Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quyền sống của thai nhi và vấn đề hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về phá thai dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ khái niệm trẻ em ghi nhận trong Điều 1 Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em được ký ban hành ngày 20–11–1989 và có hiệu lực từ 2-9-1990 (CRC): “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn”.[7]
Và trong phần mở đầu của Công ước: “Ghi nhớ rằng, như đã chỉ ra trong Tuyên ngôn về Quyền trẻ em, “do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”.[7]
Đã cho thấy sự bỏ trống trong việc xác định vấn đề: Bắt đầu từ khi nào thì được coi là trẻ em, được thừa nhận là con người ? Thai nhi có được coi là con người và được hưởng những quyền lợi giống như những đứa trẻ bình thường không? Đây vẫn là một vấn đề còn đang gây tranh cãi gay gắt trong bản thân giới nghiên cứu và đặc biệt trong nhóm các nhà làm luật, bởi hệ quả của việc nhận thức vấn đề này sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến những quy định pháp luật của một Nhà nước về nạo phá thai – một nội dung đã, đang và sẽ được toàn xã hội quan tâm.
Nhìn nhận từ cuộc tranh luận không ngừng trong việc cắt nghĩa hay biện minh cho hành động phá thai khi trả lời câu hỏi: Phá thai có phải là một hành động giết người hay không? Từ quá trình tìm hiểu nguyên nhân thực hiện hành vi này, đã tồn tại những quan điểm trái ngược nhau (đặc biệt khi nó được đặt trong mối tương quan so sánh vì phúc lợi của người mẹ hay nhấn mạnh quyền lợi của bào thai) và liệu những nghiên cứu của ngành sinh vật học về tiến trình hình thành, phát triển của bào thai có thể cho chúng ta biết đích xác vào thời điểm nào bào thai phải được coi là một con người hay không? Theo đó, trong quá trình nghiên cứu tôi nhận thấy nổi trội có ba quan điểm đi kèm với 3 lối giải quyết đối với vấn đề này:
Thứ nhất. Trong những luận điểm của nền luân lý truyền thống hay cổ điển hay bảo thủ, việc phá thai là một hành động trái luân lý không bao giờ có thể chấp nhận được, đặc biệt trong tôn giáo: Sự sống một khi đã được hình thành cần phải được bảo vệ tối đa, nạo phá thai và tội giết trẻ sơ sinh là những tội ác ghê tởm. Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Thứ hai. Ngược lại, một nhóm khác lại cho rằng việc phá thai có thể chấp nhận được vì bản thân bào thai không giữ một địa vị hay một ý nghĩa luân lý nào đáng kể hoặc nhìn nhận theo quyền cơ bản của người phụ nữ – người mẹ có toàn quyền đối với thân thể của mình (và bào thai là một phần của thân thể người mẹ);
Thứ ba. Theo quan điểm dung hoà giữa 2 nhóm trên, việc cho phép phá thai tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển của bào thai với những đặc điểm hình thành của cơ thể sống hay ở những lý do chính đáng của người phụ nữ.
Trong nghiên cứu của mình, điều mà tôi hướng tới là việc tìm hiểu về vấn nạn phá thai với một cái nhìn tổng quát hơn bao gồm cả hai khía cạnh luân lý xã hội và luật pháp. Trên thế giới, đã có không ít quốc gia duy trì luật cấm phá thai triệt để, cũng có nhiều quốc gia cho phép nạo phá thai tự do, nhưng cũng có quốc gia đứng ở vị trí trung lập khi căn cứ theo độ tuổi thai hay nguyên nhân để cho phép nạo phá thai. Ở mỗi cách lựa chọn đều có những điều đáng để bàn luận.
Xuất phát điểm từ thực tế các quy định về vấn đề thai nhi ở Việt Nam, không chỉ dừng ở những quy định pháp luật, còn ở các số liệu đang ngày càng tăng một cách đáng báo động về tỉ lệ phá thai và thực trạng nạo phá thai không an toàn ở Việt Nam.
Với những lí do trên, tôi đã chọn đề tài: “Quyền sống của thai nhi và vấn đề hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về phá thai” làm đề tài nghiên cứu của mình, với mục đích tìm hiểu thêm về những quan điểm trên thế giới về vấn đề quyền sống của thai nhi và quy định pháp luật của các quốc gia trên thế giới về vấn đề này. Từ đó góp phần bổ sung, hoàn thiện và phát triển các quan điểm, chính sách, pháp luật đã có, khắc phục những hạn chế trong nghiên cứu khoa học, đồng thời đề xuất giải pháp thực thi việc bảo đảm trong quy định, thực tiễn áp dụng luật về vấn đề nạo phá thai và biện pháp hạn chế tình trạng nạo phá thai không an toàn ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Nghiên cứu về quyền con người là một vấn đề mới, song đã có sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế. Trong hệ thống các quyền cơ bản của con người, quyền sống là quyền có vị trí quan trọng luôn được nhắc đến hàng đầu,.
Tuy nhiên, quyền sống của con người được xác định kể từ thời điểm nào vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Trong quá trình tìm hiểu của mình, thực tế không có nhiều tài liệu học thuật nghiên cứu một cách hệ thống, sâu sắc về vấn đề này. Đa số là các nghiên cứu chuyên ngành y – dược về biện pháp và hậu quả của việc nạo phá thai về sức khỏe, các nghiên cứu về hệ quả xã hội của việc nạo phá thai… Còn đề cập trực tiếp đến vấn đề này dưới góc độ nhìn nhận về quyền sống của thai nhi với tư cách là những công trình nghiên cứu lại đặc biệt rất ít ỏi. Trong hệ thống các bài nghiên cứu đã công bố, vấn đề đánh giá tác động pháp luật cũng hiếm khi được thể hiện như là một đề tài độc lập, mà nó thường được đề cập đến trong các bài viết, tranh luận cá nhân. Đặc biệt khi vấn đề này đang ngày càng trở nên nóng hổi và dành được nhiều sự quan tâm từ phía dư luận, số bài báo và bài viết được đăng tải trên mạng lẫn sách báo tăng một cách đáng kể. Những cuộc tranh luận về vấn đề này thường xuất phát từ các nguồn:
Các bài viết của các nhóm tôn giáo về quyền của thai nhi:
- Các lý luận bảo vệ sự sống – Bản dịch của Anthony Le;
- Thảm nạn phá thai khi nào kết thúc – Linh mục Phaolo Nguyễn Văn Trung;… (nguồn từ VietCatholic)
- Tính luân lý của việc tạo sinh – Phó tế Nguyễn Văn Tâm,…
Những bài viết của cộng đồng tôn giáo thường bàn luận xoay quanh vấn đề bảo vệ sự sống của những bào thai, cũng có những bài viết nhấn mạnh đến quyền lợi của người phụ nữ song rất hạn chế.
Các bài viết, sách tham khảo của một số các nhà nghiên cứu như:
- Bạn nghĩ gì về việc phá thai và về các trẻ em sinh ra trong ống nghiệm? Jacques Lacourt.
- Sách: Tôi là ai và nêu vậy thì bao nhiêu? Một chuyến du hành triết luận của tác giả Richard David Precht.
- Bài viết: Does the Unborn Child Have a Right to Life? The Insufficient Answer of the European Court of Human Rights in the Judgment Vo v. France của Jakob Pichon;
- Ấn phẩm: Whose right to life – Women’s rights and Prenatal Protections under Human Rights and Comparative Law của Center for Reproductive Rights; Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
- Tác phẩm: Right to life-A guide to the implementation of Article 2 of the European Convention on Human Rights của Douwe Korff;…
Những bài viết này nhắc đến vấn đề quyền sống của thai nhi là khía cạnh gây tranh cãi trong nội hàm quyền sống và nêu ra 1 số luồng quan điểm về vấn đề này trong xã hội, quy định luật pháp quốc tế và của các quốc gia song chỉ ở mức sơ sài.
Về mặt pháp lý, lịch sử hình thành và hệ thống quy định pháp luật của các quốc gia trên thế giới về phá thai, các quy định trong luật Việt nam liên quan đến thai nhi, pháp luật về nạo phá thai và các vấn đề về vấn nạn phá thai đặc biệt là tình trạng nạo phá thai trái phép ở Việt Nam là những nguồn cơ bản cho những nghiên cứu của luận văn này.
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Nghiên cứu tổng quát về tình hình nghiên cứu quyền sống của thai nhi và các quan điểm trên thế giới khi trả lời câu hỏi: Thai nhi có được coi là con người?. Từ đó tìm hiểu về quy định pháp luật Quốc tế và các quốc gia về vấn đề nạo phá thai. Trên cơ sở quy định pháp luật của Việt Nam và thực trạng tồn tại trong quá trình thực hiện quy định pháp luật về nạo phá thai và vấn đề nạo phá thai trái phép ở Việt Nam, đưa ra đánh giá về hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến vấn đề này, từ đó đề xuất các biện pháp giải quyết.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nói trên, nội dung của luận văn xoay quanh phạm vi giải quyết các vấn đề sau:
- Nghiên cứu, làm rõ về nhận thức lý luận, các quan điểm trái chiều về Quyền sống, về thai nhi, về quyền sống của thai nhi và mối quan hệ với vấn đề nạo phá thai.
- Nghiên cứu, phân tích khuôn khổ pháp luật quốc tế về quyền sống của thai nhi.
- Quan điểm, chính sách, pháp luật liên quan đến việc nạo phá thai. Từ đó đối chiếu, so sánh pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
- Đánh giá thực trạng thực thi pháp luật về nạo phá thai và thực trạng nạo phá thai không an toàn ở Việt Nam hiện nay; từ đó đưa ra nhận định về nguyên nhân của những bất cập trong việc Ban hành và thực hiện các quy định pháp luật.
- Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa vào thực hiện hiệu quả các quy định đó trong tình hình mới ở Việt Nam. Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa Mac-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề quyền con người; quan điểm của cộng đồng quốc tế về quyền sống của thai nhi và vấn đề nạo phá thai; Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quyền sống của thai nhi, vấn đề nạo phá thai và việc bảo đảm thực hiện quy định pháp luật trên thực tế;
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp biện chứng, phương pháp lịch sử;
- Phân tích – tổng hợp: Các bài báo, bài viết về vấn đề quyền sống của thai nhi, tình trạng phá thai và phá thai trái phép,…
- Thống kê xã hội học: Dựa vào các số liệu từ các nguồn: Bộ y tế, website của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam,… đánh giá mức độ đáng báo động của nạn phá thai và nạo phá thai trái phép hiện nay;
- So sánh, đánh giá: Trên cơ sở tìm hiểu quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, so sánh và đưa ra đánh giá với hệ thống luật pháp Việt Nam về nạo phá thai.
5. Những nét mới của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu về vấn đề đặc biệt mới mẻ trong những nội dung liên quan đến Quyền con người. Trong đó:
- Phân tích, so sánh những quan điểm trên thế giới về một khía cạnh trong nội hàm quyền sống để trả lời câu hỏi: Thai nhi đã được coi là con người chưa? Từ đó đưa ra nhận định của bản thân về vấn đề này.
