Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong đổi mới giáo dục hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Giáo dục có vị trí vô cùng quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, là nhân tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực. GD góp phần đào tạo nguồn nhân lực với trình độ cao, tích lũy nguồn trí tuệ để đổi mới sản xuất, nâng cao năng suất lao động, phát triển các hoạt động dịch vụ, … Vì vậy, việc đầu tư cho GD để nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực cần phải được ưu tiên hàng đầu.

Trong chiến lược phát triển giáo dục, việc chú trọng đổi mới công tác quản lý giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý luôn được Đảng và Nhà nước coi là khâu trọng tâm hàng đầu. Để thực hiện mục tiêu đổi mới trong giáo dục hiện nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phát triển giáo dục nhằm tạo ra những chuyển biến về chất lượng đào tạo: Quyết định số 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020”; Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng nhấn mạnh “Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng”.

Trong số những công tác quản lý cần chú trọng ở các trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên (GDNN – GDTX) thì việc tăng cường quản lý hoạt động của tổ chuyên môn (TCM) là vô cùng cần thiết. Bởi vì trong các trung tâm GDNN – GDTX nói riêng cũng như trong nhà trường nói chung, công tác chuyên môn là hoạt động quan trọng, chủ yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của đơn vị. TCM là một bộ phận cấu thành trong bộ máy tổ chức, quản lý của trung tâm GDNN – GDTX, là cơ sở gắn bó với người giáo viên, nơi thực thi trực tiếp nhiệm vụ dạy học và giáo dục học sinh. Trong trung tâm, các tổ, nhóm chuyên môn có mối quan hệ hợp tác với nhau, phối hợp với các bộ phận nghiệp vụ khác nhằm thực hiện chiến lược phát triển của nhà trường, chương trình giáo dục và các hoạt động khác, hướng tới mục tiêu giáo dục. Tổ chuyên môn cũng là nơi người giáo viên có thể chia sẻ mọi tâm tư, nguyện vọng cũng như những vấn đề có liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ, tâm tư nguyện vọng của cá nhân.

Hoạt động của TCM ở trung tâm GDTX là một yêu cầu bắt buộc và hết sức cần thiết, là một quy định trong Quyết định 01/QĐ-BGDĐT năm 2007 của Bộ GDĐT – Ban hành Quy chế hoạt động của trung tâm GDTX. Quản lý TCM, nhất là về chuyên môn nghiệp vụ, việc thực hiện kế hoạch giảng dạy của giáo viên trong tổ sẽ phản ánh được các mặt hoạt động chuyên môn của nhà trường về chất lượng giáo dục và các mặt hoạt động khác. Nâng cao chất lượng hoạt động TCM trong các trung tâm GDNN – GDTX sẽ phát huy được tinh thần nỗ lực sáng tạo của giáo viên trong tập thể sư phạm, tính đoàn kết nội bộ, năng lực điều hành hoạt động của tổ trưởng tổ chuyên môn cũng được nâng cao, đồng thời tạo một động lực thôi thúc giáo viên trong các TCM phát huy nhiều sáng kiến, kinh nghiệm của mình trong lĩnh vực giảng dạy và giáo dục. Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Mặt khác, TCM có vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại chỗ thông qua hoạt động dự giờ, trao đổi rút kinh nghiệm các tiết dạy, sinh hoạt chuyên đề, thao giảng, hội giảng để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy và học nói riêng.

Quản lý hoạt động TCM ở các trung tâm GDNN – GDTX nhằm từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập trong các trung tâm là vấn đề quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, khi toàn ngành giáo dục đang thực hiện đổi mới nội dung chương trình giáo dục tổng thể, đổi mới sách giáo khoa, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá nhằm phát huy năng lực chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh.

Thực tế hiện nay cho thấy, hoạt động chuyên môn của TCM đang là một hoạt động thiết yếu, chủ lực cho tất cả hoạt động giáo dục. Vai trò quản lý của tổ trưởng đã góp phần không ít vào việc nâng cao chất lượng hoạt động của tổ. Mọi công tác chuyên môn đã được bàn bạc, thống nhất và đi đến việc thực hiện đều qua các sinh hoạt giữa các thành viên trong tổ, nhằm đảm bảo hiệu quả đúng theo mọi tiến độ của kế hoạch năm học đã được xây dựng.

Để thực hiện chủ đề “Đổi mới thực chất – Hiệu quả nâng cao”; tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”…, các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã quyết tâm dạy tốt, học tốt, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ và đã phần nào nâng cao được chất lượng dạy học. Hoạt động của TCM tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã được thực hiện khá tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

Tuy nhiên, để đáp ứng được yêu cầu đổi mới “căn bản, toàn diện” của giáo dục hiện nay thì hoạt động này vẫn còn bộc lộ nhiều vấn đề cần phải thay đổi. Đó là những điều kiện cung ứng cho nhu cầu con người và hoạt động còn nhiều mâu thuẫn; Công tác quản lý TCM trong nhiều năm chưa được đề cập tới trong lý luận quản lý; Tổ trưởng chuyên môn – người trực tiếp quản lý tổ chuyên môn trong các trung tâm không được đào tạo quản lý một cách bài bản, chủ yếu còn quản lý theo hướng dẫn của người đi trước, chưa phát huy hết vai trò của mình. Việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn còn mang tính hình thức, chưa thật sự có chất lượng; nội dung sinh hoạt chưa phong phú, hình thức còn đơn điệu, chưa thực sự chú trọng đến việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng đổi mới. Ngoài ra, các giải pháp quản lý của Giám đốc chưa đạt mục đích yêu cầu, các điều kiện phục vụ cho hoạt động của tổ chuyên môn chưa thực sự đảm bảo… Vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ đặt ra của các cấp, của ngành thì trước hết phải thực hiện tốt công tác quản lý hoạt động của TCM.

Trong những năm qua, có nhiều đề tài khoa học đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THPT, THCS. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về việc quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương, một loại hình giáo dục với những đặc thù riêng.

Là cán bộ quản lý trong nhiều năm phụ trách chuyên môn về giáo dục thường xuyên tôi luôn trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, vì thế bản thân tôi đã chọn đề tài: “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm Giáo dục nghề nghiệp

Giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong đổi mới giáo dục hiện nay” làm luận văn của mình nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý hoạt động của tổ chuyên môn trong trung tâm GDNN – GDTX.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và phân tích thực tiễn công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương, đề tài sẽ đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm nhằm nâng cao chất lượng dạy học của loại hình GDTX.

3. Khách thể và đối tượng

3.1. Khách thể nghiên cứu

Hoạt động của tổ chuyên môn tại các trung tâm GDNN – GDTX.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

4. Giả thuyết khoa học

Công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện còn có những hạn chế và bất cập trong xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động, sinh hoạt tổ chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học cũng như công tác kiểm tra đánh giá hoạt động của tổ chuyên môn. Điều này do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan trong công tác quản lý ở trung tâm GDNN-GDTX. Chất lượng và hiệu quả giáo dục trong các trung tâm GDNN – GDTX sẽ được nâng lên nếu cán bộ quản lý có các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn một cách đúng đắn và phù hợp.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hoá lý luận về quản lý hoạt động TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX.

Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động TCM của giám đốc tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động TCM của giám đốc tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

6. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

6.1. Về nội dung

Hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm GDNN – GDTX gồm 2 mảng khác nhau. Đó là, hoạt động GDNN và GDTX. Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn dạy chương trình GDTX dưới sự chỉ đạo, điều hành của giám đốc trung tâm.

6.2. Về địa bàn

Đề tài khảo sát thực trạng quản lý hoạt động của TCM ở 6 trung tâm GDNN

  • GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Cụ thể là:
  • Trung Tâm GDNN – GDTX Thị xã Thuận An
  • Trung Tâm GDNN – GDTX Thị xã Dĩ An
  • Trung Tâm GDNN – GDTX Thị xã Tân Uyên
  • Trung Tâm GDNN – GDTX Thị xã Bến Cát
  • Trung Tâm GDNN – GDTX Huyện Phú Giáo
  • Trung Tâm GDNN – GDTX Huyện Dầu Tiếng

6.3. Về thời gian

Đề tài thực hiện khảo sát thực trạng trong các năm học 2016 – 2017, 2017 – 2018).

7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp luận

7.1.1. Quan điểm hệ thống – cấu trúc

Vận dụng quan điểm hệ thống – cấu trúc vào nghiên cứu đề tài, xem xét quản lý hoạt động TCM là một bộ phận của công tác quản lý nhà trường. Quản lý TCM là quá trình thực hiện các nội dung QL hệ thống với các bộ phận hợp thành: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu, nội dung, chức năng, phương pháp, quy trình có liên quan với nhau. Chủ thể quản lý với mục tiêu được xác định trong xây dựng văn hóa nhà trường, thực hiện các nội dung và chức năng QL bằng các biện pháp quản lý cụ thể tác động vào đối tượng QL để đạt được kết quả.

7.1.2. Quan điểm lịch sử – logic

Quan điểm lịch sử được người nghiên cứu vận dụng để đánh giá thực trạng hoạt động của TCM và quản lý hoạt động TCM tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong bối cảnh phát triển giáo dục của tỉnh. Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Quan điểm logic được người nghiên cứu vận dụng vào việc sắp xếp cấu trúc của đề tài theo logic nghiên cứu: Lý luận là cơ sở, làm nền tảng và soi đường cho việc nghiên cứu thực tiễn; đề tài đặt ra giả thuyết nghiên cứu có tính chất phỏng đoán; việc nghiên cứu thực trạng nhằm tìm kiếm bằng chứng để chứng minh cho giả thuyết; nếu giả thuyết được chứng minh, giả thuyết sẽ trở thành kết luận của đề tài.

7.1.3. Quan điểm thực tiễn

Dựa theo quan điểm này, người nghiên cứu tiến hành khảo sát, phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương để biết được những khó khăn, hạn chế và những biện pháp đã thực hiện quản lý hoạt động TCM cũng như nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, hạn chế đó là gì, từ đó đề ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động TCM sinh tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn Tỉnh.

7.2. Phương pháp nghiên cứu

7.2.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa tài liệu nhằm xác định các khái niệm và cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu.

7.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1. Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm của hoạt động giáo dục

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến QL hoạt động TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương: Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học, báo cáo tổng kết năm học, hồ sơ QL tổ chuyên môn, …

7.2.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Thiết kế bảng hỏi dành cho Giám đốc, phó Giám đốc, TTCM và một số GV của các trung tâm nhằm khảo sát thực trạng hoạt động TCM, thực trạng công tác QL hoạt động TCM tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương và tính khả thi của các biện pháp đề tài đề xuất.

7.2.2.3. Phương pháp phỏng vấn

Trao đổi, xin ý kiến của cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên về việc QL hoạt động TCM của Giám đốc trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương để khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề tài đề xuất.

7.2.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Sử dụng phần mềm SPSS 20 để xử lý và phân tích các số liệu từ các bảng hỏi thu thập được. Từ đó rút ra những kết luận, những so sánh.

8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động của TCM tại các trung tâm GDNN – GDTX.

Về thực tiễn: Nhận xét, đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý hoạt động của TCM tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động của TCM tại các trung tâm GDNN – GDTX hiệu quả nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của địa phương.

9. Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục.

Nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành ba chương như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại trung tâm
  • Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP – GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu biện pháp QL hoạt động CM của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng DH của GV là một vấn đề khó khăn, phức tạp và cơ bản. Vì thực chất công tác QL trường học của Hiệu trưởng chủ yếu là QL hoạt động CM với mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng DH của GV.

Việc nâng cao chất lượng DH trong các nhà trường đã từ lâu trở thành vấn đề quan tâm của các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển GDĐT của xã hội, nâng cao chất lượng giảng dạy, vai trò đóng góp của các biện pháp là hết sức quan trọng. Đây là vấn đề luôn được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm. Từ nghiên cứu thực tiễn các nhà trường để tìm ra biện pháp QL hoạt động TCM sao cho hiệu quả nhất.

Từ những năm 50 của thế kỷ XX, trong hàng loạt công trình nghiên cứu có tính hàn lâm của các nhà khoa học Liên Xô cũ đã xuất hiện nhiều đề tài về những khía cạnh khác nhau của QLGD. Năm 1956 lần đầu xuất hiện cuốn “Quản lý trường học” của tác giả A.Pôpốp, một nhà sư phạm và QLGD của Liên Xô cũ. Cuốn sách này về thực chất không phải là một công trình khoa học về QLGD mà là cả một tập hợp khá hoàn chỉnh các chỉ dẫn cho hoạt động thực tiễn của những người làm công tác QLGD, đặc biệt là quản lý trường học học trong đó có quản lý hoạt động dạy học [34].

Trong quá trình phát triển GD Xô Viết (cũ), nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đã lần lượt cho ra đời những tài liệu vừa có tính khoa học vừa có tính thực tiễn về QL hai quá trình sư phạm chủ yếu diễn ra trong nhà trường: QL quá trình DH (trong đó có QL hoạt động DH) và QL quá trình GD. Các nhà nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn xuất sắc của Liên Xô cũ đã dày công nghiên cứu những vấn đề về QLGD, thể hiện cụ thể trong các tác phẩm xuất bản vào những năm 70. Điển hình là tác giả M.I Kondakop [28].

Viện Quản lý và Kinh tế Giáo dục thuộc Viện Hàn lâm sư phạm (Liên Xô cũ) đã tổng kết những thành tựu hay về quản lý trường học trong nhiều năm, trình bày những quan điểm mới nhất về QLGD nói chung và QL hoạt động DH nói riêng của các học giả Liên Xô (cũ) vào năm 1987 [43] Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Như vậy, các nhà nghiên cứu QLGD Xô Viết đã cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động QL của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ GV”. Đó chình là QL hoạt động DH.

Nhà quản lý V.A.Xukhomlinxki với kinh nghiệm 26 năm làm Hiệu trưởng (V.A.Xukhomlinxki – Một số kinh nghiệm lãnh đạo của Hiệu trưởng THPT), đã tổng kết được những thành công cũng như thất bại của mình. Cùng với nhiều tác giả khác, ông đã đưa ra một số biện pháp QL của nhà trường như sau: Việc phân công công việc hợp lý cho các thành viên trong Ban giám hiệu, hiệu trưởng và phó hiệu trưởng phụ trách CM, TTCM. Các tác giả nhấn mạnh sự phối hợp chặt chẽ, sự thống nhất QL giữa hiệu trưởng và phó hiệu trưởng phụ trách CM và TTCM để đạt mục tiêu đề ra. Các tác giả đều khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện của hiệu trưởng.

Trong những trang viết của mình, V.A.Xukhomlinxki cũng như các tác giả V.Pxtrezicodin, Gigoocscaia, Zakhonop… đều cho rằng một trong những chức năng chính của hiệu trưởng nhà trường là phải xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ GV, phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong lao động và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm của mình. Muốn xây dựng đội ngũ GV có trình độ CM, tâm huyết với nghề, người hiệu trưởng phải có quyền lựa chọn đội ngũ GV cho trường mình, đó là những người yêu trẻ, phải biết giao tiếp với trẻ, nắm vững CM giảng dạy, nắm vững các khoa học có liên quan các môn trong nhà trường, vận dụng linh hoạt lý luận dạy học, lý luận giao tiếp, tâm lý học, … Cùng với việc xây dựng đội ngũ giáo viên, cần xây dựng đội ngũ giáo viên chủ chốt, đó chính là các tổ trưởng chuyên môn. Mỗi tổ chuyên môn là một bộ phận quan trọng của nhà trường. Từng bộ phận phát triển thì cả nhà trường mới phát triển. Vì vậy, hiệu trưởng nhà trường trường phải không ngừng trau dồi, rèn luyện nâng cao trình độ CMNV, năng lực quản lý để có thể điều hành, lãnh đạo chuyên môn với các tổ chuyên môn khác nhau có hiệu quả.

Hiệu trưởng phải biết đề ra yêu cầu nâng cao trình độ CM của từng GV trong trường. Từ đó có nội dung, hình thức tổ chức bồi dưỡng cho phù hợp. Những biện pháp bồi dưỡng có hiệu quả được các tác giả đề cấp đến là tổ chức cho GV học tập có hệ thống về triết học, kinh tế chính trị học, với các hình thức phong phú và hấp dẫn, trao đổi thông tin, triển lãm khoa học, giao lưu với GV dạy giỏi, …

Nhằm mục đích nâng cao nhận thức của GV về Chủ nghĩa Mác – Lê nin, nâng cao trình độ bộ môn mình giảng dạy, đồng thời cũng hoàn thiện tay nghề sư phạm của mình.

Môi trường làm việc trong nhà trường để GV hoàn thiện mình tốt nhất chính là tổ chuyên môn. Thông qua tổ chuyên môn GV làm việc theo nhóm trong đó đề cao tính hợp tác với nhau. Hợp tác không còn được một lựa chọn được khuyến khích nữa mà đã trở thành điều kiện cần phải có.Có nhiều tác giả đề cập đến vai trò của nhóm và lãnh đạo, quản lý nhóm. các tác giả cũng đưa ra biện pháp quản lý nhóm có hiệu quả. Có thể kể đến các tác giả như: Robert Heller (2006) với “Quản lý nhóm” [23]; Micheal Maginn (2007) với “Thúc đẩy nhóm làm việc hiệu quả” [32]. Hai cuốn sách này đều do NXB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh in ấn và phát hành. Đối với quản lý nhà trường, các tác giả K.B. Everard, Geofrey và Ian Wilson (2009) trong ấn phẩm “Quản lý trường học hiệu quả” [17] đã trình bày các nội dung về huấn luyện nhóm, xây dựng nhóm và quản lý hiệu quả hoạt động nhóm.

1.1.2. Nghiên cứu trong nước Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu chủ yếu về mặt lý luận như QL và chức năng QL, về tiêu chuẩn và phẩm chất cần có của người QL, vai trò của lãnh đạo nhà trường, về sự liên hệ giữa khoa học QL và khoa học khác. Các công trình nghiên cứu riêng về chân dung người Hiệu trưởng của các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sỹ Hồ, Lê Tuấn, Nguyễn Văn Lê, … trong các công trình đó, các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của QL trong việc thực hiện mục tiêu GD. Đặc biệt với sự tâm huyết của mình với công tác GD các tác giả đã nhấn mạnh: Hiệu trưởng phải là người “luôn biết kết hợp một cách hữu cơ sự QL dạy và học (theo nghĩa rộng) với sự QL của quá trình bộ phận, hoạt động dạy và học các môn và hoạt động khác bổ trợ cho hoạt động dạy và học nhằm làm cho tác động GD được hoàn chỉnh, trọn vẹn” [35].

Các công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Ngọc Quang, Trần Kiểm,… đã đề cập đến các vấn đề chung về QLGD, lý luận QLGD, các nội dung về quản lý TCM và các nội dung khác về QLGD. Các tác giả đã đề cập về vấn đề đội công tác trong một tổ chức. TCM là một tổ chức nằm trong nhà trường, vì vậy nghiên cứu về hoạt động TCM là nghiên cứu về vấn đề đội công tác trong tổ chức. Đây là nội dung liên quan đến vấn đề hoạt động TCM trong nhà trường THPT.

Tuy nhiên trong thực tế đội ngũ TTCM chưa có sự quan tâm thỏa đáng, chưa có tài liệu mang tính đặc thù để bổ dưỡng về công tác QL. Trước yêu cầu thực tiễn đổi mới giáo dục hiện nay, việc bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý cho cho tổ trưởng chuyên môn là vấn đề cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành kế hoạch số 242/KH-BGDĐT về việc tập huấn bồi dưỡng đội ngũ cốt cán các tỉnh, thành phố công về tác của tổ trưởng chuyên môn trong THCS, THPT với mục tiêu: Bồi dưỡng đội ngũ cốt cán cấp tỉnh, thành phố về kiến thức kỹ năng công tác tổ trưởng chuyên môn trường THCS, THPT; Hướng dẫn đội ngũ cốt cán cấp tỉnh thành phố tiếp tục triển khai bồi dưỡng cho giáo viên làm công tác tổ trưởng chuyên môn ở các trường THCS, THPT.

Thực hiện kế hoạch trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai tổ chức xây dựng tài liệu tập huấn với tiêu đề: “Tài liệu tập huấn tổ trưởng chuyên môn trong trường trung học cơ sở, trung học phổ thông”. Tài liệu gồm 4 chuyên đề:

  • Chuyên đề 1: Những vấn đề chung về quản lý tổ chuyên môn trong trường trung học .
  • Chuyên đề 2: Tổ chuyên môn với công tác quản lý hoạt động dạy học trong trường trung học.
  • Chuyên đề 3: tổ trưởng chuyên môn với công tác quản lý phát triển chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên trường trung học.
  • Chuyên đề 4: Xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn.

Các chuyên đề nêu trên cố gắng bao quát kiến thức, kỹ năng quản lý chủ yếu của TTCM ở trường trung học. Tài liệu được trình bày đan xen, kết hợp giữa lý thuyết và tổ chức hoạt động nhằm tăng cường tối đa khả năng vận dụng, thực hành của học viên tham gia tập huấn [7]. Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương đổi mới sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường. Thực hiện kế hoạch số số 80/KH-BGDĐT, ngày 25 tháng 2 năm 2014 của Bộ Giáo dục và đào tạo, Cục nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục chỉ đạo tổ chức biên soạn bộ “Tài liệu tập huấn đổi mới sinh hoạt chuyên môn” gồm 2 cuốn dành cho cho cấp tiểu học và cấp trung học với sự hỗ trợ của chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục trường học (SEQAP) [10]. Cấu trúc mỗi cuốn gồm hai phần, có nội dung đảm bảo bảo tính khoa học, thiết thực và phù hợp với thực tiễn giáo dục từng cấp học của nước ta hiện nay:

Phần 1: Các kỹ năng sinh hoạt chuyên môn.

Phần 2:  Một số nội dung thực hành sinh hoạt chuyên môn.

