Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng của hiện tượng nạo phá thai và của các biện pháp bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Nội dung cơ bản về nạo phá thai
2.1.1 Khái niệm nạo, phá thai và nạo phá thai không an toàn
Nạo, phá thai là biện pháp sử dụng thuốc hoặc thủ thuật y tế nhằm mục đích đưa bào thai ra ngoài và chấm dứt thời kỳ thai nghén.
Thực tế nạo phá thai là chấm dứt thai kỳ, hay chấm dứt sự sống của cuộc sống trước khi sinh một cách cố ý. Chính vì vậy, đi cùng với cuộc tranh luận về quyền sống của thai nhi, vấn đề nạo phá thai được chú ý đặc biệt. Mặt khác, trên thế giới hiện nay trong số trường hợp tử vong của người mẹ có 13% là do tiến hành việc phá thai không an toàn, tính cụ thể ra khoảng 67.900 ca /năm. Sự chênh lệch đáng kể giữa các nước trong tỷ lệ tử vong do phá thai có liên quan đến sự khác biệt trong pháp luật phá thai, tôn giáo chiếm ưu thế, tình trạng kinh tế xã hội, bảo hiểm tránh thai, và sự sẵn có của các dịch vụ chăm sóc phá thai toàn diện hiệu quả truy cập. Phá thai không an toàn là một hình thức chấm dứt thai kỳ trong tình trạng thiếu hoặc không đầy đủ các kỹ năng y tế, các kỹ thuật nguy hiểm và các cơ sở mất vệ sinh. Khái niệm này rộng hơn so với khái niệm phá thai trái pháp luật. Nạo phá thai không an toàn là căn nguyên gây ra nhiều di chứng đến sức khỏe, tinh thần cho người mẹ vì vậy cần phải có các quy định pháp luật chặt chẽ hơn nữa về vấn đề này.
2.1.2 Biện pháp nạo phá thai, hậu quả
Căn cứ theo phương pháp thực hiện:
- Bằng phương pháp ngoại khoa: Sử dụng các thủ thuật qua cổ tử cung để chấm dứt thai nghén, bao gồm: hút chân không, nong và nạo, nong và gắp.
- Phá thai bằng thuốc: Sử dụng thuốc để gây sẩy Ðôi khi thuật ngữ Phá thai không ngoại khoa cũng được sử dụng để mô tả thủ thuật này.
Căn cứ theo biện pháp áp dụng theo tuổi thai (tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng đến khi kết thúc thai nghén.)
- Các phương pháp phá thai đến hết tuần 12:
Phương pháp hút chân không: là phương pháp được khuyến khích sử dụng trong các trường hợp bởi độ an toàn (hút chân không bằng tay hoặc bằng máy). Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Phương pháp dùng thuốc: Kết hợp giữa Mifepristone và Misoprostol cho các thai đến hết 7 tuần (49 ngày). Khi áp dụng phương pháp phá thai bằng thuốc cần phải có sẵn dụng cụ phá thai bằng p.p hút chân không (hoặc nong và nạo nếu không có sẵn p.p hút chân không) để xử trí những trường hợp thất bại.
Phương pháp nong và nạo.
- Các p P.thai sau 12 tuần: (kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng)
- P.p nong và gắp;
- P.p sử dụng bơm hút chân không và kẹp gắp thai.
Hệ quả: Tai biến từ các thủ thuật nạo phá thai:
Tuy nạo phá thai chỉ là một thủ thuật đơn giản của sản khoa, nhưng những hệ lụy của nó đối với xã hội nói chung và sức khỏe cũng như hạnh phúc của người nạo phá thai nói riêng lại rất lớn. Ước tính, mỗi năm trên thế giới có khoảng 210 triệu ca thai nghén và khoảng 46 triệu (22%) ca kết thúc bằng phá thai và tính bình quân trên thế giới trong cuộc đời mỗi người phụ nữ đến tuổi 45 đã có ít nhất một lần phá thai. Mặc dù đã có nhiều cải tiến về y tế song theo thống kê cho thấy: Nạo phá thai là nguyên nhân của 5% số ca tử vong ở sản phụ. Ngoài ra, các biện pháp thực hiện có nhiều tai biến có khả năng xảy ra, đặc biệt đối với những trường hợp phá thai không an toàn. Tỉ lệ trung bình của tai biến và biến chứng của nạo hút thai khoảng 2-10%. Trong đó:
Tai biến và biến chứng sớm:
- Chảy máu âm đạo nhiều hoặc ứ máu trong tử cung nhiều: gặp trong các trường hợp thai to, tử cung nhão do sanh đẻ nhiều lần.
- Rách cổ tử cung khi cổ tử cung siết cứng ở người chưa
- Thủng tử cung do tư thế tử cung bất thường.
- Tai biến do gây mê, tê hay do dị ứng thuốc(hiếm gặp)
Tai biến và biến chứng muộn:
- Sót nhau, sót thai: cần trở lại ngay khi có dấu hiệu bất thường như đau bụng, ra huyết có mùi hôi, sốt, ớn lạnh…
- Nhiễm trùng: cần uống thuốc theo toa bác sĩ, giữ vệ sinh phụ nữ.
- Rong
- Dính buồng tử cung gây vô kinh khi tiền sử nạo thai nhiều lần.
- Ức chế về mặt tình cảm.
- Vô sinh: 20% người điều trị vô sinh có tiền sử phá
- Thai ngoài tử
Việc nạo phá thai nhằm mục đích chấm dứt thời kỳ thai nghén của người phụ nữ, đồng nghĩa với nó là việc chấm dứt một thai kỳ, hay chấm dứt sự sống của một bào thai. Ngược lại, việc nạo phá thai dù là vì quyền của người mẹ nhưng ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe về thể chất và tinh thần của người phụ nữ. Vì liên quan trực tiếp tới vấn đề quyền sống của thai nhi nên đã gây nhiều tranh cãi khi đưa ra khung pháp lý về vấn đề này ở nhiều quốc gia, khu vực, quốc tế.
2.2. Thực trạng của hiện tượng nạo phá thai Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
2.2.1. Thực trạng
Tại hội thảo chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về chính sách ứng phó với xu hướng giảm sinh vừa tổ chức tại Hà Nội, ông Nguyễn Văn Tân – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số kế hoạch hóa gia đình cho biết, theo thống kê tại các cơ sở y tế công lập, hàng năm tại Việt Nam vẫn có từ 120.000 đến 130.000 ca nạo phá thai của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ.
- Bảng 2.1: Số liệu Bộ Y Tế tiến hành thống kê tại các bệnh viện phụ sản năm 2011
Như vậy, trung bình mỗi ngày có khoảng gần 400 ca nạo phá thai. Tỷ lệ phá thai ở Việt Nam từng có thời gian ở mức 100/100, tức là cứ 100 trẻ ra đời thì cũng có 100 ca phá thai. Thậm chí ở khu vực thành thị năm 2003, tỷ lệ phá thai lên tới 190%, năm 2006 là 140%. Phá thai lặp lại cũng là một vấn đề đáng lưu ý, theo một nghiên cứu năm 2000 khoảng một nửa số khách hàng phá thai có trên một lần phá thai và 23% số khách hàng phá thai chưa có gia đình phá thai trên một lần. Theo hai nghiên cứu năm 1998 và 2002, có ít nhất một phần ba số khách hàng phá thai không dùng biện pháp tránh thai (BPTT) trước khi có thai. Tại Bệnh viện Từ Dũ có thời kỳ ước tính bình quân có trên 40.000 ca nạo phá thai/năm, trong số những người phá thai thường xuyên thì có 2,4% là người chưa thành niên.
Năm 1999, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã cảnh báo và xếp Việt Nam vào nhóm có tỉ lệ phá thai cao nhất châu Á và là 1 trong 5 quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới. Theo báo cáo của Daniel Goodkind năm 1994 tổng tỷ suất phá thai là 2,5 – nghĩa là mỗi phụ nữ Việt Nam đã phải trải qua 2,5 lần trong cả cuộc đời sinh đẻ của mình. Theo kết quả điều tra Y tế quốc gia 2001-2002 gần 12% phụ nữ đang có chồng đã từng phá thai trong 5 năm qua. Phá thai thực sự là một thách thức lớn nhất mà Việt Nam đang phải đối mặt trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS), mặc dù tỷ lệ áp dụng các biện pháp tránh thai ngày càng tăng. Theo điều tra dân số năm 1997 phụ nữ nông thôn có tỷ lệ phá thai cao hơn thành thị, điều này được lý giải có thể một phần do sức ép của chương trình kế hoạch hoá gia đình và sự cung cấp phương tiện tránh thai không được thích ứng. Nhưng từ những năm 2000 trở lại đây, số liệu cho thấy xu hướng tỷ lệ NPT thành thị lại cao hơn nông thôn, 2001 tỷ lệ phá thai thành thị là 1,7% và nông thôn là 1,2%, tương ứng đến năm 2008 là 1,1% và 0,9% (Bảng 1).