- So sánh, đánh giá quy định pháp luật được quy định trên thế giới về vấn đề nạo phá thai hiện nay, quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế cùng thực trạng đang gây tranh cãi của vấn đề này cùng đánh giá nguyên nhân của thực trạng đó.
- Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá, luận văn cũng đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay, cũng như đưa ra những giải pháp thực hiện những quy định đó đạt hiệu quả lâu dài.
6. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức khoa học cơ bản mang tính lý luận về một khía cạnh đang gây tranh cãi trong nội hàm của quyền sống, giúp người đọc có được cái nhìn toàn diện, đầy đủ về quan điểm của các nhóm trên thế giới về vấn đề quyền sống của thai nhi và điểm khác trong các quy định về nạo phá thai trong hệ thống luật của các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam. Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Luận văn cũng nêu lên những thực trạng vấn đề nạo phá thai, nạo phá thai trái phép, những bất cập trong việc quy định và thực thi các quy định về vấn đề này ở Việt Nam; từ đó nêu ra một số giải pháp cơ bản hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi các quy định này một cách hiệu quả ở Việt Nam trong thời kỳ mới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết cấu gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: QUYỀN SỐNG CỦA THAI NHI – KHÍA CẠNH THUỘC NỘI HÀM QUYỀN SỐNG CỦA CON NGƯỜI
- Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA HIỆN TƯỢNG NẠO PHÁ THAI VÀ CỦA CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN SỐNG CỦA THAI NHI Ở VIỆT NAM – PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT
Chương 1 QUYỀN SỐNG CỦA THAI NHI – KHÍA CẠNH THUỘC NỘI HÀM QUYỀN SỐNG CỦA CON NGƯỜI
1.1. Khái quát về Quyền sống của thai nhi
1.1.1. Khái niệm Quyền sống của con người
Quyền sống là quyền cơ bản và đặc biệt quan trọng của con người, được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế, cụ thể: Điều 3 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm 1948 lần đầu tiên đề cập đến quyền sống với nội dung: “Everyone has the right to life, liberty and security of person – Mọi người đều có quyền sống tự do và an toàn cá nhân”[8]. Với nội dung như trên, Điều 3 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế đã chỉ ra 3 nhóm quyền khác nhau: Quyền và khả năng tồn tại, hay còn hiểu quyền được sống theo nghĩa sinh học và mở rộng hơn là quyền có được điều kiện sống đảm bảo; Quyền tự do cá nhân; Và quyền được an toàn cá nhân.
Nội dung trên tiếp tục được cụ thể hóa trong Điều 6 ICCPR Khoản 1: “Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. “Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tùy tiện”[9]. Bên cạnh đó, một số điều ước khác như CRC, CPPCG, ICSPCA, Bình luận chung số 6 của UNHRC thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982, Bình luận chung số 14 (phiên họp lần thứ 23 năm 1984)… cũng đã nhấn mạnh nội dung của quyền sống với những điểm quan trọng sau:
Thứ nhất, quyền sống là một quyền cơ bản của con người mà trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, cũng không thể bị vi phạm [3] Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Thứ hai, Quyền sống không nên hiểu theo nghĩa hẹp chỉ là sự toàn vẹn về tính mạng. Hơn thế, quyền này bao gồm cả những khía cạnh nhằm bảo đảm sự tồn tại của con người. Theo cách tiếp cận này, việc bảo đảm quyền sống còn đòi hỏi các quốc gia phải thực thi những biện pháp để làm giảm tỉ lệ chết ở trẻ em và tăng tuổi thọ bình quân của người dân, cụ thể như các biện pháp nhằm xóa bỏ tình trạng suy dinh dưỡng và các dịch bệnh… tức là bao gồm cả các biện pháp thụ động và chủ động.[3]
Thứ ba, một trong các nguy cơ phổ biến đe dọa quyền sống là chiến tranh và các tội phạm nghiêm trọng như diệt chủng hay tội phạm chống nhân loại. Vì vậy, việc chống chiến tranh và các tội phạm này cũng là sự bảo đảm quyền sống. Theo cách tiếp cận đó, việc bảo đảm quyền sống trong Điều 6 có mối liên hệ với nghĩa vụ cấm các hoạt động tuyên truyền chiến tranh và kích động hận thù, bạo lực nêu ở Điều 20 ICCPR.[3]
Thứ tư, phòng chống những hành động tội phạm gây nguy hại hoặc tước đoạt tính mạng con người cũng là biện pháp hết sức quan trọng để bảo đảm quyền sống. Các quốc gia thành viên cần tiến hành các biện pháp phòng chống và trừng trị việc tuỳ tiện tước đoạt tính mạng con người do bất kỳ chủ thể nào gây ra, kể cả do các lực lượng an ninh của nhà nước. Liên quan đến vấn đề này, việc bắt cóc người và đưa đi mất tích cũng bị coi là một trong những hình thức tước đoạt quyền sống, do đó, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ đưa ra những biện pháp và kế hoạch hiệu quả để phòng chống và điều tra các vụ việc dạng này.[3]
Thứ năm, về mối quan hệ giữa hình phạt tử hình và quyền sống, mặc dù ICPPR không bắt buộc các quốc gia thành viên phải xóa bỏ hình phạt này, tuy nhiên, các quốc gia có nghĩa vụ phải hạn chế sử dụng nó, cụ thể là chỉ được áp dụng hình phạt này với những tội ác nghiêm trọng nhất, và việc giới hạn áp dụng hình phạt này cũng được coi là một hình thức bảo đảm quyền sống. Ngoài ra, các quốc gia thành viên mà hiện còn áp dụng hình phạt tử hình có nghĩa vụ bảo đảm những thủ tục tố tụng trong những vụ việc bị can, bị cáo bị xét xử với mức án tử hình phải được thực hiện một cách công bằng nhất, trong đó bao gồm những khía cạnh như không áp dụng hồi tố, xét xử công khai, được giả định vô tội, bảo đảm các quyền bào chữa, kháng cáo và xin ân giảm [3] Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Như vậy, quyền sống không phải được quốc gia trao cho mà đó là của bản thân đã có khi là một con người. Trong quá trình thảo luận soạn thảo Điều 3 TNQTNQ, vấn đề quyền sống được đưa ra “với nhiều vấn đề trải dài theo chu trình sống của một con người, từ khi còn ở giai đoạn sản xuất tế bào tinh trùng cho đến khi chết đi, chỉ còn là một thi thể”[2]. Về nguyên tắc tất cả các giai đoạn trong cuộc đời cá nhân một con người đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của Điều này song thực tế cho thấy, luôn tồn tại những khu vực ranh giới gây tranh cãi về pháp lý mà trong khuôn khổ phần nghiên cứu này tôi muốn đi sâu hơn về quyền sống của thai nhi, liệu phôi thai (thai nhi) có được coi là con người và được hưởng sự bảo vệ đặc biệt không? Xuất phát điểm của 1 con người là khi nào: khi sinh ra hay khi vẫn còn là bào thai phụ thuộc người mẹ? Mối liên hệ đặc biệt với khung pháp lý về nạo phá thai của các quốc gia, đặc biệt là ở Việt nam và hệ quả là nạo phá thai không an toàn?.
1.1.2. Vấn đề quyền sống của thai nhi
Quyền được sống là một quyền con người cơ bản, trung tâm. Tuy nhiên, Quyền được sống của thai nhi là vấn đề nằm trong ranh giới gây tranh cãi bởi việc thừa nhận nó trong nhiều trường hợp là đi ngược lại với quyền tự do riêng tư của người phụ nữ. Do đó, đối với sự sống của một bào thai, từ trước đến nay đa số Pháp luật quốc tế, các cơ quan nhân quyền quốc tế và khu vực, cũng như tòa án trên toàn thế giới, đã thiết lập rõ ràng rằng bất kỳ biện pháp bảo vệ bào thai trước khi sinh ra phải phù hợp với các quyền con người của phụ nữ.
Đối với pháp luật quốc gia: Một số nước đã áp dụng các khuôn khổ pháp lý khác nhau để bảo vệ sự sống trước khi sinh:
- Một số quốc gia thừa nhận sự sống trước khi sinh ra là một quyền hiến định ghi nhận trong hiến pháp quốc gia như: Guatemala và Chile.
- Một số quốc gia hướng tới bảo đảm sự công bằng cho cuộc sống của cả hai: phụ nữ mang thai và các trẻ chưa sinh như trong hiến pháp quốc gia của Ai-len và Philippines.
- Một số quốc gia khẳng định sự phụ thuộc của thai nhi với cơ thể người mẹ và đặt quyền lợi bà mẹ lên trên như Ba Lan…
Một số nhóm có chiến lược thúc đẩy việc công nhận quyền được sống trước khi sinh đã dựa vào bối cảnh mới trong quy trình lập pháp cải cách, các sáng kiến lập pháp, tòa án và những thách thức mà tìm cách mở rộng hiến pháp bảo vệ của quyền sống trước khi sinh ở nhiều quốc gia. Ví dụ, trong năm 2010, Cộng hòa Dominica đã thông qua một hiến pháp mới, trong đó công nhận quyền được sống từ lúc thụ thai.
Trong năm 2008 và 2010, bang Colorado – Hoa Kỳ, và trong năm 2011, tiểu bang Mississippi đưa sáng kiến sửa đổi hiến pháp khi đưa ra nhận định rằng: quan niệm về bắt đầu cuộc sống là từ lúc thụ tinh, theo đó hợp tử, phôi và bào thai là con người có tất cả các quyền được bảo đảm cho người dưới hiến pháp bang của họ. Từ năm 2008, có ít nhất 16 tiểu bang Mexico đã sửa đổi hiến pháp để bảo vệ quyền được sống từ khi thụ tinh hoặc thụ thai.
