Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

Chính sách tài khóa là một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước can thiệp, điều chỉnh kinh tế vĩ mô. Trên thế giới, lý thuyết về chính sách tài khóa (CSTK) đã được nghiên cứu, vận dụng vào điều chỉnh kinh tế của các nước sau Đại khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933. Ở Việt Nam, vai trò của CSTK đối với phát triển kinh tế xã hội (KTXH) ngày càng được khẳng định trong phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Cùng với những chuyển biến và đổi mới về kinh tế, CSTK cũng không ngừng được nghiên cứu, xây dựng và vận dụng vào từng giai đoạn cụ thể và nó đã có những đóng góp tích cực cho thực hiện các mục tiêu phát triển KTXH trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2007 kéo dài đến nay, những biến động bất lợi chính trị trong một số khu vực, khủng hoảng nợ công của Châu Âu tới sự ổn định và phát triển kinh tế (PTKT) Việt Nam, CSTK ở Việt Nam càng được Chính phủ, các cơ quan hoạch định chính sách, các nhà kinh tế nghiên cứu kỹ lưỡng và có hệ thống hơn nhằm sử dụng linh hoạt và phát huy vai trò tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của CSTK để giữ vững ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (TTKT) trong nước. Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

Tuy nhiên, cho tới nay, các nghiên cứu về lý thuyết và tá́c động củaCSTK nhằm thúc đẩy TTKT Việt Nam vẫn còn chưa đầy đủ và hệ thống. Những cuộc khảo sát và nghiên cứu còn chưa mang tính tổng thể, kết quả chưa thật rõ ràng nên dẫn đến tình trạng thiếu cơ sở về mặt lý luận và kinh nghiệm thực tiễn trong quan điểm hoàn thiện CSTK nhằm thúc đẩy TTKT. Do đó, còn có nhiều ý kiến, nhiều quan điểm trong việc hoàn thiện CSTK ở Việt Nam.

Mặt khác, trong PTKT Việt Nam hiện nay, do chịu nhiều tác động của các yếu tố nội tại và tình hình kinh tế quốc tế, bên cạnh những thuận lợi cũng có những khó khăn thách thức không nhỏ. Vì vậy, các chính sách kinh tế vĩ mô, trong đó có CSTK cần phải được nghiên cứu, nhận thức và vận dụng một cách khoa học nhất để điều chỉnh kịp thời nền kinh tế khi có những biến động, đảm bảo ổn định và tăng trưởng bền vững.

Từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về CSTK cùng với những tác động của nó tới nền kinh tế là cần thiết khách quan, qua đó, làm rõ những luận cứ khoa học và thực tiễn trong việc hoàn thiện CSTK, đảm bảo góp phần giải quyết những vấn đề trong PTKT Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, nghiên cứu sinh đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” nhằm góp phần nhất định vào nghiên cứu, nhận thức và vận dụng một cách khoa học nhất CSTK trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

Hệ thống hóa, luận giải để góp phần hoàn thiện, nâng cao nhận thức lý luận về CSTK và TTKT. Phân tích các tác động của CSTK tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.

Tìm hiểu kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc hoạch định và sử dụng CSTK, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng cho Việt Nam.

Phân tích, đánh giá thực trạng của CSTK và tác động của CSTK trong việc thúc đẩy TTKT ở Việt Nam giai đoạn 1991 – 2017; chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về CSTK nhằm thúc đẩy TTKT.

Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện CSTK trong việc thúc đẩy TTKT Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

3. Đối tượng nghiên cứu

Xuất phát từ sự cần thiết của vấn đề cần nghiên cứu, trên cơ sở yêu cầu và với khả năng nghiên cứu, luận án lựa chọn đối tượng nghiên cứu chính là tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.

4. Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu: Chính sách tài khóa bao gồm hoạt động thu ngân sách và chi tiêu của Chính phủ, cân đối và xử lý cân đối NSNN. Đây là một nội dung rộng, liên quan đến nhiều mặt của đời sống kinh tế và xã hội. Bên cạnh đó, TTKT thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế. Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

Luận án đã nghiên cứu về lý thuyết và thực tiễn CSTK tác động đến nền kinh tế vĩ mô. Cụ thể: CSTK mở rộng; CSTK thắt chặt; CSTK tự ổn định; CSTK thuận và nghịch chu kỳ.

Thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng của CSTK nhằm thúc đẩy TTKT trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 2017. Số liệu Luận án sử dụng được thu thập từ những nguồn: số liệu do Ngân hàng Thế giới công bố, số liệu Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính, do NCS tự tổng hợp qua các báo cáo về NSNN được đăng công khai trên các website của Chính phủ, Bộ Tài chính và Tổng cục thống kê. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh đề xuất những giải pháp đến năm 2025 và tầm nhìn 2030.

Phần định hướng mục tiêu dựa vào các tài liệu hiện hành từ năm 2011 đến năm 2020 như: Nghị quyết 11/2011, Nghị quyết 01/2012, Nghị quyết 01, 02/2013 của Chính phủ, Chiến lược Tài chính đến năm 2020: Tầm nhìn và định hướng, định hướng hoàn thiện CSTK Việt Nam, Chiến lược cải cách hệ thống thuế Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, Chiến lược phát triển KTXH 2011 – 2020 của đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị…

5. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để đảm bảo việc nhận thức về lý luận, kinh nghiệm thực hiện CSTK của nước ngoài, nghiên cứu lý thuyết CSTK của các nhà kinh tế cũng như tình hình thực hiện CSTK ở Việt Nam. Trên nền tảng của phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, để có các phân tích, đánh giá, lập luận có căn cứ khoa học về đề tài nghiên cứu, NCS sử dụng các phương pháp sau:

  • Các phương pháp tư duy khoa học: Qui nạp, diễn dịch, loại suy, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa các dữ liệu NCS đã thu thập được để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về CSTK, về TTKT và tình hình thực hiện CSTK nhằm thúc đẩy TTKT ở Việt Nam trong thời gian qua.
  • Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn, xin ý kiến của các chuyên gia, các đồng nghiệp trong và ngoài Học viện Tài chính về các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án nhằm nhận diện khách quan hơn về thực trạng thực hiện CSTK nhằm thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua, từ đó hướng tới những quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện CSTK nhằm thúc đẩy TTKT ở Việt Nam trong thời gian tới.
  • Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp: Thông qua việc thống kê, tổng hợp số liệu quyết toán và dự toán thu chi NSNN được công bố công khai thông qua các tài liệu cũng như trên các website của Bộ Tài chính, Chính phủ… NCS so sánh số liệu giữa các năm, các giai đoạn, giữa các yếu tố trong cùng một năm để đánh giá và phân tích, để so sánh các chỉ tiêu KTXH theo thứ tự thời gian và không gian để làm rõ các khía cạnh có liên quan đến nội dung luận án cụ thể là đánh giá phân tích tình hình thực hiện CSTK nhằm thúc đẩy TTKT ở Việt Nam giai đoạn 1991 – 2017.
  • Phương pháp suy luận logic: Từ những vấn đề cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn đặc biệt những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của hạn chế trong việc thực hiện CSTK nhằm thúc đẩy TTKT giai đoạn 1991 – 2017, NCS suy luận logic để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện CSTK trong việc thúc đẩy TTKT ở Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

