngày càng tăng. Để đánh giá tác động của CSTK đến thâm hụt ngân sách, người ta thường sử dụng ngân sách trong điều kiện nền kinh tế hoạt động ở mức sản lượng tiềm năng.

Thông thường có 3 loại hình thâm hụt ngân sách:

  • Thâm hụt ngân sách thực tế: Đó là thâm hụt khi số chi thực tế vượt số thu thực tế trong một thời kỳ nhất định
  • Thâm hụt ngân sách cơ cấu: Đó là thâm hụt ngân sách trong trường hợp nếu nền kinh tế hoạt động ở mức sản lượng tiềm năng.
  • Thâm hụt ngân sách chu kỳ: Đó là thâm hụt ngân sách bị động do tình trạng của chu kỳ kinh tế. Thâm hụt ngân sách chu kỳ bằng hiệu số giữa thâm hụt thực tế và thâm hụt cơ cấu.

Trong ba loại thâm hụt trên, thâm hụt cơ cấu phản ánh kết quả hoạt động chủ quan của CSTK như: Định ra thuế suất, phúc lợi, bảo hiểm… Vì vậy, để đánh giá kết quả tác động của CSTK đến thâm hụt ngân sách, ta phải sử dụng thâm hụt cơ cấu.

Chính sách tài khóa với vấn đề thâm hụt ngân sách

Chính sách tài khóa cùng chiều (với chu kỳ kinh tế)

Nếu mục tiêu của Chính phủ là luôn đạt được ngân sách cân bằng dù sản lượng có thể thay đổi thế nào cũng được, được gọi là CSTK cùng chiều. Khi nền kinh tế suy thoái, ngân sách thâm hụt, Chính phủ phải giảm chi tiêu hoặc tăng thuế, hoặc sử dụng cả hai biện pháp, ngân sách sẽ trở nên cân bằng. Thay vào đó, chi tiêu của nền kinh tế sẽ giảm đi, sản lượng cũng giảm theo, suy thoái kinh tế càng sâu sắc hơn. Vì mục tiêu đặt ra là giảm thâm hụt ngân sách nên G↓, T↑ ⇒ AD↓ ⇒ Y↓ ⇒ đẩy nền kinh tế càng lâm vào tình trạng thâm hụt nặng nề hơn.

Chính sách tài khóa ngược chiều (với chu kỳ kinh doanh)

Nếu mục tiêu của Chính phủ là giữ cho nền kinh tế luôn ở mức sản lượng tiềm năng với mức việc làm đầy đủ. Nói cách khác, nếu mục tiêu đặt ra là làm giảm suy thoái nền kinh tế sẽ làm cho ngân sách càng bị thâm hụt hơn. Giả sử khi nền kinh tế suy thoái, Chính phủ cần tăng chi tiêu (G↑), hoặc giảm thuế (T↓), hoặc áp dụng cả 2 biện pháp nhằm giữ cho chi tiêu ở mức cao, sản lượng tăng lên đến sản lượng tiềm năng, đổi lại ngân sách sẽ bị thâm hụt. Thâm hụt đó gọi là thâm hụt cơ cấu, do chính sách chủ quan của Chính phủ. Trong ngắn hạn, ngân sách sẽ thâm hụt nhưng vẫn phải chi, nhưng trong dài hạn khi sản lượng tăng thì thu trong ngân sách sẽ tăng. Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Chính sách tài khóa và vấn đề tháo lui đầu tư

Cơ chế tháo lui đầu tư: Khi G tăng (hoặc T giảm) GNP sẽ tăng lên theo hệ số nhân, nhu cầu về tiền tăng theo. Với mức cung về tiền cho trước, lãi suất sẽ tăng lên, bóp nghẹt (hạn chế) một số đầu tư. Kết quả là một phần GNP tăng lên có thể bị mất đi do thâm hụt cao kéo theo tháo lui đầu tư, vì vậy, hiệu lực của CSTK sẽ giảm đi. Tác động tương tự cũng có thể xảy ra đối với tiêu dùng.

Có nhiều quan điểm xung quanh vấn đề quy mô của tháo lui đầu tư. Điều phỏng đoán tốt nhất là: Về mặt ngắn hạn, quy mô của thoái lui đầu tư là nhỏ, song về lâu dài, quy mô này có thể rất lớn.

Nghiên cứu tác động của thâm hụt vào tháo lui đầu tư cho ta kết luận: Cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa CSTK và CSTT.

Các biện pháp tài trợ cho thâm hụt ngân sách

Khi thâm hụt quá lớn và kéo dài, các Chính phủ đều phải nghĩ đến các biện pháp hạn chế thâm hụt. Biện pháp cơ bản thường là “tăng thu và giảm chi”.

Tuy vậy, vấn đề đặt ra là phải tính toán số tăng thu và giảm chi thế nào, mức độ nào để gây ảnh hưởng ít nhất đến TTKT. Bởi vì, tăng thu hoặc giảm chi là công cụ của CSTK thắt chặt. Chính phủ có thể sử dụng hàng loạt các công cuộc cải cách hệ thống tài chính, bộ máy quản lý các nguồn thu và chi NSNN, tránh thất thoát các nguồn thu của Nhà nước (như thất thoát về thuế, các khoản lệ phí,…). Chính phủ có thể sử dụng ngân sách để giảm nợ dân chúng hoặc mua các tài sản tài chính.

Khi các biện pháp tăng thu và giảm chi không giải quyết được toàn bộ thâm hụt, các Chính phủ phải sử dụng các biện pháp tài trợ cho thâm hụt.