- Bảng 2.2: Tỷ lệ (%) phá thai và hút điều hoà kinh nguyệt của phụ nữ 15-49 tuổi theo thành thị, nông thôn Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Trong số những trường hợp phá thai cho thấy những người có trình độ học vấn cao có tỷ lệ phá thai cao hơn người có trình độ học vấn thấp. Theo điều tra nhân khẩu học và sức khỏe dân số năm 1997, tỷ lệ phá thai trong nhóm phụ nữ không đi học chiếm 3%, nhóm có trình độ đại học là 12,9%, tăng hơn 4 lần. Điều tra Y tế Quốc gia 2001-2002 cũng đưa ra kết luận, tỷ lệ phá thai cao nhất ở nhóm người có trình độ học vấn cao. Đây cũng được xem là xu hướng ở các nước đang phát triển.
Điểm đáng chú ý hơn cả là tỷ lệ nạo phá thai ở nhóm tuổi từ 15-24 khá cao, trong đó tỷ lệ nạo thai trong tổng số nạo thai/hút điều hoà kinh nguyệt ở nhóm tuổi này là 36,8%, cao hơn hẳn so với 2 nhóm tuổi còn lại, nhóm tuổi từ 25-34 là 29,3%, nhóm tuổi từ 35-49 là 29,1%. (Báo cáo Y tế 2001-2002). Trong một nghiên cứu của Hội Phụ sản khoa và sinh đẻ có kế hoạch năm 2006 cho biết tỷ lệ phá thai trong nghiên cứu tập trung đông nhất ở lứa tuổi từ 20-24 với 64,74%, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có 20,5% là học sinh, sinh viên đã từng phá thai trong tổng mẫu nghiên cứu. Trong một công bố năm 2008 của bệnh viện Phụ sản trung ương cho biết có hơn 31% trong tổng số 154 trường hợp phá thai từ 17-22 tuần tuổi là đối tượng học sinh, sinh viên.
Với tuổi kết hôn trung bình hiện nay là 23,2 ở phụ nữ và 26,6 ở đàn ông cùng với tuổi quan hệ tình dục lần đầu có xu hướng giảm dần (18,6 tuổi theo SAVY 2) thì rõ ràng vị thành niên và thanh niên có một khoảng thời gian khá dài mong muốn quan hệ tình dục không mang thai. Trong khi đó vấn đề quan hệ tình dục không an toàn trong thanh, thiếu niên hiện nay lại hết sức đáng lo ngại, điều này làm tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn cũng như phá thai trong lứa tuổi này. Phân tích số liệu từ điều tra SAVY cho thấy có 79% VTN, TN quan hệ tình dục lần đầu trước hôn nhân là không an toàn và 71% VTN, TN không sử dụng bao cao su khi quan hệ. Mặt khác: Các số liệu thống kê về tỷ lệ nạo phá thai hiện nay chủ yếu được lấy từ cơ sở dữ liệu của các bệnh viện, trong khi đó. phần lớn các bạn trẻ ở tuổi vị thành niên do tâm lý e ngại không muốn rắc rối hoặc muốn giấu giếm việc giải quyết hậu quả nên thường tìm đến các cơ sở y tế tư nhân để giải quyết. Do đó, con số thống kê trên thực tế chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Theo thống kê mới nhất của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường phát triển (CGFED) năm 2012, thì hiện chúng ta vẫn đang là nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về tỷ lệ nạo phá thai (32%) và hiện là một trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới. Đáng báo động hơn, hơn 20% trong số đó nằm ở lứa tuổi vị thành niên. Cụ thể:
Mỗi năm nước ta có khoảng 1.2 đến 1.6 triệu ca nạo phá thai, trung bình trung có hơn 2000 ca phá thai/ngày, trong đó có đến 25% chưa lập gia đình. Trung bình cả nước có 300.000 ca nạo phá thai cho đổi tượng từ 15-18 tuổi/năm; Trong đó nổi bật ở một số nơi như: Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Tại Hà Nội: Bình quân mỗi năm có khoảng 100 000 ca sinh đẻ và 50 000 – 60 000 ca nạo phá thai, trong đó có đến 30% số ca nạo phá thai đối tượng là người chưa thành niên. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Đình Lân, Chi cục phó Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình: Con số nạo phá thai còn cao hơn rất nhiều do phần đông số người chưa thành niên nạo phá thai ở các cơ sở tư nhân không hề được thống kê.
Trong 6 tháng đầu năm 2010, khoa điều trị của Trung tâm KHHGĐ bệnh viện phụ sản Trung ương đã hỗ trợ nạo phá thai cho 6.556 ca (51 ca là người chưa thành niên). Các bác sỹ trong bệnh viện Phụ sản Trung ương cũng cho biết: số ca NPT ngày càng tăng với nhiều trường hợp thai to và đối tượng là người chưa thành niên.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh: Theo thống kê của Trung tâm bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em Thành phố cho biết bình quân toàn thành phố năm 2009 có 114.002 ca nạo phá thai, bằng 101% trên tổng số ca sinh, Trong đó:
Tại TTYT Quận 6 tiếp nhận 2.200 ca NPT trên 228 ca sinh đẻ (gấp hơn 10 lần so với số ca sinh) trong 6 tháng đầu năm 2009; Tại TTYT Quận 7 tiếp nhận 1094 ca NPT, trong đó có 140 ca độ tuổi 19-21…; Bệnh viện Từ Dũ Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009 tiếp nhận 20.000 ca NPT, trong đó có đến 80%đối tượng chưa lập gia đình và trên 40% là người chưa thành niên.
Tại Hải Phòng: Do đặc thù là một thành phố công nghiệp, lại là một trung tâm giáo dục của vùng Duyên hải Bắc bộ nên lượng công nhân và số học sinh, sinh viên ngoại tỉnh lưu trú khá đông. Điều kiện này khiến cho thành phố phải đối mặt với tỷ lệ phá thai cao và ngày càng có chiều hướng gia tăng trong giới trẻ chưa lập gia đình (chiếm trên 30% tổng số ca). Bác sỹ Trần Thị Xuân, Trung tam chăm sóc sức khỏe sinh sản – Sở Y tế cho biết: Năm 2009, Tổng số ca phá thai trên địa bàn thành phố là 13.438 ca trong đó có 376 ca là người chưa thành niên. 6 tháng đầu năm 2010, số ca phá thai của người chưa thành niên tăng 239 ca.
Không chỉ ở 3 thành phố kể trên, ở các khu vực khác cũng trong tình trạng tương tự. Tuy nhiên, cần phải nhân mạnh: những con số kể trên chỉ là số liệu được tập hợp từ các cơ sở y tế công, nói cách khác chỉ là một phần nổi rất nhỏ bé. Ở các cơ sở tư nhân, sự quản lý thiếu chặt chẽ của Nhà nước là điều kiện tốt để chuộc lợi, dẫn đến tình trạng nạo phá thai trái phép ở Việt nam diễn ra tràn lan mỗi ngày. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Đến nay, chưa ai có được con số thống kê đầy đủ số phụ nữ đến NPT ở cơ sở y tế tư nhân. Rất nhiều đối tượng NPT đặc biệt là người chưa thành niên đến cơ sở y tế tư nhân dù chi phí có cao hơn bởi tránh được nhiều thủ tục rườm rà trong bệnh viện, thực hiện nhanh gọn, có thể che dấu được người thân, gia đình. Đặc biệt sự thiếu hiểu biết về chăm sóc sức khỏe sinh sản đã tạo cơ hội cho cơ sở NPT chui lộng hành với nhiều kiểu nạo phá thi gây nguy hiểm trực tiếp tới sức khỏe người mẹ. Như vậy, dù có cho phép phá thai vì sức khỏe của người mẹ thì việc phá thai chui, phá thai trái pháp luật, phá thai không an toàn cũng khiến cho sức khỏe, tính mạng của người mẹ rơi vào nguy hiểm. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về những rủi ro của các bà mẹ trong quá trình mang thai Cụ thể:
- Bảng 2.3. Tỷ lệ % có dấu hiệu bất thường về sức khoẻ sau lần nạo thai gần nhất
Mặc dù luật pháp tự do và sẵn có của dịch vụ phá thai ở khu vực công và tư nhân phá thai không an toàn vẫn là một trong những lý do phổ biến cho cái chết của mẹ, ước tính khoảng 11,5% các nguyên nhân trực tiếp gây tử vong mẹ ở Việt Nam trong năm 2002.
2.2.2. Nguyên nhân
- Nguyên nhân việc nạo phá thai:
Việc thực hiện chính sách dân số Việt Nam với việc khuyến khích mỗi gia đình chỉ nên có từ 1 đến 2 con và khoảng cách sinh nên từ 3-5 năm đã góp phần quan trọng vào nâng cao ý thức của người dân về việc sinh ít con để nuôi dạy cho tốt. Theo báo cáo nghiên cứu của tác giả Đức Vy và Tiến Hoà thì số lượng con, khoảng cách sinh và lựa chọn giới tính thai nhi có tác động đến phá thai, đáng lưu ý là lý do giới tính chiếm 10,47%. Báo cáo “Nạo hút thai ở Việt Nam: một phân tích về chính sách và thực tiễn” có đưa ra những số liệu để chứng minh cho cùng nhận định này 70,7% số phụ nữ nạo hút thai được hỏi cho biết nguyên nhân nạo hút thai là “không muốn đẻ nhiều”, 13,4% “không muốn đẻ dày”, 6,3% “không muốn vi phạm chính sách 2 con”; và chỉ có 1,6% vì lý do “kinh tế khó khăn”. Báo cáo này cũng chỉ rõ hơn về việc phá thai liên quan đến lựa chọn giới tính thai nhi, trong đó đưa ra kết quả điều tra người dân tại 4 tỉnh cho thấy 24,6% số người ủng hộ “siêu âm để lựa chọn giới tính thai nhi” và 3,9% đồng ý với việc “loại bỏ thai nhi nếu giới tính thai nhi không như mong đợi”. Mặc dù Việt Nam đã nghiêm cấm việc chẩn đoán để lựa chọn giới tính thai nhi nhưng đây rõ ràng vẫn là một thực tế tồn tại không dễ xoá bỏ.