Trong những năm gần đây, một số luận văn thạc sĩ, nhiều tác giả nghiên cứu về quản lý hoạt động TCM:

  • “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THPT thành phố Hà Đông – Tỉnh Hà Tây” của tác giả Nguyễn Thế Quang, Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục (2007) [36].
  • “Một số biện pháp quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường tiểu học thành phố Thanh Hóa” của tác giả Lê Đại Hành, Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục (2010) [21].
  • “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn của Hiệu trưởng trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hà Giang” của tác giả Triệu Thị Chính, Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục (2010) [15].
  • Quản lý hoạt động tổ chuyên môn của Trung Tâm Giáo Dục Thường 12 Xuyên Huyện Điện Biên, Tỉnh Điện Biên” của tác giả Đỗ Ngọc Quý, Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục (2015) [37].
  • “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở trường trung học phổ thông Cát Hải, Thành phố Hải Phòng” của tác giả Bùi Thị Diễm Hằng, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục (2015) [22].
  • “Thực trạng quản lý tổ chuyên môn ở các trường trung học phổ thông huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương” của tác giả Phạm Trọng Sang, Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục (2014) [40].

Nhìn chung, các nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng công tác QL hoạt động TCM, đưa ra một số biện pháp QL của Hiệu trưởng/Giám đốc trên cơ sở chỉ đạo hoạt động dạy học của TCM ở các trường THPT/trung tâm GDTX. Các biện pháp trên có các nội dung mang tính tình thế, có các nội dung mang tính lâu dài, có các biện pháp quản lý truyền thống, các biện pháp quản lý hiện đại, bước đầu khắc phục được một số hạn chế trong hoạt động của TCM ở các trường THPT và Trung Tâm GDNN – GDTX trong giai đoạn hiện nay.

Vấn đề QL hoạt động TCM là một vấn đề khó khăn, phức tạp nhưng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng DH và GD trong nhà trường. Tuy nhiên, các tác giả chưa đề cập nhiều đến các biện pháp để phát huy được vai trò, khả năng, năng lực tự chủ của TCM, các giải pháp xây dựng TCM. Đặc biệt vấn đề QL hoạt động TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương thì đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu, đề cập tới. Đề tài sẽ hệ thống hóa lý luận về quản lý hoạt động tổ chuyên môn theo các nội dung quản lý cụ thể; khảo sát và phân tích thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả đối với hoạt động tổ chuyên môn tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn Tỉnh.

1.2. Các khái niệm của đề tài

1.2.1. Quản lý

Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ, mọi quốc gia trong mọi thời đại. Quản lý trở thành nhân tố của sự phát triển, nó được biểu hiện trong mối quan hệ giữa con người với con người. Có nhiều quan niệm khác nhau về QL. Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu.

C.Mac đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ đạo điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của các khí quan độc lập với nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [13, tr.180].

Tác giả H. Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [29, tr. 327]. Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [14, tr.9].

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [35, tr.25].

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực,vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [27].

Những định nghĩa trên đây khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều gặp nhau những nội dung cơ bản, QL phải bao gồm năm yếu tố sau:

  • Phải có ít nhất một chủ thể QL là tác nhân tạo ra các tác động.
  • Khách thể QL (ít nhất có thể là một đối tượng bị QL tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể QL).
  • Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, 14 mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động cần thiết.
  • Phải có hệ thống công cụ QL cần thiết (hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật về GD và các công cụ khác, …)
  • Tác động của chủ thể phải phù hợp với khách thể, hoàn cảnh và điều kiện tự lực của mỗi đơn vị hoặc tổ chức. Tác động của chủ thể có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.

Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự QL và có người QL để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Lý luận và thực tế cho thấy QL là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác nhau như: Hành chính học, toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý và xã hội học, … Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự vận dụng tinh tế, khôn khéo để đạt tới mục đích.

Như vậy, có thể khái quát: QL là sự tác động điều hành, hướng dẫn và điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra. Sự tác động của QL phải bằng cách nào đó để người bị QL luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội.

Quản lý được quan niệm như sau: QL là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến khách thể QL (đối tượng QL) thông qua việc thực hiện các chức năng QL, nhằm đạt được mục đích của QL.

1.2.2. Quản lý giáo dục Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

1.2.2.1. Định nghĩa quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục (QLGD) là một bộ phận của quản lý xã hội. Nói đến quản lý giáo dục là nói đến quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội. Các nhà nghiên cứu giáo dục và quản lý giáo dục đã đưa ra một số quan niệm về quản lý giáo dục như sau:

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là hoạt động là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội” [27, tr.10].

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội”. [2, tr.31].

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối nguyên lý của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa, điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến bộ trạng thái về chất” [18, tr.61].

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến tới trạng thái mới của chất” [35, tr.31].

Quản lý giáo dục có nhiều cấp độ khác nhau từ vĩ mô đến vi mô, theo đó chủ thể quản lý giáo dục có đối tượng và phạm vi quản lý khác nhau nhưng đều nhằm mục đích thực hiện mục tiêu chung của hệ thống giáo dục.

Từ những cách định nghĩa trên, có thể định nghĩa: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức được định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố của hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục một cách hiệu quả.

1.2.2.2. Các chức năng quản lý giáo dục cơ bản Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Chức năng quản lý là hình thức tồn tại của các tác động quản lý. Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định. Theo Unesco thì quản lý có 4 chức năng: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.

Chức năng kế hoạch hoá (Chức năng hoạch định)

Đây là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý, là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động của cả trung tâm. Kế hoạch hoá được hiểu là một bản ghi nhận những mục tiêu cơ bản, một chương trình hành động cụ thể được hoạch định trước với nội dung công việc, thời gian, cách thức tiến hành,… Việc xây dựng kế hoạch được tiến hành nhiều bước, trước hết Giám đốc tiến hành điều tra cơ bản, tức là thu thập thông tin; tiếp đến là xử lý thông tin để từ đó dự kiến mục tiêu, chỉ tiêu, biện pháp; sau đó viết dự thảo. Tóm lại, công tác lập kế hoạch bao gồm:

  • Thu thập thông tin đầy đủ, cập nhật chính xác để làm căn cứ hoạch định kế hoạch.
  • Xác định mục tiêu, tính toán nguồn lực, dự báo kế hoạch.
  • Xây dựng kế hoạch với các bước, các phương án hành động cụ thể.

Chức năng tổ chức

Lê-Nin nói “Mọi kế hoạch tốt nhất cũng đều có thể vỡ tan tành do việc thực hiện vụng về và đần độn”. Vì vậy, tổ chức thực hiện kế hoạch là chức năng quan trọng, nó là thước đo năng lực điều hành hoạt động giáo dục của Giám đốc trung tâm.

Giám đốc quản lý kế hoạch chung, từ đó cụ thể hóa, chi tiết hóa thành chương trình hành động; từ chỉ tiêu chung toàn Trung tâm thành chỉ tiêu bộ phận; từ kế hoạch toàn Trung tâm thành kế hoạch tổ chuyên môn, các tổ chức đoàn thể, cá nhân,… Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Tổ chức thực hiện hoạt động giảng dạy của Giám đốc là hướng tới mọi thành viên của trung tâm, nhằm biến những yêu cầu chung về hoạt động giảng dạy của Trung tâm thành nhu cầu hoạt động của từng người. Trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác tham gia và đem hết khả năng của mình thực hiện tốt công việc.

Chức năng chỉ đạo (điều khiển)

Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, Giám đốc phải chỉ đạo cho quá trình hoạt động nhằm đạt mục tiêu đề ra. Chức năng chỉ đạo là các phương thức tác động của Giám đốc đến cán bộ, giáo viên, học viên trong Trung tâm nhằm đưa Trung tâm vận hành theo kế hoạch. Giám đốc phải là người có kỹ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định.

Trong quá trình chỉ, giám đốc trung tâm cần có năng lực quản lý tốt để thực hiện công tác quản lý theo các yêu cầu như sau:

  • Linh hoạt, sáng tạo, không quá rập khuôn cứng nhắc theo kế hoạch, có thể thay đổi kế hoạch kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế (điều chỉnh).
  • Thường xuyên liên kết, động viên, khuyến khích và giám sát mọi người và các bộ phận thực hiện tốt kế hoạch theo sự sắp xếp đã được định trong bước tổ chức.
  • Tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất và trang thiết bị, cũng như các điều kiện khác để đảm bảo cho các hoạt động giảng dạy của Trung tâm.

Chức năng kiểm tra

Chức năng kiểm tra – đánh giá là nhằm xem xét, đánh giá quá trình hoạt động sư phạm trong trung tâm, xem xét các hoạt động có bám sát các mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch hay không; có định hướng vào mục đích cuối cùng không. Kiểm tra nhằm phát hiện kịp thời các sai sót trong quá trình vận hành để có biện pháp điều chỉnh kịp thời. Kiểm tra giữ vai trò là kênh thông tin ngược về hiệu quả các quyết định quản lý.

Các chức năng trên có mối quan hệ mật thiết, lập thành chu trình quản lý. Trong quá trình vận hành, tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin. Thông tin là căn cứ để hoạch định kế hoạch, thông tin là chất liệu tạo mối quan hệ giữa các bộ phận trong Trung tâm, thông tin chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn biến hoạt động của trung tâm; thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp giám đốc xem xét mức độ đạt mục tiêu của trung tâm.

1.2.3. Quản lý nhà trường Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác giáo dục và đào tạo. Nó chịu sự quản lý trực tiếp của các cấp QLGD, đồng thời nhà trường cũng là một hệ thống độc lập, tự quản. Việc quản lý nhà trường phải nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và phát triển nhà trường. Có nhiều khái niệm về quản lý nhà trường, cụ thể:

Theo tác giả Trần Kiểm:“Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, là nơi thực hiện chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cho một nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm xã hội, thực hiện chức năng tạo nguồn cho các yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai” [27].

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [18, tr.17].

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác , cũng như huy động tối đa cấp nguồn lực của giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường” [44, tr.205].

Nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống giáo dục nên quản lý nhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của QLGD. Thực chất của quản lý nhà trường, suy cho cùng là tạo điều kiện cho các hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu, tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Như vậy, Có thể định nghĩa: “Quản lý nhà trường là quá trình tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý nhà trường đến các đối tượng quản lý trong nhà trường nhằm thực hiện được mục tiêu giáo dục của nhà trường”. Quản lý nhà trường có nhiều nội dung như: quản lý dạy học, giáo dục, quản lý cơ sở vật chất- kỹ thuật, quản lý nhân sự quản lý tài chính, quản lý hoạt động tổ chuyên môn,…

1.2.4. Tổ chuyên môn

Trong Quy chế hoạt động của Trung tâm GDTX không đề cập đến TCM. Do đó hoạt động của TCM tại các Trung Tâm GDNN-GDTX được thực hiện theo Điều lệ trường THCS, THPT và trường THPT có nhiều cấp học. Tại Khoản 1 Điều 16, Điều lệ trường THCS, THPT và trường THPT có nhiều cấp học, ban hành theo Thông tư số 12/2011/TT/-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: “Hiệu trưởng, các phó Hiệu trưởng, GV, viên chức thư viện, viên chức thiết bị thí nghiệm của trường trung học được tổ chức thành TCM theo môn học hoặc nhóm môn học”. Mỗi TCM có tổ trưởng, từ 1 đến 2 tổ phó chịu sự QL, chỉ đạo của Hiệu trưởng, do Hiệu trưởng bổ nhiệm và giao nhiệm vụ vào đầu mỗi năm học [5, tr.10].

