Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong đổi mới giáo dục hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.3. Thực trạng tổ chức và hoạt động tổ chuyên môn tại các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Bình Dương
2.3.1. Thực trạng về cơ cấu tổ chuyên môn tại các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Bình Dương
2.3.1.1. Cơ cấu tổ chuyên môn tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Các Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương thực hiện dạy văn hoá đối với 7 môn bắt buộc (Văn, Toán, Lý, Hóa, Sinh học, Lịch sử, Địa lý) và một số môn khuyến khích (Tiếng Anh, Tin học, GDCD). Biên chế GV trong một số trung tâm ở một số môn học không đủ giáo viên nên các trung tâm phải hợp đồng GV thỉnh giảng. Năm học 2017-2018 khi các trung tâm thuộc Sở GDĐT quản lý đều được bổ sung thêm biên chế GV nhưng mỗi môn cũng chỉ có 1 đến 2 GV.
Bảng 2.7. Cơ cấu tổ chuyên môn tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Bảng 2.8. Khảo sát CBQL và GV về cơ cấu tổ chuyên môn các Trung tâm
Qua bảng 2.7 và 2.8 tác giả nhận xét như sau: Các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương có từ 2 đến 4 TCM và chủ yếu là tổ ghép (chỉ có Trung tâm GDNN – GDTX Thị xã Bến Cát có 01 TCM là tổ đơn môn). Tại Trung tâm GDNN – GDTX Thị xã Thuận An và Trung tâm GDNN – GDTX Thị xã Bến Cát các tổ ghép từ 2 hoặc 3 môn. Tại các Trung tâm GDNN – GDTX còn lại TCM được ghép từ nhiều hơn 3 môn học. Đây là khó khăn rất lớn của TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX trong việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn: Kiểm tra hồ sơ CM; Góp ý sau dự giờ; tổ chức các hoạt động chuyên đề; xây dựng ngân hàng đề kiểm tra, …
Bảng 2.9. Đánh giá của CBQL và GV về cơ cấu TCM tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Biểu đồ 2.1. Đánh giá về cơ cấu tổ chuyên môn tại các trung tâm GDNN – GDTX
Nhìn chung, CBQL và GV đánh giá cơ cấu TCM là không hợp lí. Điều này phù hợp với kết quả điều tra về cơ cấu TCM tại các trung tâm (bảng 2.7). Kết quả khảo sát này giúp cho giám đốc trung tâm có những biện pháp quản lý phù hợp với đặc điểm của các TCM.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục
2.3.1.2. Cơ cấu đội ngũ tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Bảng 2.10. Khảo sát về cơ cấu đội ngũ tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Kết quả khảo sát trong bảng 2.10 cung cấp cho chúng ta thông tin về trình độ đào tạo của CBQL và GV tại các trung tâm như sau: 6/6 Giám đốc trung tâm có trình độ ĐH, chiếm 100% 01/5 Phó Giám đốc trung tâm có trình độ sau ĐH, chiếm 20% 6/32 TTCM, TPCM có trình độ sau ĐH, chiếm 18,75% 08/72 GV có trình độ sau ĐH, chiếm 11,11%
Nhìn chung, tỉ lệ CBQL và TTCM, TPCM có trình độ sau ĐH khá cao so với đội ngũ GV. CBQL có thâm niên công tác QL trên 5 năm, trong đó các giám đốc trung tâm có thâm niên làm công tác QL từ 2 nhiệm kì trở lên. Số TTCM, TPCM có thâm niên làm công tác QL tổ dưới 5 năm chiếm tỉ lệ tương đối nhỏ 33,38% (11/32).
Với trình độ chuyên môn và thâm niên làm công tác QL của đội ngũ CBQL và lãnh đạo TCM như trên sẽ tạo thuận lợi trong việc quản lý hoạt động của TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Tuy nhiên tỉ lệ nữ trong đội ngũ TT, TP chuyên môn và GV khá cao. Chiếm 56,25% (18/32) đối với TT, TP chuyên môn và 59,72% (43/72) đối với GV và phần lớn tập trung ở độ tuổi dưới 40. Điều này có phần hạn chế đến hoạt động của TCM do các yếu tố như: nữ trong độ tuổi sinh con, GV nữ có con nhỏ,…
2.3.2. Thực trạng về hoạt động tổ chuyên môn tại các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Bình Dương
2.3.3.1. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Để tìm hiểu về nhận thức của CBQL và GV về tầm quan trọng của TCM trong các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương, tác giả tiến hành khảo sát và thu được kết quả trình bày ở bảng 2.11 như sau:
Bảng 2.11 Ý kiến của CBQL và GV về tầm quan trọng của TCM trong các Trung tâm GDNN – GDTX
Qua bảng số liệu 2.11, cho thấy CBQL và GV đều đánh giá rất cao về tầm quan trọng của Hoạt động của TCM. Cả 2 nội dung được khảo sát đều có ĐTB ở mức “Rất quan trọng”, 2/2 nội dung đều được CBQL và GV đánh giá tương đồng với nhau. Điều này cho thấy sự đồng tình cao của CBQL và GV trong đánh giá tầm quan trọng của TCM đối với việc góp phần đảm bảo chất lượng giảng dạy của giáo viên và đảm bảo chất lượng giáo dục của trung tâm.
2.3.3.2. Thực trạng về hoạt động của TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Bảng 2.12. Kết quả khảo sát về thực trạng hoạt động TCM
Từ kết quả ở bảng 2.12 cho thấy hoạt động TCM tại các trung tâm GDNN- GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương được CBQL và GV đánh giá tương đối cao.
Cụ thể như sau:
Được đánh giá cao nhất trong các nội dung trên là “Xây dựng và triển khai, thực hiện kế hoạch chuyên môn của tổ” (3,83 điểm). Từ đầu năm học, giám đốc trung tâm đã chỉ đạo TCM xây dựng và thực hiện các kế hoạch trong năm học. Kế hoạch TCM xác định được mục tiêu, nội dung, nhưng cách thức tổ chức thực hiện, nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu nên hiệu quả thực hiện chưa cao.
Nội dung “Tham gia đánh giá và xếp loại giáo viên, đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên” được đánh giá loại (3,82 điểm). TCM tham gia đánh giá và xếp loại giáo viên theo định kỳ vào cuối năm học, có những đánh giá đúng đắn đối với giáo viên trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Song bên cạnh đó vẫn còn tồn tại như: một số TTCM chưa mạnh dạn trong góp ý với đồng nghiệp, chưa nghiêm khắc trong đánh giá giáo viên, còn mang tính thành tích của tổ trong xếp loại GV.
Nội dung“Thực hiện chương trình dạy học” được đánh giá 3,66 điểm. Đây là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, được giám đốc trung tâm yêu cầu TCM chỉ đạo GV thực hiện nghiêm túc, không có hiện tượng cắt xén nội dung chương trình. Tuy nhiên không có chương trình SGK riêng đối với GDTX mà sử dụng chung SGK với GDPT trong khi khung biên chế năm học của GDTX ít hơn so với GDPT 2 tuần. PPCT do Sở GDĐT chỉ đạo các tổ nghiệp vụ bộ môn xây dựng chưa đáp ứng hết yêu cầu đổi mới PPDH. Ở các môn học như vật lí, hóa học, sinh học thì số tiết thực hành còn ít, nhiều giáo viên còn sử dụng tiết thực hành để giải bài tập vì thiếu dụng cụ thí nghiệm.
Nội dung “Sinh hoạt chuyên môn theo định kỳ hằng tháng” với điểm đánh giá là 3,53 điểm. Qua trao đổi với một số CBQL cho thấy TCM tại các trung tâm thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt định kỳ, tuy nhiên hoạt động của TCM chưa đồng bộ về nội dung sinh hoạt chuyên môn, thời gian sinh hoạt chuyên môn, hình thức tổ chức các hoạt động chuyên môn chưa thật sự hiệu quả, khoa học, chưa có tính sáng tạo.
Nội dung “Thao giảng, thi GV giỏi các cấp”. Đây là hoạt động của TCM được đánh giá ở mức thực hiện loại khá (3,57 điểm). Thực hiện kế hoạch của trung tâm, các TCM đều xây dựng kế hoạch thi GV dạy giỏi cấp cơ sở và cấp tỉnh ngay từ đầu năm học, GV tham gia thi GV dạy giỏi các cấp là những GV có năng lực, có tinh thần trách nhiệm cao. Tuy nhiên thực tế chất lượng giảng dạy còn chưa tốt, do mỗi bộ môn chỉ có một đến hai GV, GV chưa đầu tư nhiều cho nội dung bài dạy. Kỳ thi GV dạy giỏi cấp tỉnh và GV dạy giỏi giải thưởng Võ Minh Đức do Sở GDĐT tổ chức hằng năm nhưng GV các trung tâm thi chung với GV các trường THPT và giảng dạy tại các trường THPT nên nhiều GV không mạnh dạn tham gia.