Việc sử dụng BPTT nhưng vẫn mang thai ngoài ý muốn chiếm một tỷ lệ tương đối cao đối với phụ nữ đã có chồng, điều tra DHS năm 1997 có 51% số trường hợp nạo hút thai trước đó đã sử dụng ít nhất một biện pháp tránh thai, theo đó BPTT truyền thống là 27%, vòng tránh thai 11%, bao cao su 8% và thuốc tránh thai là 5%. 4 năm sau, điều tra Y tế quốc gia cũng cho thấy tỷ lệ thất bại trong sử dụng biện pháp tránh thai truyền thống có tỷ lệ cao hơn cả 29,9%, biện pháp hiện đại là 5,9%. Hiện nay những quy định về vấn đề nạo hút thai cũng giúp các cơ sở y tế công hay tư nhân và khách hàng tiếp cận dịch vụ này một cách khá dễ dàng cả về mặt hành chính lẫn kinh phí, có người tìm đến dịch vụ này như một cách để tránh thai. Đáng lo ngại hơn cả là ở lứa tuổi vị thành niên, thanh niên có hành vi tình dục không an toàn và việc thiếu hiểu biết về thời điểm mang thai điều này dễ dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và làm tăng nguy cơ nạo phá thai cũng như các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở lứa tuổi này, nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ sinh sản, hạnh phúc gia đình của các em về sau. Các tiêu chí được đưa ra xuất phát từ chính những nguyên nhân thức hiện nạo phá thai được phân loại như sau:
Nguyên nhân sức khỏe thể chất: Đối với người phụ nữ thời gian mang thai là khoảng thời gian thường xuyên được đặt trong trạng thái nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng, đặc biệt đối với những người có thể trạng yếu, có tiền sử bệnh tim mạch,… Do vậy khi xét thấy việc mang thai có thể gây hậu quả xấu đến sức khỏe người mẹ, việc nạo phá thai có thể được đặt ra. Bên cạnh đó, đối với bào thai, 9 tháng 10 ngày đầu này là giai đoạn mới đầu hình thành, hoàn thiện cơ thể, đây là khoảng thời gian bào thai rất dễ chịu tác động từ người mẹ hay môi trường bên ngoài. Trong khoảng thời gian này, việc khám, siêu âm xác định tình trạng của thai nhi nếu đưa ra kết luận không tốt như: thai nhi bị dị tật, khiếm khuyết… là nguyên nhân dẫn đến việc yêu cầu nạo, phá thai. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Nguyên nhân về kinh tế: Vấn đề sinh và nuôi dạy một đứa trẻ là vô cùng khó khăn, đòi hỏi chi phí rất lớn và khoảng thời gian lâu dài. Do vậy, khi đưa ra quyết định sinh một đứa trẻ đối với một gia đình, một người mẹ là một quyết định quan trọng. Theo như quan sát thực tế: Rất nhiều ca nạo phá thai xuất phát từ nguyên nhân người phụ nữ: có thể do hoàn cảnh gia đình không thể nuôi thêm một đứa con, hoặc xác định không thể tự mình chăm sóc đứa trẻ nếu sinh ra (trong trường hợp phụ nữ đơn thân, chưa có gia đình,..)
Nguyên nhân văn hóa – xã hội: Trong đó xoay quanh 3 nội dung chính: Về bất bình đẳng trong quan niệm về giới: đặc biệt ở các nước Châu Á dẫn đến tình trạng nạo phá thai do giới tính. Về các chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình của nhiều quốc gia (Trung Quốc là một điển hình). Và về giáo dục: Do tình trạng thiếu hiểu biết về Kế hoạch hóa gia đình, các biện pháp tránh thai,… dẫn đến tình trạng vượt kế hoạch. Do giáo dục trong nhà trường chưa đến nơi, khiến cho một bộ phận trong giới trẻ có những bước đi sai lầm và kết thúc sai lầm đó trong chính các cơ sở nạo – phá thai…. Thực tế cho thấy tình trạng này đang ngày càng gia tăng và trở thành vấn đề nhức nhối của xã hội.
Ở Việt Nam: Những nguyên nhân chính khiên cho tình trạng nạo phá thai ngày càng tăng nhanh: Do kiến thức về tránh thai còn nghèo nàn, sợ tác dụng phụ của các BPTT, thậm chí tin vào những tin đồn thất thiệt liên quan đến các BPTT. Sự nghèo nàn về kiến thức và lệnh lạc về thái độ liên quan đến các BPTT dẫn đến việc không sử dụng BPTT, sử dụng các biện pháp tự nhiên không có hiệu quả, sử dụng BPTT không đúng hoặc không liên tục. Mặc dù chính phủ Việt nam không công nhận phá thai là một BPTT và cố gắng giảm thiểu con số phá thai theo Chương trình Hành động tại Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển năm 1994 nhưng nhiều phòng khám Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) còn coi phá thai là một trong những nhiệm vụ chính mà chưa thực sự quan tâm đầy đủ đến việc cung cấp dịch vụ KHHGĐ nhằm tránh thai ngoài ý muốn.
2.3 Các giải pháp thực tế đang được sử dụng để bảo vệ quyền của thai nhi ở Việt Nam. Những hạn chế còn tồn đọng Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
2.3.1 Khuân khổ pháp luật Việt Nam về nạo phá thai và hệ quả của Điều chỉnh pháp luật
2.3.1.1. Quan điểm của Nhà nước và những quy định pháp luật Việt Nam về quyền sống thai nhi và nạo phá thai
Trong hệ thống quan điểm của nhà nước cũng như các quy định pháp luật Việt Nam cũng giống như nhiều quốc gia khác, không hề có nhắc đến quyền sống của thai nhi, bởi đây thực sự là một nội dung còn quá mới mẻ. Các vấn đề về thai nhi chỉ dừng ở mức bảo vệ quyền lợi cho bào thai trên cơ sở xác định nó là 1 phần của người mẹ và là con người tiềm năng có mối quan hệ với người bố sau khi sinh ra. Mặt khác nạo phá thai cũng là vấn đề mang tính chất xã hội nóng hổi, được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước.
Pháp luật liên quan đến phá thai ở Việt Nam bao gồm: Hiến pháp của Việt Nam tuyên bố rằng những người đàn ông và phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng trong tất cả các khía cạnh và các trường hợp như sức khỏe sinh sản: Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm cung cấp chăm sóc sức khỏe và bảo vệ bà mẹ và trẻ em, và thực hiện dân số và chương trình kế hoạch hóa gia đình. Trong năm 1960, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình mà là dựa trên bốn nguyên tắc, cụ thể là: tự do kết hôn, một vợ một chồng, bình đẳng giới và bảo vệ phụ nữ và quyền trẻ em. Năm 11/7/1989, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân đã được phê duyệt, khẳng định quyền của người dân để lựa chọn biện pháp tránh thai. Hơn nữa, nó khẳng định: Phụ nữ có quyền có phá thai, được nhận được chẩn đoán và điều trị phụ khoa và kiểm tra sức khỏe trong thời gian mang thai và dịch vụ y tế khi sinh con tại cơ sở y tế.
- Theo quy định tại Điều 635 Bộ luật Dân sự 2005:
Người thừa kế phải là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết … Với quy định như vậy: đứa trẻ ngay từ khi mới là thai nhi đã có thể được hưởng di sản sản thừa kế sau khi thai nhi đó được sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế.
Theo quy định tại Điều 23, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch, trẻ em sinh ra sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết cũng phải đăng ký khai sinh và đăng ký khai tử… Như vậy, nếu thai nhi sinh ra và còn sống trên 24 giờ được coi là sinh ra và còn sống, và được hưởng di sản thừa kế.
Quy định tại Điều 9 Nghị định 114/2006/NĐ-CP ngày 3/10/2006 quy định về xử phạt hành chính về dân số và trẻ em: Hành vi lựa chọn giới tính thai nhi. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Bắt mạch, xác định qua triệu chứng, bói toán hoặc bằng các hình thức khác không được pháp luật cho phép để xác định giới tính thai nhi mà các hành vi này có tính chất trục lợi;
- Nói chuyện, viết, dịch, nhân bản các loại sách, báo, tài liệu, tranh, ảnh, ghi âm, ghi hình hoặc các hình thức khác không được pháp luật cho phép để tuyên truyền, phổ biến phương pháp tạo giới tính thai
Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Siêu âm, xét nghiệm máu, gen, nước ối, tế bào hoặc các biện pháp khác không được pháp luật cho phép để xác định giới tính thai nhi;
- Cung cấp hoá chất, thuốc hoặc các biện pháp khác để loại bỏ thai nhi mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính;
- Nghiên cứu hoặc áp dụng phương pháp nhân tạo để tạo nên giới tính thai nhi theo mong muốn;
- Tàng trữ, lưu hành các loại tài liệu, phương tiện chứa đựng nội dung về phương pháp tạo giới tính thai nhi.
Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực để ép buộc người mang thai phải loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính;
- Phá thai mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.
Hình thức xử phạt bổ sung:
- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 01 tháng đến 03 tháng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 03 tháng đến 06 tháng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi quy định tại điểm a và điểm b khoản 1, điểm d khoản 2, điểm a khoản 3 Điều này.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu huỷ các loại tài liệu, phương tiện chứa đựng nội dung về phương pháp tạo giới tính thai nhi được sử dụng để thực hiện hành vi quy định tại điểm a và điểm b khoản 1, điểm d khoản 2 Điều này. [33]
Với quy định như trên có thể thấy được quan điểm của Nhà nước Việt Nam khi coi thai nhi chính là cá thể có tiềm năng con người và sẽ được xác định khi dược đứa bé sinh ra và sống sót 24h.
Tình dục trước hôn nhân, có thai và phá thai trước hôn nhân không được nền văn hóa Việt nam chấp nhận đưa đến một hệ quả là các chương trình KHHGĐ tập trung vào những cặp vợ chồng – với đối tượng chính là phụ nữ có gia đình – mà không quan tâm đầy đủ đến đối tượng chưa xây dựng gia đình. Vì vậy vị thành niên và thanh niên chưa lập gia đình khó tiếp cận với dịch vụ KHHGĐ. Theo Ủy ban dân số và KHHGĐ năm 2003, nhu cầu về KHHGĐ chưa được đáp ứng cao nhất ở nhóm tuổi 15 – 19. Kiến thức của vị thành niên về mang thai thấp. Trong một nghiên cứu của UNFPA tiến hành năm 2007 chỉ có 15,9% vị thành niên có kiến thức phù hợp về khả năng có thai, 29,1% có kiến thức về thời kỳ mang thai, 41% có hiểu biết về các triệu chứng thai nghén. Trong bối cảnh của một xã hội với nền kinh tế mở cửa, nam nữ thanh niên có xu hướng lấy vợ lấy chồng muộn nhưng hoạt động tình dục trước hôn nhân lại có xu hướng tăng. Tất cả những yếu tố nêu trên dẫn đến tình trạng có thai ngoài ý muốn trong nhóm đối tượng phụ nữ chưa có gia đình gia tăng. Tỉ lệ phá thai trong nhóm vị thành niên và phụ nữ trẻ chưa có gia đình trên tổng số ca phá thai khác nhau theo các nghiên cứu, 15% theo nghiên cứu của UNFPA năm 2007 và 20% – 30% theo. Một điều đáng lưu ý là nhóm đối tượng này thường đến với cơ sở y tế để phá thai khi thai đã lớn: khoảng 53% khách hàng phá thai ba tháng giữa là những phụ nữ trẻ chưa có gia đình. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Cũng vì những định kiến trong nền văn hóa mà dịch vụ phá thai thường không thân thiện với vị thành niên và thanh niên chưa xây dựng gia đình dẫn đến hệ quả là những đối tượng thuộc nhóm này thường tìm đến dịch vụ phá thai không an toàn tại khu vực y tế tư nhân.
Về chính sách: Từ những thập niên 60 đến thập niên 90, Bộ Y tế – Vụ Điều trị xác định rằng các dịch vụ phá thai được cung cấp cho phụ nữ theo yêu cầu ở các bệnh viện công bởi các bác sĩ / nữ hộ sinh được đào tạo. Trong những năm 1980, chính phủ khuyến khích các gia đình quy mô nhỏ, ý tưởng với hai trẻ em, cách nhau từ ba đến năm năm.
Nghị định số 104/2003/ND-CP của Chính phủ ngày 16 Tháng 9 năm 2003 hướng dẫn thực hiện một số điều của Pháp lệnh Dân số nghiêm cấm lựa chọn giới tính của thai nhi. Trong năm 2003, Bộ trưởng Bộ Y tế đã công bố tiêu chuẩn quốc gia và Hướng dẫn cho các dịch vụ sức khỏe sinh sản bao gồm cả một chương về phá thai an toàn. Đó là tuyên bố trong cho rằng bác sĩ sản khoa được đào tạo, y sĩ với sản khoa – chuyên khoa nhi hoặc nữ hộ sinh được đào tạo về mặt pháp lý có thể thực hiện nạo phá thai. Nó cũng được định nghĩa là các dịch vụ phá thai được cung cấp tại ba cấp hành chính của hệ thống y tế:
- Nạo phá thai 6-22 tuần tuổi thai được cung cấp tại các bệnh viện trung ương và tỉnh;
- Nạo phá thai từ 6-12 tuần tuổi thai được cung cấp tại y tế huyện trạm;
- Phá thai lên đến 6 tuần tuổi thai được cung cấp tại các trung tâm y tế xã. Phòng khám tư nhân tại một số tỉnh được phép thực hiện phá thai lên đến 6 tuần tuổi thai nếu họ đáp ứng các tiêu chí theo yêu cầu đặt ra của Sở Y tế tỉnh.
Trong thời gian 2007 – 2009, Bộ Y tế (Bộ Y tế) Việt Nam làm việc với các cơ quan của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế để nâng cấp các tiêu chuẩn quốc gia và hướng dẫn cho các dịch vụ sức khỏe sinh sản. Các phiên bản mới của Bộ tiêu chuẩn này được xuất bản trong năm 2009.
Trong thời gian 2010 – 2011 Việt Nam Bộ Y tế phát triển 10 năm chiến lược quốc gia về sức khỏe sinh sản, trong đó phá thai an toàn là một trong những thành phần quan trọng. Dựa trên các chiến lược quốc gia, quy hoạch tổng thể đã được phát triển. Đào tạo cho các nhân viên y tế ở cấp xã và cho các cơ sở y tế cấp huyện được bao gồm trong kế hoạch tổng thể và ngân sách nhà nước được đặt cho hoạt động này. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Từ năm 2001, Bộ Y tế Việt Nam cùng làm việc với Tổ chức Việt Nam phát triển toàn diện Chăm sóc phá thai (CAC) Mô hình tại hai bệnh viện phụ sản Trung ương và Bệnh viện Từ Dũ – tại hai tỉnh có huyện và xã. Mô hình mục tiêu CAC để cải thiện chất lượng chăm sóc phá thai thông qua việc cải thiện tư vấn, hội đủ điều kiện thủ tục phá thai, tiêu chuẩn hóa hoạt động phòng chống nhiễm trùng, và liên kết dịch vụ phá thai với dịch vụ tránh thai. Từ năm 2006, mô hình CAC được nhân rộng tại 5 tỉnh khác cũng như một đội bóng mạnh của giảng viên phá thai an toàn đã được phát triển để mở rộng mô hình CAC trong nước. Nhiều khóa đào tạo CAC đã được tổ chức bởi Bộ Y tế cho các nhà cung cấp từ cấp tỉnh và Bệnh viện phụ sản Trung ương & Bệnh viện Từ Dũ trở thành hai trung tâm đào tạo CAC.
Việt Nam đã ký kết ICPD và Công ước CEDAW. Chính phủ đang cố gắng hết sức mình để thực hiện cam kết của mình trên ICPD và Công ước CEDAW. Theo đó: Quyền của phụ nữ được tôn trọng và được bảo vệ bởi luật pháp: Lao động nữ nghỉ sinh con, dù có bao nhiêu sinh họ có được, được hưởng trợ cấp thai sản.Phụ nữ độc thân có quyền mang thai hỗ trợ kỹ thuật tại các hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. …
- Theo đó, những quy định pháp luật về vấn đề nạo – phá thai hiện nay bao gồm:
Văn bản liên quan có tính nghiêm khắc nhất là Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định tại Điều 243. Tội phá thai trái phép:
- Người nào thực hiện việc phá thai trái phép cho người khác gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của người đó hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
- Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.
- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.[33]
Điều 44, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 quy định rõ:
Phụ nữ được quyền nạo thai, phá thai theo nguyện vọng, được khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa….[33]
Nghị định số 23/HĐBT năm 1991 ban hành 5 điều lệ về khám chữa bệnh bằng thuốc y học cổ truyền dân tộc thuốc phòng chữa bệnh, điều lệ vệ sinh khám chữa bệnh và phục hồi chức năng và thanh tra nhà nước về y tế. cụ thể tại chương 9 bảo vệ sức khỏe phụ nữ và trẻ em điều 32 có quy định. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
- Điều 32. Yêu cầu về nạo thai, phá thai:
Các cơ sở y tế chuyên khoa phải thực hiện các yêu cầu của phụ nữ về đặt và tháo dụng cụ tử cung, hút điều hoà kinh nguyệt, nạo phá thai theo nguyện vọng từng người.
Các bệnh viện chuyên khoa phụ sản, bệnh viên đa khoa tỉnh, thành phố mới được quyền phá thai bệnh lý, phá thai to.