Vay nợ trong nước (vay của dân): Thường thông qua việc phát hành trái phiếu (trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp). Muốn vay nợ phải giải quyết được mức lãi suất (i) phù hợp, lãi suất càng thấp càng kích cầu đầu tư (I tăng). Đây là một trong những biện pháp được sử dụng khá rộng rãi ở các nước trên thế giới trong việc huy động nguồn vốn để hạn chế thâm hụt NSNN.

Vay nợ nước ngoài: Vay vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế, nhận viện trợ nước ngoài, v.v… Khoản vay này có thể giúp giải quyết thâm hụt ngân sách hiện tại nhưng lại làm tăng gánh nặng nợ nần trong tương lai.

Vay ngân hàng (in tiền): In tiền trong một thời gian ngắn sẽ là tích cực vì nó khắc phục được những khó khăn về vốn, chi tiêu. Nhưng nếu kéo dài tình trạng này sẽ dẫn đến khủng hoảng kinh tế, suy thoái, lạm phát cao. Ví dụ: Năm 1988 – 1989, do ở Việt Nam in tiền và lạm phát tăng lên 680% – siêu lạm phát [18].

Bán các tài sản công cộng (tư nhân hóa), cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước. Đây là một trong những biện pháp đang được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam.

2.4. KINH NGHIỆM HOẠCH ĐỊNH VÀ SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Chính phủ các nước trên thế giới đều cố gắng duy trì CSTK ổn định, có tác động tích cực đến TTKT và thực hiện tốt các mục tiêu ổn định kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp, giảm nghèo và phúc lợi xã hội. Bên cạnh đó, các quốc gia cũng cần giữ cân đối NSNN, mức độ thâm hụt tài khóa và nợ công phải được kiểm soát. Tuy nhiên, nhu cầu chi tiêu của các quốc gia luôn lớn, trong khi đó các nguồn thu thì còn hạn chế nên mỗi quốc gia phải có những chiến lược riêng phù hợp với đặc điểm cũng như tiềm lực tài chính của nước mình. Nghiên cứu sinh đã sưu tầm, tổng hợp về tình hình sử dụng CSTK ở một số quốc gia phát triển, quốc gia đang phát triển, một số quốc gia Châu Á… Các quốc gia này đã sử dụng CSTK để vượt qua các cuộc khủng hoảng tài chính với những thành tựu và cũng bộc lộ những hạn chế, từ đó cũng giúp cho Việt Nam rút ra được những bài học kinh nghiệm trong việc sử dụng CSTK nhằm thúc đẩy TTKT.

2.4.1. Kinh nghiệm hoạch định và sử dụng chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

2.4.1.1. Chính sách tài khóa của Mỹ

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt nguồn từ sự bùng nổ bong bóng thị trưởng nhà ở và nợ dưới chuẩn ở Mỹ. Vào cuối năm 2008, các ngân hàng lớn và các công ty bảo hiểm đã tuyên bố phá sản hoặc yêu cầu giải cứu tài chính. Nền kinh tế Mỹ tăng trưởng âm gần 8% từ tháng 11 năm 2008 đến tháng 5/2009, thất nghiệp tăng trên mức 9%, thị trường bất động sản có dấu hiệu chạm đáy. Đặc biệt vào nửa cuối năm 2008, những bất ổn trên thị trường tài chính Mỹ ngày càng lan rộng hơn, mở đầu là sự sụp đổ của ngân hàng Lehman Brothers vào tháng 9/2008. Dòng tín dụng đóng băng, niềm tin của nhà cho vay sụp đổ tại Mỹ và lan dần ra các nền kinh tế khác trên thế giới, đẩy toàn cầu vào một cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất trong lịch sử kể từ Đại suy thoái năm 1930.

Năm 2008, Tổng thống Mỹ lúc đó là G.Bush đã phê duyệt gói kích thích kinh tế trị giá 168 tỷ đô la Mỹ và được quốc hội Mỹ thông qua ngày 13/2/2008 (Đạo luật kích cầu kinh tế năm 2008 – The Economic Stimulus Act 2008) khi nhìn thấy những bất ổn trên thị trường tài chính, thị trường bất động sản xuất hiện từ cuối năm 2007. Gói kích thích kinh tế này tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực: Hoàn thuế cho các cá nhân người nộp thuế (khoảng 300 USD/người) ở mức thu nhập thấp; trợ cấp cho trẻ em dưới 17 tuổi 300 USD/trẻ em; ưu đãi về thuế đối với các doanh nghiệp; ưu đãi cho phép khấu hao nhanh đối với DN; hỗ trợ người gặp khó khăn trong cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn.

Sau đó, tháng 2 năm 2009, tổng thống Obama cũng đã phê duyệt gói kích thích kinh tế có giá trị lên tới 787 tỷ đô la Mỹ để giải quyết những bất ổn còn tiếp diễn. Gói kích thích này tập trung vào: hỗ trợ các DN để tạo thêm 2,5 triệu công ăn việc làm thông qua một số biện pháp như cho các DN nợ thuế khoảng 3000 USD đối với mỗi lao động thuê mới; xóa bỏ thuế đối với lãi trên vốn cho các doanh nghiệp SME, đầu tư vào công trình công cộng (công nghệ cao, băng thông rộng, y tế, đường sá, các tiện ích công cộng v.v.v); hỗ trợ các gia đình khó khăn (giảm thuế cho các cá nhân và gia đình), nâng bảo hiểm thất nghiệp hỗ trợ các chủ sở hữu nhà gặp khó khăn; và quỹ dự trữ chống khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, tình trạng khủng hoảng lại sâu sắc hơn, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, lên mức 9,5% vào tháng 6/2009; thâm hụt ngân sách đạt đỉnh điểm 13,3% GDP vào năm 2009 và giảm xuống 8,5% GDP vào năm 2012.