Nội dung “Bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo HS yếu kém”được đánh giá trung bình (3,26 điểm). TCM xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu, kém ngay từ đầu năm học. Việc bồi dưỡng HS giỏi giành cho HS khối 10, 11 theo chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo, nhưng các lớp này thường có tỉ lệ HS giỏi rất ít; việc phụ đạo cho HS yếu kém chủ yếu cho HS khối 12 và chuẩn bị cho kì thi THPT Quốc gia. Công tác kiểm tra của TCM về việc thực hiện kế hoạch, soạn bài đối với các tiết bồi dưỡng cho HS giỏi; phụ đạo HS yếu, kém còn chưa sát sao.
Được đánh giá thấp nhất trong bảng khảo sát là nội dung “Phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong trung tâm tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh” (3,12 điểm). Hoạt động này được tổ chức định kỳ, nhưng đôi khi còn hình thức, chủ yếu các GV chủ nhiệm lớp trực tiếp tham gia các hoạt động để QL lớp. Nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động ngoại khoá nghèo nàn, TCM chưa tham mưu với Lãnh đạo trung tâm để tổ chức các hoạt động phù hợp với nguyện vọng của GV và HS.
2.4. Thực trạng công tác quản lý hoạt động của tổ chuyên môn tại các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Tác giả tiến hành khảo sát, xin ý kiến của 43 CBQL và tổ trưởng, 72 GV tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương, qua đó đánh giá thực trạng công tác QL hoạt động TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Mức độ cho điểm từ 1 điểm đến 5 điểm. Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
2.4.1. Thực trạng công tác bổ nhiệm và quy hoạch tổ trưởng chuyên môn
Kết quả khảo sát Thực trạng công tác bổ nhiệm và quy hoạch tổ trưởng chuyên môn thu được như sau:
Bảng 2.13. Thực trạng quản lý việc bổ nhiệm và quy hoạch TTCM
Biểu đồ 2.2. Thực trạng quản lý việc bổ nhiệm và quy hoạch TTCM
Từ kết quả khảo sát về việc QL công tác bổ nhiệm và quy hoạch TTCM, cho thấy ý kiến của CBQL và GV có nhiều điểm khá tương đồng (3,99 điểm và 3,85 điểm), qua đó cho thấy giám đốc trung tâm đã quan tâm đến công tác bổ nhiệm và quy hoạch đội ngũ tổ trưởng, tổ phó CM, cụ thể:
Các nội dung: “Bổ nhiệm TTCM dựa trên trình độ CM và nghiệp vụ sư phạm; Bổ nhiệm tổ trưởng chuyên môn dựa trên hệ thống các năng lực quản lý; Bổ nhiệm TTCM theo nhiệm kỳ của giám đốc trung tâm, có điều chỉnh hàng năm” đều được đánh giá ở mức thực hiện tốt. Trong đó việc bổ nhiệm TT, TPCM được ưu tiên hàng đầu đối với trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, năng lực quản lý trong nhiệm kỳ của giám đốc trung tâm. Điều này giúp cho đội ngũ lãnh đạo TCM có năng lực và uy tín trong việc điều hành hoạt động của TCM.
Nội dung “Bổ nhiệm TTCM trên cơ sở thăm dò mức độ tín nhiệm của các thành viên TCM” được đánh giá loại khá với 3,57 điểm. Hàng năm, giám đốc trung tâm đều tổ chức lấy phiếu thăm dò tín nhiệm với các chức danh tổ trưởng, tổ phó. Việc quy hoạch các chức danh tổ trưởng, tổ phó đều được đưa ra bàn bạc trong cuộc họp Chi bộ và được sự nhất trí của Chi bộ. Đối với các tổ trưởng, tổ phó được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ thì được tổ chức lấy tín nhiệm lại. Những tổ trưởng, tổ phó được đánh giá chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ sẽ lấy tín nhiệm với số dư để lựa chọn được người có uy tín. Việc lựa chọn tổ trưởng, tổ phó CM được tiến hành hàng năm, căn cứ trên mức độ tín nhiệm và ý kiến thống nhất của Ban lãnh đạo, giám đốc trung tâm là người ra quyết định phân công nhiệm vụ.
Nội dung “Xây dựng và quy hoạch tổ trưởng chuyên môn được tiến hành hàng năm” được đánh giá ở mức trung bình (3,09 điểm), thấp nhất trong các nội dung khảo sát. Trong đó CBQL đánh giá 3,25 điểm, GV đánh giá 3,00 điểm. Điều này cho thấy việc quy hoạch và bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó được giám đốc trung tâm thực hiện đúng quy trình bổ nhiệm, tuy nhiên công tác phát hiện, bồi dưỡng dự nguồn tổ trưởng, tổ phó cần được chú trọng và quan tâm nhiều hơn. Hàng năm Lãnh đạo các trung tâm mới chỉ quan tâm quy hoạch nguồn cán bộ cấp trưởng, cấp phó mà chưa quy hoạch dự nguồn tổ trưởng, tổ phó để có kế hoạch bồi dưỡng, chính vì vậy các đồng chí GV mới được bổ nhiệm TTCM năng lực quản lý yếu nên rất lúng túng trong công tác quản lý TCM.
2.4.2. Thực trạng quản lý xây dựng và thực hiện kế hoạch của TCM Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Để đánh giá thực trạng QL xây dựng và thực hiện kế hoạch của TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Tác giả đã tiến hành khảo sát và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.14. Thực trạng quản lý xây dựng và thực hiện kế hoạch của TCM
Biểu đồ 2.3. Thực trạng quản lý xây dựng và thực hiện kế hoạch của TCM
Xây dựng và thực hiện kế hoạch DH của GV và TCM là cơ sở để các cấp QL kiểm tra, đánh giá, xác định việc hoàn thành, mức độ hoàn thành công việc của TCM và các thành viên trong tổ CM. Tuy nhiên để đạt được chất lượng và yêu cầu của mục tiêu GD, các cấp QL phải quan tâm và chỉ đạo để GV nhận thức đầy đủ mục đích, nội dung phân phối chương trình của từng môn, từng lớp. Từ đó TCM, GV xây dựng kế hoạch DH phù hợp với nhiệm vụ của TCM và công tác giảng dạy của cá nhân.
TTCM xây dựng kế hoạch của TCM và kiểm tra kế hoạch cá nhân của các thành viên trong tổ. Kế hoạch phải được lãnh đạo trung tâm phê duyệt. Việc thực hiện kế hoạch được lãnh đạo trung tâm theo dõi đánh giá, điều chỉnh kịp thời.
Lãnh đạo trung tâm cũng phải xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch QL của mình, bên cạnh kế hoạch chung của trung tâm. Việc xây dựng và thực hiện kế của CBQL ảnh hưởng rất lớn đến công tác QL việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của tất cả cá nhân, của các TCM. Kế hoạch của lãnh đạo trung tâm là những biện pháp QL, những yêu cầu cần đạt được của công tác QL.
Qua khảo sát cho thấy công tác QL việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của TCM được đánh giá chung ở mức khá và có số điểm tương đối thấp là 3,49. Trong đó CBQL đánh giá ở mức khá với 3,59 điểm, GV cũng đánh giá ở mức khá nhưng có số điểm thấp hơn (3,44 điểm). Cụ thể từng nội dung như sau: Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Nội dung “Hướng dẫn TTCM và giáo viên xây dựng kế hoạch hoạt động theo năm học” được đánh giá cao nhất, với 3,83 điểm. Trong đó CBQL đánh giá tốt với 4,21 điểm. Điều đó chứng tỏ hoạt động này của TCM đã được giám đốc trung tâm quan tâm chỉ đạo: Giám đốc trung tâm đã xây dựng được mẫu kế hoạch chung, đảm bảo kế hoạch có sự thống nhất về hình thức. Trong khi đó nội dung này GV đánh giá ở mức khá, với 3,61 điểm. Sự chênh lệch lớn giữa tự đánh giá của CBQL và GV phản ánh biện pháp QL của CBQL về xây dựng và thực hiện kế hoạch vẫn còn có những vướng mắc cần tháo gỡ để có sự thống nhất giữa xây dựng và thực hiện, giữa chủ thể QL và đối tượng QL tại các trung tâm.
Nội dung QL hoạt động “Tổ chức duyệt kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn” được CBQL và GV đánh giá thực hiện tương đồng nhau (3,77 và 3,72 điểm). Từ giữa tháng 8 hằng năm, sau khi có biên chế lớp học; phân công giảng dạy; lãnh đạo trung tâm yêu cầu TCM và GV xây dựng kế hoạch hoạt động theo các văn bản hướng dẫn của ngành, của trung tâm; Giám đốc trung tâm chỉ đạo phó giám đốc trung tâm duyệt kế hoạch hoạt động của TCM và cá nhân. Bản kế hoạch của TCM và của GV là cơ sở để giám đốc trung tâm đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của TCM và cá nhân.
Nội dung “Tổ chức điều tra khảo sát tình hình thực tế, lấy ý kiến của tập thể tổ chuyên môn” được đánh giá ở mức trung bình với 3,30 điểm, trong đó sự đánh giá của CBQL (3,33 điểm) và GV (3,29 điểm) là tương đồng với nhau. Qua đây có thể thấy, công tác tổ chức điều tra khảo sát tình hình thực tế đầu năm chưa sâu sát, chưa mang lại hiệu quả tốt nhất trong công tác QL.