Trong năm 2007, các thành viên của Quốc hội Slovakia thách thức tính hợp hiến của pháp luật về phá thai của nước này, cho rằng hiến pháp cần bảo vệ quyền sống trước khi sinh. Tuy nhiên, Tòa án Hiến pháp Slovakia cho thấy thừa nhận quyền sống của một thai nhi sẽ trực tiếp mâu thuẫn quyền hiến pháp của phụ nữ đối với sức khỏe và sự riêng tư và duy trì tính hợp hiến của luật phá thai… Điều đó cho thấy sự thay đổi trong quan niệm về khoảng thời gian bắt đầu sự sống theo quan niệm, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến các quy định pháp lý về các vấn đề liên quan như nạo phá thai, y tế công cộng …
1.2. Các khía cạnh liên quan đến nội dung quyền sống của thai nhi Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
1.2.1 Những nội dung cơ bản
Trong nhiều cuộc thảo luận của Ủy ban Nhân quyền và Ủy ban thứ ba của Đại hội đồng về tình hình ngày nay, khởi đầu sự sống của một con người là nội dung của quyền sống còn nhiều vấn đề gây tranh cãi đến nay chưa có hồi kết. Trong quá trình soạn thảo Điều 3 TNQTNQ đã có cuộc tranh luận giữa đại diện Chilê cho rằng quyền sống cần được bảo vệ từ lúc được thụ thai và đại diện từ Đan Mạch khi nhấn mạnh về pháp luật nhiều quốc gia cho phép phá thai…Theo đó, đã có những điểm mâu thuẫn trong chính những văn bản pháp lý quốc tế và khu vực. Cụ thể:
Đa số các văn bản như UD, ICCPR, ICSCR,… không đưa ra khái niệm hay thời điểm xác định sự bắt đầu của một con người – đối tượng được hưởng những quyền được nêu ra – Con người được thừa nhận kể từ khi nào: Từ khi mới hình thành? Thời gian trong bụng mẹ (3 tháng, 7 tháng …) hay phải đến khi sinh ra? Tuy nhiên, lịch sử các cuộc đàm phán về các điều khoản của hiệp ước nhân quyền qua cách sử dụng ngôn ngữ đã cho thấy quan điểm của luật pháp quốc tế, của các cơ quan giám sát hiệp ước trên cơ sở thông qua ý kiến chung, quan sát đưa ra kết luận, quyết định trong trường hợp cá nhân, luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo vệ quyền của phụ nữ, và khẳng định rằng để đảm bảo các quyền cơ bản của phụ nữ với cuộc sống và sức khỏe, phải loại bỏ các rào cản để được hưởng đầy đủ các quyền, chẳng hạn như phá thai an toàn và hợp pháp, cụ thể:
Điều 1. Tuyên ngôn Nhân quyền 1948 ghi nhận: “một con người sinh ra tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền”[8]. Trong đó, lịch sử của các cuộc đàm phán chỉ ra rằng từ “sinh” đã được sử dụng một cách cố ý để loại bỏ trường hợp gây tranh cãi đối với thai nhi. Tuy nhiên trong quá trình soạn thảo, việc đưa ra quan điểm như vậy đã có nhiều ý kiến trái chiều từ các quốc gia có khung pháp luật bảo vệ sự sống Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị trong quá trình soạn thảo đã bác bỏ các đề xuất rằng quyền sống cần được bảo vệ đối với cả những sự sống chưa được sinh ra. Theo đó, Ủy Ban Nhân Quyền đã diễn giải và giám sát tuân thủ nhà nước với ICCPR, đã làm rõ thêm rằng: ICCPR bảo vệ cuộc sống của người mẹ khi phụ nữ có nguy cơ tử vong do mang thai. Điều này được thể hiện rõ hơn trong các vụ việc do Ủy ban đứng ra giải quyết, cụ thể:
Trong trường hợp của KL v Peru, Ủy ban đã cho phép phá thai điều trị khi xác định việc tiếp tục mang thai gây ra một nguy cơ đáng kể đến đời sống và sức khỏe tâm thần của người phụ nữ mang thai, vi phạm quyền của người phụ nữ không bị đối xử tàn ác, vô nhân đạo, hoặc xuống cấp. Các Ủy ban Nhân quyền khẳng định lại quyết định này trong trường hợp LMR v Agentina, khi cho rằng việc từ chối nạo phá thai cho một nạn nhân bị hiếp dâm gây ra nỗi đau thể xác và tinh thần, vi phạm quyền của người phụ nữ được tự do từ tra tấn và tàn nhẫn, vô nhân đạo, làm ảnh hưởng đến quá trình điều trị, và quyền riêng tư của người phụ nữ. Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ: Ủy ban về xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), đã diễn giải và giám sát việc tuân thủ nhà nước với Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại Phụ nữ (CEDAW), nhấn mạnh rằng “các nguyên tắc cơ bản của không phân biệt đối xử và bình đẳng trong đó có yêu cầu các quyền của một phụ nữ mang thai phải được ưu tiên hơn một quan tâm đến sự sống trước khi sinh”[4]. Trong trường hợp của LC v Peru, Ủy ban CEDAW thấy rằng chính phủ đã vi phạm quyền của một cô gái mang thai bằng cách ưu tiên cho thai nhi hơn sức khỏe của cô bằng cách trì hoãn phẫu thuật cần thiết cho đến khi cô gái không còn mang thai. Trong khi đó, nếu cô gái tiếp tục mang thai sẽ gây ra một nguy cơ đáng kể đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của cô, và Ủy ban CEDAW cho rằng từ chối phá thai trị liệu và sự chậm trễ trong việc cung cấp phẫu thuật thành lập và phân biệt đối xử trên cơ sở giới vi phạm các quyền của mình đối với sức khỏe và tự do phân biệt đối xử. Ủy ban CEDAW đã tiếp tục bày tỏ lo ngại các quyền của phụ nữ với cuộc sống và sức khỏe có thể bị xâm phạm bởi luật hạn chế phá thai.
Tuy nhiên, một số văn bản đã bắt đầu có bước tiếp cận, thậm chí khẳng định: như CRC khi viện dẫn Tuyên ngôn về Quyền trẻ em: Điều 1 Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em được ký ban hành ngày 20 – 11 – 1989 và có hiệu lực từ 2-9-1990 (CRC):
Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn[7]. Và trong phần mở đầu của Công ước: Ghi nhớ rằng, như đã chỉ ra trong Tuyên ngôn về Quyền trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời.[7]
Hay Công ước Nhân quyền Châu Mỹ (ACHR) Điều 4 ghi nhận: “Mỗi người đều có quyền được tôn trọng cuộc sống, quyền này được bảo vệ bởi luật pháp và nhìn chung từ lúc thụ thai không ai bị tùy tiện tước đoạt quyền sống”[6]. Tuy nhiên, Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ, một trong hai cơ quan xét xử và giám sát việc tuân thủ Công ước châu Mỹ, có làm rõ rằng bảo vệ này không phải là tuyệt đối, thực tế khi xảy ra sự việc trên thực tế: Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Vụ án Baby – boy do Ủy ban Nhân quyền Châu Mỹ thụ lý năm 1973 – có bản án 1981 (vụ 2141, Res.no.23/81 ngày 6 tháng 3 năm 1981) cho thấy cách giải thích quy định này của các quốc gia châu Mỹ đều theo chiều hướng “đa dạng nhất các trường hợp phá thai.[5]
Trong án lệ của Ủy ban Nhân quyền Châu Âu có khẳng định: không có quyền sống tuyệt đối vào đầu giai đoạn thụ thai và việc phá thai được thực hiện theo các tiêu chuẩn y tế và xã hội là được phép trong chừng mực nhất định … Khi xem xét liệu quy định về nạo phá thai có thể được biện minh như sự can thiệp vào đời sống riêng không, Ủy ban Nhân quyền Châu Âu đã kết luận: Việc mang thai không thể được coi là chỉ liên quan đến phạm vi đời sống riêng tư. Bất kỳ khi nào một người phụ nữ mang thai, cuộc sống riêng của cô ta sẽ liên hệ chặt chẽ với thai nhi đang phát triển. Do đó thai nhi được hưởng sự bảo vệ pháp lý nhất định và sự bảo vệ đó ngoại trừ trường hợp nạo phá thai có thể ít nhiều toàn diện hơn trong những bối cảnh khác, ví dụ, nghiên cứu khoa học. Và chúng ta cần phải khẳng định rằng “bảo vệ” và khẳng định có quyền là hai vấn đề khác hẳn nhau. Điều lý giải tại sao pháp luật quốc tế còn chưa thể khẳng định chính xác nội dung này là do: Đây thực sự là vấn đề rất mới trong hệ thống pháp luật về quyền con người còn non trẻ. Mặt khác, về nội dung, việc thừa nhận quyền sống của thai nhi sẽ mâu thuẫn trực tiếp đến quyền của người mẹ, đặc biệt trong các trường hợp gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người mẹ bởi bào thai (thai nhi) nằm trong bụng và có sự kết nối sự sống trực tiếp với người mẹ. Thực sự, đây là lựa chọn rất khó khăn và gây nhiều tranh cãi, do đó, đến thời điểm này pháp luật quốc tế mới chỉ dừng ở mức bảo vệ.
Có thể thấy, hành lang pháp lý quốc tế và khu vực đã có những mâu thuẫn về vấn đề quyền sống của thai nhi. Và cuộc tranh luận này đang ngày càng sôi nổi bởi nó liên quan trực tiếp tới một vấn đề đang được quan tâm trong xã hội: Nạo phá thai (bởi việc nạo, phá thai là hình thức chấm dứt sự sống của một phôi thai (thai nhi)). Như vậy, có hay không cho phép phá thai? Quy định trong pháp luật các quốc gia và những luồng quan điểm trái chiều từ dư luận ra sao?…
1.2.2 Những luồng quan điểm về vấn đề quyền sống của thai nhi Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Những nỗ lực thúc đẩy công nhận quyền được sống trước khi sinh thường xuyên cố gắng tận dụng sự thiếu đồng thuận với nạo phá thai từ tôn giáo hay đạo đức và tìm cách hệ thống hóa quan điểm ý thức hệ tôn giáo về vấn đề này. Trong nhiều trường hợp, những nỗ lực đã cố tình bóp méo bằng chứng khoa học xung quanh sự tiến triển của thời kỳ mang thai của phụ nữ. Do vậy, khi tìm hiểu quan điểm về Quyền sống của thai nhi, cần quan tâm đến những thành quả của y học trong nghiên cứu về thai kỳ, từ đó làm nền tảng đưa ra nhận định của bản thân.
- Quan điểm về quyền sống thai nhi trong cộng đồng y tế – khoa học
Ngay cả trong cộng đồng y tế và khoa học cũng không đi đến một sự đồng thuận về thời điểm cuộc sống con người bắt đầu, nhưng nó có nhất trí về các từ ngữ sau đây để hiểu sự tiến triển của thai của người phụ nữ:
Thụ tinh xảy ra khi một tinh trùng thâm nhập vào một tế bào trứng để tạo thành một hợp tử. Sau khi thụ tinh, hợp tử đi qua ống dẫn trứng của một người phụ nữ và bắt đầu phân chia thành một số tế bào, trở thành một túi phôi. Túi phôi đến tử cung khoảng năm ngày sau khi thụ tinh.
Sự kết hợp giữa tinh trùng của nam giới và trứng của nữ giới tạo ra hợp tử, khi hợp tử dính vào màng tử cung bắt đầu quá trình thụ thai. Trong 10 tuần đầu tiên hợp tử được biết đến với tên gọi phôi thai, bước sang tuần 11 trở đi đến khi đứa bé trào đời gọi là thai nhi. Sự phát triển của bào thai được thể hiện rõ dưới bảng sau với một số điểm mốc phát triển đáng chú ý:
- Bảng 1.1: Những mốc phát triển đáng chú ý của bào thai
Trong 38 – 41 tuần của thai kỳ, có một số mốc cần được chú ý bởi đặc điểm phát triển của bào thai, những mốc phát triển này có liên quan trực tiếp với nhiều luồng quan điểm về quyền sống thai nhi trên thực tế, cụ thể:
Trong y học, thai kỳ ở tuần thứ 8 đến tuần 10 chuyển từ giai đoạn phôi thai sang giai đoạn bào thai. Có nhiều quan điểm cho rằng: Cách gọi là bào thai hoặc phôi thai ở đây không hề ám chỉ đến con vật, mà là về chính con người tại những giai đoạn phát triển nhất định nào đó – Dù ở giai đoạn nào, dù phôi thai phát triển ra sao thì ngay tại thời điểm được thụ tinh, con người đã được hình thành và có những quyền cơ bản, bao gồm cả quyền sống. Tuy nhiên cũng có nhiều quan điểm cho rằng đây là giai đoạn ban đầu bào thai chưa phải là một con người hoàn thiện, mà chỉ coi là Con người tiềm năng.