Từ cuối năm 2008, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã áp dụng chính sách nới lỏng định lượng (QE) bằng việc bơm tiền định kỳ vào nền kinh tế. Số tiền bơm vào nền kinh tế theo chính sách này là 85 tỷ đô la Mỹ mỗi tháng nhằm mục đích đưa Mỹ thoát ra khỏi khủng hoảng và trở lại quỹ đạo tăng trưởng [68].

Có thể nhận thấy Mỹ đã áp dụng CSTK mở rộng kết hợp với CSTT nới lỏng khi nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng nhằm dịch chuyển đường tổng cầu thông qua chi tiêu chính phủ và cấp vốn cho các ngân hàng để kích thích các hoạt động đầu tư tư nhân. Hiệu quả của CSTK trong những năm gần đây vẫn gây nhiều tranh cãi, có nhiều phân tích cho rằng Mỹ đã không rút kinh nghiệm từ Nhật Bản, nơi thực hiện CSTK mở rộng kéo dài trong hai thập kỷ đã không đem lại kết quả như mong muốn mà còn gây ra tình trạng nợ công trở nên trầm trọng hơn. Các nhà phân tích cho rằng Mỹ đã không rút ra bài học của Canada, quốc gia có chung đường biên giới đã rất thành công trong việc thực thi CSTK thắt chặt để đạt được mục tiêu TTKT bền vững.

2.4.1.2. Chính sách tài khóa của Nhật Bản Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Nhật Bản là nước có nền kinh tế lớn thứ ba thế giới và cũng là một nước có truyền thống vay nợ để tài trợ cho thâm hụt ngân sách. CSTK của Nhật Bản từ hai thập kỷ qua được xác định thông qua một thế tiến thoái lưỡng nan, trong đó một sự kích thích nhu cầu theo học thuyết kinh tế của Keynes là điều cần thiết, nhưng đồng thời một sự củng cố theo hướng tiết kiệm lại được đưa ra, thế tiến thoái lưỡng nan này hiện đang trở nên tồi tệ hơn.

Từ năm 1986 đến năm 2000, bong bóng kinh tế ở Nhật Bản kéo dài do đồng Yên Nhật lên giá và luồng tài chính của thị trường chứng khoán Mỹ và từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng trong nước đầu tư vào tài sản Nhật Bản. Trong giai đoạn này, nền kinh tế Nhật Bản suy thoái nghiêm trọng và kéo dài chưa từng có sau chiến tranh, chỉ tăng với tốc độ trung bình hàng năm khoảng trên dưới 1%, thấp xa so với các nước công nghiệp khác. Sự suy thoái đã ảnh hưởng đến toàn bộ các mặt của đời sống, không chỉ có kinh tế mà cả chính trị, xã hội lẫn văn hóa giáo dục. Chu kỳ kinh tế biến dạng, hàng loạt công ty trong đó có nhiều tổ chức tín dụng khổng lồ bị phá sản, thất nghiệp tăng cao đến mức kỷ lục, các ngân hàng và Chính phủ lâm vào tình trạng nợ khó đòi ở mức cao, nền kinh tế bị kẹt cứng trong khủng hoảng chu kỳ, lòng tin của nhân dân và giới kinh doanh trong và ngoài nước bị giảm sút. Năm 1998, do khủng hoảng kinh tế Châu Á, nền kinh tế Nhật rơi đến điểm thấp nhát, tốc độ tăng trưởng âm (-1,1%) và chỉ tiếp tục phục hồi từng bước từ năm 1999 đến năm 2003 tốc độ tăng trưởng ở mức 2% [67].

Trong bối cảnh kinh tế và tài chính có chiều hướng tiêu cực sau khủng hoảng, tháng 1/2009, Chính phủ Nhật bản đã quyết định thông qua “CSTK trung và dài hạn – tổng quan về kinh tế và tài khóa trong vòng 10 năm tới” nhằm mục tiêu tiếp tục hồi phục kinh tế và củng cố vị thế của Nhật bản.

Theo đó, về ngắn hạn, ưu tiên hàng đầu của Chính phủ là tập trung vào mục tiêu khôi phục kinh tế trong vòng 3 năm kể từ năm 2009. Các giải pháp được thực hiện thông qua việc thực hiện các gói kích thích kinh tế nhằm hỗ trợ người dân vượt qua khó khăn do khủng hoảng tài chính thông qua 3 gói kích thích kinh tế trị giá 75.000 tỷ Yên, bao gồm việc giảm thuế, cấp một khoản tiền trợ cấp nhất định cho một số đối tượng, trợ cấp nhà ở và chi tiêu cho người thất nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, chương trình hỗ trợ việc làm.

Về trung và dài hạn, CSTK của Nhật Bản hướng tới mục tiêu tập trung thu ngân sách. Trong bối cảnh thu từ thuế giảm mạnh do khủng hoảng và suy giảm kinh tế, mục tiêu tập trung ngân sách được đặc biệt chú trọng với mục tiêu đạt mức thặng dư ngân sách cơ bản vào năm 2011. Tuy nhiên, Chính phủ Nhật cũng chú trọng cân đối giữa hai mục tiêu, đảm bảo phục hồi kinh tế trong ngắn hạn song không trì hoãn mà sẽ thực hiện CSTK thắt chặt đúng thời điểm nhằm duy trì kỷ luật tài chính và đạt mức thặng dư ngân sách cơ bản.

