Luận văn: Tổng quan về giáo dục nghề tại tỉnh Bình Dương

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Tổng quan về giáo dục nghề tại tỉnh Bình Dương hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong đổi mới giáo dục hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Đặc điểm tình hình

Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và một phần thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và một phần tỉnh Đồng Nai.Theo Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29/12/2013 của Chính phủ, tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên là 2.694,43 km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ); dân số 1.995.817, mật độ dân số khoảng 741 người/km2 (Niên giám Thống kê tỉnh Bình Dương 2016); 09 đơn vị hành chính trên địa bàn (gồm: thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An, thị xã Bến Cát, thị xã Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo) và 91 đơn vị hành chính cấp xã (48 xã, 41 phường, 02 thị trấn). Luận văn: Tổng quan về giáo dục nghề tại tỉnh Bình Dương

Trải qua lịch sử 300 năm, Bình Dương đã biến vùng đất thuần nông, khô cằn, kém hiệu quả trở thành những khu, cụm công nghiệp trọng điểm của cả nước. Đến nay, toàn tỉnh có 28 khu công nghiệp và 8 cụm công nghiệp, với tổng diện tích khoảng 10.000ha. Trong đó có những khu công nghiệp tiêu biểu cho cả nước về xây dựng kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện đại, về tốc độ thu hút đầu tư, quản lý sản xuất và bảo vệ môi trường như VSIP 1, 2, Mỹ Phước, Đồng An, … Bằng những chính sách phù hợp, đến tháng 10 năm 2014, Bình Dương đã thu hút được 2.356 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn là 20 tỷ 200 triệu đô la Mỹ, trên 17.000 doanh nghiệp trong nước. Nhiều khu đô thị và dân cư mới văn minh, hiện đại được hình thành, trong đó tiêu biểu nhất là thành phố mới Bình Dương với điểm nhấn là Trung tâm hành chính tập trung của tỉnh đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 20/02/2014 [43].

2.1.1. Tình hình giáo dục – đào tạo tỉnh Bình Dương

Cùng với sự phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, quy mô giáo dục tỉnh Bình Dương phát triển nhanh. Cuối năm học 2016-2017, toàn ngành có 591 trường học và trung tâm giáo dục thường xuyên. Giáo dục chuyên nghiệp và đại học có 18 trường. Tỷ lệ lầu hóa đạt trên 50%. Đến tháng 8/2017, toàn tỉnh có 236 trường công lập đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 63,8%.

Về độ ngũ, đến tháng 5/2017, toàn ngành có 20.459 công chức, viên chức, nhân viên. Trong đó có 1.142 cán bộ quản lý, trình độ đạt chuẩn trở lên đạt 100% và 14.247 giáo viên trực tiếp đứng lớp, trình độ đạt chuẩn trở lên chiếm 99,8%.

Tỉnh Bình Dương đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn Quốc gia công tác chống mù chữ – phổ cập giáo dục tiểu học năm 1997, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2004.

Chất lượng GDĐT được nâng lên rõ rệt. Các chỉ tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, THCS đạt kế hoạch đề ra, đảm bảo phân luồng học sinh sau THCS. Tại Kỳ thi học sinh giỏi THPT cấp Quốc gia năm 2017, tỉnh đạt 15 giải gồm 01 giải nhì, 05 giải ba và 09 giải khuyến khích (tăng 05 giải so với năm 2016). Năm 2017 tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT đạt 99,83% (trong đó GDPT đạt 99,88%, GDTX đạt 80,87%), số học sinh trúng tuyển vào các trường đại học chiếm 75,84%. Năm 2018 tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT đạt 96,72%, xếp hạng 6/63 tỉnh thành (trong đó GDPT đạt 99,39%, GDTX đạt 76,62%), số học sinh trúng tuyển vào các trường đại học chiếm 70,42%.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

2.1.2. Khái quát về các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên tỉnh Bình Dương Luận văn: Tổng quan về giáo dục nghề tại tỉnh Bình Dương

Thực hiện Thông tư liên tịch số 39/2015/TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 19/10/2015 về việc hướng dẫn việc sáp nhập Trung tâm Dạy nghề, Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm Kĩ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp công lập trên địa bàn thành Trung tâm GDNN – GDTX. Từ ngày 17 tháng 7 năm 2017 theo Quyết định số 1893/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Dương về việc tổ chức Trung tâm GDNN – GDTX cấp huyện tỉnh Bình Dương, các Trung tâm GDTX – KTHN trên địa bàn tỉnh được đổi tên thành Trung tâm GDNN – GDTX.

2.1.2.1. Thuận lợi

Đội ngũ cán bộ GV trẻ, tâm huyết với nghề. CBQL và GV của trung tâm có trình độ CM, nghiệp vụ đạt chuẩn và trên chuẩn khá cao, đáp ứng được yêu cầu GD hiện nay.

Được sự quan tâm lãnh đạo của ngành, các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn.

Tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên phối hợp chặt chẽ với chính quyền, có nhiều đổi mới sáng tạo trong các hoạt động của trung tâm.