Sau 3 tháng thai kỳ đầu tiên, trẻ chưa được sinh ra nhưng đã có đầy đủ các phần thân thể như là trẻ sẽ có sau này. Phá thai chính là chấm dứt hoạt động của một trái tim đang đập và chấm dứt luôn những làn sóng đo lường được của bộ não. Như vây, tương ứng với khoảng thời gian tuần thứ 6-12: Tuần thứ 6: Bào thai sớm hình thành và có nhịp tim kể từ tuần này cho đến tuần 7-8 trái tim sẽ phát triển hoàn thiện với 4 ngăn. Tuần 10-11: Đây là thời điểm thai bước từ giai đoạn phôi sang thai nhi, gần như hoàn thiện các bộ phận cơ thế giống 1 người bình thường, chỉ có khác về kích thước, khi bước sang tuần 12, thai nhi đã ở giai đoạn ổn định và an toàn phát triển cho cả mẹ và bé. Khi qua “tam cá nguyệt” đầu tiên, theo như một số ý kiến được đưa ra, bào thai lúc này đã là một con người và được hưởng những quyền cơ bản của một con người.
- Có nhiều quan điểm trái ngược hẳn với quan điểm đưa ra ở trên:
Trẻ thơ chưa được sinh ra chính là một phôi thai (embryo) hay một bào thai (fetus), chẳng khác nào một giọt nước của mô (blob of tissue), tức là một sản phẩm của sự thụ thai – chứ không phải là một đứa trẻ. Phá thai chính là việc chấm dứt đi một thai kỳ, chứ không phải giết chết đi một đứa trẻ. Bào thai chỉ là một phần thân thể của người phụ nữ mang thai mà thôi, cũng giống như cục amiđan (tonsils) hay ruột thừa (appendix) của họ vậy. Không thể tin rằng một phôi thai đông cứng lại có thể là một con người thật sự được[16]… Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Ý kiến kể trên là sự khẳng định bào thai không được coi là một con người thực thụ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra: Tuần 24-25, đây là thời điểm thai nhi đã có sự phát triển tương đối hoàn thiện đến mức nếu có sinh ra, nhờ kỹ thuật y tế hiện đại, đến 85% khả năng của thai nhi có thể sống sót. Mặt khác, theo nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy: Ở tuần 12 thai nhi đã có thể cảm nhận được sự đau đớn từ dây thần kinh, tủy sống và đồi não, tuần 20, bé có thể nghe và nhận biết giọng nói của mẹ. Ở tháng thứ 5, dù tử cung chứa đầy nước ối, song phổi của thai nhi đã hoàn thiện và bắt đầu những bài tập thở, thậm chí thời gian này bé cũng đã bắt đầu quá trình học hỏi của mình với thế giới bên ngoài… Như vậy: “bào thai không khác nhiều so với đứa trẻ sơ sinh trong những năm đầu đời, cũng phải phụ thuộc vào những người xung quanh để tồn tại, bào thai cũng phụ thuộc vào người mẹ để tồn tại. Vậy tại sao không được thừa nhận những quyền cơ bản như một con người?”.[16]
Các phát hiện trong y khoa về sự phát triển của bào thai trong từng giai đoạn tạo cơ sở nền tảng cho các quan điểm về Quyền sống của thai nhi thể hiện ý kiến, chứng minh quan điểm của mình. Tuy vậy, sự tranh cãi này sẽ luôn là không giới hạn bởi trong nhiều trường hợp nó bị đặt trong sự đối lập với những quyền con người cơ bản của người mẹ.
- Quan điểm về Quyền sống của thai nhi trong tôn giáo
Có ý kiến cho rằng: “Không thể chắc chắn là khi nào mạng sống con người được bắt đầu; vì rằng đó là một câu hỏi mang tính tôn giáo vốn không thể chứng minh được bằng khoa học”[1]. Do vậy khi đi sâu tìm hiểu cuộc tranh luận về quyền sống của thai nhi, chúng ta sẽ cần lưu ý đến những quan điểm tôn giáo. Theo như nhìn nhận chung, vấn đề quyền sống của thai nhi là vấn đề được nhiều tôn giáo quan tâm, các giáo lý thường khuyên con người hướng tới cái thiện, đa số tôn giaó đều đề cao vấn đề tạo sinh, do vậy các tôn giáo đều hướng tới việc khuyên răn hạn chế thậm chí cấm thực hiện việc phá thai, song hành với điều đó là việc thừa nhận quyền sống của thai nhi. Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
- Theo Phật giáo: Trong quá trình nghiên cứu về giáo lý đaọ phật, có 2 cách hiểu khác nhau về cùng vấn đề này: Thứ nhất:
Theo Damien Keown biện luận rằng đời sống của một con người bắt đầu từ lúc thụ thai, thời điểm theo ông là thức (viññāna) chính thức hiện hữu. Keown xem thức là phần cốt tuỷ nhất trong năm uẩn mà nó cấu thành nên một con người và kết luận rằng phá thai là trái với đạo đức Phật giáo, phạm vào giới thứ nhất là không được tước đoạt mạng sống.[1]
Keown biện luận rằng sự nổi trội của truyền thống Phật giáo là cực lực chống phá thai. Tuy nhiên thảo luận của Keown về các nguồn kinh sách mà chúng liên quan trực tiếp đến vấn đề phá thai lại có nhiều điểm khá thuyết phục. Ông chỉ ra các trường hợp đề cập đến những phụ nữ tìm kiếm phá thai vì những lý do gây tranh cãi, do sự vị kỷ, bao gồm: giấu giếm những chuyện ngoại tình, ngăn chận quyền thừa kế, và sự kình địch trong gia đình giữa các bà vợ chung chồng. Nói tóm lại, nếu đây là những trường hợp điển hình của việc phá thai, thì vấn đề dường như nghiêng sang chống lại việc thực hành phá thai. Ông nhận xét rằng Phật giáo chắc chắn đứng về phía người phụ nữ tìm kiếm sự phá thai để cứu lấy mạng sống của mình . Đây có thể coi như một sự ngoại lệ mà Phật giáo ghi nhận.
Thứ hai: Quan điểm của Michael G. Barnhart dựa trên học thuyết Vô ngã (anatta) biện luận rằng, thức, cũng như tất cả các uẩn khác, tất cả đều không phải là những thực thể tương tiếp từ đời sống này sang đời sống khác. Và theo ông, thức có mặt chỉ khi não bộ đã phát triển, cũng có nghĩa rằng nó chưa hiện diện vào thời điểm đầu của một bào thai. Bằng sự lập luận này, Barnhart cho rằng bào thai chưa phải là một con người đúng nghĩa, nên phá thai là làm tổn hại một mầm sống, mà không phải giết người, do đó không phạm vào giới thứ nhất như Keown đã biện luận. Ông nhấn mạnh rằng không có cơ sở thuyết phục được dựa trên những nguyên tắc Phật giáo nối khớp với những kinh điển nguyên thuỷ, tuyệt đối cần đến quan điểm chống phá thai triệt để dựa trên lý luận rằng: đời sống cá nhân bắt đầu tại lúc thụ thai.Bên cạnh đó, Barnhart cũng cho rằng phá thai là điều không đúng với tinh thần Phật giáo. Nhưng tuy vậy Phật giáo cần khoan dung hơn với vấn đề này, bởi vì đời sống con người hiện tại là quan trọng hơn cả. Phá thai hẳn nhiên là điều không nên khuyến khích; nhưng cũng không nên triệt để ngăn cấm. Tương tự như trên, Ni sư Ming Zhen Shakya (người Hoa Kỳ, xuất gia ở Trung Quốc) cho rằng, việc ngăn cấm phá thai triệt để sẽ đưa đến nguy hiểm cho những phụ nữ nghèo và thiếu hiểu biết. Bởi vì: Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Vấn đề phá thai dù có bị cấm hay không thì nó vẫn xảy ra trong mọi xã hội và trong mọi thời đại. Và khi phá thai bị ngăn cấm, những phụ nữ giàu sẽ tìm đến những nơi hợp pháp để thực hiện điều đó; còn những phụ nữ nghèo và thiếu hiểu biết sẽ gặp rắc rối lớn, và có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu họ thực hiện điều này.[13]
Theo biện luận của Barnhart ở đây Phật giáo chấp nhận một sự khác biệt giữa cơ sở sinh học của đời sống và những khía cạnh nhận thức cũng như cảm xúc cao hơn của nó, và nhấn mạnh rằng đời sống một con người cần đến sự nối kết của tất cả những khía cạnh như vậy, nên không người Phật tử nào đánh đồng một bào thai có linh cảm với một con người có tri giác. Nói cách khác, mặc dù Phật giáo khuyến khích hành động từ bi, câu hỏi về từ bi là gì ở trong trường hợp của một phụ nữ mang thai ngoài ý muốn không thể trả lời một cách độc đoán bằng những lời tuyên bố siêu hình về đời sống bắt đầu khi nào. Như vậy, vẫn chấp nhận Phật giáo Theravāda, nhưng chúng ta không cần tuân theo việc chống phá thai triệt để của Keown.
- Đối với Kitô giáo hiện nay
Về lý thuyết, Giáo Hội thừa nhận vấn đề thời điểm khởi đầu cuộc sống của con người vẫn chưa thể khẳng định chính xác, nhưng trong thực tế, vẫn duy trì lập trường cho rằng mạng sống con người hiện hữu ngay từ lúc thụ tinh, tức là khi tinh trùng kết hợp với trứng. Sở dĩ Giáo Hội giữ vững lập trường đó là vì giải pháp an toàn nhất là phải nhìn nhận phôi thai đã có sự sống ngay từ khi trứng được thụ tinh, thay vì là vào một thời điểm nào đó trong tiến trình phát triển của phôi thai. Nhiều văn kiện của Giáo Hội cho ta thấy rõ lập trường đó của Giáo Hội.
Theo lập trường của Ðức Giáo Hoàng Pi -ô XI trong Diễn văn tại liên hiệp sinh học thánh Luca ngày 22.11.1946: “Phải loại trừ mọi hoạt động trực tiếp dẫn đến việc hủy diệt sự sống con người chưa sinh ra, dù sự hủy diệt đó được quyết định như một mục đích hay chỉ như một phương thế nhắm tới mục đích”[11]. Ngài cũng nhắc lại lập trường này trong diễn văn trước Liên Hiệp các Bà Hộ Sinh Công Giáo Italia (ngày 29.10.1951).