Ngoài tác động của cuộc khủng hoảng, kinh tế Nhật còn chịu tác động nghiêm trọng bởi động đất và sóng thần từ tháng 3/2011. Do đó, Nhật bản đã thực hiện CSTK mở rộng kết hợp với CSTT nới lỏng nhằm hỗ trợ cho các hoạt động tái thiết nền kinh tế. Để vực dậy nền kinh tế sau thảm họa kép, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định thông qua gói ngân sách bổ sung 778 tỷ Yên (tương đương 6,58 tỷ USD). Trong đó, 700 tỷ Yên được dùng để hỗ trợ tái thiết các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi động đất, sửa chữa cơ sở hạ tầng bị hư hỏng cũng như khắc phục thiệt hại đối với ngành Nông nghiệp; 78 tỷ Yên được chi vào việc giúp người dân tái thiết cuộc sống, xây dựng nhà tạm và các trung tâm sơ tán. Tiếp đến, Hạ viện Nhật Bản đã thông qua khoản ngân sách bổ sung trị giá 3500 tỷ Yên cho năm tài khóa 2015 (kết thúc vào tháng 3/2015) [67]. Khoản ngân sách này được dùng để phục vụ cho việc trợ cấp người cao tuổi thu nhập thấp, hỗ trợ nông dân ứng phó với các tác động từ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP). Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Thủ tướng Shinzo Abe đã chính thức thông qua quyết định cắt giảm thuế doanh nghiệp nhằm thúc đẩy lợi nhuận của khối doanh nghiệp nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung. Theo kế hoạch cải cách này, Chính phủ Nhật bản sẽ giảm thuế doanh nghiệp xuống 32,1% kể từ tháng 4/2015 và tiếp tục xuống còn 31,3% trong năm 2016. Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật bản giới hạn quy mô tiêu chung vào khoảng 98 nghìn tỷ Yên trong năm 2015 sau khi cắt giảm từ tổng ngân sách là 102,6 nghìn tỷ Yên thông qua cắt giảm chi phí ASXH.

Mặt khác, mức nợ công cao ngất buộc chính phủ phải thực hiện một đường lối củng cố. Nền tài chính Nhật bản có nguy cơ vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Kể từ năm 2010, thâm hụt ngân sách nằm ở mức 7% đến 10% GDP. Tổng nợ công đã tăng lên mức 245% – hiện gần tương đương với tài sản thực của toàn bộ hộ gia đình cá thể của đất nước. Theo tính toán hiện nay, Nhật bản cần thu thuế của ít nhất 8 năm để có thể trả nợ. Cho tới nay, việc cấp vốn bằng thâm hụt ngân sách thông qua các nhà đầu tư trong nước vẫn chưa gặp vấn đề nào. Nợ công của Nhật bản chiếm 90% mức nợ trong nước tính bằng đồng yên. Kể từ năm 2013, các hộ gia đình không tiết kiệm được nữa, tỷ lệ tiết kiệm của họ là âm. Thặng dư tài khoản vãng lai trước đây rất cao đã giảm xuống. Nhà nước sẽ sớm phải cần tới các nhà đầu tư nước ngoài, để cấp vốn cho thâm hụt ngân sách, chi phí lãi suất và chi phí trả nợ.

Câu trả lời của Abenomics cho thế thế tiến thoái lưỡng nan về tài khóa của Nhật bản là lời hứa tăng trưởng kinh tế cao hơn. Trong một môi trường phát triển kinh tế thuận lợi hơn, theo như thông điệp, mục tiêu không chỉ là thu thuế nhiều hơn, mà còn đạt được mức thuế suất cao hơn và chi tiêu thấp hơn. Đồng thời lời hứa này là một sự đánh cược vào tương lai. Lời hứa này phải thành công trong việc ổn định kinh tế và tài chính nhà nước, trước khi sự gia tăng các nguy cơ đối với trái phiếu chính phủ của Nhật bản lên tới mức không thể chấp nhận được. CSTT với việc mua số lượng lớn trái phiếu chính phủ Nhật Bản đã trở thành trợ thủ phục tùng cho CSTK. Việc tài trợ cho chi tiêu nhà nước vượt quá mức hiện chủ yếu diễn ra trên thị trường trái phiếu, trong khi phần đóng góp của thu thuế giảm xuống dưới 50%. Trên thực tế, NHTW Nhật Bản đang thúc đẩy việc tài trợ cho nợ từ máy in tiền. Cơ quan này hàng tháng mua trên thị trường mở một lượng trái phiếu có giá trị từ 8 đến 12 nghìn tỷ Yên (tương đương 60 đến 80 tỷ euro). Các chuyên gia phân tích về thị trường đánh giá rằng NHTW Nhật Bản sẽ nắm giữ gần 50% toàn bộ trái phiếu chính phủ của nước này trong giai đoạn 2017-2020 nếu xu hướng này tiếp tục diễn ra. Người ta có thể hình dung ra rằng, NHTW tới một thời điểm nhất định sẽ gạch bỏ số tài sản trái phiếu của mình và bằng cách đó sẽ giảm nợ công một cách đột ngột. Điều chắc chắn là mục tiêu đạt được một ngân sách chính cân bằng tới năm tài khóa 2020 khó có thể thực hiện được. CSTK của Nhật Bản cần phải tạo thêm nhiều khoản thu thuế hơn trong ngắn hạn, dù chỉ để bù đắp những thiệt hại do kế hoạch giảm thuế doanh nghiệp.