Ngoài ra, nghiên cứu sinh cũng sử dụng phương pháp phân tích định lượng bằng việc sử dụng mô hình, được khái quát trên cơ sở các hàm toán học với các biến nội sinh và các biến ngoại sinh khác nhau. Mô hình được xây dựng với mục tiêu là nghiên cứu mức độ tác động của các yếu tố: đầu tư Chính phủ và mức độ động viên thu từ thuế tới nền kinh tế. Các yếu tố này chính là những nội dung quan trọng của CSTK mà Chính phủ thường sử dụng phối hợp với CSTT trong điều tiết nền kinh tế. Số liệu sử dụng trong mô hình là chuỗi thời gian từ năm 1991 đến năm 2017. Nguồn số liệu: Niên Giám Thống kê các năm từ 1991 – 2017 và số liệu từ Bộ Tài chính. Phần mềm sử dụng trong mô hình là EVIEWS.

Bên cạnh đó, sử dụng mô hình để đưa ra dự đoán cho 3 năm 2018 đến 2020 với các giả định thay đổi các biến trong mô hình. Đây là điểm khác biệt của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam.

Trong quá trình thực hiện đề tài, NCS cũng tìm hiểu và thực hiện đề tài dựa trên các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về phát triển KTXH.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

Ý nghĩa khoa học:

  • Hệ thống hóa lý luận về CSTK và hoàn thiện CSTK nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bổ sung thêm quan điểm hoàn thiện CSTK nhằm thúc đẩy TTKT Việt Nam.
  • Tổng hợp số liệu qua các thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2017, từ đó làm căn cứ để đánh giá thực trạng của CSTK ở Việt Nam.
  • Đề xuất các giải pháp hoàn thiện CSTK nhằm thúc đẩy TTKT ở Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

Ý nghĩa thực tiễn:

  • Xây dựng các luận cứ cho việc hoàn thiện cũng như nâng cao hiệu quả của CSTK ở Việt Nam.
  • Phân tích, đánh giá những tác động của CSTK nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam, chỉ ra những mặt đạt được và những tồn tại trong quá trình thực hiện CSTK làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
  • Đề xuất các giải pháp về CSTK nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.

7. Kết cấu của Luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án được chia thành 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.

Chương 2: Những lý luận cơ bản về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của chính sách tài khóa.

Chương 3: Chính sách tài khóa với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1991 – 2017.

Chương 4: Hoàn thiện chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI VÀ TRONG NƯỚC Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Có nhiều nghiên cứu về kinh tế vĩ mô và vi mô từ trước đến nay, nhưng nhìn chung có thể kể đến những nhà kinh tế hàng đầu đã thực hiện nhiều nghiên cứu về kinh tế, tăng trưởng kinh tế và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Có thể kể ra những đại diện ưu tú nhất, với các tác phẩm kinh điển đã được công bố và được đánh giá cao như: Các công trình nghiên cứu của A.dam Smith, Karl Mark, John Maynard Keynes, Cobb – Doughlas, Harrod – Domar hay P.A.Samuelson về các mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế từ cổ điển đến tân cổ điển và hiện đại.

Trước Đại khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933, nền kinh tế thị trường tự do của các nước Tư bản chủ nghĩa phát triển ổn định và bền vững. Trong tác phẩm: “Của cải của các dân tộc” (The Wealth of Nations), Adam Smith, người được coi là cha đẻ của môn kinh tế học cho rằng:…người ta trong khi theo đuổi lợi ích riêng của mình dường như được “một bàn tay vô hình” dẫn dắt để tăng thêm lợi ích cho xã hội. Nếu như có một bàn tay vô hình, nếu như thị trường phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả sao cho các nhu cầu của người tiêu dùng được thỏa mãn với chi phí tối thiểu, thì tại sao chính phủ lại phải can thiệp vào nền kinh tế để làm gì? [47].

A.dam Smith cho rằng hàm sản lượng chỉ phụ thuộc vào năm yếu tố: sức lao động, tiền vốn, đất đai, tiến bộ kỹ thuật và môi trường kinh tế xã hội. Chính phủ không nên can thiệp mà để cho kinh tế thị trường tự do phát triển.

Trong tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa”, David Ricardo cho rằng: nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, từ đó các yếu tố cơ bản của TTKT là đất đai, lao động và vốn [29].

Đồng thuận với những tư tưởng trên, lý thuyết của trường phái Tân cổ điển với đại diện là các nhà nghiên cứu như Stanley Jevons (Anh), Carl Menger (Áo), Walras (Pháp) cho rằng: tiến bộ kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy TTKT. Và chính sách kinh tế của Chính phủ không thể tác động vào sản lượng mà chỉ ảnh hưởng đến mức giá của nền kinh tế, vì vậy, vai trò của Chính phủ là mờ nhạt trong TTKT.

Trong một số các nghiên cứu thuộc trường phái tân cổ điển khác như mô hình tăng trưởng của Solow – Swan (1956) thì tăng trưởng sẽ hội tụ về một tốc độ nhất định ở trạng thái bền vững và tốc độ tăng trưởng không phụ thuộc vào các nhân tố bên trong mà chỉ phụ thuộc vào các yếu tố ngoại sinh như công nghệ hay tốc độ tăng trưởng lao động.