Ðức Gio-an XXIII cũng đã khẳng định lại rằng: Sự sống con người là thánh thiêng, vì ngay từ trong cội nguồn của nó, nó đòi hỏi hành động sáng tạo của Thiên Chúa. Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Tại Công đồng Vatican 2, Giáo Hội đã trình bày lại lập trường Giáo huấn liên tục và vững chắc của mình rằng: Sự sống ngay từ lúc thụ thai đã phải được giữ gìn hết sức cẩn thận; phá thai và sát nhi là những tội ác ghê tởm. Mới đây, Tòa Thánh đã tái khẳng định điều đó trong “Hiến Chương các quyền của gia đình”, số 4, rằng: “Sự sống con người phải được tôn trọng và bảo vệ một cách tuyệt đối, ngay từ lúc thụ thai”.[17] Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin, trong Tuyên Ngôn Về Việc Cố Ý Phá Thai (ngày 8.11.1974), số 12 – 13, đã khẳng định:
Ngay từ khi trứng thụ tinh đã khởi đầu một sự sống mới vốn không phải là sự sống của người cha cũng không phải là sự sống của người mẹ, nhưng là của một con người mới, nó có thể tự mình phát triển. Nó sẽ không bao giờ trở thành người, nếu nó không là người ngay từ lúc ấy (…).[17]
Ðiều hiển nhiên muôn thuở đó đã được khoa di truyền học hiện đại xác nhận và cho thấy rằng, ngay từ giây phút đầu tiên, chương trình phát triển trong tương lai của sinh thể đó đã được định đoạt: một con người, một con người cá biệt với những đặc tính đã được xác định rất rõ ràng. “Cuộc phiêu lưu của sự sống trong một con người bắt đầu ngay từ lúc thụ tinh; với thời gian các khả năng to lớn của sự sống sẽ lần lượt xuất hiện và sẵn sàng hoạt động”.[18]
Lập trường trên đây của Giáo Hội lại một lần nữa được Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin lặp lại như một Giáo Huấn, trong Huấn Thị Donum Vitae, ban hành ngày 22.2.1987. Huấn thị Donum Vitae, I, 1, khẳng định:
Giáo Lý này vẫn còn có giá trị; vả lại, nó đã được xác nhận, nếu cần, bởi những thành tựu mới đây của khoa sinh học con người. Khoa này nhìn nhận rằng nơi hợp tử, có được nhờ sự thụ tinh, đã thành hình chân tính sinh học của một con người cá biệt mới… Vì thế, kết quả của việc sinh hạ con người ngay từ giây phút đầu tiên hiện hữu của nó, nghĩa là lúc hợp tử được cấu tạo, đòi hỏi con người phải được tôn trọng và đối xử như một nhân vị ngay từ lúc thụ thai, và do đó, ngay từ giờ phút ấy, phải nhìn nhận nơi nó, những quyền của nhân vị, trong số đó, phải kể trước tiên quyền được sống của mọi con người vô tội, đây là một quyền bất khả xâm phạm.[19]
Và cuối cùng, chúng ta thấy lập trường dứt khoát và mạnh mẽ của Giáo Hội được thể hiện qua Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin, trong Huấn Thị Donum Vitae, rằng:
Những quyền bất khả nhượng của con người phải được xã hội và chính quyền nhìn nhận và tôn trọng. Những quyền đó không tùy thuộc vào các cá nhân hay cha mẹ và cũng không phải là một sự nhân nhượng của xã hội hay của Nhà nước, chúng thuộc bản tính con người và được gắn liền với nhân vị, vì nhân vị bắt nguồn từ hành vi tạo dựng. Trong số những quyền cơ bản đó, phải nhìn nhận quyền của mọi người được sống và được toàn vẹn thể xác từ lúc thụ thai tới lúc chết… Do đó, luật pháp không thể nhân nhượng, luật pháp còn phải nghiêm cấm tình trạng những con người, dù mới ở chặng phôi thai đi nữa, bị đối xử như những vật thí nghiệm mà người ta có thể cắt xén hay loại bỏ, viện cớ rằng chúng vô ích hoặc không có khả năng phát triển bình thường.[19]
- Một số quan điểm tôn giáo khác Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Không chỉ trong đạo Phật hay Ki to giáo có ghi nhận, vấn đề quyền sống của thai nhi và việc có hay không thừa nhận hành động phá thai ở các tôn giáo khác cũng được thể hiện khá rõ ràng . Cụ thể:
Trong Thánh Kinh ghi nhận: việc đông con nhiều cháu được người Israel coi như một phúc lành của Thiên Chúa, nhờ đó họ trở nên một dân tộc lớn và hùng mạnh. Các bản văn Thánh Kinh, mặc dù không đề cập đến vấn đề phá thai, nhưng đã nhiều lần biểu lộ sự kính trọng đối với hữu thể người còn trong dạ mẹ và do đó mặc nhiên nới rộng giới răn “chớ giết người” đến các thai nhi. Ngay từ trong dạ mẹ, Thiên Chúa đã nhìn thấy con người mà Người đã tác tạo. Người nhìn thấy nó khi nó mới chỉ là một phôi nhỏ chưa có hình dạng xác định và thấy trước nó sẽ như thế nào mai ngày, vì ngay từ thuở còn là bào thai, con người đã được Thiên Chúa ghi vào “sách sự sống” và những ngày giờ của nó đã được đếm: “Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy; mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách Ngài, trước khi ngày đầu của đời con khởi sự”[20]. Cũng theo Thánh Kinh, ngay khi còn trong dạ mẹ, con người đã là đối tượng của tình yêu quan phòng và hiền phụ của Thiên Chúa. Trong thuật trình của Tin Mừng về cuộc gặp gỡ giữa Đức Maria và bà Êlisabeth, tác giả Luca đã cho thấy hai bào thai trong dạ hai bà mẹ đã là những con người thực sự với địa vị riêng: “Sự hiện diện của bào thai Ngôi Hai Thiên Chúa vừa nhập thể trong lòng Đức Maria đã đem lại niềm vui và ơn cứu độ cho bào thai Gioan Tiền Hô đã được cưu mang sáu tháng trong lòng bà Êlisabeth, khiến Gioan Tiền Hô đã nhảy mừng, mặc dù còn nằm trong dạ mẹ.. ”[20]..
Trong giáo lý đạo Hồi không nói nhiều đến vấn đề quyền sống của thai nhi, tuy nhiên, quy định trong Hồi giáo rất ngặt nghèo về vấn đền nạo phá thai, điều này không xuất phát từ quyền lợi của thai nhi mà do định chế khắt khe đối với người phụ nữ.
Ngoài ra, còn nhiều quan điểm khác nhau được thể hiện qua nhiều phát biểu của các nhà thần học trên thế giới về vấn đề này, cụ thể như:
- Thần học gia B. Haring đã phát biểu rằng:
Không có dấu hiệu khả giác nào về sự hiện diện sáng tạo của Thiên Chúa trong thế giới này rõ rệt hơn sự khởi đầu và phát triển của con người. Trứng chín theo nhịp độ mỗi tháng một cái bên trong buồng trứng của người phụ nữ, hàng trăm triệu tinh trùng sản xuất ra mỗi tháng chưa phải là sự sống con người. Tuy nhiên, chúng mang trong mình những thông tin phong phú. Việc phối hợp của 2 yếu tố này tạo ra một điều mới mẻ và đánh dấu sự khởi đầu của một sự sống con người mới.[20]
Thần học gia Théodore Rey – Mermet cũng khẳng định rằng: Chỉ cần đọc tài liệu đáng khâm phục của Claude Edelmann và J-M Baufle về những ngày đầu của sự sống để nghiệm thấy rằng giữa lúc thụ thai và sinh nở, có một sự liên tục hoàn toàn. Ðúng giây phút khi mà cái trứng vừa được thụ tinh chia làm đôi là lúc bắt đầu cuộc hiện hữu của một con người mới: đối với con người ấy, thời điểm nói trên là không giờ của ngày đầu tiên của mình. Ðó là ý kiến chung của các nhà sinh học. Tất cả những lời bàn còn lại chỉ làm văn chương hay luận triết học. Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Tuy cho đến nay, câu hỏi: Khi nào thì bào thai được coi là một hữu thể có nhân tính trọn vẹn? vẫn là vấn đề tranh cãi và chưa có câu trả lời nào chính xác. Thế nhưng quan điểm chung của các thần học gia cũng như các học giả nói chung và các nhà sinh – y học nói riêng, đều nhìn nhận rằng sau khi trứng được thụ tinh mẫu di truyền đã được xác định. Có một sự sống con người tách biệt khỏi sự sống của cha và mẹ, với một bộ mã di truyền (DNA) độc nhất, không bao giờ lặp lại, mặc dầu hệ thống DNA của nó chưa hoạt động. Mặc dầu việc phân chia tế bào trong thời gian khoảng 14 ngày đầu chỉ là nhân bản, tạo ra những tế bào mới có cùng đặc tính, có khả năng sinh đôi và mỗi tế bào trong số ví dụ 32 tế bào có được sau khi phân đôi đều có thể tách rời và trong điều kiện thuận lợi, có thể phát triển thành một cá nhân, nhưng không vì thế mà coi nhẹ sự sống đang tiến triển của nó. Franz Boeckle khuyến cáo rằng: “Hữu thể vừa phát triển, ngay từ đầu, đã đáng được bảo vệ. Về điểm này không thể bàn cãi”.[22]
Sự khẳng định phôi thai là một con người tiềm năng cũng đã được Thánh Grêgôriô thành Nysse quả quyết: “Người ta không gọi phôi là người, vì nó bất toàn, nhưng là một cái gì đó ở dạng tiềm năng, mà nếu hoàn thành, sẽ đưa đến sự hình thành con người”[22]. Ðiều này cũng đã được Ủy ban quốc gia Pháp về đạo đức định nghĩa “phôi là con người tiềm năng”. Như vậy, ta thấy có những đồng quy sâu sắc. Người ta còn cho thấy cái bào thai khởi đầu đó đã có ý thức và có đời sống thiêng liêng. Toàn bộ con người sau khi sinh ra cho đến khi chết cũng chẳng khác gì con người ở trạng thái bào thai. Lm. Henri Crouzel, giáo sư Ðại học Thần học ở Toulouse, đã viết trong báo La Croix ngày 9.2.1972 rằng:
Sự thụ thai là khởi đầu độc nhất của con người… Lúc ấy nó không chỉ là một tế bào cứ gia tăng lên mãi, nhưng nó đã là khởi đầu có ý thức và có đời sống thiêng liêng. Cái ý thức của bào thai đi từ chỗ hư vô đến hiện hữu sẽ xảy ra lúc nào khác hơn là lúc này nữa? Ðã hẳn là nó phải phát triển, nhưng sự tăng trưởng sẽ kéo dài suốt đời, mà không bao giờ sẽ đạt tới tình trạng hoàn thiện, là ước mơ không thể kìm chế được của con người. Trước tình trạng ấy, chúng ta không thể có gì khác hơn là những con người ở trạng thái bào thai mà thôi”.[23]
- Tranh luận về quyền sống của thai nhi trong triết học
Richard David Precht – Triết gia, nhà báo, nhà văn người Đức trong quyển sách của mình: Tôi là ai – và nếu vậy thì bao nhiêu? Đã có những phân tích rất sắc xảo về những trường phái triết học với những quan điểm khác nhau về vấn đề quyền sống của thai nhi, trong đó: Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Khái niệm “phẩm giá” của Kant: Với câu nói: “Phôi là một sinh thể có đầy đủ phẩm giá”. Theo Kant, tự nhiên không thể biết đến những ý thức bản ngã, nghĩa là không biết tự do, vậy tự do và cùng với nó là phẩm giá xuất hiện trong con người như thế nào và khi nào? Câu trả lời ở đây: tự do của phôi dựa trên tự do của cha mẹ, hay nên hiểu: Vì cha mẹ sản sinh ra phôi trong một quan hệ tự do mang tên gọi là hôn nhân và kết quả của mối quan hệ tự do đó là một phôi tự do với đầy đủ phẩm giá, nói cách khác Kant thừa nhận quyền con người của phôi. Tuy nhiên vấn đề ở đây là ông chỉ hướng đến những phôi thai nằm trong giá thú, khi nhắc đến nhóm những phôi thai hình thành do bất đắc dĩ như ngoại tình, bị hiếp dâm,..ông gọi là “thẩm lậu vào bụng mẹ, không hoàn toàn có tự do” “.[15], vì thế Kant không thể bảo vệ quyền của những phổi này.