Bài học rút ra từ CSTK thiếu hiệu quả của Nhật Bản là khi nền kinh tế rơi vào tình trạng đình đốn, để gia tăng tổng cầu của nền kinh tế, cần phải đặt ra những mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Khi nợ công tăng liên tục, các giải pháp nhằm cắt giảm chi tiêu công và tăng nguồn thu cho ngân sách có thể là yếu tố then chốt để ổn định trạng thái nợ trong dài hạn.

2.4.1.3. Chính sách tài khóa của Hàn quốc Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Chính sách tài khóa đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước Hàn quốc. Đây từng là một quốc gia nghèo nhất thế giới và đã trải qua tất cả những thách thức mà hầu hết các nước đang phát triển đều gặp phải như thời thuộc địa, nội chiến và sự thiếu thốn nguồn lực tài chính và công nghệ. Hàn quốc đã thu hút được sự chú ý của cả thế giới khi tiến hành thành công quá trình tăng trưởng và biến đổi từ một quốc gia có GDP bình quân đầu người chỉ 87USD vào năm 1962 thành một quốc gia phát triển với thu nhập bình quân 28000 USD [54].

Trong quá trình phát triển mang lại điều được biết đến như là “kỳ tích sông Hàn” của Hàn Quốc, CSTK đã đóng vai trò quan trọng thể hiện trên các khía cạnh như đầu tư công hiệu quả, đảm bảo sự vững mạnh về tình hình tài khóa và liên tục tiến hành các cải cách cần thiết. Ngay cả khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 và khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây hậu quả nghiêm trọng ở nhiều nước trên thế giới nhưng Hàn Quốc là một trong số ít quốc gia đã hồi phục nhanh chóng thông qua nỗ lực tối đa kích thích nền kinh tế bằng nguồn dự trữ tài chính của mình. Điều này có được là nhờ vào lợi thế cạnh tranh tốt của các tập đoàn, doanh nghiệp xuất khẩu của Hàn Quốc cũng như các biện pháp chống suy thoái và phối hợp chính sách vĩ mô hiệu quả của Chính phủ nước này.

Để ứng phó với khả năng tổng cầu suy giảm, Hàn Quốc đã thực hiện linh hoạt CSTK mở rộng kết hợp với nới lỏng tiền tệ trong năm 2009-2010. CSTK mở rộng được Hàn quốc thực hiện thông qua “Kế hoạch hoạt động quỹ công và ngân sách năm 2009” kết hợp đồng thời giữa tăng chi tài khóa với giảm thuế, tạo điều kiện cho nền kinh tế khắc phục những khó khăn do khủng hoảng tài chính toàn cầu. Chính phủ Hàn Quốc thực hiện tăng chi cho bảo lãnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa và tăng đáng kể hỗ trợ nhằm ổn định hóa thị trường tài chính.

Hiện, Hàn quốc đang tiến hành các biện pháp đổi mới tài chính như hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động và hệ thống kế toán và ngân sách điện tử. Các biện pháp quản lý đầu tư hiệu quả và minh bạch cũng được thực hiện để nâng cao hiệu quả tài khóa. Hàn quốc cũng đã xây dựng Trung tâm quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng công và tư (PIMAC) trực thuộc Viện phát triển Hàn quốc – đây được coi là đơn vị ‘giữ cửa” cho các dự án đầu tư công và dự án hạ tầng tư nhân tại Hàn quốc. Cơ quan này đã thành công trong việc nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu đánh giá lại về các dự án đầu tư công và dự án đầu tư của khu vực tư nhân trên cơ sở phân tích kinh tế và chính sách, từ đó cải thiện hiệu quả quản lý tài khóa quốc gia.

2.4.1.4. Chính sách tài khóa của Trung Quốc

Trung Quốc là một đất nước có nhiều điểm về điều kiện kinh tế chính trị xã hội khá giống với Việt Nam. Trong thời gian qua, Trung Quốc đã có những chính sách phát triển KTXH đúng đắn, trong đó có CSTK tạo đà cho kinh tế phát triển vững mạnh.

Trung Quốc đã thực thi chính sách chi tiêu NSNN rất thận trọng, kiểm soát chặt chẽ thâm hụt NSNN, tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, thuận lợi cho kinh tế tăng tốc lâu dài. Giới lãnh đạo Trung Quốc ý thức rất rõ tác hại rất lớn của môi trường kinh tế vĩ mô bất ổn đối với đầu tư và phát triển KTXH. Do vậy, Trung Quốc phải kiên trì thực hiện chính sách chi NSNN hết sức thận trọng.

Từ năm 1978 đến nay, Trung Quốc dứt khoát không phát hành tiền cho chi tiêu và bù đắp thiếu hụt cho NSNN. Trong lịch sử trên 20 năm, Trung Quốc chỉ có một thời kỳ ngắn kinh tế vĩ mô bất ổn, lạm phát cao đó là giai đoạn 1993-1994, nguyên nhân chủ yếu là sự lỏng lẻo trong quản lý tín dụng chứng khoán. Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Chi cho xây dựng kinh tế giảm từ 60% năm 1978 xuống 26,6% tổng chi NSNN năm 1995, còn chi cho đầu tư xây dựng cơ bản giảm từ 40,3% năm 1978 xuống 11,6% năm 1995. Chi tiêu y tế, giáo dục, phúc lợi tăng từ 11,6% lên 23,2% NSNN năm 1995. Chi cho quản lý công nghiệp, thương mại cũng như toàn bộ bộ máy hành chính tăng từ 6% lên 14,3%. Chi trả nợ năm 1995 chiếm 13%, riêng cho quốc phòng giảm từ 14,6% năm 1978 xuống 9,33% NSNN năm 1995 [51].