Như vậy theo qui định của Điều lệ có thể hiểu: TCM là một bộ phận của nhà trường, gồm một nhóm GV (từ 3 người trở lên) cùng giảng dạy về một môn học hay một nhóm môn học hay một nhóm viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục, tư vấn học đường,… được tổ chức lại để cùng nhau thực hiện các nhiệm vụ theo qui định tại khoản 2 điều 16 của Điều lệ nhà trường.

1.2.5. Hoạt động tổ chuyên môn Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Hoạt động TCM trong Trung Tâm GDNN – GDTX áp dụng theo quy định tại khoản 1, 2, điều 16 Điều lệ trường trung học:

  • Tổ chuyên môn là một bộ phận cấu thành trong bộ máy tổ chức, QL của nhà trường. Trong trường, các TCM có mối quan hệ hợp tác với nhau, phối hợp với các bộ phận nghiệp vụ và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường nhằm thực hiện chiến lược phát triển của nhà trường, chương trình GD và các hoạt động hướng tới mục tiêu GD.
  • Tổ chuyên môn là nơi trực tiếp triển khai các hoạt động của nhà trường, trong đó trọng tâm là hoạt động GD và DH.
  • Tổ chuyên môn là đầu mối QL mà Hiệu trưởng/Giám đốc nhất thiết phải tập trung dựa vào đó để QL nhà trường trên nhiều phương diện, nhưng cơ bản nhất là hoạt động GD, DH và hoạt động sư phạm của GV.
  • Đặc biệt, TCM là nơi tập hợp, đoàn kết, tìm hiểu nắm vững tâm tư, tình cảm và những khó khăn trong đời sống của GV trong tổ, kịp thời động viên, giúp đỡ GV hoàn thành tốt nhiệm vụ của người GV trong trường trung học.
  • Tổ chuyên môn là đơn vị QL hành chính nhỏ nhất của nhà trường. Đứng đầu các tổ là tổ trưởng, giúp việc cho tổ trưởng là tổ phó. Tổ trưởng và tổ phó do hiệu trưởng/giám đốc ra quyết định bổ nhiệm và miễn nhiệm.
  • Tổ chuyên môn trong nhà trường có nhiệm vụ: Xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây dựng và QL kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch DH, phân phối chương trình và các hoạt động GD khác của nhà trường; tổ chức bồi dưỡng CM và nghiệp vụ; tham gia đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo quy định của Chuẩn nghề nghiệp GV trung học và các quy định khác hiện hành; tổ chức cho GV NCKH, viết chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm; hướng dẫn HS tập NCKH; giới thiệu tổ trưởng, tổ phó; đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với GV.
  • Hoạt động TCM là hoạt động quan trọng nhất trong trường học, hoạt động này có vai trò quyết định đến chất lượng GD của nhà trường, hoạt động của TCM hàng năm phải bám sát nội dung, chương trình dạy học theo quy định của Bộ Giáo dục, Sở Giáo dục và của nhà trường. Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương
  • Hoạt động của TCM trong trường học gồm: Tổ chức hoạt động giảng dạy của GV trên lớp theo phân phối chương trình của Bộ GDĐT; tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực cho HS khá, giỏi và phụ đạo HS yếu, kém theo quy định của Bộ GDĐT, Sở GDĐT và nhà trường; tổ chức các hoạt động đổi mới PPDH để nâng cao chất lượng DH của nhà trường; tổ chức theo dõi, đánh giá hoạt động tự bồi dưỡng hoặc chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm trong sinh hoạt CM; ngoài hoạt động CM các thành viên trong TCM còn tham gia các công tác khác như: Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên, công tác chủ nhiệm …

Như vậy có thể quan niệm: Hoạt động TCM là quá trình tiến hành thao tác có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của các thành viên trong tổ dưới sự QL, giám sát, điều hành của TTCM, Lãnh đạo đơn vị, nhằm thực hiện kế hoạch của nhà trường để đạt được mục tiêu GD mà nhà trường đã đề ra.

1.2.6. Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn tại các trung tâm GDNN- GDTX

Tổ chuyên môn là cấp QL đầu tiên hay QL cấp cơ sở trong các trung tâm. TCM thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và thực hiện kế hoạch sinh hoạt chung của tổ, hướng dẫn và QL kế hoạch cá nhân của các tổ viên theo kế hoạch chung của trung tâm để đảm bảo chất lượng GD theo các mục tiêu đã đề ra. Ở đây cũng chính là nơi tiến hành các hoạt động đổi mới để nâng cao chất lượng DH của GV và chất lượng học tập của HS. Hoạt động TCM tốt giúp cho trung tâm nâng cao chất lượng dạy và học và ngược lại nếu hoạt động TCM kém hiệu quả chất lượng giảng dạy trong trung tâm sẽ không tốt.

Quản lý hoạt động TCM trong các trung tâm là một quá trình tác động từ khâu quy hoạch, kế hoạch phát triển các TCM trên cơ sở đó hình thành một hệ thống tổ “đội” công tác phù hợp, tiếp sau đó là việc quyết định bổ nhiệm các TTCM. Đội ngũ TTCM là lực lượng tham mưu, giúp giám đốc trung tâm QL thành công nhiệm vụ của TCM. Các TTCM tiếp nhận và thực hiện các nhiệm vụ chỉ đạo của nhà trường theo tinh thần thực hiện nghiêm túc kế hoạch hoạt động chung của nhà trường với trách nhiệm đảm bảo kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu đã đề ra.

Nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của trung tâm là tổ chức giảng dạy và học tập. Trong trung tâm, giám đốc QL việc giảng dạy thông qua hoạt động của TCM; QL việc học tập của HS thông qua công tác giảng dạy của GV. Hoạt động của TCM có nhiệm vụ nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy trong trung tâm. Để hoạt động của TCM có chất lượng thì giám đốc trung tâm cần tiến hành thực hiện công tác quy hoạch TCM, QL hoạt động DH, hoạt động sinh hoạt của TCM, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ TTCM đội ngũ tổ viên trong TCM.

Như vậy có thể hiểu: Quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trung tâm GDNN – GDTX là tác động có định hướng của giám đốc trung tâm đến các tổ chuyên môn (bao gồm tổ trưởng và tập thể giáo viên trong tổ chuyên môn) để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình giáo dục học sinh theo mục tiêu giáo dục.

1.3. Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên và vai trò của tổ chuyên môn trong đổi mới giáo dục hiện nay Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

1.3.1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên

1.3.1.1. Vị trí của Trung tâm GDNN – GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân

Trung tâm GDNN – GDTX là cơ sở giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên, là đơn vị sự nghiệp công lâp nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chịu sự QL, chỉ đạo trực tiếp về tổ chức biên chế của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn của sở GD&ĐT, sở LĐ – TBXH của tỉnh.

Trung tâm GDNN – GDTX có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng theo quy đinh của pháp luật.

1.3.1.2. Chức năng của Trung tâm GDNN – GDTX

Phát triển sự nghiệp GDĐT theo quy định của Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 nằm 2005 và Luật Sửá đổi, bổ sung một số điều củá Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009; Luật Giáo dục nghề nghiệp ngày 27 tháng 11 nằm 2014; Thực hiên các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế – xã hội của địa phương [31].

Thực hiện nhiệm vụ GDNN – GDTX tại địa phương, đáp ứng nhu cầu người học, từng bước xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời.

Tổ chức sản xuất, kinh doanh và dịch vụ phục vụ cho công tác đào tạo nghề để người học được thực hành nghề nghiệp tại các xưởng sản xuất của trung tâm.

1.3.1.3. Nhiệm vụ của Trung tâm GDNN – GDTX Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Theo điều 13 của Thông tư liên tịch số 39/2015/TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT-BNV, ngày 19/10/2015 về việc hướng dẫn sáp nhập Trung tâm Dạy nghề, Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp công lập cấp huyện thành Trung tâm GDNN – GDTX. Trung tâm GDNN – GDTX có nhiệm vụ: [12].

  • Tổ chức đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ ở trình độ sơ cấp, đào tạo nghề nghiệp dưới 03 tháng; đào tạo theo hình thức kèm cặp nghề, truyền nghề, tập nghề; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động trong doanh nghiệp; bồi dưỡng hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động; đào tạo nghề cho lao động nông thôn và tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 03 tháng.
  • Tổ chức thực hiện các chương trình GDTX bao gồm: Chương trình xóa mù chữ và tiếp tục sau khi biết chữ; chương trình GD đáp ứng yêu cầu người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về CM, nghiệp vụ; chương trình GD để lấy bằng của hệ thống GD quốc dân.
  • Tổ chức xây dựng và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu trình độ sơ cấp, dưới 03 tháng đối với những nghề được phép đào tạo; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ CM, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ.
  • Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh.
  • QL đội ngũ viên chức, GV và nhân viên của trung tâm theo quy định của pháp luật.
  • Tổ chức lao động sản xuất và dịch vụ kỹ thuật phục vụ đào tạo.
  • Nghiên cứu ứng dụng các đề tài khoa học về GDNN, GDTX và hướng nghiệp, thử nghiệm, ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
  • Tổ chức các hoạt động dạy và học; kiểm tra và cấp chứng chỉ theo quy định.
  • Tư vấn nghề nghiệp, tư vấn việc làm cho người học; phối hợp với các trường THCS, THPT tuyên truyền, hướng nghiệp, phân luồng học sinh.
  • Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học trong hoạt động đào tạo nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp; tổ chức cho người học tham quan, thực hành, thực tập tại doanh nghiệp.
  • Thực hiện dân chủ, công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ đào tạo nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp.
  • Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật.
  • Tạo điều kiện hoặc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho viên chức, GV và nhân viên của trung tâm được học tập, nâng cao trình độ CM, nghiệp vụ.
  • Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định.
  • Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

1.3.2. Các hoạt động giáo dục của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Hoạt động của Trung tâm GDNN – GDTX thực hiện theo các quy định: (điều 11, của Thông tư liên tịch số 39/2015/TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT-BNV, ngày 19/10/2015) [12].

  • Nội dung hoạt động đào tạo nghề nghiệp ở trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp [39], và Điều lệ Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành [11].
  • Nội dung hoạt động GDTX thực hiện theo Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDTX ban hành kèm theo Quyết định số 01/2007/QĐ BGDĐT ngày 02 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo [3].
  • Nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp thực hiện theo Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp, ban hành kèm theo Quyết định số 44/2008/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT [4].

1.3.3. Nội dung đổi mới giáo dục hiện nay

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI (nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Chính phủ đã chỉ đạo các cấp của ngành giáo dục từng bước tiến hành. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã thành lập Ban chỉ đạo và các Tiểu ban triển khai đổi mới giáo dục và đào tạo, xây dựng kế hoạch, lộ trình triển khai nhiệm vụ, trong đó có một số nội dung như sau:

1.3.3.1. Điều chỉnh nội dung chương trình dạy học Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Chủ động rà soát, điều chỉnh nội dung chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo hướng tinh giản, loại bỏ những phần trùng lặp, hàn lâm, xa rời thực tế; những nội dung chưa cần thiết và không phù hợp với trình độ, tâm sinh lý lứa tuổi học sinh.