Thuyết vị lợi của Bentham: Trả lời hai câu hỏi: Phôi hay bào thai có năng lực hạnh phúc hay đau khổ đến mức nào? Hạnh phúc và đau khổ của đứa trẻ trong bụng mẹ và của người mẹ, bên nào nặng cân hơn? Ở câu hỏi đầu, Bentham cho rằng hạnh phúc là trỉ nghiệm sung sướng ở nghĩa rộng nhất. Theo đó những người theo trường phái này “thượng tôn các hình thái ưu tiên phát triển cao mà không ai được phép giết một cá thể” “[15] – ít nhất là chừng nào cá thể đó còn có khát vọng sống mãnh liệt. Ngược lại phôi không có ước muốn sống mà chỉ tồn tại bản năng sống vì thế khi đưa ra, những người theo thuyết vị lợi không phản đối vấn đề NPT. Tuy nhiên, yếu điểm của học thuyết này nằm ở chỗ dự đoán kết quả – ranh giới mờ mịt giữa đau khổ và hạnh phúc để có thể xác định thế nào là cho lợi hơn.
Học thuyết về đạo đức trực giác của Marc Hauser, theo đó, bản chất của các giá trị không do lý trí nghĩ ra mà được cảm nhận, và cơ sở cho mỗi quy tắc đạo đức không phải Nhận và Biết mà là Ước và Muốn. Đối với phôi thai, ý nghĩa của cuộc sống mới thành hình mà người ta cảm nhận được phụ thuộc vào giá trị của người mẹ gán cho, khi thai càng phát triển thì mối liên kết ấy càng mạnh, cho đến lúc sinh ra, đây là bước nhảy vọt lên một quy mô mới. Học thuyết này có sự kiên hệ với quy định trong Luật Đức khi xác định thời hạn tối đa 3 tháng.
Những tranh luận giữa các trường phải triết học là cơ sở cho nhiều luồng quan điểm khác nhau từ phía dư luận.
- Các luồng quan điểm trái chiều từ phía dư luận Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Xuất phát từ sự kiện tại Mỹ: Hàng năm cứ vào ngày 22 tháng 1, từ khắp nơi trong nước Mỹ, từng đoàn người lũ lượt xuống đường tuần hành, hay tụ tập trước những tòa án, tòa thị chính, và nhất là trước pháp đình của Tối Cao Pháp Viện ở Washington DC, Hoa Kỳ, để phản kháng phán quyết cho phá thai tự do. Cũng trong ngày này, một số người khác đã tổ chức canh gác ngày đêm tại các y viện chuyên phá thai. Họ cũng nhất quyết thỉnh cầu giữ nguyên phán quyết 1973. Cả hai phía, ủng hộ cũng như chống phá thai đã cương quyết giữ vững lập trường của mình. Bên chống phá thai (Right-to-Life) đòi quyền sống cho các thai nhi, chống lại các đạo luật cho phép NPT bởi với họ thai nhi đã có giá trị của một con người. Theo lý giải của phe này: Bào thai khi mới bắt đầu hình thành (phôi) đã mang theo chuỗi DNA với mã gien riêng biệt không hề giống người mẹ, thời điểm 6tuần đầu, phôi thai đã bắt đầu có nhịp tim như bao con người bình thường khác, và khi tròn 3 tháng bào thai cũng đã có đầy đủ các bộ phận như một người bình thường, thậm chí còn có dấu vân tay…. Ngược lại, phía ủng hộ việc phá thai (Pro-choice) lại đặt quyền quyết định của người mẹ (quyền cá nhân tự quyết) lên trên hết. Bởi phôi – thai nhi sinh sống, phụ thuộc vào người mẹ. Trong những trường hợp đặc biệt như khi ảnh hưởng đến tính mạng sức khỏe của người mẹ, việc lựa chọn NPT là điều hiển nhiên được thừa nhận. Nhiều lý thuyết biện minh cho việc phá thai chủ trương rằng thành quả của việc thụ thai ít ra là cho đến một số ngày nào đó chỉ là một tập hợp những tế bào, chưa thể được coi là một con người độc lập. Vì thế, phá thai trong thời gian đó không phải là tội sát nhân. Hơn nữa, trong những thập niên gần đây, dưới ảnh hưởng của phong trào tục hoá và giải phóng phụ nữ, bào thai chỉ được nhìn dưới khía cạnh thuần túy sinh học như một phần phụ thêm trong thân thể người phụ nữ và thuộc quyền sở hữu của người phụ nữ, chứ không được nhìn nhận như một nhân vị, chủ thể của những quyền lợi bất khả nhượng. Do đó, người phụ nữ có toàn quyền quyết định đối với bào thai.
Ngoài ra, những người bênh vực việc phá thai thường đưa ra bốn hoàn cảnh để biện minh cho việc phá thai và họ gọi đó là những “chỉ dẫn”. Chỉ dẫn thứ nhất mang tính ưu sinh, theo đó người ta cho rằng được phép phá thai trong những trường hợp dự đoán khá chắc chắn đứa trẻ sinh ra sẽ bị những khuyết tật nghiêm trọng, như hội chứng down chẳng hạn. Chỉ dẫn thứ hai có tính đạo đức, như trường hợp mang thai do bị cưỡng hiếp, loạn luân, ngoại tình, hoặc do hành vi tính dục ngoài hôn nhân; người ta cho rằng trong những trường hợp như thế được phép phá thai để cứu vãn danh dự của người mẹ và của gia đình, hơn nữa trong trường hợp bị cưỡng hiếp đứa trẻ sinh ra ngược với ý muốn của người mẹ, nên khó lòng được mẹ yêu thương. Chỉ dẫn thứ ba có tính xã hội, theo đó nếu không phá thai thì đứa bé sinh ra sẽ trở thành gánh nặng quá lớn về mặt xã hội và kinh tế cho gia đình và cho người mẹ. Chỉ dẫn thứ tư có tính y học hay trị liệu: người ta cho rằng được phép trực tiếp phá thai nếu sức khoẻ của người mẹ bị lâm nguy vì bào thai ấy. Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Như phân tích ở trên, có nhiều luồng quan điểm trai chiều nhau về cùng vấn đề quyền sống của thai nhi, đặc biệt trong thời đại mới, khi sự phát triển của tiến bộ khoa học ngày càng mạnh, giúp con người hiểu rõ hơn từng giai đoạn thì cuộc tranh luận này càng trở nên gay gắt. Ngay trong hệ thống pháp luật quốc tế cũng như quốc gia cũng còn nhiều hạn chế khi quy định vấn đề này. Nhờ vào sự phát triển của khoa học hiện đại, con người ngày càng hiểu rõ được từng bước phát triển của bào thai, từ đó, quan điểm điểm xuất phát của con người ngày càng nhiều ý kiến đa dạng, và cuộc tranh luận về quyền sống của thai nhi ngày càng gay gắt mà chưa có dấu hiệu kết thúc. Sự tranh luận đó ngày càng gay gắt hơn trong thời kỳ hiện đại, các biện pháp giúp nạo, phá thai – hình thức kết thúc sự sống của phôi thi (thai nhi)- đang ngày cảng trở nên phổ biến. Việc thừa nhân hay không thừa nhận bào thai với tư cách một con người sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hành lang pháp lý về nạo phá thai ở mỗi quốc gia. Và do hiện trạng đáng ngại về các con số vụ nạo phá thai, nạo phá thai trong giới thanh thiếu niên thực tế cùng những hậu quả để lại, do áp lực từ dư luận quốc tế, các quốc gia đã và đang quan tâm, hoàn thiện các quy định pháp lý về vấn đề này.
- Quy định pháp luật của các quốc gia trên thế giới
Như ở phần trên đã đề cập, các văn bản quốc tế có đề cập đên vấn đề quyền sống của thai nhi không nhiều, một số văn bản nói đến quyền sống của con người như UD, ICCPR, …đều không có đưa ra thời điểm chính xác xác định một con người từ khi nào? Mặt khác, việc giải thích vấn đề quyền sống dẫn đến những nghi ngờ nhất định về tính hợp pháp của các vụ phá thai và không xác định được chính xác khi nào sự bảo vệ bắt đầu.Trong một số văn bản có đề cập đến như: Điều 4 ACHR hay Tuyên ngôn về Quyền trẻ em,… có đề cập đến, song không đi sâu, mặt khác, những văn bản này hướng tới bảo vệ Bào thai thay vì việc thừa nhận quyền cơ bản của bào thai như 1 con người.
Từ chính sự mập mờ này đã dẫn đến thực tế khi giải quyết các vụ việc, các phán quyết không có nhiều điểm tương đồng, và gây nhiều tranh cãi. Cụ thể: Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Vụ việc “Baby-boy” – bản án số 2141, Res.no.23/81 ngày 6/3/1981 – Khi Tòa án Hoa Kỳ đưa ra phán quyết trừng phạt một bác sỹ pháp y do đã tiến hành một ca nạo phá thai năm 1973. Khi đưa ra trước Ủy ban nhân quyền Châu Mỹ, sự bảo vệ nói chung bắt đầu từ lúc thụ thai đã được hiểu theo hướng đa dạng nhất các trường hợp nạo phá thai, đây thực chất là sự thỏa hiệp giữa hai xu hướng ủng hộ và chống nạo phá thai tại thời điểm đàm phán công ước.
Một số vụ việc do Ủy ban nhân quyền Châu Âu xử lý như vụ Petrus kiện Anh Quốc (Đơn số 8416/78 DR19), vụ việc Brigemann và Scheuten kiện FRG (Đơn số 6959 DR10) đã thể hiện quan điểm của Ủy ban này: Không cấm tuyệt đối việc phá thai bởi việc cấm tuyệt đối phá thai hay thừa nhận quyền sống tuyệt đối của thai nhi sẽ giới hạn quyền sống của người mẹ trong trường hợp cuộc sống của người mẹ bị đe dọa, điều này sẽ cấu thành vi phạm, mặt khác quy định cho thai nhi được hưởng quy chế pháp lý bảo vệ nhất định, có thể ít nhiều toàn diện hơn trong những hòan cảnh khác, như trong nghiên cứu khoa học.