Năm 1998, thực thi CSTK tích cực với định hướng mở rộng quy mô đầu tư của nhà nước thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ. Hiệu ứng của chính sách này đã làm tăng GDP lên 1,5% trong năm 1992, 2% trong năm 2000 [51]. Trung Quốc đã tăng mức đầu tư rất lớn vào cơ sở hạ tầng, chính sách thuế được điều chỉnh theo hướng giảm bớt gánh nặng. Như vậy, CSTK tích cực với hai gọng kìm là tăng chi NSNN và giảm thuế đã chặn được nguy cơ tụt dốc của nền kinh tế.

Khi khủng hoảng kinh tế nổ ra năm 2008, Trung Quốc đã nhanh chóng tung ra gói kích thích kinh tế khổng lồ lên tới 586 tỷ USD vào ngày 9/11/2008 để bù đắp sự sụt giảm mạnh trong xuất khẩu, do khủng hoảng ở các thị trường lớn là Mỹ và Châu Âu. Với gói kích thích này, nền kinh tế Trung Quốc đã nhanh chóng lấy lại đà tăng trưởng và vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới.

Trong những năm 2009 – 2010, Trung Quốc chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, thị trường xuất khẩu của nước này bị thu hẹp, đầu tư bị thu hẹp, tốc độ TTKT bắt đầu giảm sút. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã thực hiện CSTK tích cực và CSTT nới lỏng. Trọng tâm của CSTK chuyển sang chú trọng vào chất lượng và hiệu quả kinh tế, tăng chi cho các lĩnh vực cải thiện đời sống nhân dân, tạo việc làm, phát triển nông nghiệp – nông thôn. Bên cạnh đó, CSTT cũng được nới lỏng theo hướng giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại (NHTM), xóa bỏ hạn mức, mở rộng hợp lý quy mô cho vay tín dụng. Nửa đầu năm 2013, tăng trưởng của Trung Quốc có xu hướng chậm lại, dù ở mức tương đối cao. Tăng trưởng quý II năm 2013 là 7,5% so với cùng kỳ năm trước; thấp hơn so với tốc độ 7,8% của quý I năm 2013. Năm 2014, Trung Quốc tiếp tục thực hiện CSTK chủ động vượt qua khó khăn và CSTT thận trọng để kiểm chế lạm phát và đảm bảo TTKT ổn định [51].

Để đạt được mục tiêu TTKT đã đề ra cho năm 2016 là 6,5 – 7%, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng CSTK và CSTT nới lỏng để tăng đầu tư và tạo đà cho tăng trưởng. Từ ngày 1/5/2016, Trung Quốc chính thức áp dụng chính sách thuế mới đẩy mạnh sự phát triển của lĩnh vực dịch vụ và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, nâng cấp công nghệ. Theo đó, Trung Quốc đã áp dụng chính sách thuế GTGT đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng, bất động sản, tài chính và dịch vụ tiêu dùng. Những doanh nghiệp sản xuất đã áp dụng tính thuế GTGT sẽ được giảm thuế để có tiền đầu tư nhiều hơn vào hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm. Chính sách tính thuế mới sẽ giúp DN nước này tiết kiệm được khoảng 500 tỷ NDT (tương đương 77 tỷ USD) trong năm 2016 [51].

Để đảm bảo quá trình tăng trưởng bền vững, Trung quốc đã có những cải cách căn bản sau:

  • Chấp nhận giảm tốc độ tăng trưởng (duy trì ở mức 7,5%) để chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa vào thị trường trong nước (tăng tiêu dùng) thay vì chỉ dựa vào xuất khẩu.
  • Nâng cao hoặc thay đổi công nghệ sang thế hệ mới nhằm tạo ra giá trị tăng cao hơn, sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, giảm ô nhiễm môi trường.
  • Cùng với phát triển công nghệ cao là phát triển lĩnh vực dịch vụ, đồng thời thiết lập các “khu thương mại tự do”, giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước tạo ra những khuyến khích mới dòng vốn quốc tế.

Kinh nghiệm sử dụng CSTK của Trung quốc cho thấy, việc kết hợp CSTK tích cực với CSTT mở rộng trong giai đoạn đầu khủng hoảng tài chính toàn cầu đã hỗ trợ tích cực cho TTKT của Trung Quốc. Tuy vậy, các điều kiện cho TTKT đã thay đổi và để đạt mục tiêu tăng trưởng bền vững, ổn định kinh tế vĩ mô, CSTK tập trung vào đầu tư hạ tầng tại thời điểm này có thể không còn phù hợp với thực trạng của nền kinh tế Trung Quốc. Trung quốc nên xem xét đến hướng phát triển kinh tế lấy nhu cầu tiêu dùng nội địa làm trọng tâm, kích thích tiêu dùng nội địa làm động lực cho tăng trưởng trong giai đoạn tiếp theo. Chi tiêu chính phủ vẫn có thể gia tăng và thông qua chính phủ địa phương, thay vì tập trung quá nhiều vào các dự án hạ tầng mới, Trung Quốc có thể hướng vào các hoạt động bảo trì các dự án hạ tầng đã có từ trước hoặc đầu tư vào các dự án nhà ở giá rẻ cho các đối tượng có thu nhập trung bình và thấp.