Từ năm học 2007-2008, ngành GDĐT tỉnh Bình Dương thực hiện phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS, 70% HS vào học lớp 10 THPT, 30% còn lại vào học tại các trung tâm giáo dục thường xuyên, các trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN), dạy nghề. Việc phân luồng là điều kiện thuận lợi để các trung tâm GDNN-GDTX tuyển sinh hằng năm.

2.1.2.2. Khó khăn

Đội ngũ GV không ổn định (do chuyển công tác); số lượng giáo viên của từng môn học ít; Cán bộ GV tuy đã đạt chuẩn về trình độ CM, nhưng kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy và GD còn hạn chế, ít có cơ hội học hỏi từ đồng nghiệp.

Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu học tập và làm việc; kinh phí dành cho công tác thi đua khen thưởng hạn chế nên nhiều khi chưa động viên, khích lệ được cán bộ GV nỗ lực phấn đấu trong công tác.

Chất lượng tuyển sinh đầu vào của học sinh (HS) phân luồng thấp, không có điểm chuẩn tuyển sinh.

Một bộ phận cha, mẹ HS nhận thức còn hạn chế, ít quan tâm đến con em mình, giao phó việc giáo dục các em cho nhà trường, do đó có nhiều HS vi phạm nội qui của trường, lớp.

Nhiều phụ huynh không quan tâm đến việc huy động nguồn xã hội hóa để giúp trung tâm thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ giáo dục.

2.1.2.3. Đội ngũ – Tổ chức Luận văn: Tổng quan về giáo dục nghề tại tỉnh Bình Dương

Bảng 2.1. Cơ cấu tổ chức các Trung tâm GDNN – GDTX năm học 2017 – 2018

Bảng 2.2. Thống kê số lượng GV dạy GDTX theo môn tại các Trung tâm GDNN – GDTX năm học 2017 – 2018

Qua bảng số liệu 2.1 và 2.2. ta nhận thấy chỉ có môn toán và môn ngữ văn ở một số trung tâm có đủ số lượng giáo viên đủ điều kiện để thành lập TCM riêng biệt, các môn con lại chưa đủ số lượng để thành lập TCM theo Quy định số 1573/SGDĐT-TCCB, ngày 15 tháng 9 năm 2014 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương. Vì vậy việc thành lập tổ ghép là điều dễ hiểu.

Đội ngũ CBQL và GV tại các Trung tâm GDNN – GDTX có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn khá cao (có 91,38 CBQL và GV đạt trình độ ĐH và sau ĐH). Đây là điều kiện thuận lợi để các trung tâm phát triển nâng cao chất lượng giảng dạy.

Đội ngũ CBGV không ổn định, thường có xu hướng chuyển công tác, điều này cho thấy một bộ phận thầy cô chưa thật sự yên tâm công tác, cống hiến cho sự nghiệp GD tại các trung tâm GDNN – GDTX; tỉ lệ CBGV nữ chiếm 51,38% đội ngũ nên có những thời điểm GV nghỉ chế độ dài ngày. Đây là nguyên nhân gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng GD của các trung tâm.

2.1.2.4. Quy mô trường lớp

Hiện nay, tỉnh Bình Dương có 6 Trung tâm GDNN – GDTX trực thuộc quản lý của UBND cấp huyện, các trung tâm thực hiện nhiệm vụ phát triển GD theo nhu cầu học tập của nhân dân trên địa bàn. Số liệu cụ thể như sau:

Bảng 2.3. Quy mô trường lớp tại các Trung tâm GDNN – GDTX

Qua bảng số liệu 2.3 cho thấy quy mô các loại hình đào tạo tại các Trung tâm GDNN – GDTX đa dạng, số lượng HS biến động qua các năm:

Tuyển sinh HS học văn hóa tăng qua các năm từ 2817 lên 3018. Trong đó số lớp THCS giảm xuống cho thấy nhu cầu của người học trong chương trình này giảm xuống. Số lớp và số lượng HS khối THPT tăng lên là do chủ trương phân luồng sau THCS của Tỉnh được thực hiện mạnh mẽ.

Tuy nhiên số HS học văn hóa kết hợp học TCN giảm từ 574 xuống còn 222 HS. Điều này xuất phát chủ yếu từ nguyên nhân do khả năng học tập của học sinh yếu kém nhưng thực hiện học song song 2 chương trình GDNN – GDTX nên các em không theo học được và nghỉ học nhiều. Ngoài ra việc thực hiện chế độ chính sách cho giáo viên trong việc giảng dạy văn hoá đối với các lớp học nghề chưa thoả đáng (giáo viên dạy thừa giờ ở các lớp dạy liên kết GDNN-GDTX được chi trả 50,000 đồng/ 1 tiết), điều nay làm cho các Trung tâm GDNN – GDTX không mạnh dạn trong tuyển sinh đối với học sinh học GDNN. Luận văn: Tổng quan về giáo dục nghề tại tỉnh Bình Dương