Lý thuyết của Adam Smith đã được cổ súy trong nền kinh tế thị trường tự do đang phát triển. Tuy nhiên, với biến động kinh tế tai hại nhất trong lịch sử Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đó là cuộc Đại suy thoái kinh tế thời kỳ 1929 – 1933. Trong những năm 1930, nước Mỹ và hệ thống tư bản chủ nghĩa đã trải qua nạn thất nghiệp và suy giảm thu nhập trầm trọng, sự kiện này làm cho nhiều nhà kinh tế nghi ngờ tính xác thực của lý thuyết kinh tế cổ điển. Trong hoàn cảnh như vậy, năm 1936, John Maynard Keynes đã làm cuộc cách mạng trong kinh tế học bằng cách công bố tác phẩm: Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ [43]. Keynes đã đề xuất một phương pháp mới để phân tích nền kinh tế hoàn toàn khác với lý thuyết cổ điển. Keynes cho rằng: tổng cầu thấp là do thu nhập thấp và thất nghiệp cao. Keynes phê phán lý thuyết cổ điển vì nó giả định rằng chỉ có tổng cung tư bản, lao động và công nghệ quy định thu nhập quốc dân. Theo Keynes, điểm cân bằng của nền kinh tế đạt được khi mà mức sử dụng lao động vừa đủ để đảm bảo đáp ứng tổng cầu hữu hiệu, hiệu quả kinh tế sẽ phát huy ở mức cao nhất nếu có tác động tích cực lên tổng cầu. Vì vậy, khi sản lượng chưa đạt được sản lượng tiềm năng nhà nước cần phải tác động, can thiệp vào nền kinh tế để khắc phục mất cân đối, nhằm tăng tỷ lệ sử dụng lao động, tăng sản lượng, thông qua tăng chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế. Cần thiết phải có vai trò Nhà nước trong điều tiết kinh tế để đối phó với khủng hoảng và thất nghiệp; Nhà nước nên sử dụng quyền hạn đó để đánh thuế và gia tăng chi tiêu, qua đó để tác động lên chu kỳ kinh doanh. Chi tiêu của Chính phủ là khoản đầu tư công cộng, bơm thêm tiền vào nền kinh tế để tăng tổng cầu. Trong học thuyết của mình, J.M.Keynes đề cao CSTK, ông lập luận rằng, cần thiết phải có vai trò của nhà nước trong điều tiết kinh tế để chống đỡ khủng hoảng và thất nghiệp, nhà nước nên sử dụng quyền hạn của mình để đánh thuế và gia tăng chi tiêu, qua đó để tác động lên chu kỳ kinh tế [43].

Các nhà kinh tế theo trường phái kinh tế học Keynes cho rằng, CSTK có hiệu quả to lớn trong chống chu kỳ kinh tế. Họ sử dụng mô hình đường IS-LM [43] để chứng minh CSTK phát huy tác dụng thông qua việc giảm thuế suất trong các giai đoạn thu hẹp và suy thoái, giúp hạn chế việc suy giảm sản lượng nhờ tăng đầu tư ngoài khu vực nhà nước, trong khi việc tăng thuế suất trong các giai đoạn tăng trưởng nóng giúp hạn chế tốc độ lạm phát nhờ cắt giảm tiêu dùng ngoài khu vực nhà nước.

Ủng hộ lý thuyết của Keynes, David Begg; Stanley Fischer; Rudiger Dornbusch trong công trình: Kinh tế học [40], cho rằng: Nguyên cớ chung để Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế thị trường là do trục trặc của thị trường, do thất bại của thị trường. Đôi khi do thị trường không phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả, và sự can thiệp của Chính phủ có thể cải thiện hoạt động kinh tế. Lý thuyết Kinh tế học chỉ ra sáu trục trặc lớn của thị trường khiến cho có sự can thiệp của Chính phủ, sáu trục trặc đó là: Chu kỳ kinh tế; Hàng hóa công cộng; Các ngoại ứng; Các vấn đề liên quan đến thông tin; Độc quyền và quyền lực đối với thị trường; Tái phân phối thu nhập và hàng khuyến dụng [40]. Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

David Begg đã nhấn mạnh tác động của CSTK đến sản lượng cân bằng, phân tích ảnh hưởng của thuế ròng và ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ đối với sản lượng, đồng thời đưa ra khái niệm số nhân ngân sách cân bằng – chỉ ra việc cùng tăng chi tiêu chính phủ và giảm thuế sẽ làm tăng sản lượng.

Kinh tế học của Paul A. Samuelson [46] cũng đã đề cập đến CSTK, trong đó Samuelson cho rằng: trên giác độ kinh tế vĩ mô, chi tiêu của Chính phủ cũng ảnh hưởng đến mức chi tiêu nói chung của cả nền kinh tế và do đó có tác động đến mức GDP, và thuế cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua tác động làm giảm thu nhập của mọi người, đồng thời tác động đến giá cả hàng hóa và các yếu tố sản xuất, do đó, ảnh hưởng đến hành vi và động cơ khuyến khích.

N.Gregory Mankiw, là người đại diện xuất sắc cho trường phái Keynes mới, với tác phẩm: Kinh tế học [44] đã thành công trong việc kết nối, hệ thống hóa nhiều đóng góp quý báu của các nhà kinh tế cổ điển, tân cổ điển và cổ điển mới. Mô hình IS – LM vẫn đóng vai trò chủ đạo để giải thích lý thuyết của Keynes, theo đó: Vì mua hàng của chính phủ là một thành tố của chi tiêu, nên tại bất kỳ mức thu nhập cho trước nào, khi mức mua hàng của Chính phủ cao hơn, chi tiêu dự kiến cũng cao hơn. Nếu mua hàng của chính phủ tăng thêm một lượng bằng ∆G, đường chi tiêu dự kiến sẽ dịch chuyển lên phía trên một khoảng bằng ∆G. Trạng thái cân bằng của nền kinh tế sẽ dịch chuyển lên trên, qua đó cũng làm thu nhập Y tăng. Cần lưu ý rằng, mức tăng thu nhập (∆Y) cao hơn mức tăng mua hàng của chính phủ (∆G), do vậy, CSTK có tác động khuếch đại đối với thu nhập, điều đó có nghĩa là ∆Y lớn hơn ∆G. Tỷ số ∆Y/ ∆G được gọi là nhân tử mua hàng của Chính phủ, nó cho biết thu nhập tăng thêm bao nhiêu khi mua hàng của chính phủ tăng thêm 1 USD. Sở dĩ CSTK có tác dụng khuếch đại thu nhập vì: Theo hàm tiêu dùng, thu nhập cao hơn dẫn đến mức tiêu dùng cao hơn. Vì mức mua hàng của chính phủ tăng thêm làm tăng thêm thu nhập, cho nên nó lại làm tăng tiêu dùng, tiếp đó làm tăng thu nhập hơn nữa, sau đó lại làm tăng tiêu dùng và v.v… Mặt khác, tại một mức thu nhập bất kỳ nào đó biện pháp cắt giảm thuế ở mức ∆T làm cho chi tiêu dự kiến tăng thêm một lượng tương ứng bằng MPC. ∆T. Trạng thái cân bằng sẽ dịch chuyển, thu nhập Y tăng. Trong trường hợp này CSTK cũng có tác dụng khuếch đại đối với thu nhập.