Nội dung QL việc“Quán triệt các văn bản chỉ đạo của cấp trên, kế hoạch chiến lược của nhà trường” được CBQL và GV đánh giá ở mức thấp nhất (3,27 điểm). Trước khi tổ chức xây dựng kế hoạch, giám đốc trung tâm quán triệt các văn bản chỉ đạo của cấp trên, kế hoạch chiến lược và những định hướng lớn trong năm học của trung tâm. Công tác “Giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch của tổ chuyên môn” cũng được đánh giá không cao (3,32 điểm). Gần như kế hoạch xây dựng còn mang nặng tính hình thức, các hoạt động của TCM chủ yếu triển khai theo kế hoạch hàng tuần, hàng tháng của trung tâm. Việc kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện kế hoạch TCM xây dựng từ đầu năm học chưa được thực hiện một cách thường xuyên.
Giám đốc và các phó giám đốc không kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch của TCM thường xuyên, do đó có những bộ môn chậm tiến độ khá nhiều mà phó giám đốc phụ trách CM không nắm được, dẫn đến tình trạng dạy bù để kịp tiến độ chương trình; hoạt động của TCM còn cầm chừng, một số chỉ tiêu đăng kí từ đầu năm học không thực hiện được, đặc biệt là kết quả 2 mặt giáo dục của HS.
2.4.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học của tổ chuyên môn Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Để đánh giá thực trạng QL Thực trạng quản lý hoạt động dạy học của TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Tác giả đã tiến hành khảo sát và thu được kết quả như sau:
2.4.3.1. Quản lý thực hiện chương trình
Bảng 2.15. Đánh giá của CBQL và GV về quản lý thực hiện chương trình
Biểu đồ 2.4. Thực trạng quản lý thực hiệc chương trình của TCM
Căn cứ vào kết quả đánh giá cho thấy, các trung tâm đã thực hiện tốt việc thực hiệc chương trình dạy học. Được CBQL, GV đánh giá tốt (4,23 điểm), kết quả đánh giá của 2 nhóm khảo sát cũng tương đồng với nhau (4,34 và 4,16 điểm). Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn những mặt chưa được đánh giá cao. Cụ thể:
Nội dung “Chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch và thực hiện nội dung chương trình môn học theo PPCT của Bộ GDĐT và Sở GDĐT” được đánh giá cao nhất (4,57 điểm). Đây là nội dung được giám đốc trung tâm đã chỉ đạo TCM xây dựng kế hoạch và thực hiện nghiêm túc chương trình dạy học ngay từ đầu năm học. Không để xảy ra hiện tượng GV cắt xén chương trình, thực hiện nghiêm túc việc dạy bù thời khóa biểu cho những ngày nghỉ do yếu tố khách quan.
Nội dung “Kiểm tra đánh giá việc thực hiện nội dung chương trình môn học” được đánh giá ở mức độ loại tốt, xếp ở vị trí thứ 2 với 4,31 điểm. Đây là nội dung được giám đốc trung tâm ủy quyền cho Phó Giám đốc phụ trách công tác chuyên môn kiểm tra kế hoạch dạy học, sổ ghi đầu bài hằng tuần và dự giờ đột xuất GV để xử lý kịp thời những những trường hợp chưa thực hiện tốt.
Nội dung “Chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy phát triển chương trình nhà trường; dạy học theo chủ đề, dạy học tích hợp, liên môn” được đánh giá thấp nhất, ở mức độ khá với 3,79 điểm. Đây là nội dung được CBQL quan tâm chỉ đạo. Từ đầu năm học giám đốc trung tâm đã chỉ đạo các TCM và GV nghiên cứu: phân phối chương trình, sách giáo khoa, đối tượng HS để xây dựng kế hoạch giảng dạy phù hợp.
So sánh ý kiến đánh giá của 2 nhóm tham gia khảo sát nội dung 2 cho thấy có sự khác biệt: CBQL đánh giá 3,63 điểm, GV đánh giá 4,07 điểm. Trao đổi ý kiến với một số CBQL các trung tâm cho thấy: Một số GV nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của phát triển chương trình môn học đối với sự tồn tại phát triển của đơn vị, cũng như ảnh hưởng của nó đến chất lượng đầu ra của quá trình giá dục, có tâm lý ngại thay đổi và không muốn thay đổi. Bên cạnh đó các trung tâm chưa tạo điều kiện giúp GV biết cách phát triển chương trình môn học, bằng cách hướng dẫn GV, cho GV tham gia bồi dưỡng, tạo điều kiện cho GV được thể hiện mình, chưa để người dạy có quyền chủ động điều chỉnh trong phạm vi nhất định phù hợp với điều kiện cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đề ra; đặc biệt công tác kiểm tra, đánh giá để thấy được mức độ phù hợp của chương giảng dạy với đối tượng HS của các trung tâm để từ đó có biện pháp quản lý phù hợp.
Việc thực hiện giảng dạy theo chủ đề, dạy học tích hợp, liên môn chưa được thực hiện đồng bộ ở tất cả các môn, tất cả giáo viên trong tổ chuyên môn, qua phỏng vấn trực tiếp một số giáo viên còn lúng túng trong việc xây dựng chủ đề tự chọn, nhập nhằng giữa nội dung dạy theo chủ đề và theo khung chương trình; rà soát và báo cáo tình hình thực hiện chương trình của tổ nhóm chuyên môn chưa thường xuyên, nặng hình thức.
2.4.3.2. Quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Giờ dạy trên lớp của giáo viên quyết định chất lượng chất lượng dạy học, giáo viên là người trực tiếp điều khiển, hướng dẫn học sinh học tập đạt kết quả. Tác giả tiến hành khảo sát và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.16. Đánh giá của CBQL và GV về quản lý giờ dạy trên lớp của GV
Biểu đồ 2.5. Thực trạng quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên
Từ bảng 2.16 và biểu đồ 2.5 cho thấy công tác Quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên được CBQL và GV đánh giá chung ở mức độ khá (3,56 điểm). Cụ thể từng nội dung như sau:
Nội dung “Quản lý thực hiện ngày công, giờ công” được đánh giá cao nhất với 4,45 điểm. Mức đánh giá của CBQL và giáo viên có sự tương đồng (4,30 và 4,54 điểm). Điều này cho thấy giám đốc trung tâm đã chỉ đạo TCM quán triệt xuyên suốt trong năm học về việc thực hiện ngày công, giờ công theo TKB của GV nhằm đảm bảo hoạt động dạy học. Đây là nội dung hoạt động của TCM được các trung tâm QL chặt chẽ, có ghi chép, theo dõi của TCM và đây là một tiêu chí dùng để đánh giá xếp loại thi đua.
Nội dung “Quản lý việc soạn giảng, thực hiện đổi mới phương pháp dạy học” được đánh giá loại khá với 3,97 điểm và xếp ở vị trí thứ hai. Điểm đánh giá của CBQL (3,81 điểm) thấp hơn của GV (4,07 điểm). Qua trao đổi với CBQL tại các trung tâm cho thấy: Hầu hết GV đều thực hiện tốt việc chuẩn bị giáo án trước khi lên lớp, TCM ký duyệt giáo án định kỳ hàng tháng. Song bên cạnh đó chất lượng soạn giảng chưa cao, một số giáo viên chưa thực sự đầu tư trong thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động sáng tạo của người học, còn e ngại sự thay đổi.
Các nội dung “Quản lý chất lượng dạy học và kết quả học tập của học sinh các lớp được phân công” và “Quản lý việc tổ chức ra đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh theo định hướng phát triển năng lực” cũng được đánh giá mức độ trung bình (2,98 và 2,82 điểm). Giám đốc trung tâm đã chỉ đạo, giám sát việc tổ chức ra đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo quy trình rõ ràng, cụ thể, thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra tập trung đối với học sinh hệ phân luồng sau THCS. Tuy nhiên công tác ra đề, coi thi giữa các GV chưa được đều tay, các GV trong cùng nhóm chuyên môn chưa có sự đồng thuận trong đánh giá HS, chưa có các tiêu chí đánh giá cụ thể, một số bộ môn giáo viên ít (có môn chỉ 1 giáo viên dạy tất cả các khối) vì vậy đánh giá kết quả đầu ra của học sinh còn mang tính chủ quan.
2.4.3.3. Quản lý công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Công tác bồi dưỡng HS giỏi tại các Trung Tâm GDNN-GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương không giống như ở các trường THPT. Các Trung tâm chỉ tập trung tham dự các kỳ thi do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức như: HS giỏi giải toán Lương Thế Vinh; HS giỏi môn ngữ văn – Giải thưởng Sao khuê; kỳ thi giải toán trên máy tính cầm tay CASIO. Phụ đạo cho HS yếu kém là công việc các Trung tâm luôn cố gắng thực hiện để góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Để đánh giá việc quản lý công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém, tác giả đã tiến hành khảo sát và kết quả thu được như sau:
Bảng 2.17. Đánh giá của CBQL và GV về công tác quản lý bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém
Biểu đồ 2.6. Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém
Kết quả khảo sát cho thấy nội dung “Quản lý việc lên kế hoạch bồi dưỡng HS giỏi, phụ đạo HS yếu, kém” được đánh giá loại tốt (4,23 điểm). Giám đốc trung tâm đã căn cứ vào kế hoạch của Sở GDĐT để chỉ đạo phó giám đốc phụ trách công tác chuyên môn GDTX xây dựng kế hoạch cho đơn vị từ đầu năm học. Các TCM trên cơ sở kế hoạch của trung tâm xây dựng kế hoạch thực hiện. Kế hoạch đều có điều chỉnh kịp thời để phù hợp với điều kiện thực tế, được các tổ viên góp ý và được giám đốc trung tâm phê duyệt.