Nghiêm cấm các cơ sở y tế, và cá nhân làm các thủ thuật nạo thai, phá thai, tháo vòng tránh thai nếu không có giấy phép do Bộ Y tế hoặc Sở y tế cấp..[33]
Pháp lệnh Số: 06/2003/PL-UBTVQH11 về dân số có quy định: Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm
Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
- Cản trở, cưỡng bức việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình;
- Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức;[33]
Thông tư số:01/2004/TT-BYT hướng dẫn về hành nghề y dược tư nhân có một số quy định như sau:
Điều 6: Người hành nghề y, dược tư nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 18, 23, 28, 32, 36 của Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân và có trách nhiệm thực hiện đúng quy chế về chuyên môn y, dược. Trong quá trình hành nghề, người hành nghề phải tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững các quy chế của ngành, pháp luật của Nhà nước..[33] Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Điều 8. Các cơ sở hành nghề y, dược tư nhân có trách nhiệm thực hiện đúng quy định của pháp luật về quảng cáo.
Điều 11. Điều kiện chung
- Khoản Có đạo đức nghề nghiệp
- Khoản Có văn bản cam kết hiểu và thực hiện Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân, các chương trình y tế quốc gia phổ cập, các quy định về chuyên môn kỹ thuật y tế và các văn bản quy phạm pháp luật khác về y tế có liên quan (Thực tiễn cho thấy rất nhiều trường hợp nạo phá thai trái với quy định PL).[33]
Điều 27.
- Điều kiện về nhân sự và cơ sở vật chất của Phòng khám chuyên khoa phụ sản – kế hoạch hóa gia đình
- Phải có đủ dụng cụ, trang thiết bị y tế phù hợp phạm vi hành nghề, có hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa; (Chưa yêu cầu yếu tố đảm bảo vệ sinh dụng cụ)
Đây chỉ là các điều kiện tối thiểu cần phải có cho một phòng khám chuyên khoa phụ sản- kế hoạch hóa gia đình chứ chưa hề có quy định nào về việc nạo phá thai hay chăm sóc cho những người trẻ em vị thành niên có thai trước tuổi lập gia đình.
Khoản 2 Phạm vi hành nghề
- i) Hút thai nhỏ dưới 06 tuần (từ 36 ngày đến 42 ngày, kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng).[33]
Nghị định Số: 114/2006/NĐ-CP xử phạt hành chính về dân số và trẻ em Điều 1 Phạm vi điều chỉnh:
Khoản 3 Vi phạm hành chính về dân số và trẻ em quy định trong Nghị định này bao gồm các hành vi.
- Lựa chọn giới tính thai nhi;.[33]
Quyết định Số: 2590/2004/QĐ-BYT của chính phủ về phân loại danh mục hưởng phụ cấp đối với công chức viên chức ngành y tế.
Quyết định Số: 34/2006/QĐ-BYT của chính phủ về: Định mức thuốc thiết yếu và các vật liệu tiêu hao trong các thủ thuật, phẫu thuật kế hoạch hoá gia đình và phá thai an toàn đã hết hiệu lực và được thay thế bằng thông tư 06/2009/TT-BYT về Định mức thuốc thiết yếu và các vật tư tiêu hao trong các dịch vụ, thủ thuật chăm sóc sức khỏe sinh sản. thông tư ban hành năm 2009 dường như cho đến nay thì đây là văn bản mới nhất về lĩnh vực này.
Thông tư Số: 07/2007/TT-BYT hướng dẫn chi tiết về hành nghề y, y học cổ truyền và trang thiết bị y tế tư nhân và hướng dẫn Nghị định số 103/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân.
Tại mục 5 điều kiện và phạm vi hoạt động hành nghề y tế tư nhân, khoản 5 quy định: Điều kiện và phạm vi chuyên môn hành nghề đối với phòng khám chuyên khoa phụ sản – kế hoạch hóa gia đình:
Điều kiện về nhân sự và cơ sở vật chất: Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
- Người đứng đầu phải có chứng chỉ hành nghề khám, chữa bệnh được đăng ký phòng khám chuyên khoa phụ sản – kế hoạch hóa gia đình;
- Người làm công việc chuyên môn phải bảo đảm đủ các điều kiện theo quy định tại Mục VIII của Thông tư này;
- Phải có đủ dụng cụ, trang thiết bị y tế phù hợp phạm vi hành nghề, có hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa;
- Phòng khám thai, phòng khám phụ khoa, phòng kỹ thuật kế hoạch hóa gia đình phải có diện tích ít nhất là 10m2, chiều cao không thấp hơn 3,1m và tường phải được ốp gạch men, hoặc vật liệu chống thấm bảo đảm vệ sinh vô trùng;
- Bảo đảm các điều kiện phòng chống cháy nổ, xử lý chất thải và vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật..[33]
Phạm vi hành nghề:
- Tư vấn giáo dục sức khỏe, kế hoạch hóa gia đình;
- Cấp cứu ban đầu sản, phụ khoa;
- Khám thai, quản lý thai sản;
- Khám, chữa bệnh phụ khoa thông thường: Nhiễm trùng, nhiễm khuẩn đường sinh sản;
- Đặt thuốc âm đạo;
- Đốt điều trị lộ tuyến cổ tử cung;
- Soi cổ tử cung, lấy bệnh phẩm tìm tế bào ung thư;
- Siêu âm sản khoa (người đứng đầu hoặc bác sỹ trực tiếp thực hiện các kỹ thuật siêu âm phải có giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tương đương cấp tỉnh, thành phố trở lên và có giấy xác nhận đã qua thực hành về chuyên khoa từ 2 năm trở lên tại cơ sở khám, chữa bệnh;
- Đặt vòng;
- k) Hút thai và phá thai nội khoa đối với thai = 06 tuần (từ 36 ngày đến 42 ngày, kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng)..[33] Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
- Nghị định Số: 188/2007/NĐ-CP quy định về chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ y tế.
- Thông tư Số: 06/2009/TT-BYT về Định mức thuốc thiết yếu và các vật tư tiêu hao trong các dịch vụ, thủ thuật chăm sóc sức khỏe sinh sản..
Trên đây là một số văn bản dẫn chiếu liên quan đến lĩnh vực sức khỏe sinh sản và nạo phá thai hiện nay ở Việt Nam. Có thể thây hệ thống văn bản này đã trở nên cũ và lạc hậu so với hiện tại, đồng thời đã có nhiều quy định không theo kịp với thời đại, thể hiện sự bất cập và đòi hỏi phải có sự đổi mới.
2.3.1.2 Bất cập trong quy định và áp dụng pháp luật về nạo phá thai ở Việt Nam hiện nay
Qua quá trình tìm hiểu về vấn đề nạo phá thai trong giới trẻ Việt Nam ngày nay, có thể thấy vẫn còn có khá nhiều bất cập trong hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về nạo phá thai cần được sửa đổi:
Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, Điều 243 có quy định tội phá thai trái phép song thực tế tìm hiểu cho thấy lại không thấy bất kì một văn bản hướng dẫn nào cho quy định này. Vấn đề này khiến cho người đọc không thể nắm bắt được và người áp dụng luật thì không rõ để truy tố, xét xử hay định khung cho tội này. Vì vậy qua thực tế cho ta thấy rằng việc nạo phá thai trong rất nhiều trường hợp đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng nhiều trường hợp dẫn đến vô sinh, hay có thể bị mất mạng trong quá trình nạo phá thai nhưng việc xử lý không được đề cập.
Mặt khác theo quan điểm cá nhân, điều luật này lại nằm ở chương XIX các tội xâm phạm an toàn công cộng trật tự vệ sinh công cộng là không phù hợp mà cần phải đưa vào chương các tội phạm sức khỏe tính mạng danh dự nhân phẩm bởi ở đây khách thể bảo vệ là tính mạng hoặc sức khỏe của con người. Mặt khách quan của tội phạm là hành vi thực hiện việc nạo phá thai trái phép cho người khá phá thai mà không được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền.
Thực tế hiện nay các nhà làm luật, xã hội học trước một sự cân nhắc: nên hay không luật hóa việc nạo phá thai?. Hay nói cách khác, thay vì được quyền nạo thai, phá thai theo nguyện vọng như hiện nay, phụ nữ chỉ được phép làm điều đó khi hội tủ đủ điều kiện cần và đủ. Hiện nay, Điều 44, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân quy định rõ: Phụ nữ được quyền nạo thai, phá thai theo nguyện vọng, được khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa. Quy định này được đưa ra bởi luật pháp quá tôn trọng quyền được phá thai theo nguyện vọng, nên các nhân viên y tế và khách hàng tiếp cận dịch vụ phá thai một cách dễ dàng đồng thời xảy ra tình trạng NPT trái phép ngày càng nhiều và công khai. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Để ngăn chặn sự mất cân bằng giới tính nói chung và phá thai tràn lan nói riêng, việc lựa chọn giới tính thai nhi là một hành vi bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm tại Khoản 2, Điều 7: “Nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức (tư vấn, chẩn đoán giới tính của thai nhi, phá thai…)”.[33]
Pháp lệnh Dân số và các văn bản hướng dẫn khác. Thế nhưng, cũng phải thừa nhận một sự thật rằng, vì những lý do khách quan, chủ quan mà câu chuyện lựa chọn giới tính của các bậc cha mẹ và phá thai là “cặp bài trùng” không dễ gì ngăn chặn được, đặc biệt là trong sự quản lý lỏng lẻo tạo cơ hội cho nạo phá thai trái phép diễn ra hàng ngày.