Tuy nhiên, có những điều còn tranh cãi nhiều trong kinh tế học vĩ mô về vấn đề liệu chính phủ có nên và ở chừng mực nào đó có thể ổn định nền kinh tế, vì vậy, bên cạnh những nhà kinh tế ủng hộ, có những nghiên cứu không đồng thuận với Keynes. Các nhà kinh tế học bảo thủ, kể cả những người đoạt giải thưởng Nobel kinh tế như: Milton Friedman thuộc học viện Hoover và James Buchanan thuộc Đại học tổng hợp George Mason, đã lập luận rằng: trong thực tiễn chính phủ còn thậm chí hay thất bại hơn so với thị trường trong việc phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả. James Buchanan cho rằng: hậu quả mà học thuyết kinh tế của J.M. Keynes để lại cho nền kinh tế là ở chỗ hợp thức hóa bội chi NSNN. Ông chứng minh rằng: kể từ khi Chính phủ Mỹ vận dụng lý thuyết kinh tế của Keynes vào đầu những năm 1960 đến nay, NSNN Liên bang Mỹ liên tục trong tình trạng bội chi với quy mô bội chi có xu hướng tăng dần. Kết quả là ngày nay chính quyền Mỹ trở thành con nợ lớn nhất thế giới [43].

Theo quan điểm của Ricardo (Nhà kinh tế học nổi tiếng trong thế kỷ 19) trong thuyết: Cân bằng Ricardo (Ricardian equivalence) còn được gọi là Định lý cân bằng Barro-Ricardo (Barro-Ricardo equivalence theorem) cho rằng: nguyên tắc chung là nợ chính phủ tương đương với thuế trong tương lai, và nếu người tiêu dùng biết nhìn xa, thuế trong tương lai tương đương với thuế hiện tại [29]. Do đó, việc tài trợ cho chi tiêu chính phủ bằng vay nợ tương đương với cách tài trợ cho nó bằng thuế. Hàm ý của Cân bằng Ricardo là biện pháp cắt giảm thuế được tài trợ bằng vay nợ không tác động tới tiêu dùng. Hộ gia đình tiết kiệm phần thu nhập khả dụng tăng thêm để sau này trả cho phần nợ thuế hàm chứa trong bản thân biện pháp cắt giảm thuế, sự gia tăng tiết kiệm cá nhân vừa đủ để bù đắp lại sự giảm sút trong tiết kiệm công cộng. Tiết kiệm quốc dân – tức là tổng của tiết kiệm cá nhân và tiết kiệm công cộng – vẫn giữ nguyên như cũ. Biện pháp cắt giảm thuế do đó không có tác dụng như phương pháp phân tích truyền thống dự báo. Logic của Cân bằng Ricardo không hàm ý rằng mọi thay đổi trong CSTK đều không có tác dụng. Những thay đổi trong CSTK sẽ tác động đến chi tiêu của người tiêu dùng nếu chúng tác động vào chi tiêu của chính phủ.

Thời gian gần đây, nhiều nhà kinh tế đã đưa vai trò của CSTK vào các mô hình tăng trưởng tân cổ điển. Như Arrow và Kurz (1969), Fisher và Turnovsky (1998). Đặc biệt, Barro (1990) đã nghiên cứu xem chi tiêu Chính phủ có ảnh hưởng thế nào đến tăng trưởng dài hạn. Bằng cách giả định chi tiêu chính phủ có vai trò bổ trợ cho sản xuất của khu vực tư nhân, mô hình của ông đã chỉ ra mối quan hệ không đơn điệu giữa quy mô chi tiêu chính phủ và tăng trưởng. Tiếp đó, nhiều nhà kinh tế như Devarajan (1996), Chen (2006), và Ghosh và Gregoriou (2008) đã mở rộng mô hình của Barro để xem xét tác động của các thành phần chi tiêu chính phủ khác nhau đối với tăng trưởng kinh tế. Bằng cách gán các hệ số co giãn khác nhau cho các thành phần chi tiêu chính phủ khác nhau, các mô hình của họ có thể xác định quy mô và cơ cấu tối ưu của khu vực nhà nước đối với TTKT. Cùng với sự phát triển của các mô hình lý thuyết trong lĩnh vực này, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng được thực hiện bởi nhiều nhà kinh tế như Grier và Tullock (1987), Summers và Heston (1988), Aschauer (1989), Barro (1990, 1991), Easterly và Rebelo (1993) và nhiều bài báo khác. Hầu hết các nghiên cứu này đều cho thấy sự gia tăng đầu tư công có tác động tích cực đối với TTKT; trái lại, sự gia tăng tiêu dùng Chính phủ có thể làm giảm TTKT.

1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

Việt Nam, đã có một số các công trình nghiên cứu về CSTK nói chung và đánh giá tác động của CSTK đối với TTKT nói riêng. Cụ thể như sau:

Các công trình nghiên cứu là những luận án tiến sĩ trong nước.

Một trong những nghiên cứu về lý thuyết đi sâu vào lý thuyết CSTK và vai trò của CSTK là đề tài luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Đức Thụ, “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc điều tiết nền kinh tế thị trường thông qua chính sách tài khóa ở nước ta” [31].

Luận án đã đi sâu phân tích về mặt lý thuyết CSTK, vai trò điều tiết của CSTK đối với nền kinh tế thị trường; qua phân tích thực trạng về nhận thức, vận dụng trong xây dựng và thực thi CSTK ở Việt Nam, luận án đưa ra các giải pháp sử dụng các công cụ của CSTK để nâng cao hiệu lực quản lý và điều tiết nền kinh tế của Chính phủ Việt Nam. Có thể nói, luận án của tác giả Bùi Đức Thụ là một tài liệu tham khảo rất có ý nghĩa về mặt lý luận. Tuy nhiên, luận án chủ yếu đề cập đến những vấn đề có tính chất lý luận, phần phân tích về thực trạng và tác động của CSTK tới phát triển kinh tế ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, luận án là công trình nghiên cứu từ năm 1998, cho đến nay, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình PTKT, tài chính của nước ta đã có nhiều thay đổi và đặt ra những thách thức trong thời kỳ mới.

“Chính sách tài khóa của các nước đang phát triển – trường hợp của Việt Nam” của tác giả Lê Huy Trọng [34].