2.4.1.5. Chính sách tài khóa của Thái Lan Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Thái Lan chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thông qua kênh thương mại quốc tế. Cuộc khủng hoảng làm giảm hoạt động xuất khẩu của Thái Lan, kéo theo sản xuất giảm, việc làm giảm và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. Thu nhập giảm làm cho chi tiêu dùng cũng như chi đầu tư đều giảm. Cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 khác so với khủng hoảng châu Á 1997 – 1998 đối với Thái Lan ở chỗ khu vực tài chính vẫn mạnh khỏe thể hiện ở tài sản vốn cao và tỷ lệ nợ xấu thấp. Do đó, thách thức đối với chính phủ Thái Lan là ở kênh xuất khẩu và đầu tư nước ngoài.

Để thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, Chính phủ Thái đã thực thi 3 chính sách nhằm khôi phục lại niềm tin và kích thích tăng trưởng. Đầu tiên là Chính phủ thực hiện hai gói kích thích cùng với các biện pháp thuế trong những giai đoạn khác nhau. Gói kích thích thứ nhất là các biện pháp tức thời với mục tiêu chống lại khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Gói kích thích này chú trọng tới tăng tiêu dùng, đầu tư và chi tiêu chính phủ, đầu tư tư nhân, hỗ trợ xuất khẩu và du lịch, trong đó tập trung vào trợ giá cho hàng hóa tiêu dùng. Gói kích thích thứ hai nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia của Thái Lan. Gói kích thích thứ hai có mục tiêu trung và dài hạn là đạt được tốc TTKT nhanh bằng tăng việc làm và đầu tư khu vực tư nhân. Nhờ đó, năng lực cạnh tranh của Thái Lan được tăng cường thông qua hiệu quả của CSTK, các dự án có lợi ích kinh tế xã hội cao và củng cố niềm tin đối với các dự án đầu tư tư nhân. Gói kích thích thứ hai có tên gọi là “Chương trình hành động vì Thái Lan giàu mạnh 2009-2012” (THK). Mục tiêu chính của các dự án trong gói kích thích thứ hai là: (1) tạo việc làm và cải thiện chất lượng cuộc sống, (2) Phát triển dịch vụ công cộng cơ bản, (3) Lương thực và an ninh năng lượng.

Bên cạnh đó là các biện pháp hỗ trợ thuế của Chính phủ. Hiệu quả đầu tiên của gói kích thích thứ nhất cho thấy đà hồi phục kinh tế có triển vọng của Thái Lan thông qua chi tiêu chính phủ. Gói kích thích thứ hai đã đóng góp khá khiêm tốn vào tăng trưởng đầu tư công năm 2010, nhưng phần lớn các khoản giải ngân là chi tiêu dùng. Ở Thái Lan, tác động tài khóa của các gói kích thích là vào khoảng 1% GDP, thấp hơn so với ở các nước phát triển có cơ cấu chính phủ lớn, và chi tiêu ảnh hưởng trực tiếp tới chu trình kinh tế (gần 2% ở nhóm G20).

2.4.2. Bài học rút ra cho Việt Nam Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Vai trò của CSTK càng được khẳng định như một công cụ có khả năng quyết định tới tính ổn định và sự bền vững của tăng trưởng kinh tế. Chính phủ sử dụng CSTK nhằm đạt các mục tiêu kinh tế vĩ mô như: tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, ổn định giá cả. Mỗi quốc gia có các đặc điểm, điều kiện tự nhiên, yếu tố xã hội khác nhau nên cách thức vận hành và hiệu quả tác động của CSTK cũng khác nhau. Bên cạnh những tác động tích cực (như kích thích tăng trưởng trong giai đoạn suy thoái, kiềm chế lạm phát khi tăng trưởng nóng) thì CSTK cũng gây ra những tác động tiêu cực (như kích cầu dẫn đến lạm phát, hoặc thất nghiệp gia tăng nếu quá thắt chặt…).

Việt Nam là một nước đang phát triển, quy mô nền kinh tế còn nhỏ nhưng mức độ hội nhập vào kinh tế khu vực và quốc tế trong thời gian gần đây là rất lớn. Chính vì vậy, Việt Nam ít nhiều cũng chịu tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Các công cụ của CSTK và CSTT đã được thực hiện và đã mang lại những hiệu quả tích cực. Từ những kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, có thể rút ra những bài học cho Việt Nam trong việc nâng cao hiệu quả của CSTK như sau:

Thứ nhất, Việt Nam cần thực hiện một CSTK linh hoạt, chặt chẽ và thận trọng, bám sát theo sự biến động của nền kinh tế, tránh để tỷ lệ thâm hụt ngân sách ở mức độ cao và duy trì tỷ lệ nợ công và nợ nước ngoài trên GDP ở mức an toàn. Hiện nợ công của Việt Nam đã áp sát mức 65% GDP mà Quốc hội cho phép, cần phải giảm xuống trong thời gian tới. Cần cơ cấu lại các khoản vay nợ và đầu tư, đảm bảo các nguồn vay và trả nợ. Cần giám sát chặt chẽ các khoản vay từ nước ngoài, kể cả nguồn vay từ doanh nghiệp; cần xây dựng một trần chi tiêu ngân sách cho từng hoạt động phù hợp và tuân thủ nghiêm túc. Bên cạnh đó, cần tính toán trần nợ công là rất cần thiết và phải được tuân thủ tuyệt đối.

Thứ hai, cần thiết phải xây dựng các kỷ luật tài khóa, nguyên tắc tài khóa và công khai, minh bạch các thông tin về CSTK. Việt Nam có Luật Ngân sách từ năm 2002, tuy nhiên khung pháp lý vẫn còn nhiều hạn chế, chưa gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan sử dụng và quản lý ngân sách với hiệu quả của việc thực thi chính sách.