Nội dung “Phân công giáo viên giảng dạy phù hợp với năng lực chuyên môn, sở trường công tác và tinh thần trách nhiệm” được đánh giá mức độ khá nhưng có số điểm khá cao (4,17 điểm). Điều này cho thấy giám đốc trung tâm đã chỉ đạo TCM phân công giáo viên có năng lực và tinh thần trách nhiệm tham gia bồi dưỡng HS giỏi và phụ đạo HS yếu, kém. Song thực tế trao đổi với một số CBQL, tác giả thấy được do tình hình đội ngũ giáo viên hạn chế về số lượng, chất lượng giáo viên bộ môn ở một số trung tâm chưa cao nên ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả bồi dưỡng HS giỏi nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Nội dung “Tiếp thu ý kiến của HS” được CBQL và GV trung tâm đánh giá với 3,85 điểm. Các trung tâm có sự tiếp thu ý kiến phản hồi từ HS nhưng chưa có sự điều chỉnh một cách kịp thời nhất.
Nội dung “Chỉ đạo thực hiện bồi dưỡng, phụ đạo học sinh trong suốt năm học” được đánh giá mức độ trung bình với 3,40 điểm và đứng thứ 4/5 trong bảng khảo sát. Tuy có xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém nhưng việc thực hiện kế hoạch chưa mang lại hiệu quả. Nguyên nhân chủ yếu được CBQL và GV đưa ra là: công tác bồi dưỡng HS giỏi mang tính thời vụ, việc bồi dưỡng cũng chỉ tổ chức từ 1 đến 2 tháng trước kì thi vì thiếu kinh phí chi trả cho giáo viên; công tác phụ đạo học sinh yếu, kém chủ yếu tổ chức khoảng 1 tháng trước kỳ thi học kỳ do thiếu GV và phòng học để tổ chức xuyên suốt.
Nội dung “Tổ chức khảo sát, đánh giá, phân loại, tuyển chọn học sinh” được đánh giá điểm thấp nhất với 3,36 điểm (mức trung bình). Nguyên nhân là do việc đánh giá phân loại HS chưa phản ánh đúng thực tế, chất lượng đầu vào của học sinh rất thấp nên không có nhiều học sinh giỏi để có cơ hội để chọn lọc HS tham dự các kỳ thi HS giỏi. Việc đánh giá phân loại HS chủ yếu dựa các bài kiểm tra thường xuyên, định kỳ.
Nhìn chung công tác quản lý công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém được CBQL và GV đánh giá ở mức độ khá (3,80 điểm), sự đánh giá của CBQL và GV khá tương đồng với nhau (3,82 và 3,79 điểm). Điều này cho thấy các trung tâm thực hiện công tác này chưa thực sự tốt nhất.
2.4.3.4. Quản lý hồ sơ chuyên môn
Hồ sơ chuyên môn của GV là phương tiện phản ánh quá trình QL có tính khách quan và cụ thể, giúp giám đốc trung tâm nắm chắc hơn, cụ thể hơn tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của GV. Qua khảo sát, tác giả thu được kết quả như sau:
Bảng 2.18. Đánh giá của CBQL và GV về quản lý hồ sơ chuyên môn
Biểu đồ 2.7. Thực trạng quản lý hồ sơ chuyên môn
Từ kết quả đánh giá công tác QL hồ sơ chuyên môn của GV và TCM cho thấy, đây là một trong những hoạt động QL của TCM được đánh giá thực hiện khá (4,16 điểm). CBQL và GV đều đánh giá nội dung quản lý này loại khá và sự đánh giá của 2 nhóm khảo sát khá tương ồng với nhau (4,10 và 4,18 điểm). Điều này cho thấy giám đốc trung tâm đã thực hiện tương đối tốt công tác quản lý nêu trên. Cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Nội dung “Quy định cụ thể hồ sơ TCM, cá nhân giáo viên” được đánh giá mức cao nhất (4,68 điểm). Từ đầu năm học Lãnh đạo trung tâm đã ban hành các quy định về hồ sơ chuyên môn như kế hoạch dạy học và ghi chép chuyên môn của cá nhân, giáo án, sổ điểm cá nhân, sổ chủ nhiệm (nếu GV có làm công tác chủ nhiệm) theo đúng quy định của Bộ Giáo dục vào đào tạo.
Các nội dung “Chỉ đạo tổ chuyên môn định kì kiểm tra hồ sơ cá nhân”; “Nhận xét cụ thể, yêu cấu điều chỉnh, bổ sung sau kiểm tra”; “Sử dụng kết quả kiểm tra trong đánh giá chuẩn giáo viên” cũng được đánh giá mức thực hiện khá. Tuy nhiên nội dung “Kiểm tra đột xuất hồ sơ cá nhân” được đánh giá thấp nhất (3,28 điểm), xếp ở mức trung bình. Qua trao đổi với CBQL và giáo viên cho thấy: Giám đốc trung tâm không “vẽ” thêm các loại hồ sơ sổ sách, không chú trọng quá nhiều vào hình thức các loại hồ sơ sổ cách của TCM và GV. Kiểm tra và chỉ đạo TTCM kiểm tra định kỳ hàng tháng, ký duyệt giáo án 2 lần/tháng. Tuy nhiên công tác kiểm tra đột xuất hồ sơ của GV chưa được tiến hành thường xuyên. Việc kiểm tra chưa mang lại hiệu quả cao, đặc biệt là các góp ý sâu về CM, chất lượng bài giảng.
2.4.3.5. Quản lý việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học ở các tổ chuyên môn
Bảng 2.19. Đánh giá của CBQL và GV về quản lý sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học ở các tổ chuyên môn
Biểu đồ 2.8. Thực trạng quản lý sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học ở các tổ chuyên môn
Kết quả khảo sát cho thấy công tác quản lý việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học ở các tổ chuyên môn theo đánh giá của CBQL và GV tại các trung tâm đạt mức trung bình (3,20 điểm). Trong đó nội dung được đánh giá tốt nhất trong các nội dung được khảo sát là “Tổ chức tập huấn sử dụng các phần mềm tiện ích và trang thiết bị hiện đại trong dạy học và quản lý hoạt động tổ chuyên môn” (3,96 điểm). Điển hình là tập huấn sử dụng bảng tương tác cho GV, yêu cầu TCM và GV tích cực sử dụng trong giảng dạy. Tuy nhiên việc sử dụng của GV chưa mang lại hiệu quả, GV chưa phát huy được các tính năng của thiết bị dạy học.
Các nội dung còn lại đều được đánh giá ở mức trung bình. Cụ thể như sau: Nội dung “Chỉ đạo xây dựng kế hoạch mượn, sử dụng đồ dùng dạy học và bổ sung thiết bị còn thiếu” được đánh giá 3,29 điểm (CBQL 3,37 điểm , GV 3,24 điểm). Điều này cho thấy CBQL có chỉ đạo việc mượn và sử dụng đồ dùng dạy học của GV trong TCM thông qua kế hoạch đăng ký và thực tế sử dụng, song đa số GV có xây dựng kế hoạch nhưng việc thực hiện kế hoạch không đạt chỉ tiêu, vì vậy công tác chỉ đạo của CBQL chưa mang lại hiệu quả tốt nhất.
Nội dung “Chỉ đạo tổ chuyên môn và cán bộ thiết bị rà soát, báo cáo kết quả thực hành thí nghiệm theo định kỳ hàng tháng”. CBQL có chỉ đạo TTCM và cán bộ thiết bị và thực hiện rà soát tình hình thực hiện các tiết thực hành thí nghiệm theo chương trình. Song qua tìm hiểu của tác giả thì công tác chỉ đạo chưa quyết liệt và chưa mang lại hiệu quả cao. Nội dung này được CBQL và GV đánh giá khá tương đồng với nhau và điểm đánh giá chung là 3,19 điểm.
Nội dung “Chỉ đạo tổ chuyên môn, kiểm tra, giám sát việc đăng ký mượn và sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học của giáo viên” được đánh giá trung bình (2,89 điểm). Công tác giám sát việc đăng ký mượn và sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học của giáo viên chưa sâu sát, thiếu chặt chẽ dẫn đến số liệu báo cáo chưa chính xác.
Nội dung “Tổ chức các hội thi làm và sử dụng đồ dùng dạy học đối với giáo viên và thi thực hành thí nghiệm cho học sinh” được đánh giá thấp nhất với 2,72 điểm. Trong kế hoạch năm học, giám đốc trung tâm đều đưa tiêu chí làm và sử dụng đồ dùng dạy học đối với giáo viên. Tuy nhiên khi thực hiện thì công tác làm và sử dụng đồ dùng dạy học chưa mang lại hiệu quả; thi thực hành cho học sinh hầu như chưa được tổ chức.
Nội dung “Sử dụng kết quả kiểm tra vào việc đánh giá thực hiện quy chế chuyên môn đối với giáo viên” được giám đốc trung tâm chỉ đạo thực hiện, tuy nhiên một phần vì thiếu các thiết bị dạy học, một phần vì kết quả theo dõi sử dụng đồ dùng của GV chưa được chính xác. Do đó việc đánh giá thực hiện của GV chưa được sâu sát.
2.4.3.6. Quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Đổi mới PPDH là yêu cầu thiết yếu trong hoạt động chuyên môn của TCM và GV trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Quản lý đổi mới PPDH là yêu cầu cơ bản trong công tác quản lý của giám đốc trung tâm nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong các trung tâm GDNN – GDTX.
Qua khảo sát công tác quản lý hoạt động dạy học tại các trung tâm, tác giả thu được kết quả như sau:
Bảng 2.20. Đánh giá của CBQL và GV về quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở các tổ chuyên môn
Biểu đồ 2.9. Thực trạng quản lý đổi mới phương pháp dạy học
Công tác quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở TCM được CBQL và GV đánh giá chung ở mức khá với 3,49 điểm. Sự đánh giá chung giữa CBQL và GV khá tương đồng với nhau (CBQL 3,55 điểm, GV 3,46 điểm). Trong đó, được đánh giá loại khá là các nội dung “Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, đổi mới phương pháp dạy học của GV” (3,83 điểm) và “Tổ chức chuyên đề, hội giảng, sinh hoạt chuyên môn về nội dung đổi mới PPDH” (3,60 điểm). Kết quả này cho thấy giám đốc trung tâm có sự chỉ đạo trong việc tập huấn bồi dưỡng kiến thức cho GV; chỉ đạo thực hiện các chuyên đề, hội giảng về đổi mới PPDH. Tuy nhiên qua trao đổi với CBQL và GV một số trung tâm, tác giả được biết do chất lượng học tập, ý thức của HS còn thấp, thiết bị đồ dùng dạy học còn hạn chế, kinh phí hạn hẹp nên việc triển khai chưa mang đến hiệu quả tốt nhất như yêu cầu của đổi mới GD.
Các nội dung được đánh giá ở mức trung bình bao gồm: “Tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm vệc thực hiện đổi mới phương pháp sau từng học kỳ và năm học” (3,30 điểm) và “Chỉ đạo giáo viên hướng dẫn phương pháp tự học cho học sinh”(3,23 điểm). Kết quả này cho thấy công tác chỉ đạo rút kinh nghiệm để có những thay đổi phù hợp với thực tiễn trong đổi mới PPDH, chỉ đạo GV hướng dẫn HS tự học của giám đốc trung tâm chưa quyết liệt và chưa mang lại hiệu quả.
2.4.3.7. Quản lý việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh của tổ chuyên môn Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS là căn cứ để điều chỉnh hoạt động của TCM và QL hoạt động TCM. Thông qua kết quả kiểm tra của HS để đánh giá hoạt động GD, đánh giá năng lực giảng dạy của GV và năng lực học tập của HS. Kết quả khảo sát thực trạng QL hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS được CBQL và GV đánh giá chung ở mức trung bình (3,40 điểm). Cụ thể từng nội dung như sau:
Bảng 2.21. Đánh giá của CBQL và GV về quản lý việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh của tổ chuyên môn
Biểu đồ 2.10. Thực trạng quản lý việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh của tổ chuyên môn
Nội dung “Chỉ đạo GV đánh giá học sinh có sự kết hợp giữa chấm điểm và nhận xét sự tiến bộ của HS” được đánh giá cao nhất với 3,95 điểm. Nhìn chung các GV có sự nhận xét đánh giá bài làm của HS song song với việc chấm điểm. (GV đánh giá 4,04 điểm). Qua trao đổi với môt số CBQL cho thấy bên cạnh đó còn một số GV chỉ chấm điểm đơn thuần dựa trên kết quả bài làm mà chưa theo dõi sự chuyên cần của HS để có những động viên, khích lệ HS. (CBQL đánh giá 3,79 điểm).
Nội dung “Quản lý chỉ đạo xây dựng ngân hàng ngân hàng câu hỏi, đề kiểm tra theo hướng phát triển năng lực người học” được đánh giá ở mức độ trung bình với 3,17 điểm. Giám đốc trung tâm chỉ đạo TCM xây dựng ngân hàng đề thi chung theo từng bộ môn trong tổ. Các tổ cũng tiến hành thực hiện. Tuy nhiên nội dung chưa phong phú, đề thi chưa đáp ứng được việc đánh giá kiến thức liên môn của HS.
Nội dung “Chỉ đạo GV hướng dẫn HS biết tự đánh giá và đánh giá kết quả học tập của bạn” được đánh giá ở mức trung bình với số điểm thấp nhất trong các nội dung được khảo sát (3,07 điểm). Nguyên nhân là do lực học của HS chủ yếu ở mức trung bình trở xuống, nhiều GV chưa hướng dẫn HS tự tổng kết điểm theo từng tháng để từ đó đề ra hướng phấn đấu cho bản thân dẫn đến tự ti, không dám thể hiện chính kiến của mình.
2.4.3.8. Quản lý hoạt động thao giảng, dự giờ, hội giảng các tổ chuyên môn Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Bảng 2.22. Đánh giá của CBQL và GV về quản lý thao giảng, dự giờ, hội giảng của tổ chuyên môn
Biểu đồ 2.11. Thực trạng quản lý thao giảng, dự giờ, hội giảng các TCM
Từ bảng 2.22 và biểu đồ 2.11 tác giả nhận xét như sau:
- Các nội dung được đánh giá thực hiện tốt bao gồm:“Quản lý xây dựng kế hoạch dự giờ, hội giảng, thao giảng trong năm học” (4,67 điểm); “Có kế hoạch dự giờ, hội giảng, thao giảng cho tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn theo tháng” (4,43 điểm). Điều này cho thấy các TCM đã thực hiện tốt việc xây dựng kế hoạch thực hiện trên cơ sở kế hoạch trung tâm; tiến hành lên lịch dự giờ theo từng tuần, tháng. Việc dự giờ học tập kinh nghiệm của GV đều phải đăng kí trước, có sự giám sát kiểm tra của TCM và của Lãnh đạo trung tâm.
- Các nội dung còn lại được đánh giá ở mức thực hiện loại khá, bao gồm: Nội dung “Tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm giờ dạy, hội giảng, thao giảng của tổ chuyên môn” (4,02 điểm). Công tác đánh giá rút kinh nghiệm được tổ chức thường xuyên sau mội hoạt động, tuy nhiên trong đánh giá còn có phần e dè, nể nang nhau nên hiệu quả hoạt động chưa đạt được tốt nhất theo yêu cầu.
Nội dung “Biểu dương, khen thưởng, nhân rộng điển hình trong tổ, nhóm chuyên môn” được đánh giá (3,90 điểm), hoạt động này được đánh giá thực hiện nhiều lúc chưa kịp thời nên chưa có tác dụng động viên, khích lệ đội ngũ GV, kinh phí dành cho hoạt động thao giảng, thực hiện các chuyên đề hội giảng còn hạn hẹp.
Nội dung “Xây dựng tiêu chí cụ thể cho các giờ hội giảng, thao giảng theo hướng đổi mới PPDH” (3,77 điểm). Các TCM chưa thực hiện tốt nhất việc xây dựng các tiêu chí đánh giá tiết dạy phù hợp với thực tiễn đơn vị trên cơ sở quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Nhìn chung, công tác quản lý hoạt động thao giảng, dự giờ, hội giảng các tổ chuyên môn được thực hiện tương đối tốt, đánh giá của CBQL và GV có tương đồng với nhau.
2.4.4. Thực trạng quản lý việc thực hiện đổi mới sinh hoạt của tổ chuyên môn
Bảng 2.23. Đánh giá của CBQL và GV về việc thực hiện đổi mới sinh hoạt của tổ chuyên môn
Biểu đồ 2.12. Thực trạng quản lý thực hiện đổi mới sinh hoạt của tổ chuyên môn
Qua kết quả khảo sát cho thấy giữa CBQL và GV có sự đánh giá tương đồng với nhau (3,61 điểm) về công tác QL việc thực hiện đổi mới sinh hoạt của tổ chuyên môn tại các Trung tâm GDNN-GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương, xếp chung ở mức độ khá. Trong đó, các nội dung được đánh giá cao nhất là “Chỉ đạo Tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch sinh hoạt tổ chuyên môn theo tháng, học kì và năm học” (4,10 điểm) và “Tổ chức các chuyên đề tập huấn quán triệt nội dung đổi mới sinh hoạt chuyên môn” (3,98 điểm). Thể hiện CBQL có chỉ đạo TCM xây dựng kế hoạch sinh hoạt theo tháng, học kì và năm học, tổ chức tập huấn nội dung đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn đến từng tổ bộ môn, thực hiện khá tốt.
Các nội dung còn lại được đánh giá thấp hơn, bao gồm: “Kiểm tra, đánh giá sinh hoạt tổ chuyên môn theo kế hoạch” (3,46 điểm); “Tổ chức thực hiện sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học. Chú trọng chất lượng sinh hoạt TCM” (3,32 điểm); “Quản lý việc thực hiện kế hoạch dạy học theo chủ đề của tổ chuyên môn” (3,17 điểm). Điều này cho thấy công tác kiểm tra, đánh giá sinh hoạt tổ chưa thực sự hiệu quả. Việc thực hiện sinh hoạt TCM theo nghiên cứu bài học, phát triển chương trình nhà trường, xây dựng chủ đề dạy học tích hợp, liên môn có phổ biến nhưng chỉ đạo chưa sâu sát, nội dung sinh hoạt chưa rõ ràng, quản lý chưa chặt chẽ.
2.4.5. Thực trạng quản lý công tác tự bồi dưỡng, bồi dưỡng của giáo viên Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Bảng 2.24. Đánh giá của CBQL và GV về quản lý công tác tự bồi dưỡng, bồi dưỡng của giáo viên
Biểu đồ 2.13. Đánh giá về thực trạng quản lý bồi dưỡng, tự bồi dưỡng của giáo viên
Qua khảo sát cho thấy công tác QL việc bồi dưỡng, tự bồi dưỡng GV tại các Trung tâm GDNN-GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương được CBQL và GV đánh giá chung ở mức độ trung bình với 3,37 điểm (CBQL đánh giá 3,36 điểm, GV đánh giá 3,37 điểm).
Các nội dung được đánh giá ở mức độ khá bao gồm: “Xây dựng kế hoạch chiến lược bồi dưỡng phát triển đội ngũ, có điều chỉnh bổ sung hằng năm” (3,66 điểm); “Chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên, kế hoạch giao lưu giữa các đơn vị” (3,55 điểm). “Động viên, khuyến khích, khen thưởng giáo viên nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm, đạt thành tích trong học tập” (3,43 điểm). Nhìn chung giám đốc trung tâm đã thực hiện công tác quản lý tương đối tốt ở các nội dung trên. Xây dựng kế hoạch chiến lược có nội dung bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho GV, đặc biệt nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho GV trong tổ chuyên môn có lộ trình rõ ràng, cụ thể theo kế hoạch đào tạo bồi dưỡng hằng năm, kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên. Có quy định mức khen thưởng để động viên GV NCKH, viết SKKN. Tuy nhiên qua tìm hiểu cho thấy việc bồi dưỡng thường xuyên còn mang nặng hình thức, công tác NCKH, viết SKKN chủ yếu để xét thi đua trong năm học mà chưa mang lại hiệu quả cao. Việc giao lưu với các trường bạn chưa được sự quan tâm chỉ đạo tích cực của đội ngũ CBQL, thiếu kinh phí để tổ chức.
Các nội dung còn lại được CBQL và GV đánh giá ở mức trung bình, bao gồm: “Chỉ đạo tổ trưởng chuyên môn đôn đốc, nhắc nhở và đánh giá việc thực hiện bồi dưỡng trong tổ chuyên môn theo kế hoạch” (3,33 điểm); “Sử dụng kết quả bồi dưỡng vào việc đánh giá xếp loại chuyên môn, nghiệp vụ cho các thành viên trong tổ chuyên môn” (3,18 điểm); “Mời báo cáo viên, giáo viên tiêu biểu các trường báo cáo chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục học sinh” (3,07 điểm). Qua trao đổi với một số TTCM cho thấy một số giám đốc trung tâm chưa quan tâm đến việc đôn đốc các TCM thực hiện kế hoạch bồi dưỡng mà thường giao phó cho các phó giám đốc phụ trách chuyên môn; việc sử dụng kết quả bồi dưỡng vào đánh giá giáo viên chưa được coi trọng; thiếu kinh phí để mời báo cáo viên báo cáo các chuyên đề bồi dưỡng cho GV.
2.4.6. Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của tổ chuyên môn
Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của TCM góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong các trung tâm. Kết quả khảo sát của tác giả được thể hiện như sau:
Bảng 2.25. Đánh giá của CBQL và GV về thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của tổ chuyên môn
Biểu đồ 2.14. Đánh giá của CBQL và GV về thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của tổ chuyên môn
Kiểm tra, đánh giá là một trong những chức năng quan trọng của QL. Đặc biệt trong QL hoạt động chuyên môn thì kiểm tra đánh giá của giám đốc trung tâm có ý nghĩa rất quan trọng. Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của TCM của giám đốc trung tâm được CBQL và GV đánh giá thực hiện ở mức độ khá (3,53 điểm), trong đó điểm đánh giá của CBQL là 3,56; điểm đánh giá của GV là 3,50.
Qua kết quả khảo sát có thể thấy nội dung “Đánh giá GV qua sự tín nhiệm của tập thể” được CBQL và GV đánh giá thực hiện ở mức độ tốt, thứ nhất với 4,43 điểm. Đây là nội dung được đánh giá công tác QL thực hiện nghiêm túc, trong các buổi sinh hoạt TCM, các thành viên trong tổ luôn thẳng thắn chỉ ra những tồn tại trong hoạt động của mỗi cá nhân và góp ý biện pháp khắc phục; hàng tháng đều có đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Xếp thứ hai là nội dung “Kiểm tra các loại hồ sơ TCM và hồ sơ GV hàng tháng” với 3,96 điểm. Công tác kiểm tra hồ sơ TCM và GV được thực hiện đầy đủ, có sự ủy quyền của giám đốc trung tâm với các phó giám đốc để giảm tải công việc cũng như tăng chất lượng kiểm tra. Tuy nhiên một số đơn vị vẫn còn mang nặng tính hình thức trong việc kiểm tra hồ sơ của TCM và GV.
Nội dung “Đánh giá việc thực hiện kế hoạch của GV thông qua các buổi sinh hoạt tổ, việc thực hiện nề nếp lên lớp” được đánh giá thực hiện ở mức độ khá và xếp thứ 3 với 3,87 điểm. Nhìn chung, công tác đánh giá việc thực hiện kế hoạch của GV nhận được sự quan tâm nhất định của giám đốc trung tâm . Tuy nhiên công tác chưa mang lại hiệu quả cao. Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Nội dung “Kiểm tra việc chuẩn bị bài dạy của giáo viên thông qua giáo án” được CBQL và GV đánh giá ở mức độ khá với 3,83 điểm. So sánh 2 nhóm được khảo sát có sự khác nhau về điểm số (CBQL: 3,90 điểm, GV: 3,79 điểm). Qua tìm hiểu thực tế cho thấy công tác kiểm tra việc chuẩn bị bài dạy của GV thông qua giáo án mới chỉ đánh giá được GV lên lớp có soạn bài đầy đủ, còn chất lượng của bài soạn chưa được kiểm tra sát sao.
Các nội dung còn lại được đánh giá ở mức điểm trung bình, bao gồm:
Nội dung “Kiểm tra giờ dạy trên lớp thông qua dự giờ, phản ánh của học sinh” được đánh giá 3,35 điểm. Thực tế khảo sát cho thấy Ban giám đốc các trung tâm có quan tâm dự giờ thăm lớp khi có sự phản ánh của HS về nội dung, phương pháp giảng dạy của GV. Tuy nhiên những giải pháp đề ra nhằm nâng cao chất lượng GD chưa mang lại hiệu quả.
Nội dung “Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch hoạt động CM của tổ và của GV” được đánh giá 3,29 điểm. Nhìn chung, giám đốc trung tâm thực hiện tốt khâu kiểm tra việc xây dựng kế hoạch, còn khâu kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hầu như còn bỏ ngõ.
Nội dung “Đánh giá GV thông qua kết quả học tập của HS”cũng được đánh giá tương đối thấp (3,17 điểm). Do chất lượng đầu vào của HS thấp nên giám đốc trung tâm chưa đặt nặng vấn đề đánh giá GV thông qua kết quả học tập của HS.
Nội dung “Đánh giá việc thực hiện kế hoạch CM của tổ trưởng thông qua các hoạt động kiểm tra” được đánh giá TB với 3,09 điểm. Công tác kiểm tra thực hiện kế hoạch chuyên môn của tổ trưởng được thực hiện định kỳ theo từng học kỳ nhưng còn nhận xét chung chung, chưa những biện pháp điều chỉnh phù hợp để các Kế hoạch đạt được các chỉ tiêu đề ra.
Được đánh giá thấp nhất là nội dung “Kiểm tra việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của GV thông qua đồng nghiệp, sinh hoạt chuyên đề, viết sáng kiến kinh nghiệm” (2,73 điểm) . Việc kiểm tra bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ chưa được giám đốc trung tâm quan tâm nhiều. Sinh hoạt chuyên đề còn đơn điệu. QL viết và áp dụng SKKN chưa mang lại hiệu quả, còn nặng nề về thành tích thi đua.
2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm GDNN – GDTX Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
2.5.1. Các yếu tố chủ quan
Qua khảo sát các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động TCM tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương, kết quả xử lý thông tin trong phiếu khảo sát được trình bày trong bảng 2.20 như sau:
Bảng 2.26. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm GDNN – GDTX
Kết quả đánh giá ở bảng 2.26 cho thấy các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động TCM được CBQL và GV đánh giá chung ở mức “ảnh hưởng rất nhiều” với ĐTB là 4,29. Trong đó:
Các yếu tố “Năng lực quản lý của giám đốc đối với hoạt động của tổ chuyên môn” (ĐTB = 4,36; S = 0,57) và “Nhận thức của giám đốc về tầm quan trọng của hoạt động của tổ chuyên môn” (ĐTB = 4,35; S = 0,59) được xếp thứ nhất và thứ hai trong bảng khảo sát, tuy nhiên có ĐTB rất gần nhau và độ lệch chuẩn thấp. Kết quả này thêm phần khẳng định giám đốc trung tâm là người điều hành các hoạt động trong trung tâm và chịu trách nhiệm trước cấp trên về kết quả của đơn vị do cá nhân phụ trách. Do đó để QL và điều hành tốt các hoạt động trong trung tâm thì trình độ, nhận thức và năng lực QL của giám đốc trung tâm luôn được đặt lên hàng đầu.
Các yếu tố “Năng lực quản lý của tổ trưởng chuyên môn đối với hoạt động của tổ chuyên môn” (ĐTB = 4,33; S=0,68) và “Nhận thức của tổ trưởng chuyên môn về tầm quan trọng của hoạt động của tổ chuyên môn” (ĐTB = 4,26; S = 0,63) được xếp hạng thứ ba và thứ tư trong các yếu tố được khảo sát cũng có mức ĐTB tương đối gần nhau. Tổ trưởng chuyên môn là những người trực tiếp điều hành hoạt động của TCM theo chỉ đạo của giám đốc trung tâm. Ngoài ra tổ trưởng chuyên môn còn phải thực hiện các công việc như những giáo viên khác (giảng dạy, chủ nhiệm lớp,…). Vì vậy để điều hành hoạt động của TCM một cách có hiệu quả thì tổ trưởng chuyên môn phải có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của TCM, ngoài ra tổ trưởng chuyên môn phải là người vừa có năng lực QL vừa có năng lực về chuyên môn, được tập thể tín nhiệm. Trong thực tế hiện nay vẫn còn một số tổ trưởng chuyên môn chưa chuyên tâm trong điều hành hoạt động của tổ, quản lý còn nặng về hồ sơ sổ sách, uy tín trong tập thể tổ không cao nên hiệu quả hoạt động của TCM chưa cao.
Được đánh giá thấp nhất trong các yếu tố khảo sát là “Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động của tổ chuyên môn” (ĐTB = 4,24; S = 0,74) và “Ý thức trách nhiệm, năng lực chuyên môn của giáo viên đối với hoạt động của tổ chuyên môn” (ĐTB = 4,21; S = 0,80). Tuy nhiên ĐBT của 2 yếu tố này vẫn ở mức cao và có “ảnh hưởng rất nhiều” đến công tác QL hoạt động của TCM. Điều này cho thấy nhận thức, ý thức trách nhim và năng lực chuyên môn của đội ngũ GV có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ của TCM. Nếu đội ngũ GV trong tổ có ý thức trách nhiệm cao, năng lực chuyên môn tốt và có sự đoàn kết nội bộ thì các nhiệm vụ của TCM dễ dàng được thực hiện. Ngược lại, nếu TCM có đội ngũ GV bất đồng quan điểm, thiếu ý thức trách nhiệm và năng lực chuyên môn không tốt thì việc thực hiện các nhiệm vụ của tổ sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Thực tế hiện nay ở một số trung tâm chưa đề cao vai trò của GV trong hoạt động của TCM so với các yếu tố khác. Ngoài ra một bộ phận GV chưa nhận thức tốt vai trò của bản thân trong hoạt động của TCM, từ đó chưa thể hiện hết ý thức trách nhiệm của bản thân trong các hoạt động của tổ.
2.5.2. Các yếu tố khách quan
Qua khảo sát các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động TCM tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương, kết quả xử lý thông tin trong phiếu khảo sát được trình bày trong bảng 2.27 như sau:
Bảng 2.27. Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm GDNN – GDTX
Kết quả khảo sát ở bảng 2.27 cho thấy yếu tố khách quan được CBQL và GV đánh giá có mức độ “ảnh hưởng rất nhiều” đến hoạt động của TCM với điểm trung bình là 4,31.
Yếu tố“Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động tổ chuyên môn của cấp trên” được đánh giá có mức ảnh hưởng lớn nhất (ĐTB 4,06; S = 0,51). Giám đốc trung tâm chỉ đạo hoạt động TCM dựa trên các văn bản chỉ đạo của Bộ GDĐT, Sở GDĐT thông qua việc ban hành các văn bản như kế hoạch, quy định,…Các văn bản chỉ đạo rõ ràng và kịp thời sẽ mang lại hiệu quả cao trong hoạt động của TCM. Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Yếu tố “Cơ sở vật chất, trang thiết bị của trung tâm phục vụ cho hoạt động của tổ chuyên môn” được đánh giá hạng thứ hai (ĐTB = 4,39; S = 0,69). Hoạt động chủ yếu của TCM là phục vụ cho công tác giảng dạy của GV. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học có vai trò to lớn trong việc đổi mới PPDH của GV. Thực tế khảo sát cho thấy tại các trung tâm không có phòng thí nghiệm thực hành, phòng thiết bị và thư viện vừa chật hẹp vừa thiếu thiết bị và đầu sách nên gây khó khăn cho giáo viên trong hoạt động dạy học. Các thiết bị day học hiện đại như bảng tương tác thông minh ActivBoard, Projector chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng cho giáo viên, nhất là trong các đợt thao giảng, thi giáo viên dạy giỏi. Sân chơi bãi tập chật hẹp gây khó khăn trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, rèn luyện thể chất, tổ chức các hoạt động phong trào.
Các yếu tố còn lại gồm“Sự phối hợp giữa tổ chuyên môn với các tổ chức đoàn thể trong trung tâm” và “Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp lãnh đạo” có ĐTB gần nhau và được đánh giá “ảnh hưởng rất nhiều” đến công tác QL hoạt động TCM của giám đốc trung tâm. Nhìn chung các trung tâm có sự phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong đó chủ yếu là Đoàn thanh niên. Sự phối hợp thường được thực hiện khi tổ chức các chuyên đề cho học sinh. Song nhìn chung kết quả phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ chưa đạt được hiệu quả cao nhất theo yêu cầu. Nguyên nhân chủ yếu do thiếu kinh phí cho các hoạt động và sự phân công công việc trong quá trình phối hợp cũng như sự chỉ đạo của cấp trên.
Mức đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đều có ĐTB ³ 4,21 và có độ lệch chuẩn thấp. Điều này cho thấy CBQL và GV các trung tâm đều đánh giá cao về sự ảnh hưởng của các yếu tố và sự đánh giá khá tập trung. Như vậy có thể kết luận công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương chịu ảnh hưởng lớn đến các yếu tố chủ quan và khách quan. Trong đó đáng chú ý nhất là một số yếu tố như: Năng lực quản lý của giám đốc đối với hoạt động của tổ chuyên môn; Nhận thức của giám đốc về tầm quan trọng của hoạt động của tổ chuyên môn; Năng lực quản lý của tổ trưởng chuyên môn đối với hoạt động của tổ chuyên môn; Nhận thức của tổ trưởng chuyên môn về tầm quan trọng của hoạt động của tổ chuyên môn; Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động tổ chuyên môn của cấp trên; Cơ sở vật chất, trang thiết bị của trung tâm phục vụ cho hoạt động của tổ chuyên môn;…
2.6. Đánh giá chung Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
2.61. Ưu điểm
Về công tác bổ nhiệm và quy hoạch TTCM: Giám đốc Trung tâm GDNN-GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã thực hiện khá tốt công tác bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó các TCM. Công tác bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó CM được thực hiện theo các quy trình chặt chẽ, khoa học.
Về công tác quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động của TCM: Giám đốc Trung tâm đã thực hiện triển khai xây dựng kế hoạch theo đúng các bước, hướng dẫn TCM và giáo viên về công tác xây dựng kế hoạch của TCM và các cá nhân. Các kế hoạch đều có mẫu hướng dẫn thực hiện chung, đảm bảo sự thống nhất trong trung tâm.
Về công tác quản lý hoạt động dạy học của TCM: Trung tâm đã thực hiện tốt công tác QL hồ sơ CM của GV. Công tác kiểm tra hồ sơ CM được thực hiện có hiệu quả, có kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột xuất. Công tác QL việc dự giờ, hội giảng, thao giảng được tiến hành theo kế hoạch. Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Về công tác quản lý bồi dưỡng, tự bồi dưỡng của GV: Giám đốc trung tâm đã triển khai và tạo điều kiện để GV tham gia bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Có chế độ khen thưởng cho GV trong công tác học tập, nghiên cứu.
Về công tác quản lý hoạt động sinh hoạt của TCM: TCM thực hiện khá nghiêm túc công tác QL hồ sơ CM của GV, việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học, kế hoạch giáo dục, công tác kiểm tra đánh giá cho điểm của TCM. Bên cạnh đó, công tác QL dự giờ, hội giảng, thao giảng được TCM thực hiện nghiêm túc.
Về công tác quản lý công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động TCM: Giám đốc trung tâm đã thực hiện khá tốt công tác kiểm tra hồ sơ TCM và GV. Nội dung đánh giá việc thực hiện kế hoạch CM của tổ trưởng thông qua các hoạt động kiểm tra cũng được giám đốc trung tâm coi trọng.
2.6.2. Hạn chế
Công tác xây dựng kế hoạch của TCM còn mang nặng tính hình thức, đối phó, các chỉ tiêu xây dựng còn chưa sát với thực tế. Công tác kiểm tra, rà soát, điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch của TCM và tổ viên trong năm học chưa được thực sự có hiệu quả.
Nhận thức của GV về đổi mới PPDH còn nhiều hạn chế. Công tác bồi dưỡng thường xuyên của GV chưa được quan tâm đúng mức. Việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ chủ yếu thực hiện theo các chuyên đề của Sở, còn các trung tâm chưa có những chuyên đề bồi dưỡng riêng. Công tác QL giờ dạy của GV chưa chặt chẽ, vẫn còn có hiện tượng GV ra, vào lớp chưa đúng giờ.
Giám đốc trung tâm chưa bao quát hết hoạt động của TCM, công tác kiểm tra, đánh giá chưa thường xuyên dẫn đến việc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch cá nhân chưa nghiêm túc. Việc nhắc nhở GV sửa chữa những sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chưa kịp thời, Giám đốc trung tâm chưa kịp thời tư vấn, thúc đẩy các hoạt động của TCM. Việc xử lý GV vi phạm chưa kiên quyết, còn cả nể.
Do chưa được bồi dưỡng về nghiệp vụ QL nên phương pháp làm việc của TTCM chưa khoa học, chưa hình dung hết công việc quản lý TCM. Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động CM của TCM chưa sâu sát, còn mang nặng tính hình thức. Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ QL hoạt động TCM ít, nội dung và hình thức hoạt động TCM còn nghèo nàn. Những vấn đề này ảnh hưởng lớn đến việc QL các hoạt động chung của trung tâm cũng như QL các hoạt động TCM của giám đốc trung tâm.
2.6.3. Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
Qua quá trình khảo sát thực trạng QL hoạt động TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương, tác giả nhận thấy công tác QL chuyên môn nói chung, công tác QL hoạt động TCM nói riêng của giám đốc trung tâm tương đối bài bản, khoa học và có tác dụng nhất định. Nguyên nhân của những thành công là giám đốc trung tâm đã nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng. Giám đốc trung tâm đã nghiên cứu và bám sát nội dung QL hoạt động TCM theo điều lệ trường phổ thông và các văn bản quy định của Bộ GDĐT. Các biện pháp giám đốc trung tâm áp dụng vào thực tế cơ bản đã được nghiên cứu để phù hợp với tình hình thực tế của trung tâm.
Tuy nhiên, công tác QL hoạt động TCM của giám đốc trung tâm cũng có những hạn chế nhất định mà qua phần đánh giá thực trạng đã nêu rõ. Nguyên nhân của những hạn chế đó là giám đốc trung tâm chưa thật coi trọng việc QL chỉ đạo các hoạt động TCM, đôi khi lồng ghép việc QL chỉ đạo hoạt động TCM với các hoạt động khác. Công tác kiểm tra hoạt động của TCM chưa thường xuyên; cán bộ QL ít dự sinh hoạt với TCM để nắm bắt thông tin.
Với những đánh giá thực trạng, phân tích làm rõ nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện các biện pháp QL hoạt động TCM, vấn đề đặt ra cho cho công tác QL hoạt động TCM của giám đốc Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn như sau:
TCM là tổ ghép nên GV ít có điều kiện trao đổi kinh nghiệm cũng như kiến thức CM. Tổ chức các hoạt động CM không thể đi sâu vào từng môn do lực lượng quá mỏng. Vì vậy, cần có biện pháp QL, chỉ đạo hoạt động TCM mang tính đồng bộ, đặc biệt có thể tạo điều kiện cho GV trong trung tâm được tham gia thường xuyên các hoạt động CM có chất lượng.
Tiểu kết chương 2
Qua kết quả khảo sát, phân tích, đánh giá hoạt động của TCM và thực trạng QL hoạt động TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương cho thấy:
- Về cơ cấu TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX chủ yếu là tổ ghép liên môn. Kết quả khảo sát có đến 80,87% CBQL và GV đánh giá là chưa hợp lý. Tuy nhiên, sự tồn tại này xuất phát từ số lượng biên chế giáo viên của từng môn học trong các trung tâm.
- CBQL và GV nhận thức được tầm quan trọng của TCM trong các trung tâm GDNN – GDTX. Các nội dung hoạt động của TCM được đánh giá tương đối cao (ĐTB của CBQL là 3,47; của GV là 3,55). Trong đó, các nội dung được đánh giá tốt nhất là: Xây dựng và thực hiện kế hoạch của TCM (ĐTB = 3,83); TCM tham gia đánh giá và xếp loại giáo viên (ĐTB = 3,82); Thực hiện chương trình dạy học (ĐTB = 3,66); Thao giảng và thi giáo viên dạy giỏi các cấp (ĐTB = 3,47). Song còn một số nội dung được đánh giá ở mức trung bình, như: Bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu kém (ĐTB = 3,26); Phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong trung tâm tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (ĐTB 3,12).
- Giám đốc trung tâm đã thực hiện tốt công tác QL ở các nội dung: Quản lý việc thực hiện chương trình dạy học (ĐTB = 4,23); Quản lý hồ sơ chuyên môn (ĐTB = 4,16); Quản lý thao giảng, dự giờ (ĐTB = 4,16). Một số nội dung được đánh giá thực hiện ở mức độ khá như: Bổ nhiệm và quy hoạch TTCM (ĐTB = 3,90); Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của TCM (ĐTB = 3,49); Quản lý giờ dạy trên lớp của GV (ĐTB = 3,56); Công tác bồi dưỡng HS giỏi và phụ đạo HS yếu kém ((ĐTB = 3,80); Quản lý đổi mới PPDH (ĐTB = 3,49); Quản lý đổi mới công tác kiểm tra đánh giá (ĐTB = 3,40); Quản lý đổi mới sinh hoạt của tổ chuyên môn (ĐTB = 3,61); Công tác kiểm tra đánh giá hoạt động của TCM (ĐTB 3,53). Tuy nhiên trong các nội dung trên vẫn có một số vấn đề cũng được đánh giá không cao, cụ thể như: Xây dựng và quy hoạch TTCM (TTB = 3,09); Tổ chức khảo sát thực tế trong việc xây dựng kế hoạch của TCM (TTB = 3,30); Giám sát việc thực hiện kế hoạch của TCM (TTB = 3,32); Quản lý việc ra đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng phát triển năng lực (TTB = 2,98); Quản lý chất lượng dạy học (TTB = 2,82); Tổ chức khảo sát, phân loại và tuyển chọn học sinh (TTB = 3,36); Kiểm tra đột xuất hồ sơ cá nhân (TTB = 3,28 ); Chỉ đạo GV xây dựng ngân hàng đề kiểm tra (TTB = 3,17); Kiểm tra việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của GV thông qua đồng nghiệp, sinh hoạt chuyên đề, viết và áp dụng NCKH (TTB = 2,73); Quản lý việc thực hiện kế hoạch dạy học theo chủ đề của tổ chuyên môn (TTB = 3,17);…; Tổ chức thực hiện sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học (TTB = 3,32);…
Bên cạnh đó còn một số công tác quản lý được đánh giá ở mức độ trung bình: Quản lý việc sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học ((ĐTB = 3,20); Quản lý công tác tự bồi dưỡng, bồi dưỡng của GV ((ĐTB = 3,37).
Công tác quản lý hoạt động TCM chịu ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan. Các yếu tố được CBQL và GV đánh giá chịu ảnh hưởng lớn nhất gồm: Năng lực quản lý của giám đốc đối với hoạt động của tổ chuyên môn; Nhận thức của giám đốc về tầm quan trọng của hoạt động của tổ chuyên môn; Năng lực quản lý của tổ trưởng chuyên môn đối với hoạt động của tổ chuyên môn; Nhận thức của tổ trưởng chuyên môn về tầm quan trọng của hoạt động của tổ chuyên môn; Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động tổ chuyên môn của cấp trên; Cơ sở vật chất, trang thiết bị của trung tâm phục vụ cho hoạt động của tổ chuyên môn,…
Triển khai xây dựng kế hoạch theo đúng các bước, hướng dẫn TCM và GV về công tác xây dựng thực thi kế hoạch của tổ, nhóm chuyên môn.
Trên cơ sở thực tiễn đã trình bày, việc nghiên cứu và áp dụng những biện pháp tăng cường QL hoạt động TCM tại các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn tỉnh Bình Dương để tiếp tục đưa trung tâm phát triển theo định hướng phát triển chiến lược đã xây dựng. Luận văn: Thực trạng về giáo dục nghề nghiệp tại Bình Dương
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý GDTX ở địa bàn tỉnh Bình Dương

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Tổng quan về giáo dục nghề tại tỉnh Bình Dương