Theo tác giả, CSTK là quyết định của Chính phủ về chi tiêu và thuế khóa. CSTK luôn hướng tới nhằm đạt ba mục tiêu cơ bản: Tăng trưởng kinh tế; Ổn định kinh tế và Phân phối công bằng.

Chính sách tài khóa được đặc trưng bởi ba nội dung chủ yếu, đó là: chính sách động viên NSNN, chính sách chi NSNN và chính sách bội chi NSNN. Trong từng bộ phận đó lại có nhiều chính sách cụ thể phục vụ mục đích khác nhau. Các bộ phận luôn có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau để tạo nên sức mạnh tổng hợp của chính sách.

Trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu về CSTK của một số nước đang phát triển, thực trạng của CSTK của Việt Nam, nghiên cứu mô hình kinh tế lượng, tác giả nêu một số giải pháp hạn chế bội chi ngân sách, trong đó lưu ý đến vay nợ để bù đắp bội chi ngân sách: Nên vay nợ vào thời điểm nào, vay trong nước hay vay nước ngoài?

“Tác động của phân cấp tài khóa đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam” của tác giả Mai Đình Lâm [15].

Đề tài nghiên cứu tác động của phân cấp tài khóa đến TTKT Việt Nam trong mô hình hàm sản xuất đa biến trên cơ sở có điều chỉnh độ trễ, qua đó luận án làm rõ các vấn đề: Đánh giá tác động của phân cấp tài khóa đến TTKT của Việt Nam, hoàn thiện mô hình lý thuyết nghiên cứu và đánh giá tác động của phân cấp tài khóa đến TTKT, đề xuất chính sách nhằm hoàn thiện phân cấp tài khóa tác động tích cực thúc đẩy TTKT Việt Nam. Nội dung của luận án do tác giả Mai Đình Lâm thực hiện có một mảng kiến thức liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu đó là phân cấp tài khóa và tác động của phân cấp tài khóa đến TTKT Việt Nam. Đề tài này đã công bố từ năm 2012, trong khi nền kinh tế đã có nhiều biến động và phát triển, vì vậy, luận án là một tài liệu cho NCS tham khảo về mặt phương pháp và mô hình.

“Hoàn thiện hệ thống tài chính nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2006-2010” của tác giả Trần Đình Toàn [33].

Luận án chủ yếu nghiên cứu về tài chính và hệ thống tài chính, vai trò của các khâu trong hệ thống tài chính quốc gia trong thúc đẩy TTKT. Mặt khác, nội dung đề tài luận án tập trung đi sâu phân tích các công cụ của chính sách tiền tệ (CSTT) với ổn định và TTKT, phân tích mối quan hệ của CSTT với CSTK. Như vậy, luận án của tác giả Trần Đình Toàn chủ yếu đi sâu phân tích các công cụ của CSTT, không phân tích về chính sách tài khóa như thuế và chi tiêu ngân sách nhà nước.

“Tác động của chính sách tài khóa đến phát triển kinh tế Việt Nam” của tác giả Bùi Nhật Tân [26].

Luận án đã nghiên cứu, đánh giá các tác động của chính sách tài khóa đến phát triển kinh tế Việt Nam. Luận án đã làm rõ các vấn đề: đưa ra lý luận chung về CSTK và phát triển kinh tế; đánh giá thực trạng CSTK gắn với tình hình phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2004 – 2014, trong đó đã nêu rõ tình hình sử dụng công cụ thu, chi, bội chi NSNN, nợ công trong giai đoạn nêu trên. Như vậy, nội dung của luận án do tác giả Bùi Nhật Tân thực hiện cũng có một mảng kiến thức liên quan đến nội dung về CSTK, số liệu nghiên cứu trong 10 năm từ 2004 – 2014 và đề tài đã được công bố năm 2015. Công trình này cũng là một tài liệu để NCS tham khảo trong quá trình nghiên cứu.

Các công trình nghiên cứu là những Đề tài nghiên cứu khoa học các cấp:

Nội dung nghiên cứu của tác giả đã tổng kết, đánh giá kết quả điều hành CSTK giai đoạn 1991 – 2000 dựa trên cơ sở tổng hợp, phân tích kết quả thu, chi NSNN; đồng thời đặt ra những vấn đề đối với CSTK của Việt Nam, mạnh dạn chỉ rõ những khiếm khuyết trong điều hành NSNN trong các thời đoạn trước đó, nêu các định hướng, các giải pháp về CSTK cho giai đoạn 2001 – 2010. Đây là công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ, chi tiết về kết quả thu – chi NSNN trong giai đoạn 1991 – 2000 và những kiến nghị cho giai đoạn cụ thể 2010 – 2010 gắn với thực trạng phát triển KTXH và yêu cầu đặt ra đối với CSTK trong giai đoạn này. Tuy nhiên, đề tài chưa hệ thống hóa về mặt lý thuyết về CSTK do đó chủ yếu cũng chỉ có giá trị về đánh giá thực tiễn chứ chưa đề cập đến những giải pháp dài hạn hơn. Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

Trịnh Huy Quách và các cộng sự đã luận giải những vấn đề lý luận về CSTK, hiệu lực, hiệu quả của CSTK, phân tích và làm rõ mối quan hệ giữa CSTK với lạm phát, tỷ lệ lao động có việc làm và CSTK với ổn định kinh tế vĩ mô. Trên cơ sở nền tảng lý thuyết, nhóm tác giả xác định những thách thức đối với CSTK ở Việt Nam và đưa ra cơ sở lý luận về những biện pháp tài khóa gắn với ba vấn đề chính là lạm phát, tỷ lệ lao động có việc làm và ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, đề tài lại chỉ chú trọng về nêu và phân tích về lý thuyết mà không đi vào phân tích số liệu thực tế các nước cũng như ở Việt Nam để thấy rõ được các vấn đề lý luận đã nêu vận dụng cũng như kết quả đạt được ra sao, do đó, giá trị của đề tài nhìn chung chỉ có ý nghĩa tham khảo sâu về lý thuyết, chưa đề cập đến các giải pháp cụ thể.

Tác giả đã phân tích các nhân tố xác định tính cần thiết phải điều chỉnh chính sách tài khóa thành viên sau khi trở thành thành viên của tổ chức này; phân tích những bài học kinh nghiệm của các nước (đang phát triển, kém phát triển và chuyển đổi) trong điều chỉnh chính sách thuế – thuế quan trong thực hiện các cam kết gia nhập WTO, điều chỉnh chính sách trợ cấp trong nông nghiệp, dịch vụ để nâng cao năng lực ngành hàng và thúc đẩy công nghiệp hóa, hỗ trợ thương mại và xúc tiến xuất khẩu và thực hiện công bằng xã hội, nhất là bảo vệ các đối tượng dễ bị tổn thương trong quá trình tự do hóa thương mại; đánh giá những tồn đọng, bất cập trong chính sách thuế quan và trợ cấp của Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt, đánh giá tác động, thách thức của việc gia nhập WTO đối với các khía cạnh tài khóa của Việt Nam; đưa ra một số tư tưởng chủ đạo và phương hướng cơ bản trong điều chỉnh chính sách thuế và trợ cấp của Việt Nam trong thời gian tới.

Nghiên cứu này đã đưa ra một khuôn khổ phân tích có hệ thống, tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong điều chỉnh CSTK, nhất là dựa trên việc “soi chiếu” thực tiễn vận dụng và điều chỉnh CSTK Việt Nam trước khi gia nhập WTO và các tác động dự kiến khi Việt Nam là thành viên của tổ chức này để đưa ra hệ thống giải pháp điều chỉnh CSTK của mình.

Đề tài này đã được thực hiện từ năm 2006 và nội dung chủ yếu là đưa ra các giải pháp để điều chỉnh các công cụ của CSTK Việt Nam sau khi gia nhập WTO để góp phần đảm bảo nguồn NSNN bền vững, nâng cao năng lực của các ngành hàng, thúc đẩy xuất khẩu và TTKT và giảm thiểu tác động tiêu cực của việc gia nhập tổ chức này.

Nội dung chủ yếu của đề tài đề cập là: Lý thuyết và thực tiễn cho thấy CSTK có ảnh hưởng to lớn trong chống chu kỳ kinh tế thông qua công cụ tài khóa. Cùng với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, đặc biệt là CSTT, CSTK là một trong các công cụ trọng yếu giữ vai trò quyết định trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

Kết quả cho thấy CSTK của Việt Nam trong việc ổn định chu kỳ kinh tế khá tương đồng với các nước đang phát triển khác là mang tính thuận chu kỳ và tiềm ẩn nhiều bất ổn vĩ mô. Kết quả nghiên cứu cho thấy CSTK nên phù hợp với vị trí của chu kỳ kinh tế với sản lượng tiềm năng. Chính sách phản chu kỳ trong giai đoạn suy thoái thường có ảnh hưởng tích cực đến TTKT. Cũng lưu ý rằng, chính sách phản chu kỳ cũng có độ trễ, nghĩa là thường không có phản ứng tích cực tức thời. Do đó việc triển khai CSTK cần được thực hiện khẩn trương nhằm phát huy tối đa tác dụng kích thích của CSTK với các công cụ tài khóa được sử dụng linh hoạt theo mức độ ảnh hưởng. Nên sử dụng CSTK mở rộng khi nền kinh tế đang ở dưới mức sản lượng tiềm năng. Tuy nhiên, việc áp dụng CSTK mở rộng liên tục trong thời gian dài dễ gây ra bất ổn, dẫn đến suy thoái. Do đó, nhà nước nên kích thích tăng trưởng một cách thận trọng, trong pha tăng trưởng trên mức tiềm năng thì nhà nước không nên mở rộng CSTK. Nếu cùng với nới lỏng tiền tệ thì thường chỉ đạt được tăng trưởng trong ngắn hạn, sau đó nền kinh tế sẽ “xuống sức và sinh bệnh”, đó là lạm phát, suy giảm đầu tư, kinh doanh sản xuất, gây bất ổn KTXH và từ đó sẽ giảm tăng trưởng trong dài hạn.

Để tăng cường vai trò của CSTK đối với ổn định chu kỳ kinh tế, Việt Nam cần phối hợp đồng bộ nhiều giải pháp, bao gồm xây dựng kế hoạch chi tiêu trung hạn hợp lý, đảm bảo kỷ luật tài khóa, an ninh, an toàn tài chính, có cơ chế điều hành CSTK hiệu quả, cải thiện hệ thống thuế nhằm tăng nguồn thu ổn định, tái cấu trúc đầu tư công nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, quản trị CSTK nhằm có những đối sách kịp thời và hiệu quả hơn, phối hợp với CSTT nhằm tạo tác động cộng hưởng chứ không triệt tiêu nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng chung, cũng như cam kết lòng tin của cộng đồng doanh nghiệp và dân chúng nhằm góp phần tạo ổn định môi trường kinh tế, chính trị và xã hội.

Các tác giả cho rằng: cân đối ngân sách cần lành mạnh và tích cực để đảm bảo tính bền vững của ngân sách, CSTK cần thực hiện quyết liệt hơn trong vấn đề thắt chặt chi tiêu công. Tránh tình trạng CSTK duy trì theo hướng “bảo thủ” trong khi CSTT liên tục đảo chiều ở mức độ cao theo những biến động của nền kinh tế. Nhà nước cần tăng tỷ trọng nguồn thu nội địa, hạn chế phụ thuộc vào nguồn thu xuất khẩu tài nguyên, giảm bớt tình trạng sử dụng chính sách thuế cho yêu cầu chính sách xã hội, tăng tỷ trọng thuế trực thu so với thuế gián thu.., đó là các yêu cầu bức thiết cho một cấu trúc thu ngân sách bền vững.

Đề tài đưa ra các cơ sở lý luận về tác động của thuế đến TTKT: mối quan hệ tác động giữa thuế và TTKT, cơ chế tác động của thuế để thúc đẩy TTKT. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến TTKT trong đó tập trung vào các chính sách về điều hành ngân sách bằng thuế. Đề tài đưa ra hệ thống số liệu để phân tích thực trạng chính sách động viên qua thuế tác động đến TTKT giai đoạn 1990 – 2000. Căn cứ trên các phân tích và nhận định về cơ sở lý luận và thực tiễn, mối quan hệ của việc thực hiện các chính sách thuế để thúc đẩy TTKT, đề tài đưa ra các phương hướng hoàn thiện chính sách động viên thông qua thuế nhằm thúc đẩy TTKT giai đoạn 2001 – 2010.

Đề tài gắn với vấn đề thúc đẩy TTKT nhưng giai đoạn phát triển kinh tế mà đề tài nghiên cứu là giai đoạn 2001 – 2010, mặt khác công cụ để thúc đẩy TTKT mà đề tài đề cập đến là công cụ thu NSNN cụ thể thông qua thuế, vì thế các giải pháp để thúc đẩy TTKT mà đề tài đưa ra là các giải pháp hoàn thiện chính sách thuế để thúc đẩy TTKT, không đề cập đến các công cụ khác ngoài công cụ thuế.

Đề tài tập trung nghiên cứu lý hệ thống lý thuyết về CSTK. Các tác giả cũng đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động của Kiểm toán nhà nước liên quan đến CSTK, CSTT từ đó chỉ rõ những yếu kém và nguyên nhân làm tiền đề cho các nội dung nghiên cứu tiếp theo. Trên cơ sở lý thuyết, thực trạng,các tác giả đã đưa ra định hướng và giải pháp nhằm thực hiện vai trò của Kiểm toán nhà nước đối với CSTK, CSTT từ khâu hoạch định chính sách, tổ chức thực thi chính sách, tổ chức đánh giá lại CSTK và CSTT. Các tác giả cũng đưa ra một số điều kiện để thức hiện các giải pháp mà chủ yếu tập trung vào việc xây dựng đội ngũ, hoàn thiện hệ thống pháp luật về Kiểm toán nhà nước và các luật có liên quan.

Các công trình nghiên cứu là những bài báo đăng trên các báo và tạp chí gần đây:

  • Vũ Thị Minh Luận, “Tác động của chính sách tài khóa tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam” [17] đã sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số cho trường hợp cụ thể của Việt Nam và chỉ ra rằng, chi cho đầu tư phát triển (ĐTPT) và chi thường xuyên của Chính phủ có tác động tới TTKT trong dài hạn. Trong đó, các khoản mục cho chi thường xuyên là các khoản mục kích thích nền kinh tế tăng trưởng thì các khoản mục trong chi cho ĐTPT lại có ảnh hưởng tiêu cực tới TTKT. Trong các khoản mục chi tiêu thường xuyên, chi cho giáo dục, y tế là khoản mục kích thích tăng trưởng đáng kể. Từ đó khuyến nghị Chính phủ cần đưa ra một kế hoạch tổng thể chính sách về tài chính, tiền tệ trung và dài hạn, trong đó các vấn đề về cân đối bội chi ngân sách, cân đối đầu tư công cần được tính toán kết hợp với nghiên cứu tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng.
  • Phạm Thế Anh, “Phân tích cơ cấu chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” [1] đã dựa trên mô hình dựa trên các mô hình của Barro (1990) và Devarajan và những người khác (1996) và đưa ra kết luận: Có sự chênh lệch khá lớn về tính hiệu quả giữa các khoản chi ngân sách khác nhau đối với TTKT. Các khoản chi đầu tư có hiệu ứng tích cực hơn so với các khoản chi thường xuyên trong các ngành nông, lâm, thủy sản, giáo dục & đào tạo, y tế và ngành khác. Cả chi đầu tư và chi thường xuyên cho ngành giao thông vận tải, giáo dục & đào tạo và ngành khác có vai trò tích cực lớn hơn đối với TTKT trong ngắn hạn so với các khoản chi tương ứng cho ngành nông, lâm, thủy sản và ngành y tế.
  • Nguyễn Thị Thu Cúc, “Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ: Thực trạng và một số đề xuất” [7].

Bài báo đã đánh giá thực trạng việc xây dựng và thực thi chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ năm 2012 và 2013. Qua đó kiến nghị Bộ Tài chính và NHNN và cần có sự phối hợp trong việc xác định mục tiêu vĩ mô ưu tiên trong từng thời kỳ và phải tuân thủ điều phối chung cho mục tiêu đó. Bộ Tài chính và NHNN cần tiếp tục chi tiết hóa thêm các nội dung ưu tiên triển khai trong quá trình điều hành. Theo đó, nên xây dựng các phương án phối hợp cụ thể, bám sát các diễn biến khác nhau của tình hình vĩ mô. Cũng cần khắc phục tình trạng phần nhiều nội dung phối hợp điều hành mới chỉ dừng lại ở cấp Trung ương mà chưa sâu rộng đến cấp địa phương. Nội dung phối hợp nên được cụ thể hóa bằng các quy chế, quy định mạch lạc, khả thi giữa hai ngành tài chính và ngân hàng, tăng cường và hoàn thiện việc thu thập, phân tích, trao đổi thông tin để việc thông qua và thực hiện các CSTK, CSTT được chuẩn xác, phù hợp với tình hình thực tế.

“Chính sách tài khóa gắn với tăng trưởng kinh tế bền vững giai đoạn 2011-2020”, các tác giả: Sử Đình Thành, Bùi Thị Mai Hoài và Mai Đình Lâm đã sử dụng mô hình tăng trưởng nội sinh, trên cơ sở dữ liệu bảng của 62 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương trong giai đoạn (2000 – 2011), phương pháp PMG và GMM sai phân của Arellano & Bond (1991), nghiên cứu phân tích thực nghiệm mối quan hệ giữa CSTK và TTKT ở Việt Nam. Kết quả phát hiện là: (i) Phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế có quan hệ đồng liên kết trong dài hạn, tuy nhiên những cú sốc khiến kinh tế mất cân bằng hay bị sai lệch khỏi xu hướng dài hạn thì các nỗ lực của Chính phủ trong việc điều chỉnh CSTK mang lại kết quả rất thấp; (ii) Phân cấp thu và hỗ trợ tài khóa có tác động cùng chiều với TTKT, trong khi phân cấp chi không có; và (iii) Chi thường xuyên và các khoản chi cho lĩnh vực giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học – môi trường và y tế có tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế, trong khi chi đầu tư thì không. Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

Tác giả khẳng định: Trong năm 2014, mặc dù gặp nhiều khó khăn về KTXH trong nước, ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế quốc tế, nhưng với sự điều hành CSTK của Chính phủ, Bộ Tài chính các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô về cơ bản vẫn hoàn thành theo kế hoạch. Các chỉ tiêu về thu ngân sách, chi ngân sách cũng đạt kế hoạch đề ra, cân đối ngân sách tích cực, bội chi ngân sách được đảm bảo trong giới hạn cho phép, nợ công được tái cơ cấu theo hướng tích cực. Trong tình hình như vậy, tác giả khẳng định cần tiếp tục thực thiện CSTK thắt chặt, thận trọng và linh hoạt. Phối hợp với CSTT thắt chặt nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế tốc độ gia tăng nhanh của nợ chính phủ, đảm bảo sử dụng linh hoạt và chủ động các công cụ của CSTK và CSTT, từng bước tháo gỡ các khó khăn của nền kinh tế, thực hiện nghiêm các cam kết quốc tế nhưng vẫn bảo vệ sản xuất trong nước và các nhà đầu tư, tiếp tục duy trì sự ổn định và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.

Bài viết đề cập tới những khó khăn, thách thức lớn của nền kinh tế thế giới và Việt Nam cũng gánh chịu những tác động không thuận của kinh tế thế giới khi giá cả biến động mạnh; xuất khẩu hàng hóa, giải ngân vốn đầu tư nước ngoài, du lịch,… giảm, hoạt động sản xuất – kinh doanh gặp khó khăn trong giai đoạn 2008 – 2012. Trước tình hình đó, Chính phủ phải đưa ra được những quyết sách quan trọng, chủ động sử dụng các công cụ điều hành vĩ mô, trong đó có CSTK hàng năm. Bộ Tài chính chủ động phối hợp với các đơn vị tham mưu Bộ trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ quyết định CSTK 5 năm và hàng năm phù hợp với yêu cầu thực tiễn, hướng tới mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội (ASXH). Sự điều chỉnh chủ động, linh hoạt, tích cực và kịp thời, CSTK đã góp phần quan trọng vào kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì TTKT, đảm bảo ASXH, giúp cho nền kinh tế trong nước không rơi vào suy thoái do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới; tiềm lực tài chính quốc gia được tăng cường, bội chi NSNN và dư nợ công trong phạm vi giới hạn cho phép; việc trả nợ vay được thực hiện chủ động, đúng hạn và đúng cam kết.

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã tập trung phân tích lý luận, thực trạng và giải pháp CSTK trong những thời kỳ nhất định ở Việt Nam. Một số công trình nghiên cứu đã sử dụng mô hình toán kinh tế để đánh giá tác động của CSTK đến TTKT và đưa ra những khuyến nghị đáng chú ý về tác động của chi đầu tư và chi thường xuyên đến TTKT; đồng thời ủng hộ quan điểm CSTK nên hướng đến tầm nhìn chung, dài hạn và cần phối hợp chặt chẽ với CSTT để điều chỉnh các cú sốc và cân bằng, ổn định kinh tế trong dài hạn.

Qua nghiên cứu và tìm hiểu, nghiên cứu sinh nhận thấy: hầu hết các công trình nghiên cứu hoặc là chủ yếu nghiên cứu lý thuyết về CSTK, hoặc chủ yếu lại tập trung nghiên cứu về thực trạng CSTK ở Việt Nam. Các đề tài nghiên cứu hay luận án tiến sĩ ở Việt Nam cũng hầu hết đề cập đến những vẫn đề lý thuyết chung, các công cụ của CSTK, các nguyên lý cơ bản về tác động của CSTK đến ổn định kinh tế, tạo công ăn việc làm, thúc đẩy TTKT. Những công trình, các bài báo công bố trên báo chí thì chủ yếu đề cập và phân tích trong thời gian một năm, hoặc trong giai đoạn ngắn, và cũng chủ yếu viết về vấn đề phối hợp giữa CSTK và CSTT trong thời gian gần đây.

Mặt khác, xuất phát từ quan điểm cho rằng, nghiên cứu khoa học vừa mang tính kế thừa, vừa có tìm tòi sáng tạo cái mới. Các công trình nghiên cứu và các bài viết nêu trên là những tài liệu rất bổ ích để nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện Luận án Tiến sĩ của mình.

Vì những lý do đó, nghiên cứu sinh nhận thấy việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về “Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” là cần thiết và không trùng lặp với các nghiên cứu đã được thực hiện từ trước đến nay.

1.2. KHOẢNG TRỐNG CHO CÁC VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

Các nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên đều đề cập đến vấn đề có liên quan đến CSTK và sự tác động của CSTK đến ổn định và TTKT trên một góc độ nhất định nào đó. Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu toàn diện về mối quan hệ tác động giữa CSTK đến TTKT ở Việt Nam.

Các công trình nêu trên đã đề cập đến các nội dung của CSTK như đổi mới chính sách thu, chi NSNN nhưng chưa công trình nào nghiên cứu và đánh giá thực trạng CSTK được thực hiện từ năm 1991 cho tới năm 2017, đặc biệt trong khoảng thời gian từ khi Luật NSNN năm 2002 có hiệu lực cho đến nay để đánh giá xuyên suốt và đưa ra những hệ thống giải pháp về CSTK nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng cho giai đoạn 2018 – 2025 và tầm nhìn đến năm 2030. Nghiên cứu sinh cho rằng, việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của CSTK nhằm thúc đẩy TTKT ở Việt Nam là cần thiết và không trùng lặp với các nghiên cứu từ trước đến nay.

Vì những lý do đó, việc lựa chọn đề tài “Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” là vấn đề thời sự, đáp ứng yêu cầu cả về lý luận và thực tiễn.

Việc nghiên cứu đề tài là trả lời cho các câu hỏi:

  • Nội dung và cơ chế tác động của CSTK nhằm thúc đẩy TTKT là như thế nào?
  • Chính sách tài khóa đã có tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1991 – 2017 ra sao? Những hạn chế của CSTK là gì và nguyên nhân do đâu?
  • Quan điểm và định hướng hoàn thiện CSTK nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025 và tầm nhìn đến năm 2030 là gì?

1.3. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về CSTK và TTKT, đồng thời phân tích làm rõ hơn tác động của CSTK tới TTKT.

Luận án đã giới thiệu kinh nghiệm sử dụng CSTK để điều chỉnh TTKTcủa một số quốc gia trên thế giới như: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… và rút ra những bài học cho Việt Nam.

Luận án đã tập trung đánh giá các tác động của CSTK đến TTKT Việt Nam bằng việc phân tích biến động chuỗi số liệu của các chỉ tiêu thu-chi và cân đối NSNN trong mối quan hệ với các chỉ tiêu chính về tốc độ TTKT, kết hợp với kiểm chứng bằng mô hình kinh tế lượng và luận án đã đưa ra kết luận: CSTK có ảnh hưởng rất lớn tới TTKT Việt Nam trong thời gian qua.

Trên cơ sở các nội dung lý thuyết, tình hình thực tiễn của CSTK trong thời gian qua, kết hợp với việc phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến TTKT Việt Nam trong thời gian tới (đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030); luận án đã phân tích các quan điểm, định hướng phát triển kinh tế đến năm 2025 của Nhà nước, chỉ ra các mục tiêu, yêu cầu đổi mới CSTK… từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện CSTK nhằm thúc đẩy TTKT Việt Nam trong thời gian tới. Khóa luận: Chính sách tài khóa nhằm thúc đẩy kinh tế ở VN

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Tổng quan về thúc đẩy kinh tế ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464