Các văn bản ban hành quy định về việc xử phạt hành vi vi phạm về dân số và trẻ em không có văn bản hướng dẫn thi hành. Thực tế khoản 3 điều 1 ban hành nhằm hạn chế các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi nhưng thực trạng ngày nay cho thấy nghị định đã không thể điều chỉnh được vấn đề này.
Tiến sỹ Hoàng Bá Thịnh, người đứng đầu Trung tâm Giới tính dân số và Công trình xã hội cho biết: Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình đưa tin rằng chính phủ dự định sẽ coi nạo thai bởi lý do lựa chọn giới tính cho đứa con qua siêu âm thành là một tội hình sự. Phó tổng cục ông Nguyễn Văn Tân nói rằng động thái này nhằm làm giảm sự bất cân đối về giới tính, một chuyện giường như đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng nếu không có quyết định can thiệp của chính phủ. Con số thống kê tại Việt nam cho thấy rằng tỷ lệ sinh là 112 bé trai so với 100 bé gái, thậm chí là 115 đến 123 bé trai cho 100 bé gái tại nhiều khu vực. Số liệu thống kê cũng cho thấy rằng hai phần ba số phụ nữ mang thai trên toàn quốc muốn biết trước giới tính của đứa con của mình, chủ yếu nhờ vào siêu âm.
Dự thảo luật mới ước tính phạt 15 triệu đồng đối với những cặp cha mẹ muốn dùng phương pháp siêu âm để lựa chọn xem mình nên giữ hay nạo thai, 21 triệu đồng và thu hồi giấy phép hành nghề đối với các bác sỹ và trợ lý nào muốn trợ giúp việc xác định giới tính thai nhi bằng cách này.Tuy nhiên đến nay dự thảo luật này vẫn chỉ nằm trên bàn giấy.
Bên cạnh đó, các văn bản dẫn chiếu liên quan tới chăm sóc sức khỏe sinh sản và nạo phá thai có hiệu lực từ năm 2009 sau đó là năm 2007. đặc biệt có văn bản ban hành từ năm 1991 (nghị định 23/HĐBT) đến nay năm 2011 (tức là đã 20 năm) vẫn còn hiệu lực. đáng bàn đây lại là trong lĩnh vực y tế trong khi gần như mỗi ngày hệ thống hành chính Việt Nam lại ban hành một văn bản pháp luật mới mà lĩnh vực y tế lại không được chú trọng. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
- Từ những bất cập trong quy định đã dẫn đến hậu quả đáng kể trong quá trình áp dụng pháp luật, cụ thể:
Tình trạng nạo phá thai lựa chọn giới sinh: Do ảnh hưởng từ nền văn hóa bám rễ lâu đời trọng nam khinh nữ, thực tế nhiều trường hợp đi khám thai ở các cơ sở tư nhân cũng như nhà nước, sau khi siêu âm người mẹ có thể hỏi giới tính của con rất dễ dàng (từ tuần 12 trở đi). Dù có quy định về việc nghiêm cấm tiết lộ về giới tính thai nhi song việc này không được thực hiện nghiêm chỉnh. Điều này xuất phát từ việc quản lý chưa nghiêm ngặt từ phía nhà nược đối với các cơ sở hành nghề tư nhân và giám sát chưa chặt chẽ trong các cơ sở nhà nước.
Tình trạng nạo phá thai trái phép: Thủ tục rườm rà từ Bệnh viện, cơ sở y tế, sự kỳ thị ảnh hưởng từ nền văn hóa đối với những trường hợp có con ngoài giá thú, nạo phá thai,… là nguyên nhân khiến cho nhiều đối tượng trẻ, chưa lập gia đình đã lựa chọn cơ sở tư nhân không có giấy phép hoạt động,… thực hiện việc nạo phá thai không theo đúng quy định pháp luật, dẫn đến hậu quả không lường trước, thậm chí gây nguy hiểm cho bản thân người đi nạo phá.
Sự tràn lan của các biện pháp nạo phá thai lạ và nguy hiểm: Việc quản lý không chặt chẽ và tuyên truyền giáo dục không đến nơi đã dẫn đến hậu quả nhiều người do thiếu hiểu biết đã tìm đến các “biện pháp nạo phá thai” đặc biệt, không những không có kết quả có khi còn ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng người phụ nữ…
2.3.2 Biện pháp khác Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Giáo dục: Việt Nam hiện nay vấn đề giáo dục về vấn đề quyền sống của thai nhi gần như không có, bên cạnh đó, vấn đề về tình dục về nạo phá thai rất ít được nói tới. Hậu quả là ở Việt Nam tỷ lệ nạo phá thai – nguyên nhân gây tử vong lớn cho phụ nữ và tỉ lệ sinh con ở tuổi vị thành niên, đang tăng ở mức báo động. Tỉ lệ bệnh lây nhiễm qua đường tình dục cũng cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực; tình trạng bạo lực tình dục và cưỡng ép tình dục do thiếu hiểu biết vẫn diễn ra. Các chuyên gia và nhà quản lý đều thống nhất, vấn đề tình dục ở Việt Nam chưa được giáo dục cho giới trẻ, là nguy cơ cao của nhiều vấn đề xã hội. Do đó, giáo dục sức khỏe tình dục là vấn đề sống còn để đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ. Nhiều bạn trẻ là sinh viên, nông dân, công nhân, người dân tộc thiểu số và người khiếm thị… cho biết: Các kiến thức về tình dục được cung cấp tại sự kiện này quá mới mẻ và thật sự cần thiết với họ, giúp họ chủ động điều chỉnh hành vi trong cuộc sống tương lai.
Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tổ chức đào tạo nghiệp vụ tư vấn lồng ghép sức khỏe sinh sản – sức khỏe tình dục cho cán bộ làm công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản để thực hiện tư vấn tại các điểm dịch vụ, tổ chức các hoạt động lồng ghép kiến thức về giới và tình dục tuyên truyền trong cộng đồng dân cư và các trường học, đưa kiến thức về giới vào các buổi học ngoại khóa, sinh hoạt câu lạc bộ của đoàn thanh niên … song trung tâm dạng này chỉ tồn tại ở thành phố lớn, nên hoạt động chưa rộng rãi. Cơ sở nào chăm sóc sức khỏe sinh sản cho thanh thiếu niên hiện nay ít và cơ hội tiếp xúc không nhiều.
Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản đã xây dựng kế hoạch tổng thể với mục tiêu chiến lược: tình trạng sức khỏe sinh sản của người dân được cải thiện rõ rệt, đa dạng hóa các lọai hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, tiếp tục giảm sinh, nâng cao sức khỏe bà mẹ trẻ em, tăng cường chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người cao tuổi, thanh thiếu niên.. tuy nhiên việc xây dựng chiến lược cần được thực hiện trên nền thực tế diễn ra đê không xa rời hiện tại. Các biện pháp đặt ra mang tính vi ̃ mô mà chưa sát sao, dẫn đến việc thực hiện trên thực tế còn nhiều hạn chế thiếu xót,…
2.4. Phương hướng, giải pháp đối với vấn đề quyền sống của thai nhi và nạo phá thai ở Việt nam Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
2.4.1. Phương hướng
Ở Việt Nam hiện hay, Đảng và Nhà nước nên đưa ra quan điểm nhất quán về vấn đề Quyền sống của thai nhi, thay vì việc cho phép nạo phá thai theo yêu cầu, chúng ta nên chuyển dần sang quy định nạo phá thai hạn chế, đồng thời nên có sự học hỏi từ pháp luật các quốc gia khác: Như nâng cao vai trò của người cha trong quá trình lựa chọn cuộc sống của đứa trẻ,…. Từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục với tình trạng nạo phá thai hiện nay, đặc biệt là trong giới trẻ. Theo ý kiến cá nhân, chúng ta có thể thực hiện chia giai đoạn theo từng mốc phát triển của bào thai:
Giai đoạn đầu: từ tuần 1 – tuần 10: Đây là giai đoạn hình thành, phân chia và hoàn thiện cơ thể của bào thai, mới thực sự dưới dạng phôi, theo tôi chúng ta có thể sử dụng với nghiã “dạng sự sống tiềm năng” cho phôi thai ở giai đoạn này. Trong giai đoạn này, từ tuần 8 đến tuần 10, bào thai đã có bước phát triển sang giai đoạn mới, ở khoảng thời gian này sự phát triển của mỗi đứa trẻ một khác, tuy nhiên đến thời điểm này thai nhi đã bắt đầu có và hoàn thiện hệ thống tuần hoàn, có nhịp tim như một người bình thường. Ở giai đoạn đầu, theo khoa học Y: nếu có thực hiện các biện pháp nạo phá thai an toàn sẽ giảm thiểu tối đa ảnh hưởng về thể chất cho người mẹ.
Giai đoạn 2: Từ tuần 10 – tuần 24: Đây là giai đoạn phôi đã phát triển thành bào thai và có đủ bộ phận cơ thể. Sự phát triển đã ổn định và hình dạng cơ bản đã như một con người hoàn chỉnh. Tuy nhiên giai đoạn này bào thai chưa thế tồn tại một cách độc lập. Bởi vậy chúng ta có thể thừa nhận bào thai ở giai đoạn này như dạng con người tiềm năng và hướng pháp luật dừng ở mức bảo vệ.