Giao quyền, hướng dẫn cho nhà trường và giáo viên chủ động xây dựng kế hoạch dạy học và thực hiện chương trình giáo dục một cách linh hoạt, phù hợp với đối tượng học sinh và thực tiễn địa phương.

1.3.3.2. Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học và các hoạt động giáo dục

Chỉ đạo đổi mới quản lý hoạt động chuyên môn trong nhà trường thông qua việc tổ chức giao lưu giáo viên dạy giỏi, thi dạy các chủ đề tích hợp; đổi mới sinh hoạt chuyên môn, công tác dự giờ, rút kinh nghiệm và xây dựng chương trình giáo dục của nhà trường.

Phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử, Hội Nhà văn, Hội Toán học, Hội Vật lý, các cơ sở đào tạo giáo viên, cơ quan quản lý giáo dục và các tổ chức xã hội – nghề nghiệp khác hướng dẫn giáo viên đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh.

Chỉ đạo tổ chức các hoạt động giáo dục gắn với các di sản văn hóa, lịch sử và thực tiễn địa phương.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông phục vụ cho đổi mới phương pháp dạy học, theo đó tất cả các trường học ở những nơi có điện được kết nối Internet và trong giai đoạn 2014-2016 sẽ tiếp tục nâng cấp đường truyền bằng cáp quang.

Tổ chức cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học nhằm kết nối giữa học sinh phổ thông với các nhà khoa học của các trường đại học.

1.3.3.3. Đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực của học sinh Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Đổi mới từng bước cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học

sinh theo hướng: Giảm dần yêu cầu học thuộc lòng, chú trọng vận dụng kiến thức tổng hợp bằng cách ra đề thi theo hướng tăng dần các yêu cầu vận dụng sáng tạo, ra đề “mở” gắn với các vấn đề thực tiễn, thời sự của đất nước để học sinh trình bày kiến cá nhân trên cơ sở tổng hợp, vận dụng kiến thức được học, qua đó đánh giá đúng chất lượng học tập và năng lực của học sinh.

Đổi mới công tác tổ chức thi tốt nghiệp THPT theo hướng tăng cường giao quyền chủ động trên cơ sở nâng cao tinh thần tự chủ và chịu trách nhiệm của các sở giáo dục và đào tạo; tạo cơ chế giám sát của xã hội đối với các thành viên của Hội đồng coi thi.

Thực hiện trao quyền tự chủ tuyển sinh cho các cơ sở giáo dục đại học. Đối với kỳ thi chung, đổi mới cách xác định điểm sàn nhằm tạo sự linh hoạt trong tuyển sinh, tăng cơ hội trúng tuyển cho thí sinh nhưng vẫn bảo đảm chất lượng nguồn tuyển và từng bước phân tầng các cơ sở giáo dục đại học.

Đổi mới công tác tổ chức thi học sinh giỏi quốc gia, lựa chọn học sinh giỏi dự thi quốc tế.

1.3.3.4. Đổi mới công tác quản lý giáo dục

Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tập trung cao độ cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, coi đây là nhiệm vụ có tầm quan trọng số một, được ưu tiên đầu tư về thời gian và nguồn lực. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã soạn thảo, trình Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền một số văn bản quan trọng như: Luật giáo dục đại học và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật giáo dục đại học; quy hoạch mạng lưới, các điều kiện thành lập, cho phép hoạt động các cơ sơ sở giáo dục đại học; chính sách cho nhà giáo và người học, đặc biệt là nhà giáo và người học ở vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số; công tác thanh tra; xây dựng xã hội học tập và hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo. Đó là những căn cứ pháp lý để giải quyết một số vấn đề thực tiễn, từng bước đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo điều hành, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong toàn ngành.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy các tỉnh, thành phố ban hành các quyết định thực hiện Nghị định 115/2010/NĐ-CP về việc quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục.

1.3.4. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của tổ chuyên môn trong Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

1.3.4.1. Vị trí tổ chuyên môn

Tại Khoản 1 Điều 16, Điều lệ trường THCS, THPT và trường THPT có nhiều cấp học ban hành theo Thông tư số 12/2011/TT/-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ giáo dục và Đào tạo nêu rõ: “Hiệu trưởng, các phó Hiệu trưởng, GV, viên chức thư viện, viên chức thiết bị thí nghiệm của trường trung học được tổ chức thành TCM theo môn học hoặc nhóm môn học. Mỗi TCM có tổ trưởng, từ 1 đến 2 tổ phó chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hiệu trưởng, do Hiệu trưởng bổ nhiệm và giao nhiệm vụ vào đầu năm học” [5, tr.5].

Tổ chuyên môn là một bộ phận cấu thành trong bộ máy tổ chức, quản lý của nhà trường. Trong trường, các tổ, nhóm chuyên môn có mối quan hệ hợp tác với nhau, phối hợp với các bộ phận nghiệp vụ khác và các tổ chức Đảng, đoàn thể trong nhà trường nhằm thực hiện chiến lược phát triển của nhà trường, chương trình giáo dục và các hoạt động hướng tới mục tiêu giáo dục.

1.3.4.2. Vai trò tổ chuyên môn Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Tổ chuyên môn là hình thức tổ chức nghề nghiệp đã có từ lâu trong nhà trường. TCM là nơi trực tiếp triển khai các hoạt động của nhà trường, trong đó trọng tâm là hoạt động giáo dục và dạy học. TCM là đầu mối QL mà Hiệu trưởng nhất thiết phải tập trung dựa vào đó để quản lý nhà trường trên nhiều phương diện, nhưng cơ bản nhất là hoạt động GD, DH và hoạt động sư phạm của GV. Đặc biệt, TCM là nơi tập hợp, đoàn kết, tìm hiểu nắm vững tâm tư, tình cảm và những khó khăn trong đời sống của GV trong tổ, kịp thời động viên, giúp đỡ GV hoàn thành tốt nhiệm vụ của người GV trong trường trung học.

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, TCM là nơi tiên phong, trực tiếp tổ chức đổi mới các yếu tố của quá trình dạy học, từ nội dung chương trình, phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.

1.3.4.3. Nhiệm vụ của tổ chuyên môn

Căn cứ vào quy mô phát triển và nhiệm vụ của nhà trường, Hiệu trưởng quyết định thành lập các TCM để hoàn thiện bộ máy của nhà trường theo Điều lệ trường trung học.

Tổ chuyên môn là đơn vị quản lý hành chính nhỏ nhất của nhà trường. Đứng đầu các tổ là tổ trưởng, giúp việc cho tổ trưởng là tổ phó. Tổ trưởng và tổ phó do Hiệu trưởng ra quyết định bổ nhiệm và miễn nhiệm.

Theo qui định tại khoản 2, điều 16 Điều lệ trường trung học, TCM có các nhiệm vụ chính sau đây: [5]

Xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây dựng và QL kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối chương trình và các hoạt động giáo dục khác của nhà trường;

Tổ chức bồi dưỡng CM và nghiệp vụ; tham gia đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo quy định của Chuẩn nghề nghiệp GV trung học và các quy định khác hiện hành;

Tổ chức cho GV NCKH, viết chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm. Hướng dẫn HS tập dượt NCKH;

Giới thiệu tổ trưởng, tổ phó;

Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với GV.

1.3.5. Nội dung hoạt động của tổ chuyên môn ở các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Hoạt động TCM là hoạt động quan trọng nhất trong trường học, hoạt động này có vai trò quyết định đến chất lượng GD của trung tâm, hoạt động của TCM hàng năm phải bám sát nội dung, chương trình dạy học theo quy định của Bộ GDĐT, Sở GDĐT và của trung tâm. Nội dung hoạt động của TCM bao gồm:

Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch hoạt động của tổ (kế hoạch năm học, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần, kế hoạch dạy học, kế hoạch thao giảng, kế hoạch kiểm tra, kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ, kế hoạch thực tế, giao lưu học hỏi,…) hướng dẫn GV xây dựng kế hoạch cá nhân tương ứng với nhiệm vụ được giao. Quản lý hoạt động giáo dục theo quy định: Soạn bài của GV, QL việc dạy học trên lớp, QL việc kiểm tra đánh giá HS, hoạt động GD ngoài giờ lên lớp, phối hợp QL các hoạt động GD ngoài giờ lên lớp, QL hồ sơ chuyên môn.

Phân công giảng dạy, chủ nhiệm lớp, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho GV (bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ, bồi dưỡng qua thăm lớp, dự giờ, qua hội giảng, qua tổ chức giao lưu, nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm, qua tự học); tham gia kiểm tra đánh giá xếp loại GV hàng năm theo quy định, tham mưu trong việc thực hiện chế độ chính sách cho GV.

Tham mưu với lãnh đạo trong tổ chức thực hiện các hoạt động GD, phối hợp với các TCM khác, với GV chủ nhiệm, với các tổ chức đoàn thể, với cha mẹ HS và cộng đồng trong giáo dục HS và huy động nguồn lực phát triển trung tâm.

Quản lý cơ sở vật chất tài sản của TCM.

Tham gia các hoạt động chung của trung tâm: Công tác xã hội hóa, công tác đoàn thể, các phong trào thi đua, các ngày hội ngày lễ, …

Là cầu nối giữa giám đốc trung tâm và GV trong tổ về thông tin 2 chiều nhằm mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng GD, chuyển tải cho GV trong tổ các chỉ đạo chuyên môn của giám đốc trung tâm và cơ quan quản lý cấp trên. Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Tham mưu cho giám đốc trung tâm để có những quyết định chính xác, kịp thời; bố trí sắp xếp công việc, kế hoạch rõ ràng, hợp lý trong điều hành các hoạt động của trung tâm.

Công tác tham mưu của TTCM cần tập trung vào một số nội dung sau:

  • Tham gia góp ý xây dựng kế hoạch của trung tâm như: Kế hoạch phát triển, kế hoạch truyển sinh, dạy học; kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho GV; kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất, các hoạt động dịch vụ, sản xuất của trung tâm và các hoạt động khác trong năm học; chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức bộ máy trong trung tâm; các báo cáo sơ kết, tổng kết theo định kỳ trong năm học.
  • Tham gia góp ý xây dựng các nội dung, biện pháp tổ chức phong trào thi đua khen thưởng hàng năm. TTCM góp ý cụ thể các nội dung, tiêu chuẩn, tiêu chí của công tác thi đua của GV và HS như: Bảng điểm thi đua của GV, bảng điểm thi đua của các lớp hàng tuần, hàng tháng, học kỳ và cả năm học.
  • Tham gia góp ý xây dựng lề lối làm việc, các nội quy, quy chế hoạt động của đơn vị, cụ thể là nghị quyết cán bộ – viên chức năm học, quy chế thực hiện dân chủ của trung tâm, quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế thực hiện công khai nhằm bảo đảm những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện thành công nhiệm vụ năm học của trung tâm.
  • Tư vấn chính xác giúp giám đốc trung tâm chỉ đạo hiệu quả hơn, sâu sát hơn. Hoặc kịp thời điều chỉnh các quyết định đã ban hành cho phù hợp với điều kiện thực tế và các quy định trong việc thực hiện chương trình, PPDH bộ môn, hình thức tổ chức các hoạt động GD khác, thời gian tiến hành phù hợp với mục tiêu đề ra. Bên cạnh đó TTCM còn phải thực hiện đúng, đủ các yêu cầu của công tác kiểm tra, đánh giá kết quả dạy và học theo sự chỉ đạo, phân công của giám đốc trung tâm.
  • Xây dựng phương án và trực tiếp thực hiện công tác bồi dưỡng CM cho GV trong tổ nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của TCM nói riêng và chất lượng giảng dạy của trung tâm nói chung. TTCM đề nghị chính xác người cần được bồi dưỡng thành GV giỏi, GV yếu cần được kèm cặp.
  • Tham mưu cho giám đốc trung tâm về công tác phân công GV.
  • Với vai trò, chức năng, nhiệm vụ của TTCM, trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ các nguồn thông tin cơ bản, kết hợp với kinh nghiệm của bản thân qua thực tiễn công tác, TTCM nhận xét, đánh giá chính xác, khách quan về từng GV trong tổ để có phân công hợp lý.