Thứ ba, trong chi ngân sách lấy hiệu quả là mục tiêu quan trọng nhất, thực hiện chính sách phân cấp và cơ chế khuyến khích để xây dựng vùng kinh tế động lực, tạo nguồn ngân sách lớn. Cần phân bổ vốn đầu tư, tập trung dứt điểm cho những công trình trọng điểm và có cơ quan có thẩm quyền để giám sát, yêu cầu thực hiện đúng nhiệm vụ đề ra. Tránh tình trạng phân tán vốn đầu tư, kéo dài thời gian đầu tư, gây lãng phí, sử dụng vốn đầu tư kém hiệu quả. Rút kinh nghiệm của Nhật Bản ở thập niên 90, Việt Nam cần có gói tài chính kích cầu đủ mạnh để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ, đảm bảo TTKT bền vững.

Thứ tư, nghiên cứu kinh nghiệm phát hành Trái phiếu Chính phủ của Nhật Bản trong việc xử lý bội chi ngân sách. Bên cạnh đó, có biện pháp phù hợp để xử lý nợ địa phương theo khoản 8 Điều 3 Luật Ngân sách nhà nước Việt Nam Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Cần rút kinh nghiệm của Trung Quốc và Hàn quốc trong việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương nhằm tránh nguy cơ rơi vào tình trạng vỡ nợ.

Thứ năm, trong bối cảnh khủng hoảng, CSTK và CSTT phải được phối hợp hài hòa, nhằm bảo đảm mục tiêu kích thích sản xuất, tiêu dùng và ổn định giá cả, việc kết hợp hợp lý hai chính sách này sẽ giúp cho việc đối phó với khủng hoảng trở nên hiệu quả hơn. Kinh nghiệm từ Hàn Quốc và Trung Quốc cho thấy rõ điều này khi nền kinh tế nhanh chóng tăng trưởng trở lại sau những điều chỉnh của Chính phủ thông qua chính sách hướng tới đầu tư, kích thích sản xuất và nới lỏng thanh khoản trên hệ thống ngân hàng.

Thứ sáu, kinh nghiệm của các nước cho thấy sự can thiệp của Chính phủ là cần thiết để ngăn ngừa và giảm nhẹ các hệ quả của suy thoái kinh tế, song việc lựa chọn cách thức và thời điểm giữ vai trò rất quan trọng. Ví dụ: việc Mỹ đã bơm tiền để cứu hàng loạt các ngân hàng bị ảnh hưởng do cuộc khủng hoảng tài chính 2007 – 2010 nhưng hiệu quả đạt được là không cao do khủng hoảng đã lan rộng. Tại thời điểm khủng hoảng, Cục dự trữ liên bang Mỹ đã giữ lãi suất ở mức thấp quá lâu, làm cho nguồn vốn đầu tư vào bất động sản tăng mạnh và hình thành bong bóng giá bất động sản. Do vậy, cần phải có chính sách nghịch chu kỳ: khi tăng trưởng nóng và giá tài sản có xu hướng tăng nhanh thì cần thắt chặt CSTK và CSTT nhằm hạn chế tình trạng bong bóng tài sản.

Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam nên xem xét lựa chọn một quan điểm CSTK ngược chiều chu kỳ kinh tế và tuân thủ thực hiện trong trung và dài hạn. Việc thành lập hội đồng, ủy ban hay các nhóm chuyên gia độc lập để dự báo xu thế tăng trưởng, nguồn thu của ngân sách và hiệu lực của chính sách là một việc nên làm. Quan trọng hơn, các dự báo cũng như số liệu thống kê cho dự báo phải đảm bảo tính khách quan, khoa học và chính xác thì chất lượng dự báo mới có giá trị cho cơ quan điều hành CSTK làm căn cứ thực thi chính sách.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chính sách tài khóa là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô đặc biệt quan trọng ở các nước hiện nay. Mặc dù các nhà kinh tế vẫn có những tranh cãi về vai trò của nó, nhưng sau Đại khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đến nay hầu hết các Chính phủ đề sử dụng các công cụ của chính sách này vào thực tế để tác động đến nền kinh tế. Trong những năm gần đây, nhất là sau cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997 và cuộc suy thoái kinh tế kéo dài từ cuối thập kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ thứ 3. Các nước đều sử dụng các công cụ chi tiêu ngân sách, thuế và bội chi ngân sách để ổn định giá cả, ổn định nền kinh tế, thúc đẩy đầu tư, khuyến khích tiêu dùng. Hầu hết các gói kích thích kinh tế của Chính phủ các nước, các biện pháp miễn giảm thuế đã phát huy tác dụng tích cực, từ đó nền kinh tế thế giới đã dần hồi phục và lấy lại đà tăng trưởng.

Trong phần đầu chương 2, luận án đã đưa ra lý thuyết chung về CSTK và lý luận về TTKT cũng như vai trò của CSTK đối với điều chỉnh TTKT. Bên cạnh đó, luận án cũng phân tích các công cụ của CSTK và các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Phần thứ hai của chương 2, luận án cũng đưa ra kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới như: Mỹ, Nhật, Hàn quốc, Trung quốc… trong việc thực hiện CSTK và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam vận dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tránh những cú sốc gây tác dụng ngược, đồng thời hướng đến CSTK trung và dài hạn để đảm bảo tính chủ động trong điều hành vĩ mô của Nhà nước.

Vấn đề là cần phải nghiên cứu và hiểu rõ, nắm vững để sử dụng một cách linh hoạt, thành công các công cụ, các hình thức của CSTK, nhằm vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo vào hoàn cảnh từng nơi, từng lúc, qua đó phát huy hết tác dụng tích cực của chính sách, hạn chế thấp nhất những tác động tiêu cực của nó. Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng bối cảnh thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464