Như vậy, các quy định của pháp luật quốc tế chưa có sự nhất quán trong việc thừa nhận hay không thừa nhận quyền sống của bào thai mà chỉ hướng đến bảo vệ quyền lợi cho bào thai trong một số trường hợp đặc biệt. Song song với điều đó, các quy định về vấn đề nạo phá thai chỉ mang tính chất khuyến khích sự quan tâm, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật của các quốc gia.
Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia hiện nay đã dần có sự quan tâm đến nhân quyền, nhiều quốc gia đưa vấn đề quyền sống vào hiến pháp, song chưa có pháp luật quốc gia nào có quy định rõ ràng về vấn đề thai nhi có được coi là con người hay không và quyền sống của đối tượng này. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có những quy định khác nhau về nạo phá thai _vấn đề liên quan trực tiếp tới việc có được phép tước bỏ hay không cuộc sống của thai nhi. Trong đó tồn tại nhóm các quốc gia ban hành pháp luật quy định cấm triệt để việc nạo phá thai, như: Ailen, Chile, Uruguay Cộng hòa Dominica, Honduras và Nicaragua…Nhiều quốc gia cho phép thực hiện nạo phá thai với những điều kiện hạn chế (Thai nhi còn đang trong thời kỳ đầu, được sự đồng ý của ít nhất 2 bác sỹ chuyên khoa hoặc hội đồng y khoa, thai nhi có khuyết tật bẩm sinh không thể chữa trị, có thai do bị hiếp dâm…) như: Anh, Pháp, Canada,… Và có những quốc gia cho phép phá thai theo yêu cầu như: Trung Quốc, Belarus, Albania, … Trong đó:
Một số quốc gia không thừa nhận quyền của sự sống trước khi sinh trong hiến pháp, như: Hiến pháp Slovakia nhấn mạnh: “Mọi người đều có quyền được sống. Đời sống con người là xứng đáng bảo vệ. Theo đó, Tòa án Hiến pháp Slovakia khẳng định rằng: không nghi ngờ rằng khái niệm “tất cả mọi người” nên được hiểu là tất cả mọi người được sinh ra và kết thúc bằng cái chết”.[24]
Tòa án tối cao của Nepal, Tòa án Hiến pháp Colombia, Tòa án Tối cao của châu Phi,…. tương tự cũng không thừa nhận quyền của thai nhi trong hiến pháp. Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Nhóm này lập luận : Bảo vệ Quyền sống của thai nhi không thể đi ngược lại quyền hiến pháp của phụ nữ. Trong việc xem xét phạm vi bảo vệ hiến pháp, tòa án đã thừa nhận rằng công nhận quyền trước khi sinh có thể tạo ra một cuộc xung đột giữa các quyền của phụ nữ mang thai và hợp tử, phôi thai, hoặc thai nhi.
- Tòa án tối cao Nepal giải thích, ví dụ, rằng:
Thai nhi có thể chỉ tồn tại vì người mẹ, nếu chúng ta cấp quyền thai nhi đi ngược lại sức khỏe và hạnh phúc của người mẹ nó có thể tạo ra một cuộc xung đột giữa lợi ích của người mẹ và thai nhi, và thậm chí bắt buộc chúng ta phải nhận ra tính ưu việt của thai nhi, thì một tình huống mà lại mâu thuẫn với mẹ, không thể từ chối cuộc sống của người mẹ có nguy cơ để bảo vệ thai nhi. [24]
Trong khi thừa nhận lợi ích chính đáng trong việc bảo vệ sự sống trước khi sinh, các tòa án đã phân biệt vấn đề quan tâm này từ nền : xây dựng một cách hợp pháp quyền sống và nhấn mạnh rằng những nỗ lực để bảo vệ lợi ích chính đáng này phải phù hợp với các quyền cơ bản của phụ nữ.
Hiến pháp Colombia nhấn mạnh: Đảm bảo rằng những nỗ lực để bảo vệ sự sống trước khi sinh không ảnh hưởng tới quyền cơ bản của phụ nữ, Tòa án phán quyết rằng luật phá thai hạn chế của Colombia phải được mở rộng để cho phép phá thai trong một số trường hợp. Tòa án Tối cao ghi nhận : pháp luật là không hợp hiến vì nó đòi hỏi sự hoàn chỉnh ưu việt của đời sống của thai nhi và sự hy sinh tuyệt đối các quyền cơ bản của phụ nữ mang thai.
Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã khẳng định tương tự rằng các quyền của phụ nữ với cuộc sống và sức khỏe phải được ưu tiên trên cả nước hơn là quan tâm trong việc bảo vệ sự sống trước khi sinh.
Tòa án Hiến pháp Colombia đã giải thích, nếu điều trị cho một người phụ nữ như một công cụ chỉ cho sinh sản, là vi phạm quyền của phụ nữ về nhân phẩm. Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Bên cạnh đó , một số quốc gia công nhận giá trị của sự sống trước khi sinh, chỉ một số ít thực sự ghi nhận trong hiến pháp hay luật pháp bảo vệ cho quyền sống của thai nhi, như: Hiến pháp Ai-len: thừa nhận quyền sống của trẻ chưa sinh…, Với quan tâm thích đáng cho quyền bình đẳng với cuộc sống của người mẹ.
Năm 2000, Phòng Tư pháp Tòa án tối cao của Costa Rica cho rằng cuộc sống con người bắt đầu từ lúc thụ tinh, và rằng hợp tử, phôi và bào thai là như vậy, được hưởng các quyền con người, trong đó có quyền được sống. Tuy nhiên cơ quan luật pháp quốc gia này cũng đã nhận thức rằng quyền này không phải là tuyệt đối. Điều này thường được thực hiện bằng cách cho phép phá thai khi cần thiết nhằm bảo vệ các quyền của phụ nữ mang thai. Tòa án Tối cao của Ai -len cũng đã làm rõ rằng trong việc cân bằng các quyền bình đẳng của người phụ nữ mang thai và thai nhi, người phụ nữ có quyền phá thai khi mà mang thai gây nguy hiểm cho cuộc sống của mình.
Hiến pháp của Kenya về quyền được sống có một điều khoản rõ ràng tuyên bố phá thai, mặc dù nói chung là không được phép, trừ trường hợp khi mà cuộc sống hay sức khỏe của phụ nữ mang thai có nguy cơ, có nhu cầu khẩn cấp điều trị, hoặc nếu được phép của luật pháp bằng văn bản khác.
Tại Costa Rica: luật hình sự cho phép phá thai khi cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của người phụ nữ mang thai …
Quan trọng hơn, theo luật quốc tế, quyền được sống trước khi sinh có thể không được tuyệt đối. Các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế cung cấp bất kỳ quyền hoặc sự bảo vệ dành cho sự sống trước khi sinh nhất thiết phải giới hạn bởi các quyền của phụ nữ. Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về quyền con người: Ủy ban về xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại Phụ nữ đã lưu ý rằng mệnh đề: Sự bảo vệ của thai nhi nên ưu tiên áp dụng trên sức khỏe của người mẹ là có căn cứ trong vai trò rập khuôn cho phụ nữ và tạo nên phân biệt đối xử trên cơ sở giới trong hành vi vi phạm của một quyền của phụ nữ.
Có nhiều nguyên nhân để người phụ nữ lựa chọn việc phá thai thay vì để đứa trẻ được sinh ra. Một số nguyên nhân điển hình có thể kể ra như: Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Phá thai do thai nhi là kết quả của một tội ác: Khi mang thai mà đứa bé là kết quả của một tội ác như hãm hiếp, lạm dụng tình dục trẻ em hay loạn luân… Trong những trường hợp này, phần đông đều chấp nhận phá thai. Về phương diện tâm lý và giáo dục, lý do đưa đến quyết định phá thai trong những trường hợp như vậy chính là vì quan ngại đến ảnh hưởng tâm sinh lý của người mẹ, cũng như ảnh hưởng giáo dục sau này đối với thai nhi.
Phá thai do sức khỏe người mẹ: Một trong những nguyên nhân dẫn đến phá thai là việc mang bầu có thể nguy hiểm đến sức khỏe người mẹ. Điều này cũng có nghĩa là người mẹ sẽ không đủ sức để nuôi dưỡng em bé trong bào thai và khi em bé chào đời. Vì vậy, bỏ thai đôi khi lại an toàn và cần thiết cho người mẹ.Về mặt này mọi quyết định đều thuộc về các bà mẹ, tùy vào mỗi hoàn cảnh, lương tâm và đòi hỏi sự hy sinh, người mẹ có toàn quyền gìn giữ các thai nhi.
Phá thai do sức khỏe thai nhi:Một lý do khác dẫn đến phá thai không liên quan đến sức khỏe người mẹ bầu mà là vì sức khỏe của thai nhi . Nếu thai nhi gặp bất cứ rủi ro gì trước khi chào đời như dị tật bẩm sinh, khuyết tật hoặc khuyết tật di truyền… cha mẹ có thể sẽ được khuyến khích nên bỏ thai. Trong trường hợp này các bác sĩ và gia đình sẽ cân nhắc xem mức độ rủi ro thế nào để đi đến quyết định cuối cùng. Ví dụ cụ thể như: Có những khảo cứu khiến mọi phụ nữ trên 35 tuổi khi mang thai phải hốt hoảng sợ thai có Khả năng sinh ra con bị dị dạng cao hay em bé có khuyết tật. Theo Hiệp Hội Quốc Gia về Hội Chứng Down của Hoa Kỳ, 80% trẻ sơ sinh mắc hội chứng Down được sinh ra bởi các bà mẹ dưới 35 tuổi. Tuy vậy, nguy cơ cũng có khả năng tăng lên cùng với tuổi của người mẹ. Mặc dù nguy cơ có thể tăng theo tuổi nhưng phần lớn các em bé sinh ra từ các bà mẹ cao tuổi đều bình thường.
Phá thai đến từ dư luận xã hội: Rất nhiều người quyết định phá thai vì không vượt qua được định kiến xã hội, mặc cảm giai cấp. Những lý do thường gặp là mang thai trước khi kết hôn, mang thai khi đang còn đi học, mang thai khi đã có quá nhiều con và thậm chí là vì kinh tế gia đình quá eo hẹp, nghèo túng… Có đôi khi việc phá thai xuất phát từ nguyên nhân gia đình, sức ép từ phía cha mẹ cô gái hoặc người thân …
Phá thai do kế hoạch kiểm soát dân số: Đây có thể là chính sách dân số hoặc nhằm kiểm soát dân số của các chính phủ. Chính sách này có thể cho phép bạn chỉ được sinh 2 con và nếu trên 2 con thì phải nộp phạt hoặc bắt buộc phải bỏ thai như tại Trung Quốc và Việt Nam,…. Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Không chỉ xuất phát từ nguyên nhân cá nhân người phụ nữ hay gia đình họ, vấn đề nạo phá thai diễn ra một phần lớn còn xuất phát từ quy định của các quốc gia có điểm khác nhau. Các quy định khác nhau về cùng một vấn đề thể hiện cách tư duy, ảnh hưởng từ đặc điểm văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo,… khác nhau của mỗi quốc gia.