Như vậy, hoạt động của TCM trong nhà trường có vai trò quyết định đến sự phát triển của nhà trường nói riêng và sự phát triển GD nói chung. Hoạt động của TCM là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng DH trong các nhà trường.

1.4. Một số vấn đề về quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

1.4.1. Vai trò của Giám đốc trung tâm trong quản lý hoạt động tổ chuyên môn

Theo Điều 16, Thông tư 39/2015/TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT-BNV. Tiêu chuẩn, điều kiện, thẩm quyền bổ nhiệm của Giám đốc Trung tâm GDNN – GDTX cấp huyện [12].

Giám đốc, phó giám đốc Trung tâm GDNN – GDTX có phẩm chất, đạo đức tốt, có bằng tốt nghiệp đại học trở lên, có đủ sức khỏe và qua bồi dưỡng về năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý.

Thẩm quyền bổ nhiệm: Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ, chính sách đối với giám đốc, phó giám đốc Trung tâm GDNN – GDTX do Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định theo quy định của pháp luật và phân cấp của UBND cấp tỉnh.

Mục tiêu quản lý hoạt động TCM của giám đốc trung tâm bao gồm:

  • Thực hiện tốt các chương trình GDTX.
  • Bảo đảm chất lượng của quá trình giảng dạy – giáo dục, thực hiện mục tiêu kế hoạch đào tạo của trung tâm.
  • Xây dựng tập thể sư phạm vững mạnh.
  • Xây dựng cơ sở vật chất của trung tâm, trang thiết bị, kỹ thuật phục vụ cho dạy – học và các hoạt động giáo dục khác trong trung tâm. Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương
  • Xây dựng môi trường giáo dục thống nhất: Nhà trường – gia đình – xã hội.
  • Cải tiến QL trung tâm, thực hiện dân chủ hóa trong QL trung tâm, tăng cường hoạt động kiểm tra nội bộ và đánh giá đúng kết quả giảng dạy – giáo dục và các hoạt động khác của trung tâm.

Với mục tiêu công tác QL hoạt động của các TCM phong phú và phức tạp. Giám đốc trung tâm không thể một mình đảm nhiệm tất cả. Giám đốc trung tâm phải phân công trách nhiệm và phân quyền cho phó giám đốc và TTCM, phải dựa vào sự tư vấn của Hội đồng sư phạm, các bộ phận CM, các tổ chức đoàn thể, Ban đại diện cha mẹ học sinh. Tăng cường sự lãnh đạo của chi bộ Đảng trong trung tâm. Có như thế giám đốc trung tâm mới hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Quản lý trung tâm chủ yếu là QL hoạt động DH và các hoạt động GD khác. Để làm tốt nhiệm vụ QL này giám đốc trung tâm phải là người am hiểu việc giảng dạy, nắm vững được chương trình các môn học, phương pháp đặc trưng của từng bộ môn, những đổi mới của chương trình, sách giáo khoa, nội dung phương pháp giảng dạy, đặc biệt là thường xuyên cập nhật kiến thức và thành tựu khoa học về đổi mới PPDH, về khoa học GD. Giám đốc trung tâm phải có năng lực tổ chức, chỉ đạo TCM thực hiện tốt nhiệm vụ, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ TCM.

Như vậy giám đốc trung tâm có vai trò rất lớn trong QL, chỉ đạo hoạt động của các TCM, thông qua TTCM và tập thể GV để thúc đẩy các hoạt động nâng cao chất lượng GD và DH.

1.4.2. Tầm quan trọng của quản lý hoạt động tổ chuyên môn

Cũng như trong trường THPT, tổ chuyên môn trong các trung tâm GDNN GDTX có vai trò quan trọng. Song để tổ chuyên môn hoạt động có hiệu quả thì công tác quản lý đối với hoạt động của tổ chuyên môn cần phải phải được giám đốc trung tâm quan tâm chỉ đạo thường xuyên. Quản lý hoạt động tổ chuyên môn có hiệu quả là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

Quản lý hoạt động tổ chuyên môn là những tác động có tổ chức có định hướng ảnh của giám đốc trung tâm đến tổ chuyên môn nhằm đảm bảo cho hoạt động của tổ chuyên môn đạt hiệu quả tốt nhất. Thông qua tổ chuyên môn giám đốc nắm được sâu sát hoạt động của giáo viên, phát huy cao độ sự thống nhất giữa giám đốc với các thành viên trong tập thể nhà trường. Vì vậy tăng cường chỉ đạo hoạt động tổ chuyên môn là mối quan tâm thường xuyên của giám đốc trung tâm.

Như vậy, quá trình quản lý hoạt động dạy học của giám đốc trung tâm luôn gắn liền với việc chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn.

Mọi hoạt động trong nhà trường đều hướng vào mục tiêu là dạy học và giáo dục. Do đó quản lý hoạt động tổ chuyên môn của giám đốc trung tâm thực chất là quản lý quá trình dạy học – giáo dục trong các trung tâm nhằm hướng những hoạt động giáo dục con người theo mục tiêu của Đảng. Tăng cường chỉ đạo và nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tổ chuyên môn là nội dung quan trọng trong công tác quản lý của giám đốc trung tâm, có ý nghĩa quyết định đối với công tác quản lý nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay.

1.4.3. Nội dung quản lý hoạt động tổ chuyên môn của giám đốc đối trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

1.4.3.1. Quy hoạch và bổ nhiệm tổ trưởng chuyên môn

Quy hoạch là sự bố trí, sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn. Quy hoạch được hiểu theo nghĩa chung nhất là bước cụ thể hoá chiến lược ở mức độ toàn hệ thống, mang tính tổng thể, thống nhất với chiến lược về mục đích, yêu cầu và làm căn cứ để xây dựng kế hoạch.

Quy hoạch đội ngũ TTCM ở trung tâm là lập kế hoạch để đáp ứng nhu cầu hiện tại cũng như tương lai về đội ngũ TTCM sau khi tính đến cả những nhân tố môi trường bên trong và những nhân tố của môi trường bên ngoài.

Nội dung quy hoạch đội ngũ TTCM ở Trung tâm GDNN – GDTX bao gồm:

  • Đánh giá thực trạng đội ngũ tổ trưởng, tổ phó CM; xác định nguồn GV để đưa vào quy hoạch TTCM; xây dựng quy hoạch tổ trưởng, tổ phó CM.
  • Giám đốc trung tâm căn cứ vào nguồn quy hoạch từ GV, đề xuất và nhận xét đánh giá đối với GV được đề xuất, họp bàn trong tập thể lãnh đạo; xin ý kiến của chi bộ.
  • Tổ chức lấy phiếu tín nhiệm.
  • Giám đốc trung tâm ra quyết định bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó chuyên môn; triển khai quyết định, phân công lao động cho người được bổ nhiệm theo cương vị mới, lưu hồ sơ nhân sự và chỉ đạo cán bộ phụ trách cập nhật chương trình QL nhân sự.

1.4.3.2. Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động TCM Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Theo lý luận QL, kế hoạch là một chức năng của QL. Việc xây dựng kế hoạch hoạt động của TCM là khâu vô cùng quan trọng trong quy trình QL hoạt động TCM. Xây dựng kế hoạch giúp TCM bám sát được mục tiêu nhiệm vụ cụ thể, các chỉ tiêu cần phấn đấu. Kế hoạch hoạt động của TCM là kế hoạch ngắn hạn bao gồm kế hoạch năm, học kì, tháng, tuần. Hàng năm khi xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của trung tâm, Giám đốc cần chỉ đạo các TCM xây dựng kế hoạch của TCM phù hợp với điều kiện thực tế của trung tâm, của TCM. Giám đốc trung tâm phê duyệt kế hoạch của TCM và quản lý việc thực hiện kế hoạch đó.

1.4.3.3. Quản lý hoạt động dạy học của tổ chuyên môn

Trong Trung tâm GDNN – GDTX, hoạt động dạy học là hoạt động cơ bản, đặc trưng nhất. Trong đó, GV là chủ thể QL trực tiếp hoạt động DH, là hoạt động diễn ra ở cấp độ cá nhân, gắn liền với chủ thể hoạt động. Nội dung QL hoạt động DH của TCM bao gồm:

Quản lý thực hiện chương trình dạy học

Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu của nhà trường. Chương trình dạy học là văn bản pháp lệnh của Nhà nước, do Bộ GDĐT ban hành. Yêu cầu đối với giám đốc trung tâm là phải nắm vững chương trình, tổ chức cho GV tuân thủ một cách nghiêm túc, không tùy tiện thay đổi, thêm bớt làm sai lệch chương trình DH (nếu có thay đổi, bổ sung phải được sự nhất trí của các cấp có thẩm quyền)

Nắm vững chương trình DH là yêu cầu để giám đốc trung tâm QL thực hiện tốt chương trình DH. Bao gồm:

  • Nắm vững nguyên tắc cấu tạo chương trình, nội dung và phạm vi kiến thức của từng môn học, cấp học.
  • Nắm vững phương pháp dạy học đặc trưng của môn học và các hình thức dạy học của từng môn học.
  • Nắm vững kế hoạch DH của từng môn học, từng khối lớp trong cấp học.
  • Không được giảm nhẹ, nâng cao hoặc mở rộng so với yêu cầu nội dung, phạm vi kiến thức quy định của từng chương trình môn học. Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương
  • Phương pháp dạy đặc trưng của môn học, của bài học phải phù hợp với từng loại lớp học, từng loại bài của lớp học.
  • Vận dụng các hình thức DH khác nhau, kết hợp giữa các hình thức DH trên lớp, ngoài lớp, thực hành, tham quan,… một cách hợp lý.
  • Dạy đủ và coi trọng tất cả các môn theo quy định của phân phối chương trình, nghiêm cấm việc cắt xén nội dung bài học, thêm bớt tiết học với bất kì môn học nào, lớp học nào, dưới bất kì hình thức nào.

Để việc QL thực hiện chương trình dạy học đạt kết quả, bảo đảm thời gian cho việc thực hiện chương trình DH, Giám đốc trung tâm phải chú ý sử dụng thời khóa biểu như là công cụ để theo dõi, điều khiển và kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình DH, để thường xuyên, kịp thời điều chỉnh những lệch lạc trong quá trình thực hiện chương trình DH.

Quản lý giờ lên lớp của giáo viên

  • Thông qua trực ban hàng ngày để quản lý nề nếp các buổi học.
  • Tổ chức hoạt động dự giờ, thăm lớp để nắm bắt được thực trạng chất lượng các giờ dạy và tổ chức rút kinh nghiệm sư phạm.

Thông qua báo cáo của các TCM và của GV chủ nhiệm để nắm thông tin về công tác giảng dạy của GV bộ môn.

Hoạt động dạy và học trong nhà trường hiện nay được thực hiện chủ yếu bằng hình thức dạy và học trên lớp, với những giờ lên lớp và hệ thống bài học cụ thể. Nói cách khác, giờ lên lớp là hình thức tổ chức cơ bản và chủ yếu nhất của quá trình DH trong nhà trường để thực hiện mục tiêu cấp học.

Chính vì vậy trong quá trình QL dạy và học của mình, Giám đốc phải có những biện pháp tác động cụ thể, phong phú và linh hoạt để nâng cao chất lượng giờ lên lớp của GV.

QL giờ lên lớp của GV phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu là:

  • Xây dựng được chuẩn giờ lên lớp để QL tốt giờ lên lớp của GV. Ngoài những quy định chung của ngành cần thường xuyên được bổ sung, điều chỉnh để thực hiện được tiến độ chung của trung tâm và của GV.
  • Phải xây dựng nề nếp giờ lên lớp, nhằm đảm bảo tính nghiêm túc trong mọi hoạt động hết sức nhịp nhàng, góp phần nâng cao chất lượng DH.
  • Phải yêu cầu cụ thể từng đối tượng thực hiện đầy đủ, nghiêm túc những quy định chung của trung tâm, quy chế có liên quan đến giờ lên lớp.

Để đảm bảo được những yêu cầu QL giờ lên lớp, Giám đốc trung tâm cần xây dựng và quy định rõ chế độ thực hiện, kiểm tra việc thực hiện thời khóa biểu nhằm kiểm soát các giờ lên lớp, duy trì nề nếp dạy học, tạo nên bầu không khí sư phạm trong nhà trường.

Quản lý công tác bồi dưỡng HS khá, giỏi; phụ đạo HS yếu, kém

Nhiệm vụ bồi dưỡng HS khá, giỏi; phụ đạo học sinh yếu, kém là hai nhiệm vụ song song của TCM. Trên cơ sở kết quả khảo sát, đánh giá, phân loại HS, tổ chức dạy học phân hóa theo năng lực của HS dựa theo chuẩn kiến thức, kỹ năng; TCM xây dựng kế hoạch bồi dưỡng HS, lựa chọn GV có kinh nghiệm, tâm huyết tham gia giảng dạy.

Các kế hoạch, nội dung bồi dưỡng HS khá, giỏi; phụ đạo HS yếu, kém sau khi TCM thảo luận thống nhất trình cho Giám đốc trung tâm phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện.

Quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên

Quản lý hồ sơ CM của GV là một công việc hết sức quan trọng của người QL. Hồ sơ CM của GV là phương tiện phản ánh quá trình QL có tính khách quan và cụ thể, giúp Giám đốc trung tâm nắm chắc hơn, cụ thể hơn tình hình thực hiện nhiệm vụ CM của GV. Có thể nói hồ sơ CM của GV là cơ sở pháp lý nói lên nội dung công việc mà GV đó được phân công, là cơ sở để đánh giá sự chuẩn bị, đầu tư cho CM của GV đó. Tuy nhiên người QL không nên đồng nhất khái niệm hồ sơ CM của GV với năng lực giảng dạy của GV đó trên lớp.

Theo điều 19, 20 Quyết định số 01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định sách giáo khoa – tài liệu và hệ thống sổ sách [3].

Trung tâm GDTX sử dụng sách giáo khoa và tài liệu học tập theo quy định về chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu GDTX của Bộ GDĐT, các tài liệu học tập riêng cho địa phương do Sở GDĐT hoặc cơ quan QL nhà nước có thẩm quyền quy định.

Trong quá trình quản lý, Giám đốc trung tâm cần phải hướng dẫn, yêu cầu đối với từng loại hồ sơ, cùng với Phó giám đốc phụ trách CM và TTCM thường xuyên kiểm tra bằng nhiều hình thức khác nhau để kịp thời điều chỉnh những sai lệch trong hoạt động dạy và học.

Quản lý việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học

Xây dựng kế hoạch thật cụ thể về sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học theo các tiết trong phân phối chương trình.

Quan tâm chỉ đạo sâu sát; đầu tư trang bị, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng, khai thác, nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ thuật và kỹ năng cho giáo viên, thực hiện nghiêm túc các qui định về chuyên môn.

Tổ chức hội thi làm và sử dụng đồ dùng dạy học trong trung tâm nhằm động viên khuyến khích khả năng sáng tạo của giáo viên, đồng thời bổ sung, làm phong phú thêm nguồn thiết bị đồ dùng dạy học tại đơn vị.

Tăng cường và sử dụng hiệu quả trang thiết bị dạy học thực hành, thí nghiệm. Động viên, khuyến khích và đẩy mạnh việc kiểm tra, giám sát việc bảo quản và đăng ký sử dụng. Đưa việc sử dụng và bảo quản thiết bị- đồ dùng dạy học vào thi đua, đánh giá giáo viên hàng năm.

Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cập nhật kiến thức, trình độ nghiệp vụ, kỹ năng cho nhân viên thiết bị và cho giáo viên trong việc sử dụng, bảo quản thiết bị – đồ dùng dạy học hàng năm.

Tổ chức tốt việc bảo vệ, bảo dưỡng và bảo trì cơ sở vật chất – thiết bị giáo dục của trung tâm vì nó là tài sản quý phục vụ sự nghiệp giáo dục.

Quản lý đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra – đánh giá

Đổi mới PPDH và kiểm tra, đánh giá là hai hoạt động có mối quan hệ khăng khít với nhau. Đổi mới PPDH tạo điều kiện để đổi mới kiểm tra, đánh giá. Đổi mới kiểm tra, đánh giá có tác động thúc đẩy đổi mới PPDH. Việc đổi mới PPDH không thể thành công nếu không đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá. Bởi vậy, Giám đốc trung tâm cần quản lý chỉ đạo TCM thảo luận xây dựng bộ tiêu chí đánh giá về đổi mới PPDH gắn với đặc trưng các bộ môn, gắn nội dung thực hiện đổi mới PPDH vào việc dự giờ, thanh tra, kiểm tra GV, đặc biệt là trong các tiết hội giảng. Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Chỉ đạo GV thực hiện nghiêm túc việc xây dựng ma trận đề kiểm tra, hàng năm xây dựng bộ đề kiểm tra để bổ sung cho thư viện câu hỏi của trung tâm. Khi chấm bài kiểm tra phải có phần nhận xét, động viên sự cố gắng tiến bộ của HS. Việc cho điểm có thể kết hợp giữa đánh giá kết quả bài làm với theo dõi sự cố gắng, tiến bộ của HS. Chú ý hướng dẫn HS đánh giá lẫn nhau và biết tự đánh giá năng lực của mình.

Quản lý hoạt động thao giảng, dự giờ, hội giảng của tổ chuyên môn

Nét đặc thù cơ bản làm cho quản lý trường học khác với các dạng QL khác là trong QL nhà trường có hoạt động thao giảng, dự giờ, hội giảng. Thao giảng và phân tích sư phạm bài học, đây là một chức năng quan trọng của Giám đốc trung tâm để chỉ đạo hoạt động dạy – học. Là biện pháp quan trọng hàng đầu để QL giờ lên lớp.

Để việc dự giờ và phân tích sư phạm sau mỗi tiết dạy thực sự có hiệu quả,

Giám đốc trung tâm cần phải quán triệt đầy đủ những yêu cầu cơ bản sau:

  • Nắm vững được lý luận dạy học và lý thuyết về bài học, nắm vững những quan điểm trong phân tích sư phạm bài học.
  • Nắm vững các bước trong dự giờ và phân tích sư phạm bài học để chỉ đạo
  • Tổ chức tốt việc dự giờ thăm lớp trong trung tâm, có đầy đủ hồ sơ kế hoạch cụ thể, đặc biệt phải có chuẩn đánh giá phù hợp, có thái độ cầu thị khách quan để đánh giá đúng tình hình, chất lượng giờ lên lớp. Trên cơ sở đó, tìm ra những biện pháp thích hợp cho công tác QL giờ lên lớp.

Để nâng cao chất lượng dự giờ, phân tích sư phạm bài học, cần thường xuyên tổ chức các chuyên đề, trao đổi nội dung và phương pháp giảng dạy; xây dựng tiết dạy mẫu, tổ chức dạy thử, tổ chức học tập, thao giảng… nhằm giúp GV nắm vững lý thuyết, rút kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy, các bước dự giờ và phân tích bài dạy. Trên cơ sở đó khuyến khích sự sáng tạo của GV, đây cũng chính là hoạt động đặc trưng nghề nghiệp của GV. Giám đốc trung tâm cần tạo điều kiện, động viên để GV phát huy hết khả năng của mình.

1.4.3.4. Quản lý công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng của giáo viên

Để QL tốt công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng của GV, ngay từ đầu năm học Giám đốc trung tâm phải xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GV, phối kết hợp với TCM đánh giá năng lực của GV trong tổ để từ đó có kế hoạch bồi dưỡng. Vì việc đánh giá đúng năng lực của GV sẽ giúp cho việc phân công giảng dạy phù hợp, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy của trung tâm.

Giám đốc trung tâm ủy quyền cho Phó giám đốc phụ trách CM chỉ đạo các tổ, xây dựng kế hoạch dự giờ thường xuyên, dự giờ học tập kinh nghiệm ở các trường THPT, Trung tâm GDNN – GDTX.

1.4.3.5. Quản lý hoạt động sinh hoạt chuyên môn của tổ chuyên môn Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Chỉ đạo thực hiện quy chế của chuyên môn bao gồm: nề nếp sinh hoạt, hội họp theo quy định của TCM là nội dung quan trọng trong quá trình quản lý giáo dục. Sinh hoạt của t TCM có tốt thì chất lượng giảng dạy trên lớp của các cá nhân trong tổ mới được nâng lên. Mọi hoạt động của TCM phải được thực hiện theo các chế định của ngành. Quy chế chuyên môn là hệ thống các văn bản pháp quy, các thông tư, hướng dẫn mang tính chuẩn mực và bắt buộc có tác dụng chỉ đạo các hoạt động giảng dạy và giáo dục. Các văn bản đó được coi là hành lang pháp lý để người quản lý dựa vào đó mà tiến hành các công việc của mình, từ đó cụ thể hóa để xây dựng nên các quy định nội bộ của trung tâm và của TCM cho phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

Theo các quy định trong các văn bản pháp lý của cấp trên, thông qua tổ trưởng chuyên môn và hồ sơ chuyên môn của các tổ, giám đốc quản lý nội dung và chất lượng sinh hoạt chuyên môn mà các TCM sinh hoạt theo định kỳ và đột xuất.

1.4.4. Kiểm tra, đánh giá sinh hoạt của tổ chuyên môn

Kiểm tra là chức năng cơ bản, có vai trò quan trọng trong quá trình QL trường học nói chung, QL sinh hoạt TCM nói riêng. Chúng ta có thể khẳng định rằng không có kiểm tra thì không có QL. Như vậy kiểm tra, đánh giá sinh hoạt TCM của Giám đốc trung tâm là biện pháp quan trọng không thể thiếu được trong quá trình QL. Mục đích kiểm tra, đánh giá sinh hoạt TCM:

  • Điều chỉnh hoạt động của TCM đi đúng với kế hoạch, mục tiêu đã đề ra. Làm cho hoạt động TCM không đi lệch hướng, ảnh hưởng đến chất lượng DH và các hoạt động của trung tâm.
  • Nắm bắt được tinh thần thực hiện quy chế CM của GV để có biện pháp xử lý kịp thời những trường hợp có biểu hiện vi phạm quy chế CM.
  • Đưa hoạt động của TCM đi vào nề nếp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
  • Kịp thời điều chỉnh kế hoạch hoạt động CM của trung tâm phù hợp với thực tiễn và đảm bảo cho hoạt động CM đạt được mục tiêu đã định.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

1.5.1. Những yếu tố chủ quan

1.5.1.1.Nhận thức của giám đốc trung tâm

Hoạt động của TCM góp phần quan trọng giúp cho giám đốc trung tâm quản lý hiệu quả hoạt động chuyên môn của trung tâm, nhất là trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Thông qua hoạt động của TCM, giám đốc có những đánh giá phù hợp với thực tế để từ đó có những điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục của trung tâm.

Nhận thức đầy đủ của giám đốc trung tâm về tầm quan trọng của hoạt động của TCM trong đổi mới giáo dục hiện nay sẽ là tiền đề quan trọng cho sự phát triển và hoạt động hiệu của của TCM.

1.5.1.2. Nhận thức của tổ trưởng chuyên môn

Tổ trưởng chuyên môn là người giúp giám đốc triển khai thực hiện các kế hoạch hoạt động chuyên môn của trung tâm. Họ là những người được giám đốc trung tâm lựa chọn trong số những giáo viên có phẩm chất, năng lực và uy tín trong đội ngũ. Được bổ nhiệm theo đúng quy định.

Nhận thức đúng đắn của tổ trưởng chuyên môn về tầm quan trọng của hoạt động của TCM sẽ giúp họ có những biện pháp quản lý phù hợp nhằm giúp cho việc điều hành hoạt động của TCM đạt hiệu quả tối ưu.

1.5.1.3. Nhận thức của giáo viên

Giáo viên là những người trực tiếp thực hiện các kế hoạch chuyên môn do TCM và trung tâm triển khai.

Thông qua TCM, giáo viên có những chia sẻ kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau để cùng thực hiện tốt mục tiêu đề ra. Nếu GV có nhận thức đúng đắn về vai trò của bản thân trong việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn thì họ sẽ tích cực và nhiệt tình trong hoạt động của tổ. Đây là yếu tố quan trong góp phần mang đến thành công trong quản lý TCM của giám đốc trung tâm.

1.5.1.4. Năng lực quản lý của giám đốc trung tâm Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Trong Trung tâm GDNN – GDTX, giám đốc là người đứng đầu, chịu trách nhiệm QL mọi hoạt động trong trung tâm và chịu trách nhiệm trước cấp trên. Do vậy, để làm tốt công tác QL đòi hỏi giám đốc trung tâm không chỉ có kiến thức lý luận về QL giáo dục mà phải có năng lực QL. Trước hết, giám đốc trung tâm phải có năng lực thực hiện tốt các chức năng QL, nắm bắt và xử lý thông tin tốt. Giám đốc trung tâm phải có năng lực phân tích, dự báo và tầm nhìn đối với sự phát triển của trung tâm. Những năng lực này được thể hiện trong việc xây dựng các kế hoạch của trung tâm. Giám đốc trung tâm cần giải quyết tốt các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình QL, là trung tâm của sự đoàn kết trong tập thể sư phạm. Giám đốc trung tâm phải là người biết đánh giá và thực hiện công bằng đối với mọi thành viên, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở. Bên cạnh đó Giám đốc trung tâm cần hòa mình vào tập thể, để hiểu rõ những tâm tư, tình cảm của mọi thành viên, phải biết tự đánh giá đúng bản thân mình, biết thu thập, xử lý thông tin kịp thời, chính xác. 1.5.1.5. Năng lực của tổ trưởng chuyên môn

Tổ trưởng chuyên môn là người trực tiếp QL điều hành TCM. Tổ trưởng vừa thực hiện nhiệm vụ như một GV vừa thực hiện nhiệm vụ QL theo Điều lệ trường trung học quy định và thực hiện một số nhiệm vụ khác do giám đốc trung tâm ủy quyền. Bởi vậy Tổ trưởng cần có năng lực CM vững, có năng lực trong giảng dạy và có kiến thức sâu về bộ môn giảng dạy. Cùng với đó Tổ trưởng cần có những năng lực nhất định về QL để có thể điều hành tổ một cách có hiệu quả.

Tổ trưởng chuyên môn phải có năng lực lập kế hoạch hoạt động như: Kế hoạch TCM, kế hoạch chuyên đề, … hướng dẫn các cá nhân trong tổ xây dựng kế hoạch cá nhân. Tổ trưởng thực hiện kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình môn học, hoạt động CM của tổ. TTCM thực hiện quy chế dân chủ trong trung tâm, tập hợp, đoàn kết các thành viên trong tổ thực hiện tốt chủ trương đường lối chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, các chủ trương chính sách về giáo dục đào tạo cũng như các quy định, nếp sống văn hoá ở địa phương nơi cư trú. TTCM cùng với thành viên trong tổ xây dựng bầu không khi tâm lý, môi trường sư phạm thân thiện, cộng tác hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

1.5.1.6. Năng lực của giáo viên

Giáo viên là những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của TCM, các cá nhân trong tổ quyết định đến chất lượng DH và GD. Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến hoạt động của TCM:

Trình độ CM và năng lực sư phạm của đội ngũ GV trong tổ. TCM có đội ngũ GV có kinh nghiệm giảng dạy và chất lượng CM tốt sẽ là yếu tố thuận lợi trong việc triển khai thực hiện các hoạt động CM.

Tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong TCM của mỗi tổ viên là điều kiện để tổ hoạt động có hiệu quả. Các thành viên tích cực trao đổi, chia sẻ với đồng nghiệp, tạo bầu không khí ấm áp, thân tình trong tổ, tạo động lực cho các cá nhân hăng say lao động.

1.5.2. Yếu tố khách quan Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

1.5.2.1. Quản lý của cấp trên

Công tác QL, chỉ đạo hoạt động TCM của các nhà trường được thể hiện bằng các văn bản chỉ đạo thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình giảng dạy các bộ môn; các văn bản chỉ đạo quy định về hồ sơ, giáo án, hồ sơ quản lý TCM; chỉ đạo các hoạt động chuyên đề từ cấp trường; tham gia các chuyên đề cấp tỉnh; định hướng nội dung sinh hoạt TCM, chỉ đạo đổi mới hình thức và nền nếp sinh hoạt TCM.

Sở GDĐT quản lý, chỉ đạo hoạt động TCM của các trung tâm thông qua giám đốc trung tâm, phó giám đốc phụ trách CM và đánh giá chất lượng hoạt động TCM của các trung tâm thông qua việc kiểm tra trực tiếp một số hoạt động TCM, thông qua báo cáo của giám đốc trung tâm. Sở GDĐT căn cứ văn bản quy định của cấp trên, căn cứ điều kiện thực tế để ra các văn bản chỉ đạo chung cho các trung tâm. Trên cơ sở đó các trung tâm xây dựng kế hoạch thực hiện các hoạt động CM trong năm học, chỉ đạo các TCM xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ.

1.5.2.2. Cơ sở vật chất, điều kiện trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tổ chuyên môn Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Điều kiện cơ sở vật chất của trung tâm là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động TCM. GV khi thực hiện nhiệm vụ giảng dạy cần có trang thiết bị, đồ dùng dạy học; khi tổ chức các hoạt động NCKH, hội thảo cần có thiết bị để khai thác thông tin đa phương tiện. Để đảm bảo cho TCM hoạt động có chất lượng, trung tâm cần có đủ cơ sở vật chất thiết yếu, có phòng họp để sinh hoạt CM định kỳ, có thiết bị hiện đại để khai thác thông tin, tìm kiếm các ứng dụng của CNTT trong giảng dạy; có thiết bị hiện đại để GV tham gia học tập nâng cao năng lực CM; có đủ thiết bị đồ dùng phục vụ giảng dạy, khai thác các phương tiện hiện đại vào giảng dạy.

Cơ sở vật chất của trung tâm cũng là nguồn động lực thúc đẩy sự nhiệt tình của GV khi tham gia các hoạt động của TCM, tăng thêm sự tự tin vào thành công của công việc. Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trong trung tâm phục vụ cho hoạt động TCM cần chú ý một số vấn đề: Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giảng dạy và ngoại khóa cần được kiểm tra thường xuyên về số lượng và chất lượng.

Các loại sổ sách, bảng biểu theo dõi phục vụ cho hoạt động TCM: Sổ ghi chép các hoạt động của tổ, sổ sinh hoạt chuyên đề, sổ theo dõi thao giảng – dự giờ của giáo viên, sổ theo dõi kết quả giảng dạy, …

Mua sắm bổ sung các trang thiết bị mau hỏng, đảm bảo trong năm học có đủ trang thiết bị để hoạt động; bố trí phòng họp, phòng bộ môn có đủ trang thiết bị tạo điều kiện cho TCM chủ động sinh hoạt, nghiên cứu CM, xây dựng chuyên đề,…

Đặc biệt cần có kinh phí khen thưởng cho GV, TCM có thành tích trong hoạt động CM hàng năm.

Tiểu kết chương 1

Hoạt động TCM là hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của Trung tâm GDNN – GDTX. Hoạt động này có vai trò quyết định đến chất lượng GD của trung tâm. Hoạt động của TCM phải bám sát nội dung chương trình DH theo quy định của Bộ GDĐT, Sở GDĐT và của trung tâm.

Quản lý hoạt động TCM là một hoạt động quan trọng trong công tác QL. Nội dung quản lý TCM bao gồm: Quy hoạch và bổ nhiệm TTCM; QL việc xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động của TCM; QL hoạt động DH của TCM; QL công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng của GV; QL hoạt động sinh hoạt CM của TCM.

Để QL hoạt động TCM có hiệu quả thì cần phải xây dựng TCM theo hướng đổi mới tích cực, phát huy được sự năng động, vai trò tự chủ của TCM trong thực hiện nhiệm vụ. Cùng với đó cũng cần có những biện pháp QL của giám đốc trung tâm đối với TCM để nâng cao được chất lượng, hiệu quả giảng dạy. Đây là những vấn đề rất cơ bản, điều kiện cần thiết để giám đốc trung tâm thực hiện các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá hoạt động TCM trong các Trung tâm GDNN – GDTX.

Những vấn đề lý luận được đề cập trong chương 1 là cơ sở để tác giả tiến hành nghiên cứu thực trạng quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tổ chuyên môn ở các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Tổng quan về giáo dục nghề tại tỉnh Bình Dương

One thought on “Luận văn: Hoạt động GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp quản lý GDTX ở địa bàn tỉnh Bình Dương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464