Định hướng dạy nghề phổ thông cho HS được các trung tâm quan tâm, triển khai tới HS lớp 8 và lớp 11; số lượng HS học nghề phổ thông giảm mạnh từ 23557 em trong năm học 2016- 2017 xuống còn 8479 em trong năm học 2017 – 2018, tập trung chủ yếu vào khối THCS. Nguyên nhân xuất phát từ việc Bộ GD-ĐT dự thảo và ban hành Thông tư 05 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tuyển sinh THCS và tuyển sinh THPT. Điều này cho thấy HS tham gia học nghề phổ thông với mong muốn được cộng điểm khuyến khích trong tuyển sinh vào lớp 10 chứ không phải từ việc rèn luyện các kỹ năng trong học nghề phổ thông.

Chương trình dạy nghề ngắn hạn không được phát triển theo đúng chủ trương của UBND tỉnh.

Chương trình bồi dưỡng cấp chứng chỉ tin học, ngoại ngữ cho HS học tại trung tâm giảm do công tác đào tạo bồi dưỡng được tập trung chủ yếu tại Trung tâm Ngoại ngữ tin học và bồi dưỡng nghiệp vụ của Tỉnh.

HS bỏ học (chủ yếu là học sinh lớp 10, 11) chiếm tỷ lệ khá cao và tăng qua các năm (từ 6,2 % tăng lên 7,6 %).

2.1.2.5. Kết quả hai mặt giáo dục

Kết quả rèn luyện của HS là thước đo để đánh giá chất lượng GD của các trung tâm. Trong những năm học vừa qua, các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã đạt được một số kết quả nhất định trong GD. Cụ thể như sau.

Bảng 2.4. Kết quả hai mặt giáo dục của năm học 2016 – 2017 và năm học 2017 – 2018

Qua số liệu ở bảng 2.4 về kết quả hai mặt giáo dục 2 năm học từ 2016 đến năm 2018 của các Trung tâm GDNN – GDTX, cho thấy:

Tỷ lệ HS giỏi tại các trung tâm trong hai năm tương đối thấp nhưng được tăng lên qua năm học sau.

Số HS có học lực yếu ở mức cao, năm 2017 – 2018 tăng so với năm học 2016 – 2017, nhưng nhìn chung số HS có học lực loại kém được giảm xuống.

Tỷ lệ HS được xếp hạnh kiểm Tốt, Khá ở khối THPT trong 2 năm học đều hơn 90% và số HS xếp hạnh kiểm yếu giảm (từ 076% xuống 0,49%). Đối với cấp THCS tỉ lệ HS không xếp loại hạnh kiểm khá cao (16.49% và 8.42%). Điều này cho thấy đối tượng HV trên 18 tuổi có nhu cầu học GDTX khá lớn. Tuy nhiên tỉ lệ này giảm trong 2 năm học khảo sát, điều đó cho thấy số HV lớn tuổi theo học GDTX đang giảm dần.

2.2. Khái quát về khảo sát thực trạng Luận văn: Tổng quan về giáo dục nghề tại tỉnh Bình Dương

2.2.1. Mục đích khảo sát

Qua kết quả khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

2.2.2. Đối tượng khảo sát

Tác giả Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trên 06 đơn vị Trung tâm GDNN-GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Bảng 2.5. Đối tượng khảo sát

2.2.3. Nội dung khảo sát Luận văn: Tổng quan về giáo dục nghề tại tỉnh Bình Dương

Khảo sát thực trạng công tác QL hoạt động TCM của các Trung tâm GDNN GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương, theo các nội dung: Bổ nhiệm và quy hoạch TTCM; QL việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của TCM; QL hoạt động dạy học của TCM; QL công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng của GV; QL hoạt động sinh hoạt CM của TCM; công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động TCM.

2.2.4. Phương pháp khảo sát

Trao đổi, phỏng vấn CBGV các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Nghiên cứu tài liệu, nội quy, quy chế Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Điều tra bằng bảng hỏi đối với CBQL, GV các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

2.2.5. Mẫu nghiên cứu

Người nghiên cứu sử dụng phương pháp cắt ngang mô tả. Trên cơ sở thu thập dữ liệu bằng điều tra bảng hỏi rồi dùng phần mềm SPSS 20 để xử lý số liệu và dùng một số phương pháp kiểm nghiệm các chỉ số cơ bản cho số liệu đã được xử lý bằng phần mềm nói trên.

Số phiếu phát ra : 125 phiếu

Số phiếu hợp lệ :  115 phiếu.

Với mỗi câu hỏi đo theo 5 mức độ là 1, 2, 3, 4, 5 như đã nêu ở trên, về mặt lý thuyết giá trị nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 5. Như vậy, mức bình quân là 3,0. Người nghiên cứu dựa vào số Trung bình ( X ) để xếp loại từng nội dung quản lý cụ thể với 5 mức như sau: Luận văn: Tổng quan về giáo dục nghề tại tỉnh Bình Dương

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464