Giai đoạn 3: Lấy mốc từ tuần 24 trở đi: Như đã phân tích ở trên, từ tuần này, do sự phát triển khoa học đứa trẻ hoàn toàn có khả năng sống ngay cả khi tách rời người mẹ, nên cần được thừa nhận như 1 con người hoàn thiện với đủ quyền cơ bản của một con người trong đó có quyền sống. Thậm chí có những nghiên cứu về vấn đề đòi hỏi quyền bình đẳng cho cả những “đứa trẻ” bị khuyết tật ngay từ trong bụng mẹ.
Từ những nội dung đó, Nhà nước sẽ có những chiến lược hành động cụ thể nhằm giáo dục và đưa nội dung này vào cuộc sống . Tuy nhiên, không miễn cưỡng phải thừa nhận hay không thừa nhận quyền sống của sự sống trước khi sinh bởi việc khẳng định điều đó đến giờ thực sự sẽ gây ra cuộc tranh cãi không ngừng giữa các luồng qua điểm từ tôn giáo, dư luận. Nhưng căn cứ vào thực tế hiện nay, việc đưa ra biện pháp giải quyết vấn nạn nạo phá thai là việc làm thực sự cần thiết.
2.4.2 Nội dung hành động cụ thể Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
2.4.2.1 Về Pháp luật: Hoàn thiện pháp luật hình sự và ban hành hệ thống văn bản mới về NPT theo hướng phân chia theo giai đoạn.
Theo ý kiến chủ quan của tác giả, những vấn đề chúng ta cần quan tâm khi thực hiện biện pháp này là đối tượng: Có nên cho phép NPT tự do hay không ? Có cho phép nạo phá thai tự do đối với những người chưa có gia đình ở các cơ sở tư nhân hay cần phải có những quy định chặt chẽ cụ thể hơn ví dụ đối với người chưa thành niên bắt buộc có người giám hộ đi cùng,… Có nên để các cơ sở y tế tư nhân, phòng khám tư được quyền tiến hành thực hiện nạo phá thai như bây giờ không?
Ở đây, việc cho phép nạo phá thai hay không cho phép nên dựa vào các giai đoạn cụ thể như đã nêu ở phần 2.4.1, cụ thể:
Giai đoạn 1: Ở tuần 1 đến tuần 10 của bào thai: Ở giai đoạn này, bào thai còn chưa phát triển hoàn thiện, tác giả lấy mốc đánh dấu sự hoàn thiện của trái tim thai nhi làm căn cứ xác định. Đồng thời, ở giai đoạn này khi tiến hành hoạt động nạo phá thai an toàn người phụ nữ sẽ chịu ảnh hưởng về sức khỏe cũng như tinh thần ở mức nhỏ nhất. Các quy định mới có thể cho phép thực hiện việc nào phá theo yêu cầu. Tuy nhiên không phải cho phép có nghiã là bỏ bê, mà đi kèm với cho phép là giáo dục, tư vấn cho người mẹ giai đoạn phát triển của bào thai – một sự sống tiềm năng kỳ diệu, tư vấn cho người mẹ biết hậu quả của hành vi mình đang lựa chọn để từ đó cho phép người mẹ đưa ra quyết định sáng suốt. Mặt khác, với những trường hợp trẻ vị thành niên cần có sự đồng ý của những người giám hộ. Về cơ sở y tế: Hoàn toàn có thể cho phép cơ sở phòng khám tư có đủ điều kiện kỹ thuật thực hiện nạo hút thai trong giai đoạn này. Mặt khác, cần có sự tuyên truyền sớm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thăm khám về SKSS, giúp cho những người phụ nữ có thể phát hiện thai sớm và đưa ra được lựa chọn hợp lý, đúng đắn nhất.
Giai đoạn 2: Khi bào thai ở tuần 10- tuần 24: Đây là giai đoạn thai nhi đã phát triển gần như hoàn thiện cơ thể, đã biết đau, thậm chí các bé đã bắt đầu quá trình học tập, tiếp cận với thế giới, do vậy khuyến nghị từ phía tác giả: Việc nạo phá thai thay vì theo nguyện vọng thì phải đảm bảo các yêu cầu cụ thể, có lý do chính đáng như vì đảm bảo sức khỏe người mẹ hoặc vì sức khỏe của thai nhi, vì điều kiện kinh tế bất khả kháng, do hiếp dâm,… Bên cạnh đó, có thể giống như một số quốc gia trên thế giới, có thể yêu cầu tham khảo ý kiến từ người thân, người chồng trong gia đình. Việc có sự tham gia của người thân trong gia đình, hay của người bố giúp người phụ nữ đưa ra lựa chọn đúng đắn nhất. Song song với đó, cần siết chặt hơn hệ thống các cơ sở y tế có quyền tiến hành các hoạt động nạo phá thai ở giai đoạn này nhắm bảo vệ cho lợi ích của người mẹ. Thực tế cho thấy, việc không tiếp cận được với những biện pháp nạo phá thai an toàn dẫn đến hậu quả khôn lường đến sức khỏe của chính họ. Nhiều luồng ý kiến từ phía dư luận cho rằng việc giới hạn điều kiện nạo phá thai sẽ làm cho một bộ phận giới trẻ tìm đến những biện pháp NPT không an toàn. Để tránh được tối đa vấn đề trên cần song song kết hợp với biện pháp giáo dục về chăm sóc SKSS, các biện pháp phòng tránh thai cho cả giới trẻ cũng như chính bố mẹ họ. Nên có sự tư vấn từ phía bệnh viện về những điều sẽ phải trải qua và hậu quả có thể gặp phải khi tiến hành nạo phá thai. Đề xuất của cá nhân tác giả: Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi mô hình của một số bệnh viện của Hàn Quốc: Trước khi đưa ra quyết định nạo phá thai, bệnh viện yêu cầu bệnh nhân và người nhà bỏ thời gian xem: quá trình hình thành và phát triển kỳ diệu của 1 đứa trẻ, những bước khi tiến hành nạo phá thai ,… đồng thời có sự tư vấn trực tiếp từ đó có thể đưa ra lựa chọn cho bản thân và quyết định tương lai của bào thai.
Giai đoạn 3: Giai đoạn thai nhi qua tuần 24: Việc quy định pháp luật ở giai đoạn này theo quan điểm của cá nhân tôi: Cần thay đổi theo hướng không cho phép nạo phá thai, ngoại trừ trường hợp thai nhi ở trong bụng mẹ đã không còn sự sống. (Nói cách khác: một đứa trẻ khi đã sang giai đoạn này nếu nó có tách rời người mẹ, với sự phát triển của y học hiện đại vẫn có được cơ hội sống sót như những cá thể người bình thường. Vì vậy chúng ta không thể tự ý tước đi sinh mệnh của nó ). Trong quá trình tìm hiểu, có rất nhiều vụ việc những bào thai đã 24-25 tuần khi tiến hành thủ thuật phá trai bằng cách: Dùng phương pháp Kovac’s (nong cổ tử cung ra, đặt một ống nhựa hoặc túi cao su và bơm nước vào, kích thích chuyển dạ đẻ non bằng túi ối giả). Những thai nhi bị ép buộc sinh ra vẫn thoi thóp sống một thời gian ngắn. Mặt khác sử dụng biện pháp này sẽ gây nguy hiểm rất lớn đến người mẹ. Do đó, ở giai đoạn cuối này, ngoại trừ trường hợp đứa trẻ bị chết lưu, còn lại trong tất cả tình huống khác kể cả khi trẻ bị : dị tật, down,… vẫn cần phải đảm bảo cuộc sống cho chúng. Và để giảm thiểu tình huống này, cần có tạo điều kiện tối đa cho thai phụ có cơ hội đi khám thai, xét nghiệm ở ngay những tuần đầu tiên.
- Bên cạnh đó cần quy định những vấn đề khác: Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật và trình độ chuyên môn của bác sĩ tại các cơ sở nạo phá thai.
Trình tự thủ tục bắt buộc đối với tất cả các trường hợp nạo phá thai. Chúng ta không thể để tình trạng cứ ai có nhu cầu là có thể đi nạo phá thai mà không cần trình tự thủ tục hay việc làm thủ tục đơn giản sơ sài như tại các cơ sở tư nhân như ngày nay được. Cần có quy định cụ thể, sự kiểm soát thực sự chặt chẽ với các cơ sở nạo phá thai tư nhân.
Ban hành quy định bắt buộc và các bước thanh tra kiểm tra chặt chẽ đối với cơ sở tư nhân, để giảm thiểu tối đa tình trạng NPT trái phép đang lan tràn hiện nay.
Bên cạnh đó, cần có những giải pháp hiệu quả để việc ban hành luật phải đi kèm với việc áp dụng pháp luật đó chính là vấn đề căn bản nhất mà chúng ta vẫn chưa giải quyết được.
Văn hóa xã hội: Đẩy mạnh tuyên truyền, tiến đến xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu. Mặt khác, tạo điều kiện về lao động, giáo dục, kinh tế, Bảo hiểm,… cho những bà mẹ đơn thân có thể tự mình nuôi con.
Đối với quan niệm trọng nam khinh nữ cần được lọai bỏ bởi đây là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng NPT lựa chọn giới tính hiện nay. Bên cạnh đó cần có chính sách KHHGĐ phù hợp, giúp cho cuộc sống mỗi gia đình được cải thiện. Đồng thời chúng ta cần thay đổi, xóa bỏ những hủ tục những cái nhìn lạc hậu những kì thị đối với hiện tượng có thai trước hôn nhân, thậm chí tạo điều kiện tối đa thuận lợi cho những bà mẹ đơn thân có thể có điều kiện sinh và nuôi con. Đối tượng cần được tuyên truyền giáo dục không chỉ có những thanh thiếu niên trong độ tuổi sinh đẻ mà ngay cả với bố mẹ họ. Việc tuyên truyền giáo dục này cần tiến hành trên tất cả các mặt: Từ giáo dục trong nhà trường đến truyền thông tại các xóm xã phường, trên các phương tiện truyền thông, internet,…
- Giáo dục: Giáo dục, tuyên truyền, vận động về các nội dung liên quan
Đẩy mạnh các biện pháp tuyên truyền, giáo dục về giới tính cho người chưa thành niên, tuyên truyền về các biện pháp tranh thai, tình dục an toàn,.. tuyên truyền phổ biến và giáo dục ý thức đối với mọi tầng lớp nhân dân đặc biệt là đối với giới trẻ biết trân trọng chính bản thân mình cũng chính là trân trọng mầm sống mà họ đã đang và sẽ mang. Lồng ghép trong nội dung giáo dục nên đưa thêm cả phần về thai nhi, xác định về quyền cho mầm sống mới này, từ đó nâng cao hiệu biết cho người dân, đặc biệt giới trẻ có thêm hiểu biết về khía cạnh đặc biệt về quyền sống này.
Bên cạnh đó, có thể đưa ra những biện pháp trực tiếp gây ảnh hưởng đến người mẹ thông qua các giác quan, trực quan sinh động như: chiếu phim về quá trình NPT, tư vấn bác sỹ,… giúp cho người phụ nữ có thể đưa ra quyết định đúng đắn nhất. Tuy nhiên, “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, chúng ta cần đưa ra những biện pháp thiết yếu để giảm thiểu nhu cầu nạọ phá thai tại Việt Nam ? Hoặc có sự hỗ trợ về kinh tế đối với những bà mẹ đơn thân ,… Theo đó, nhằm làm giảm thiểu nhu cầu phá thai tại Việt nam, tránh thai ngoài ý muốn một cách hiệu quả cần trở thành một trọng tâm của chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản. Xây dựng kế hoạch cho: Bốn mức độ can thiệp nhằm giảm nhu cầu phá thai và phòng tránh phá thai không an toàn cần được xem xét đến bao gồm: Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Mức độ I : Khuyến khích vị thành niên và thanh niên chưa có gia đình có một tình yêu trong sáng và không có quan hệ tình dục /quan hệ tình dục lành mạnh, có sự phòng ngừa trước hôn nhân. Đây là một điểm mạnh của nền văn hóa truyền thống Việt Nam tuy vậy trong trào lưu hòa nhập văn hóa quốc tế đây không phải là một công việc dễ dàng và rất cần có sự tham gia của gia đình, nhà trường, các đoàn thể, cộng đồng và xã hội.
Mức độ II: Giảm có thai ngoài ý muốn thông qua:
- Tăng cường kiến thức, thái độ và kỹ năng về phòng tránh thai ngoài ý muốn cho cả nam và nữ giới, cả người đã có gia đình và chưa có gia đình.
- Tăng cường đáp ứng nhu cầu: tăng tiếp cận dịch vụ tránh thai, quan tâm đến mọi đối tượng có nhu cầu (không chỉ các cặp vợ chồng).
- Giảm tỉ lệ thất bại của BPTT: tăng chất lượng dịch vụ tránh thai, đặc biệt là tư vấn.
- Đa dạng hóa các BPTT, tăng tỉ lệ sử dụng các BPTT hiện đại và có hiệu quả cao.
Mức độ III: Các biện pháp tránh thai khẩn cấp: Các BPTT khẩn cấp bao gồm thuốc viên tránh thai khẩn cấp và đặt vòng tránh thai áp dụng sau tình dục không an toàn. Các BPTT khẩn cấp có thể sử dụng cho các đối tượng có sinh hoạt tình dục không thường xuyên như vị thành niên, thanh niên trẻ và nữ công nhân xa gia đình hoặc có chồng công tác xa hoặc những trường hợp sử dụng BPTT hàng ngày thất bại như thủng hoặc quên mang bao cao su, quên uống thuốc…
Mức độ IV: Cung cấp dịch vụ phá thai an toàn: Tất cả các biện pháp tránh thai dù là hiệu quả cao vẫn có một tỉ lệ thất bại nhất định. Vì vậy cung cấp dịch vụ phá thai an toàn nhằm đáp ứng nhu cầu phá thai là giải pháp nhằm giảm thiểu những nguy cơ do phá thai không an toàn gây ra. Dưới đây là những điểm cần được lưu tâm trong cung cấp dịch vụ phá thai an toàn:
- Hạn chế các rào cản đối với dịch vụ phá thai an toàn bao gồm: các quy định, thủ tục hành chính, thái độ của người cung cấp dịch vụ và giá cả dịch vụ. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
- Khuyến khích phụ nữ có nhu cầu phá thai tiếp cận dịch vụ sớm, hạn chế phá thai lớn.
- Áp dụng các kỹ thuật phá thai an toàn và cập nhật.
- Quản lý, giám sát chất lượng dịch vụ phá thai trong hệ thống y tế bao gồm cả y tế công lập và y tế tư nhân.
- Cung cấp dịch vụ tránh thai sau phá thai, tránh phá thai lặp lại.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, các giá trị văn hóa, gia đình và xã hội cũng có nhiều thay đổi mà một trong những hệ quả không mong muốn của nó là tình trạng có thai ngoài ý muốn của vị thành niên và thanh niên chưa có gia đình tăng cao. Để giảm thiểu nhu cầu phá thai trong đối tượng này, ngoài những chính sách hỗ trợ chúng ta còn cần có một môi trường thân thiện của gia đình, nhà trường, các đoàn thể, cộng đồng và các cơ sở y tế. Những môi trường thân thiện này sẽ giúp vị thành niên và thanh niên trẻ cởi mở và có thể tiếp cận những thông tin và dịch vụ SKSS bao gồm cả những thông tin và dịch vụ tránh thai và phá thai an toàn.
- Tiểu kết Chương 2
Trong chương 2, Tác giả đã đề cập đến các quy định cụ thể của pháp luật Việt nam về vấn đề nạo phá thai để chứng minh cho nhận định: Quy định pháp luật của Việt Nam về vấn đề nạo phá thai theo yêu cầu. Các quy định này chỉ hướng đến bảo vệ một số quyền (rất ít) của thai nhi mà không thừa nhận nó. Bên cạnh đó các quy định pháp luật còn xoay quanh vấn đề quy định cho các cơ sở y tế, các biện pháp NPT và những quy định cấm cụ thể đối với NPT chọn giới tính,…
Trên cơ sở thực trạng nạo phá thai ở Việt nam từ các số liệu lấy được, đồng thời phân tích những hạn chế của pháp luật về NPT của Việt nam hiện nay, từ đó đề xuất phương hướng, các bước đi cụ thể nhằm giải quyết vấn đề chung: nên hay không nên cho phép NPT? Các biện pháp được đề xuất không chỉ ở trên một lĩnh vực mà dàn trải ra rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ đó tạo nên khung pháp lý toàn diện, vững chắc nhằm giảm bớt dần tỉ lệ NPT và tình trạng NPT không an toàn đồng thời bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người mẹ.
KẾT LUẬN Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
Quyền sống của thai nhi là một vấn đề đặc biệt rất mới trên thế giới và ở Việt Nam, do vậy, khi bám vào thành quả của khoa học, những tranh luận từ phía tôn giáo, triết học, dư luận và quy định pháp luật trên thế giới, luận văn đã hệ thống được những quan điểm còn gây tranh cãi về vấn đề quyền sống của thai nhi, từ đó làm cơ sở so sánh đối chiếu với quan điểm, hệ thống quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Trên thực tế thông qua những số liệu thu thập được có thể thấy Việt Nam đang trong tình trạng báo động về vấn đề nạo phá thai, đặc biệt là trong lớp trẻ khi mà những quy định về nạo phá thai vẫn chưa có sự định hướng cụ thể và vẫn được Nhà nước thực hiện theo yêu cầu của người dân. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: văn hóa, xã hội, giáo dục… đòi hỏi chúng ta cần có sự thay đổi một cách triệt để, nhằm hạn chế những hậu quả đáng tiếc do thảm nạn nạo phá thai đem lại, tạo dựng cho thế hệ trẻ tương lai những hiểu biết sâu rộng về vấn đề này, từ đó có thể tự làm chủ được bản thân. Sự thay đổi này cần được xuất phát điểm từ luồng tư tưởng của Nhà nước về xuất phát điểm của con người, việc xác định quyền cơ bản cho thai nhi (trong đó có quyền sống). Tư đó đinh hướng cụ thể những quy định về Hình sự, dân sự, chính sách dân số, về y tế, giáo dục… giúp nâng cao sự hiểu biết của người dân đặc biệt trong giới trẻ, giảm thiểu tỉ lệ nạo phá thai, và những rủi ro trong quá trình nạo phá thai không an toàn./ Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền sống của thai nhi ở Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quyền sống của thai nhi theo pháp luật về phá thai

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