Trên thế giới hiện nay có thể chia ra các nhóm:
- Nhóm quốc gia cho phép phá thai theo yêu cầu: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Albania,…
- Nhóm quốc gia cho phép nạo phá thai trong giới hạn: Chỉ cho phép phá thai khi có lí do chính đáng:
- Để bảo vệ cuộc sống của người mẹ (từ sức khỏe về thể chất hoặc tinh thần): Anh, Thụy Sỹ, Rumani,…
- Do Thai nhi bị khuyết tật: Bắc Iceland, Đức, Pháp, …
- Do người mẹ có thai vì bị hiếp dâm: Cameroom, Libya, Sudan, Namibia,…
- Nhóm quốc gia cấm triệt để nạo phá thai trong mọi trường hợp: Elsalvador, …
Khi đặt ra những quy định này mỗi Nhà nước đều đưa ra những lý luận riêng, có những quốc gia quy định pháp luật thậm chí còn mang đậm dấu ấn tôn giáo (các quốc gia Trung Đông là điển hình). Tuy nhiên, ngay trong nội tại mỗi quốc gia trong quá trình thực thi pháp luật cũng xảy ra nhiều sự việc gây nhiều tranh cãi. Những sự việc liên quan đến nạo phá thai đặt ra cho không chỉ cộng đồng quốc tế cũng như các nhà làm luật các quốc gia phải quan tâm, xem xét thấu đáo để tìm ra giải pháp tốt nhất hoàn thiện pháp luật quốc gia mình. Ví dụ như:
Vụ án của Isabel – 22 tuổi, công dân nước cộng hòa El Salvador. Người phụ nữ này mang thai ở tháng thứ 4, bị bệnh lupus ban đỏ (lupus ban đỏ toàn thân, xuống cấp nghiêm trọng của hệ miễn dịch), và suy thận. Điều này đã gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của cô cũng như của thai nhi. Theo chuẩn đoán của bác sỹ, đứa trẻ trong bụng cô chưa được sinh ra đã chết vì anencephalic (không có não).Tuyệt vọng Isabel đã yêu cầu được cho phép phá thai, nhưng nó luôn luôn bị cấm tại quốc gia Trung Mỹ và Isabel có nguy cơ phạm tội phá thai bất hợp pháp với 8 năm tù giam.
Hay như ở các quốc gia Trung đông, nơi quy định với phụ nữ hết sức khắt khe, việc ngọai tình có thể bị đem ra xử ném đã cho đến chết, hầu hết việc nạo phá thai đều bị cấm đoán. Điều này đặt ra nguy cơ lớn cho bộ phận những người phụ nữ có thai ngoài ý muốn, thậm chí có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của người mẹ và đứa trẻ.
Sự gia tăng chóng mặt số người chưa thành niên thực hiện nạo phá thai ở các quốc gia cho phép nạo phá thai theo yêu cầu, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển, gây ra hậu quả khôn lường cho thế hệ kế cận.
Tại Trung quốc, điển hình cho một đất nước có chính sách dân số khắt khe, song hành với điều đó là hệ tư tưởng trọng nam ăn sâu trong thời gian dài khiến cho việc nạo phá thai vì giới tính tăng lên đáng kể. Đây chính là nguyên nhân chính gây ra tình trạng mất cân bằng giới tính trầm trọng trong xã hội Trung Quốc. Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Tại Nhật, một quốc gia được biết đến với chính sách pháp luật đối với nạo phá thai khá gay gắt, việc nọ phá thai hiện nay lại trở thành một cách thức kiếm tiền của nhiều cơ sở khám chữa khu vực tư……
Trong điều kiện phát triển mới, khi mà những chuẩn mực quyền con người đang ngày càng cao, đây là một vấn đề đang được nhiều quốc gia quan tâm xem xét, và có xu hướng sửa đổi theo hướng bảo vệ quyền cho bào thai, mặc dù chưa hết chính thức thừa nhận quyền sống cho nó.
Đã có những sự quan tâm và cũng đã có những sự thay đổi gay tranh cãi: như ở Nga, nơi mà mỗi năm có đến 1.5 – 2.0 triệu ca phá thai (số liệu Bộ Y tế và phát triển xã hội Nga) mới đây đã thông qua dự luật mới về phá thai với những nội dung đáng được học hỏi như: Dự luật không cấm phá thai song đưa ra những biện pháp làm cho người phụ nữ thận trọng hơn khi đưa ra quyết định nạo-phá thai. Dự luật này nâng cao vai trò của nam giới khi cho phép họ cũng có quyền quyết định đối với việc loại bỏ bào thai. Áp dụng quyền từ chối thực hiện phá thai của bác sỹ, tạo điều kiện tốt nhất cho những bà mẹ đơn thân sinh con… Theo như phát biểu trên tờ Vzglyad của Giáo sư, tiến sĩ Triết học Irina Siluyanova, thành viên nhóm soạn thảo dự luật về nạo phá thai ở Nga: “Các quyền cơ bản của con người là quyền được sống, có nhà ở, tự do tín ngưỡng, tôn giáo”[34]… Nhưng điều này không có nghĩa là phụ nữ có quyền tự do giết hại đứa con của mình. Bà cũng nhấn mạnh: “Tình trạng nạo phá thai chui chỉ nảy nở khi việc phá thai bị cấm đoán, và trong luật mới ban hành của Nga không hề cấm đoán việc này”[34].
Trái ngược với trường hợp ở Nga, cũng liên quan đến vấn đề nạo phá thai, song đạo luật mới đưa ra của Hoa Kỳ đặc biệt gây nhiều tranh cãi: Mới đây, việc thông qua Đạo luật chống phá thai đang là tâm điểm công kích của đảng Dân chủ chống lại đảng Cộng hòa. Theo đó: Trong một cuộc phỏng vấn tại một đài truyền hình ở St. Louis, khi được đề nghị đưa ra quan điểm về vấn đề nạo phá thai, dân biểu Todd Akin đã nói rằng ông cực lực phản đối hành vi nạo phá thai, kể cả trong trường hợp người phụ nữ có bầu vì bị hiếp dâm. Hay như quan điểm của Ứng viên phó Tổng thống của đảng Cộng hòa Paul Ryan khi được bầu vào Quốc hội lần đầu tiên năm 1998 đã tuyên bố sẽ phản đối tất cả các trường hợp nạo phá thai, trừ khi đây là việc không thể tránh khỏi để cứu sống người mẹ.
Ngược lại, ứng viên Tổng thống của đảng Cộng hòa Mitth Romney đã có những phát ngôn thể hiện quan điểm của mình với đạo luật chống phá thai: “Ông sẽ không phản đối việc nạo phá thai trong các trường hợp hiếp dâm”[35].
Không chỉ ở trong nội bộ các nhóm lãnh đạo, khi mới được đưa ra, đạo luật này cũng khiến nhiều người dân Mỹ thuộc nhóm người có quan điểm thừa nhận, cho phép thực hiện naọ phá thai có phản ứng gay gắt. Không chỉ ở Mỹ, Nga, Trung Quốc cũng là một điển hình trong những trường hợp có sửa đổi đáng lưu ý về vấn đề này. Do đặc trưng trong chính sách dân số của Trung Quốc gây ra tình trạng mất cân bằng giới tính trầm trọng, đặc biệt trong thời gian gần đây những vụ việc gây xôn xao dư luận khi thai phụ sắp đến ngày sinh bị chính quyền ép đi phá thai vì vượt số con đã gây không ít trỉ chích.
Theo thống kê của Bộ Y tế Trung Quốc vừa công bố việc áp dụng chính sách một con đã dẫn tới ít nhất 336 triệu ca nạo phá thai được thực hiện tại nước này, tương đương 1.500 ca mỗi giờ. Theo các số liệu mới được công bố, mỗi năm tại đất nước đông dân nhất thế giới có 13 triệu ca phá thai, tương đương 1.500 ca mỗi giờ. Bên cạnh đó, theo con số thống kê chính thức, ngoài biện pháp chấm dứt thai kỳ, các bác sỹ Trung Quốc cũng đã tiến hành triệt sản 196 triệu đàn ông và phụ nữ trong khoảng thời gian từ năm 1971 đến nay. Tuy nhiên, theo một khảo sát hồi năm 2008 do Trung tâm nghiên cứu Pew tiến hành, phần đông người dân Trung Quốc khi được hỏi nói rằng họ ủng hộ chính sách một con vì cho rằng nếu không có chính sách này, Trung Quốc có thể sẽ rơi vào tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng lương thực và các nguồn tài nguyên. Trước những con số đó, các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc mới đây đã sáp nhập Ủy ban Kế hoạch hóa gia đình – cơ quan giám sát việc thực hiện chính sách một con – vào Bộ Y tế. Trước đây, Ủy ban này từng dính vào nhiều vụ bê bối nghiêm trọng, trong đó có những vụ việc ép phụ nữ đang mang bầu phải phá thai khi thai nhi đã gần đến ngày sinh. Theo ông Wang Feng – một chuyên gia về dân số, đồng thời là giám đốc trung tâm chính sách công Brookings-Tsinghua ở Bắc Kinh – cho hay, động thái trên cho thấy chính phủ nước này đã bắt đầu quá trình chấm dứt chính sách gây tranh cãi này.…
Như vậy có thể thấy vấn đề này đang ngày càng được các quốc gia quan tâm, đã có nhiều sửa đổi hoàn thiện luật, và dù còn nhiều tranh cãi song chúng ta hoàn toàn có quyền hi vọng vào một chuẩn quốc tế chung về vấn đề quyền sống của thai nhi cũng như vấn đề nạo phá thai.
Tiểu kết Chương 1 Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
Trong phần này nghiên cứu tập trung về vấn đề khái niệm Quyền sống và khía cạnh còn gây tranh cãi: Quyền sống của thai nhi. Từ những quan điểm về vấn đề này trong tôn giáo, triết học, dư luận xã hội và các quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia có thể thấy cuộc tranh luận về quyền sống của thai nhi bắt đầu được tính từ khi nào? Gây ảnh hưởng trực tiếp tới những quy định của pháp luật về nạo phá thai và tình trạng nạo phá thai trên thực tế.
Bên cạnh đó, trong chương 1 trình bày các vấn đề về nạo phá thai, bao gồm có: Nguyên nhân gây ra tình trạng nạo phá thai, các biện pháp và hậu quả của các biện pháp nạo phá thai và nạo phá thai không an toàn. Các hoạt động nạo phá thai thực chất là các thủ thuật chấm dứt thai kỳ – chấm dứt sự sống của một thai nhi. Cho phép hay không cho phép nạo phá thai là một cuộc tranh luận lớn bởi những nhóm dư luận bảo vệ cho quyền sống của thai nhi hay vì lợi ích của người mẹ? Mặt khác nạo phá thai không an toàn là nguyên nhân gây ra rất nhiều di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ, nên đây cũng là vấn đề được đề cập đến. Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam