Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, hoạt động xuất khẩu có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với mỗi quốc gia. Thông qua xuất khẩu, các quốc gia có thể khai thác được những lợi thế của mình nhằm tạo ra nguồn thu ngoại tệ, tạo công ăn việc làm… góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế toàn cầu. Đối với Việt Nam, một nền kinh tế non trẻ đang trên đà phát triển thì hoạt động xuất khẩu có ý nghĩa thực sự quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Kinh do anh cà phê là một hoạt động kinh tế có vị trí quan trọng trên phạm vi toàn thế giới. Theo Tổ chức cà phê thế giới (ICO) và Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC), giá trị xuất khẩu của cà phê trên thế giới đã vượt lên so với gạo, hạt tiêu, hạt điều, chè, cao su… hay bất kỳ một sản phẩm nông nghiệp nào khác. Và thực tế là trong những năm gần đây cà phê đã vươn lên trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt khoảng hơn 1 tỷ USD. Với lợi thế về đất đai, nhiệt độ, độ ẩm và đặc biệt là nguồn nhân lực, nước ta có lợi thế rất lớn để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu mặt hàng này.
Trên lĩnh v ực sản xuất – kinh doanh xuất nhập khẩu , vốn là doanh nghiệp có bề dày kinh nghiệm về xuất khẩu , nhất là hàng nông sản , năm 2007 Generalexim đã phát huy thế mạnh truyền thống và vươn lên đứng trong Top Ten (10) doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hàng đầu của cả nước. Tuy nhiên trong những năm trở lại đây, hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam nói chung và của công ty nói riêng còn có nhiều hạn chế chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của ngành như chất lượng còn thấp, giá cả chưa có tính cạnh tranh, chủng loại cà phê xuất khẩu còn nghèo nàn. Vì vậy để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cà phê của công ty trong những năm tới, trước hết cần phải nghiên cứu một cách đầy đủ về hoạt động xuất khẩu của công ty trong thời gian qua để từ đó đề ra các giải pháp mang tính thực tiễn. Từ những lý do trên cùng với những kiến thức đã được tích luỹ trong nhà trường và thời gian tìm hiểu thực tế tại công ty Generalexim, em đã chọn đề tài “ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ TẠI CÔNG TY GENERALEXIM ” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Mục đích của đề tài là trên cơ sở tìm hiểu tình hình thị trường cà phê thế giới và Việt Nam, phân tích đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam và của Công ty Generalexim trong thời gian qua, tìm ra những mặt mạnh và những mặt còn hạn chế cùng với nguyên nhân của nó để từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cà phê của công ty trong các giai đoạn tiếp theo.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của khoá luận tốt nghiệp là hoạt động xuất khẩu cà phê của công ty Generalexim.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê trên thị trường thế giới và Việt Nam đồng thời phân tích tình hình xuất khẩu cà phê của công ty Generalexim giai đoạn từ năm 2004 – 2008 để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cà phê tại công ty.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu trong và ngoài nước kết hợp với khảo sát thực tế tại phòng Nghiệp vụ 5 – Công ty Generalexim. Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê, so sánh để khái quát, hệ thống và khẳng định kết quả nghiên cứu.
5. Bố cục của luận văn
Luận văn gồm 3 chương chính, không kể lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Thị trường cà phê thế giới và vai trò của xuất khẩu cà phê đối với Việt Nam
Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao khả năng xuất khẩu cà phê của công ty Generalexim
CHƯƠNG 1: THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ THẾ GIỚI VÀ VAI TRÕ CỦA XUẤT KHẨU CÀ PHÊ ĐỐI VỚI VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CÀ PHÊ THẾ GIỚI Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
1.Tổng quan về cây cà phê
1.1. Sơ lược sự hình thành và phát triển cây cà phê
Hiện nay trên thế giới có khoảng 75 nước trồng cà phê trong đó có trên 50 nước có cà phê xuất khẩu, nhưng đến nay người ta vẫn chưa xác định được một cách chính xác lịch sử phát hiện ra cây cà phê. Theo truyền thuyết thì cây cà phê được một người du mục Ethiôpi ở Châu Phi đã tình cờ phát hiện ra cách đây khoảng 1000 năm. Sau đó người ta dùng cà phê làm nước uống cho những đêm đại hành lễ ở nhà thờ và các cuộc hành trình vượt sa mạc. Từ đó cà phê trở thành một thứ đồ uống phổ biến và được ưa thích ở hầu hết các nước trên thế giới. Theo ước tình thì trên thế giới có khoảng 25 – 100 loại cà phê nhưng phổ biến sản xuất có những loại sau:
- Cà phê chè (Coffea Arabica): Có nguồn gốc từ cao nguyên Jimma, đây là loại cà phê có phẩm chất thơm ngon, có giá trị kinh tế cao và chiếm 70% diện tích cà phê của thế giới và trên 75% sản lượng xuất khẩu hàng năm các nước Brazil, Colombia, Mexico, Guatemala, Ấn Độ…
- Cà phê vối (Coffea Canenphora Pierre): Được phát hiện ở Châu Phi vào đầu thế kỷ XX. Hiện nay cà phê vối được trồng khá phổ biến, gần 30% tổng diện tích và 28% tổng sản lượng cà phê xuất khẩu của thế giới. Cà phê vối không chịu được lạnh như cà phê chè vì vậy việc gieo trồng chỉ hạn chế tại các vùng nằm ở 100 vĩ độ Bắc và Nam xích đạo, tập trung chủ yếu tại Indonexia, Uganda và Việt Nam.
- Cà phê mít (Coffea Liberica Bull): Có nguồn gốc từ Trung Phi được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1902 tại xứ Ubaqui – Chari nên còn được gọi là cà phê Chari. Phẩm chất cà phê mít nói chung là rất thấp, vị chua, hương thơm kém hấp dẫn, do đó giá trị thương mại trên thị trường thế giới không cao.
1.2. Ảnh hường của điều kiện tự nhiên đối với cây cà phê Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
1.2.1. Đất đai và địa hình
Cà phê có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, trong đó đất bazan là lý tưởng nhất vì loại đất này có đặc điểm lý hoá tinh kết và tầng dày. Bên cạnh đó, cà phê cũng có thể phát triển trên tàn dư núi lửa mà phần lớn là tro như ở Trung Mỹ, trên đất có tầng phong hoá như Brazil. Ở đó người ta chủ yếu trồng trên đất phát triển từ đá mẹ, bazan hoặc sa thạch. Ở Tây Phi, Ấn Độ chủ yếu trồng trên đất Granit. Ở Việt Nam, các loại đất như Granite, sa phiến thạch, phù sa cổ đều trồng được cà phê. Địa hình trồng cà phê rhường bằng phẳng hoặc lượn sóng. Những nơi địa hình có độ dốc > 15% phải xử lý nước tốt công trình xói mòn, không được trồng cà phê vào vùng trũng nước không thoát nước được.
1.2.2. Khí hậu
Không phải vùng nào trên trái đất cũng trồng được cà phê. Cà phê chỉ trồng được ở những vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Ngoài yếu tố đất đai, cây cà phê còn đòi hỏi một số yêu cầu về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, ánh sáng , gió.
- Nhiệt độ: Mỗi giống cà phê phù hợp với nhiệt độ khác nhau. Cà phê chè ở nơi mát lạnh, nhiệt độ thích hợp từ 18 0 c – 25 0 c . Vì vậy, cà phê chè thường được trồng từ miền núi có độ cao 600 – 2500m. Ngược lại, cà phê vối thích hợp ở những vùng nóng ẩm, nhiệt độ thích hợp từ 22 0 c – 26 0
- Lượng mưa: Lượng mưa cần thiết đối với loại cà phê chè từ 1300mm
- 1900mm, cà phê vối 1300mm – 2500mm. Ở nước ta, lượng mưa tập trung 70% – 80% vào mùa mưa gây ra hiện tượng thừa nước, mùa khô kéo dài từ 3 – 5 tháng và lượng mưa chỉ chiếm 20% – 30% nên nhiều nơi cà phê thiếu nước nghiêm trọng, đặc biệt là Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ.
- Độ ẩm: Độ ẩm của không khí phải trên 70% mới thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây cà phê.
- Ánh sáng: Cây cà phê chè là loại thích ánh sáng tán xạ, còn cây cà phê vối thích ánh sáng trực xạ yếu.
- Gió: Gió lạnh, gió nóng, gió khô đều có hại đến sinh trưởng của cây cà phê. Gió mạnh làm cho lá bị rách, lá rụng, các lá non bị thui đen; gió nóng làm cho lá bị khô héo và tăng nhanh quá trình bốc hơi nước đặc biệt là mùa khô.
2. Tình hình sản xuất cà phê thế giới giai đoạn 2004 – 2008 Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Theo thống kê của tổ chức nông lương Liên hiệp quốc, trên thế giới có khoảng hơn 80 nước trồng cà phê phân bố ở Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Á và Châu Đại Dương với tổng diện tích trên 10 triệu ha, sản lượng hàng năm biến động khoảng 5,5 – 6 triệu tấn cà phê nhân.
2.1. Diện tích trồng cà phê
Sản xuất cà phê thế giới tuy tăng giảm thất thường nhưng nhìn chung có xu hướng tăng lên. Trên thế giới hiện nay có 75 nước trồng cà phê với diện tích gần 20 triệu hecta. Từ năm 2004 – 2008 diện tích cà phê thế giới đã tăng 3,2 triệu ha (từ 8,2 lên 11,4 triệu ha). Trong đó riêng khu vực Châu Phi tăng 1,5 triệu ha (từ 1,8 lến 3,2 triệu ha), khu vực Châu Á Thái Bình Dương tăng 0,5
triệu ha (từ 0,5 lên 1 triệu ha)2. Theo báo cáo của USDA thì diện tích trồng cà phê thế giới hàng năm tăng ở mức 0,1% và ở các khu vực khác nhau trên thế giới thì mức tăng giảm cũng không đồng đều. Nếu như ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương mức tăng trung bình là 2,8% thì diện tích trồng cà phê của những nước khác lại giảm với tốc độ trung bình là 0,3%/ năm. Hiện nay diện tích trồng cà phê ở Nam Mỹ là 4,8 triệu ha, Châu Phi đã lên đến 3,2 triệu ha, Châu khoảng 1 triệu ha và tại khu vực Bắc và Trung Mỹ 2,4 triệu ha3.
Bốn nước có diện tích cà phê lớn nhất đó là: Brazil trên 3 triệu hecta chiếm 25% sản lượng cà phê thế giới, Côte D’Loire (Châu Phi), Indonesia (Châu Á) mỗi nước khoảng 1 triệu hecta và Côlômbia có gần 1 triệu hecta với sản lượng hàng năm đạt trên dưới 700 ngàn tấn. Cà phê chè hiện nay vẫn chiếm 70% sản lượng của thế giới. Diện tích cà phê chè được trồng tập trung chủ yếu ở Trung và Nam Mỹ, một số nước ở Đông Phi như: Kenya, Cameroon, Ethiopie, Tanzania và một phần ở châu Á như Ấn Độ, Philippines.
2.2. Năng suất cà phê Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Năng suất cà phê bình quân toàn thế giới năm 2004 mới chỉ đạt 5,7 tạ/ha thì đến nay con số đó đã lên tới trên 7 tạ/ha, trong đó ở Châu Phi có 28 nước đạt năng suất bình quân trên dưới 4 tạ/ha, Nam Mỹ và Châu Á trên 6 tạ/ha, Trung Mỹ xấp xỉ 7 tạ/ha. Song song với việc tăng nhanh mật độ trồng cà phê, trong những năm gần đây các nước sản xuất cà phê trên thế giới cũng đã áp dụng nhiều giống cà phê mới có hiệu quả như cà phê chè Catimor, Blue Moutain hay Catuai – kết quả lai giữa Mundo Novo và Caturra. Chính vì vậy nên đã có hàng chục nước trên thế giới đưa năng suất bình quân đạt trên 1 tấn/ha. Điển hình có Costa Rica ở Trung Mỹ với diện tích cà phê chè là 85.000 ha nhưng đã đạt năng suất bình quân trên 1,4 tấn/ha, Philipine 1,27 tấn/ha. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương có mức năng suất tăng nhanh, trung bình 0,4%/năm4. Qua phân tích trên có thể thấy rằng việc tăng giảm năng suất cũng không đều ở các khu vực khác nhau trên thế giới.
2.3. Sản lượng cà phê
Sản lượng cà phê chủ yếu tập trung ở vùng Nam Mỹ với thị phần chiếm trên 50% trong cả giai đoạn 2004 – 2008 (ngoại trừ niên vụ 2005/2006 con số này là 49,8%). Trong 4 niên vụ vừa qua, sản lượng đều đạt trong khoảng 50 – 60 triệu bao. Niên vụ 2005/2006 tổng sản lượng cà phê của khu vực này giảm 7,04 triệu bao so với niên vụ 2004/2005. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, sản lượng cà phê của Brazil và Peru giảm trong khi đó sản lượng ở Colombia lại tăng nhẹ không đáng kể nên tổng sản lượng cà phê của toàn khu vực giảm còn 53,7 triệu bao (giảm 12,1% so với niên vụ 2006/2007).
Biểu đồ 1: Sản lượng cà phê thế giới phân theo khu vực qua các niên vụ
Cũng theo báo cáo của USDA, Châu Phi là khu vực có sản lượng cà phê thấp nhất trên thế giới khi con số này chỉ dao động từ 13 đến 15 triệu bao. Niên vụ 2005/2006 sản lượng cà phê của Châu Phi chỉ đạt 13,07 triệu bao – mức thấp nhất trong 4 niên vụ qua. Tuy nhiên Ethiopia lại là một trường hợp ngoại lệ khi đã tự mình vượt qua cuộc khủng hoảng về giá nhờ vào mức tiêu thụ nội địa tăng cao và đạt mức 4,5 triệu bao. Hai niên vụ sau Ethiopi vẫn là quốc gia dẫn đầu khu vực về sản lượng cà phê (4,9 triệu bao), theo sau đấy là Uganda (3,3 triệu bao), Côte d’Ivoire (2,5 triệu bao).
Qua bảng tổng kết sản lượng cà phê thế giới trong 4 niên vụ vừa qua, ta có thể thấy rằng sản lượng cà phê cũng tăng giảm thất thường. Mặc dù thị trường cà phê thế giới đã trải qua giai đoạn hết sức khó khăn (2000 – 2004) nhưng vào niên vụ 2004/2005, sản lượng cà phê vẫn đạt 115,67 triệu bao tăng 6,28 triệu bao so với niên vụ 2005/2006. Như vậy nếu sản lượng đạt mức thấp nhất vào niên vụ 2005/2006 với 109,39 triệu bao thì đến niên vụ 2006/2007, sản lượng cà phê thế giới lại đạt mức cao nhất trong suốt thời gian qua (trên 125 triệu bao), tăng 14% so với mùa vụ trước. Sự gia tăng sản lượng này là do trong những năm gần đây, mức giá cà phê trên thế giới có những chuyển biến tích cực và tình hình thời tiết có nhiều thuận lợi cho việc gieo trồng cũng như chế biến cà phê xuất khẩu. Tuy nhiên, đến niên vụ 2007/2008 , sản lượng chỉ đạt mức 116,2 triệu bao, giảm 8,4% so với niên vụ 2006/2007 do sự sụt giảm sản lượng của 2 nước trồng cà phê lớn nhất thế giới là Việt Nam và Brazil. Ở Brazil, sản lượng cà phê Arabica giảm theo chu kỳ 2 năm 1 lần. Có thể nói niên vụ 2004/2005 và 2006/2007 là mùa bội thu của cà phê Arabica tại Brazil khi sản lượng biến động trong khoảng 39 đến 42 triệu bao thì hai mùa vụ còn lại, sản lượng lại chỉ đạt mức khoảng 32,5 triệu bao. Do sản lượng cà phê của 2 quốc gia này giảm nên cho dù những nước khác có tăng sản lượng đi chăng nữa thì cũng không thể bù đắp cho lượng giảm ở Việt Nam và Brazil.
3. Tình hình xuất khẩu cà phê trên thị trường thế giới 2004 – 2008 Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
3.1. Khái quát chung về xuất khẩu cà phê thế giới
Hầu hết các nước sản xuất cà phê chủ yếu là để xuất khẩu, đặc biệt là các nước đang phát triển. Hàng năm khoảng 25 – 30 % sản lượng cà phê sản xuất ra để tiêu thụ nội địa, số còn lại dùng để xuất khẩu nhưng tỷ trọng này khá khác biệt tại các nước sản xuất. Với các nước có mức tiêu thụ nội bộ cao như Brazil, Etiopia hay Indonexia, sản lượng cà phê dành cho xuất khẩu chỉ vào khoảng trên dưới 70% tổng sản lượng cà phê nhưng với các nước chủ yếu sản xuất cà phê để xuất khẩu như Côtđivoa, Camơrun, Guatemala hay Việt Nam, tỷ lệ này có thế lên tới 92 – 95 %.
Biểu đồ 2: Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê thế giới
Lượng xuất khẩu cà phê của các nước sản xuất cà phê phụ thuộc nhiều vào tình hình tiêu thụ cà phê thế giới, nhu cầu nhập khẩu của các nước tiêu thụ và cả những chính sách điều tiết xuất khẩu của tổ chức các nước sản xuất cà phê (ACPC). Tiêu thụ cà phê thế giới niên vụ 2005/2006 đạt 115,1 triệu bao (giảm 1,1 triệu bao so với niên vụ 2004/2005), trong khi đó mức tiêu dùng cà phê nội địa trong giai đoạn này lại tăng cao (30,6 so với 28,7 triệu bao mùa vụ trước)6. Chính hai nguyên nhân chủ yếu này đã dẫn đến việc niên vụ 2005/2006, sản lượng cà phê xuất khẩu trên thế giới đạt mức thấp nhất trong suốt giai đoạn nghiên cứu với 87,49 triệu bao, giảm 2,32% so với niên vụ 2004/2005. Mặc dù khối lượng cà phê xuất khẩu giảm sút trong niên vụ này nhưng kim ngạch lại tăng lên 1,1 tỷ USD so với niên vụ 2004/2005 do mức giá xuất khẩu cà phê đã phần nào phục hồi sau cuộc khủng hoảng kéo dài từ năm 1997 – 1998. Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Có thể nói niên vụ 2006/2007 là mùa vụ bội thu của ngành cà phê thế giới khi mà cả kim ngạch lẫn khối lượng đều tăng mạnh so với các niên vụ trước đó. Đây là năm mà Hiệp hội các quốc gia sản xuất cà phê (ACPC) phối hợp với Cơ quan kiểm soát chất lượng cà phê (CQI) kêu gọi các nước thành viên hưởng ứng chương trình “ Coffee Quality Program”. Nhờ vào cuộc phát động này mà các nước sản xuất cà phê trên thế giới đã chú trọng nhiều hơn vào công tác quản lý chất lượng cà phê xuất khẩu. Chất lượng cà phê được cải thiện dẫn đến việc mức giá xuất khẩu cũng tăng lên và đạt tổng kim ngạch cà phê xuất khẩu là 12,5 tỷ USD (mức cao nhất từ trước đến nay). Tuy nhiên đến niên vụ vừa qua, cà phê xuất khẩu thế giới lại giảm cả về sản lượng lẫn kim ngạch xuất khẩu do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế và nhu cầu tiêu thụ cà phê nội địa tại các nước xuất khẩu tăng mạnh, trong đó phải kể đến Brazil (17,1 triệu bao), Mexico (2,2 triệu bao), Indonexia (2 triệu bao), Ethiopia (1,8 triệu bao), Ấn Độ và Colombia (1,4 triệu bao)…Tổng khối lượng xuất khẩu cà phê năm 2007/2008 giảm 2,9% và kim ngạch giảm 2,7 triệu đô la Mỹ nhưng trong 5 tháng đầu niên vụ 2008/2009 khối lượng lại tăng 6,9% tương đương với mức 40,4 triệu bao so với 37,8 triệu bao cùng kỳ niên vụ trước. Tuỳ theo từng loại cà phê mà sản lượng xuất khẩu tăng hay giảm khác nhau.
Bảng 1: Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê thế giới theo loại
Nhìn vào bảng số liệu tổng kết tình hình xuất khẩu cà phê trên thế giới theo loại ta có thể thấy rằng xuất khẩu cà phê Arabica có xu hướng tăng dần về cả kim ngạch lẫn khối lượng xuất khẩu ngoại trừ niên vụ 2007/2008 khi mà sản lượng xuất khẩu đạt 62,24 triệu bao (giảm 1,36 triệu bao so với mùa vụ 2006/2007). Trong khi đó cà phê Robusta lại tăng nhanh về giá trị xuất khẩu. Niên vụ 2004/2005, giá trị xuất khẩu cà phê Robusta thế giới là 1,72 tỷ USD nhưng đến niên vụ 2007/2008 con số này đã lên tới 4,43 tỷ USD cho dù khối lượng giảm 1,48 triệu bao. Như trên đã phân tích, do sự sụt giảm của tất cả các nhóm cà phê xuất khẩu nên tổng sản lượng cà phê xuất khẩu của niên vụ 2005/2006 giảm 2,32% so với mùa vụ 2004/2005 nhưng nhóm cà phê Arabica dịu khác (Other Mild Arabicas) lại là một ngoại lệ khi sản lượng vẫn tăng 1,17 triệu bao. Niên vụ 2006/2007 có thể nói là thành công nhất đối với ngành cà phê thế giới trong những năm gần đây khi mà tổng sản lượng cà phê Arabica xuất khẩu tăng 14,3 % và cà phê Robusta tăng 7,3% so với niên vụ 2005/2006. Trong 4 niên vụ vừa qua chúng ta có thể nhận thấy rằng tình hình xuất khẩu cà phê biến động tăng giảm 2 năm 1 lần. Niên vụ 2005/2006 khối lượng xuất khẩu giảm, đến năm 2006/2007 lại tăng và tới niên vụ 2007/2008 con số này lại giảm 2,9% so với niên vụ trước. Tuy nhiên theo dự báo của ICO, trong mùa vụ 2008/2009 khối lượng xuất khẩu cà phê Colombia dịu và cà phê dịu khác tăng tương ứng là 1,5% và 3,2%.
3.2. Một số nước xuất khẩu cà phê chủ yếu Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Brazil:
Là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, trung bình hàng năm nước này bán ra thị trường thế giới 25 triệu bao (60 kg/bao), chiếm gần 30% xuất khẩu thế giới trong đó 75% là cà phê chè (Arabica), còn 25% là cà phê vối (Robusta). Mỗi khi khối lượng xuất khẩu của Brazil thay đổi, xuất khẩu cà phê của thế giới cũng thay đổi theo. Theo số liệu tổng hợp của Hiệp hội cà phê Brazil, năm 2008 lượng xuất khẩu cà phê của nước này là 28,116 triệu bao.
Colombia:
Là nước đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu cà phê (sau Brazil và Việt Nam). Khối lượng cà phê trung bình mà quốc gia này xuất khẩu đi trong suốt giai đoạn 2004 – 2008 là 11 triệu bao (phụ lục 1). Một điều thú vị là xuất khẩu cà phê hạt của Colombia lại thường được đóng trong bao nặng 70kg, trong khi đó nhiều nước đóng 60kg/bao.
Côte D’Ivoire
Là một trong những nước sản xuất và xuất khẩu cà phê vối lớn nhất thế giới. Hiện nay đất nước này đang đứng thứ 4 thế giới về khối lượng và chiếm khoảng 6% khối lượng xuất khẩu cà phê của thế giới. Côte D’Ivoire chủ yếu xuất khẩu cà phê sang Pháp, Italia. Cộng đồng chung Châu Âu chiếm 80% lượng cà phê xuất khẩu của nước này, trong đó 7 – 10% là cà phê hào tan. Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Indonesia
Với mức sản xuất trung bình là 6,9 triệu bao/ năm trong 4 năm từ 2004-2008 (phụ lục 2), hiện nay nước này chiếm 5% sản xuất cà phê thế giới. Indonesia xuất khẩu nhiều cà phê vối được chế biến bằng phương pháp khô sang Châu Âu, Nhật và Mỹ. Để đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu trên thị trường cà phê thế giới, Indonesia vừa đưa vào hoạt động nhà máy máy liên doanh của hãng Parasidha và hãng Itochu (Nhật Bản) để chế biến cà phê hoà tan trị giá 25 triệu đô la Mỹ.
Ấn Độ
Đứng sau Indonesia về xuất khẩu cà phê chè ở Châu Á. Từ 2004 – 2008, xuất khẩu cà phê hàng năm đạt khoảng 4 triệu bao. Trong thời gian qua Ấn Độ đã đầu tư nhiều vào việc quản lý và trồng cà phê và đã thu được nhiều kết quả trong hoạt động xuất khẩu cà phê. Theo dự báo của Uỷ ban kế hoạch Ấn Độ, khối lượng kim ngạch cà phê của Ấn Độ niên vụ 2008/2009 sẽ tăng lên mức gần 5 triệu bao.
Ethiopia
Là quốc gia xuất khẩu cà phê thế giới lâu đời nhất, nơi đây trồng cà phê chè đầu tiên. Cà phê chè chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia này, chiếm 60% kim ngạch xuất khẩu. Hàng năm xuất khẩu khoảng 2,5 triệu bao (2004 – 2008), chủ yếu là cà phê chè và 50% dùng cho xuất khẩu. Đây cũng là nước tiêu thụ cà phê lớn nhất Châu Phi. Ethiopia xuất khẩu cà phê chủ yếu sang Đức, Mỹ, Pháp và Nhật, trước đây chủ yếu xuất sang Liên Xô cũ và các nước Đông Âu.
4. Tình hình nhập khẩu cà phê thế giới 2004 – 2008
4.1. Khái quát chung về nhập khẩu cà phê thế giới
Nhu cầu nhập khẩu cà phê thế giới từ năm 2004 đến 2008 tăng bình quân 1,4%/năm. Giai đoạn 2000 – 2004 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng cà phê cộng thêm hiện tượng En Nino ở các nước sản xuất cà phê chính nên nhập khẩu cà phê thế giới có xu hướng giảm sút (mức trung bình trong khoảng thời gian này là 79 triệu bao /năm). Tuy nhiên trong những năm gần đây, nhập khẩu cà phê thế giới tăng mạnh (đạt mức cao nhất từ trước đến nay với 99,45 triệu bao vào năm 2007). Mặc dù ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế đến ngành cà phê thế giới năm 2008 không phải là nhỏ nhưng khối lượng cà phê nhập khẩu giảm không đáng kể (giảm 1,95 triệu bao so với mùa vụ 2007). Nguyên nhân của tình trạng này là do ở các nước phát triển như tại Bắc Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản, những thị trường chiếm tới 58 % lượng tiêu thụ thế giới, cà phê là một nhu yếu phẩm hàng ngày và chỉ chiếm một phần nhỏ trong chi tiêu của người tiêu dùng8. Theo những phân tích của Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế đến ngành cà phê thế giới cho thấy lượng tiêu thụ cà phê thế giới tại các thị trường này vẫn đang được giữ ở mức ổn định. Thay vì hạn chế lượng tiêu thụ cà phê của mình thì người tiêu dùng tại đây lại chuyển từ tiêu thụ cà phê tại các quán cà phê, nhà hàng sang uống cà phê tại nhà và chuyển từ những sản phẩm cà phê đắt tiền sang những thương hiệu cà phê có giá phải chăng hơn.
Bảng 2: Tình hình nhập khẩu cà phê thế giới
Nếu như sản xuất cà phê tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển như Nam Mỹ, Châu Á, Châu Phi thì nhập khẩu cà phê lại tập trung chính ở các nước có nền kinh tế phát triển (chiếm 90% nhập khẩu thế giới). Trong đó Bắc Mỹ là khu vực nhập khẩu nhiều cà phê nhất trên thế giới với bình quân mỗi năm khoảng 26 triệu bao. Năm 2004 khối lượng cà phê nhập khẩu của khu vực này đạt 26,12 triệu bao (tăng 3,52 triệu bao so với mùa vụ 2003). Tháng 2/2005 ICO đã kết hợp cùng USDA để đưa ra những chương trình quảng cáo cũng như tuyên truyên tại nhiều quốc gia ở Bắc Mỹ nhằm khuyến khích tiêu thụ cà phê như giới thiệu các loại cà phê tách cafein hay giới thiệu các tác động tích cực của cà phê đối với sức khoẻ như giảm stress. Chính những chương trình thiết thực này đã có những ảnh hưởng nhất định tới xu hướng tiêu dùng cà phê trên thị trường Bắc Mỹ và dẫn tới việc khối lượng nhập khẩu cà phê của khu vực này tăng cao kỷ lục đạt 27,32 triệu bao vào năm 2005. Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Bảng 3: Nhập khẩu cà phê thế giới theo loại 2004 – 2008
Căn cứ vào bảng nhập khẩu cà phê thế giới theo loại, ta có thế thấy cà phê được nhập khẩu chủ yếu dưới dạng chưa chế biến. Trong giai đoạn 2004 – 2008, cà phê nhân thô chiếm tỷ trọng khoảng 84,2% tổng lượng cà phê nhập khẩu toàn cầu trong khi đó, cà phê rang và cà phê hoà tan chiếm tỷ trọng tương ứng là 6,4% và 8,5%. Tuy nhiên nhập khẩu cà phê rang có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây từ mức 5,89 triệu bao năm 2004 thì đến năm 2008 con số này đã tăng lên 0,35 triệu bao. Nhập khẩu cà phê hoà tan chiếm một tỷ trọng không lớn trong trong tổng lượng nhập khẩu do cà phê hoà tan thường được chế biến ngay tại nước tiêu thụ. Trong những năm gần đây, nhập khẩu cà phê hoà tan tăng rất chậm ở các nước tiêu thụ lớn như Mỹ và EU. Mức tăng nhập khẩu cà phê hoà tan toàn cầu chủ yếu là do xu hướng tăng nhập khẩu và tiêu thụ của các nước Đông Âu, đặc biệt là Nga với sự phát triển của các loại cà phê chế biến sẵn “ 3 trong 1 ”.
Phương thức nhập khẩu của Mỹ, EU và Nhật Bản có rất nhiều điểm tương đồng vì cà phê chủ yếu được nhập khẩu từ các nước xuất khẩu qua các thương gia quốc tế. Nhiều nhà rang xay lớn của Bắc Mỹ và Tây Âu có các trung tâm thu gom riêng, quan hệ trực tiếp với nhà xuất khẩu. Tuy nhiên hầu hết các nhà rang xay hiện nay của những khu vực này vẫn mua cà phê qua các trung tâm giao dịch quốc tế hoặc các nhà nhập khẩu trung gian. Tại nước nhập khẩu, cà phê nhân được các thương gia nhập khẩu phân phối cho các nhà chế biến, nhà kinh doanh và nhà sản xuất thực phẩm công nghệ. Các nhà kinh doanh cà phê hoà tan chủ yếu là nhập khẩu cà phê bột với khối lượng lớn và đóng gói tại nước nhập khẩu hoặc nhập khẩu cà phê hoà tan đã đóng gói sẵn.
4.2. Những nước nhập khẩu cà phê chủ yếu
Mỹ:
Mỹ là thị trường tiêu thụ và nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới, có nhu cầu ổn định mỗi năm trên 1 triệu tấn. 70% lượng cà phê tiêu thụ tại Mỹ là loại cà phê Arabica nhập từ Colombia, Brazil, Mehico, số còn lại là Robusta nhập từ Việt Nam và Indonesia. Theo số liệu thống kê thì lượng tiêu thụ ở Mỹ dao động trong khoảng 18 triệu bao/năm ước khoảng 8,7 tỷ USD/năm. Thị trường Mỹ đòi hỏi loại cà phê đầu bảng, đặc biệt là cà phê hoà tan chiếm tới 24% thị phần. Có khoảng 80% kho cà phê dự trữ đóng gói bị chi phối bởi giá bán lẻ của các công ty Kuft-creneral Food, Proton & Gramble và Nestle, họ chiếm tới 70% thị trường Mỹ. Thị hiếu tiêu dùng của người Mỹ ngày càng ưa chuộng các nhãn hiệu cà phê nổi tiếng có chất lượng cao như Starbucks, Seattle’s Best Coffee, Rosebud…Mỹ cũng như nhiều nước nhập khẩu khác đều có tái xuất. Ví dụ như năm 2007 Mỹ nhập 24,219 triệu bao và tái xuất 2,906 triệu bao (chiếm 12%). Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Đức:
Đức là quốc gia nhập khẩu cà phê lớn thử 2 trên thế giới hiện nay với khối lượng xuất khẩu bình quân đạt 18,044 triệu bao / năm giai đoạn 2004 – 2008. “ Văn hoá cà phê ” đang gia tăng tại Đức và với xu hướng này, người tiêu dùng được sử dụng nhiều loại cà phê khác nhau trong đó cà phê hoà tan được quan tâm chú ý ở Đức. Trung bình mỗi năm quốc gia này nhập khẩu khoảng 13,78 triệu bao (chiếm trên 70% khối lượng cà phê nhập khẩu). Các loại cà phê hoà tan ở Đức bao gồm Espresso, Cappuchino, cà phê đá, cà phê Mo-ka Thổ Nhĩ Kỳ.
Vương Quốc Anh
Đây là nơi cà phê hoà tan được tiêu dùng lớn nhất, theo báo cáo của Data Monitor, nhóm nghiên cứu thị trường thì ở Anh cà phê đã và đang thay thế chè. Trung bình mỗi năm một người Anh sử dụng 15 bảng (23,8 đô la Mỹ) cho cà phê. Cũng theo báo cáo này, tốc độ tiêu thụ cà phê tăng 11%/năm kể từ năm 2002, và hiện nay cà phê chiếm thị phần lớn nhất trong các loại đồ uống ở Anh. Hàng năm (2004 – 2008) Anh nhập khẩu khoảng 3,5 triệu bao. Thống kê 8 niên vụ cà phê vừa qua, từ niên vụ 1999/2000 đến 2006/2007, bình quân mỗi năm, nước Anh nhập khẩu 29.000 tấn cà phê từ Việt Nam, năm cao nhất lên tới 40.000 tấn (niên vụ 2003/2004). Nhiều tập đoàn công nghiệp cà phê lớn của Anh đã có văn phòng đại diện và công ty liên doanh cà phê tại Việt Nam như ED &Man, Louis Dreyfus, Amajero…tạo mối quan hệ ngày càng phát triển sâu rộng trong lĩnh vực cà phê.10
Nhật Bản
Nhu cầu cà phê của Nhật Bản phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu. Hầu hết cà phê nhân được nhập khẩu ở dạng chưa chế biến (được gọi là cà phê nhân chưa rang – cà phê nhân sơ chế) sau đó được rang, xay và đóng túi để bán. Nhật Bản cũng nhập cả cà phê nhân đã rang, cà phê uống liền và chiết suất cà phê nhưng với số lượng nhỏ. Về mặt số lượng, nhập khẩu cà phê nhân sơ chế, cà phê nhân thông thường và cà phê uống liền không thay đổi trong vòng 3 năm trở lại đây. Số lượng nhập khẩu cà phê nhân sơ chế phụ thuộc phần lớn vào sự dao động về giá trên thị trường thế giới.
Bảng 4: Nhập khẩu cà phê của Nhật Bản trong những năm gần đây
5. Diễn biến giá cả Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Có lẽ ít có loại hàng hoá nào lại có diễn biến giá cả phức tạp như cà phê. Giá cà phê trên thị trường thế giới biến động không giống như các mặt hàng nông sản khác. Nó khác ở chỗ là các mặt hàng nông sản chỉ biến động trong một khoảng thời gian nhất định, còn giá cà phê biến động linh hoạt từng ngày, từng giờ. Mỗi thị trường lại có mức một mức giá khác nhau vì thị trường luôn biến động bởi những luồng thông tin khác nhau, mang tính chiến thuật phục vụ cho mục đích đầu cơ hoặc giải phóng hàng tồn kho.
Biểu đồ 3: Giá cà phê thế giới 2000 – 2008
Niên vụ 2005/2006 thị trường cà phê thế giới bắt đầu khởi sắc khi mức giá bắt đầu tăng mạnh kể từ sau cuộc khủng hoảng cà phê kéo dài 4 năm (2000 – 2004). Theo ICO, giá trung bình của niên vụ này đạt 91,44 US cents/lb, tăng 6,14 US cents/lb so với mùa vụ 2004/2005. Niên vụ 2006/2007 giá cà phê tiếp tục tăng cao đạt mức 104,24US cents/lb, tăng 14% so với 2005/2006. Mặt khác trong 4 mặt hàng cà phê trên thế giới hiện nay (bảng 5) thì một điều đáng lưu ý là giá cà phê Robusta không ngừng tăng cao từ niên vụ 2004/2005 và đạt mức 82,73 USD cents/lb, tăng 34,7% so với niên vụ 2005/2006 do trong giai đoạn này các nhà đầu tư ra sức thu mua cà phê vì họ biết chắc sản lượng cà phê tồn trữ ở các nước xuất khẩu lớn như Brazil, Việt Nam, Colombia không còn nhiều như dự kiến. Giá cà phê lại tiếp tục tăng cao trong suốt niên vụ 2006/2007 và 2007/2008 với mức giá bình quân tại thị trường London lần lượt là 104,24 US cents/lb và 126,67 US cents/lb.
Tuy nhiên do ảnh hưởng của cuộc khủng hoàng kinh tế vào tháng 8 năm 2008 làm cho giá cà phê thời kỳ này giảm mạnh, đặc biệt là những tháng đầu năm 2009. Theo ICO, giá trung bình những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009 giảm 14,5%, mức thấp nhất trong vòng 14 tháng trở lại đây.
II. VAI TRÕ CỦA XUẤT KHẨU CÀ PHÊ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Cây cà phê đóng vai trò rất quan trọng trong ngành nông nghiệp nói riêng và kinh tế quốc dân nói chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Một biến động nhỏ về giá cây cà phê ngay lập tức sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như thất nghiệp, nghèo đói, bất bình đẳng thu nhập, gây ảnh hưởng tiêu cực tới chính trị và xã hội.
1. Vai trò đối với kinh tế
Cà phê là một trong những loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Và thực tế là trong những năm gần đây cà phê đã vươn lên trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt khoảng hơn 1 tỷ USD. Bên cạnh đó tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cà phê trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản cũng tăng cao, từ chỗ không có gì (trước năm 1989) thì đến nay đã chiếm gần 20%
Bảng 6. Tỷ trọng xuất khẩu cà phê trong kim ngạch xuất khẩu nông sản
Xuất khẩu cà phê góp phần không nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu chiến lược xuất nhập khẩu nói riêng và mục tiêu phát triển chiến lược kinh tế nói chung của đất nước. Trước hết, xuất khẩu cà phê mở ra cơ hội kinh doanh cho Việt Nam để tăng mức tiết kiệm và đầu tư nội bộ nền kinh tế; tăng năng suất và thu nhập bình quân của người lao động trong ngành, tạo ra nội lực mạnh trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời góp phần làm thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp; tăng tỷ lệ cây công nghiệp so với cây lương thực nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Mặt khác, khi xác định cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực thì sẽ giúp Nhà Nước hoạch định các chính sách như đầu tư, quy hoạch vùng một cách có hiệu quả trong phát triển kinh tế. Việt Nam là nước có nguồn nhân lực dồi dào, tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng lại khan hiếm về công nghệ. Do đó, việc tăng cường hợp tác kinh doanh với nước ngoài và mở rộng kinh tế quốc tế còn tạo ra nguồn vốn cho đầu tư máy móc trang thiết bị cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế. Chính nhờ mối quan hệ buôn bán với các nước thông qua việc thành lập Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA) và gia nhập Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO)13, Việt Nam đã được hỗ trợ nhiều về vật tư, thiết bị và đầu tư sản xuất cà phê. Bên cạnh những tác động tích cực đối với nền kinh tế, xuất khẩu cà phê còn mang lại những lợi ích thiết thực đối với doanh nghiệp và người nông dân.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu cà phê
- Xuất khẩu cà phê giúp các doanh nghiệp có thêm lợi nhuận, thu được ngoại tệ để đầu tư mua máy móc thiết bị mở rộng và nâng cao sản xuất từ đó tăng lợi nhuận và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của mình.
- Tham gia kinh doanh xuất khẩu cà phê giúp cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp chuyên doanh về cà phê nâng cao được uy tín cũng như hình ảnh trong con mắt bạn hàng và trên thị trường quốc tế, từ đó tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh để nâng cao hoạt động, mở rộng thị trường, tăng thị phần và lợi nhuận.
Đối với người sản xuất cà phê
Cà phê từ lâu đã trở thành một thứ đồ uống phổ biến trên toàn thế giới. Chính vì vậy việc xuất khẩu cà phê sẽ giúp cho người nông dân trồng cà phê làm giàu trên chính mảnh đất của mình. Thực tế đã chứng minh rằng lao động trong ngành cà phê đã tạo ra thu nhập cao hơn so với lao động nông nghiệp nói chung và lao động trong kinh doanh một số cây nông nghiệp khác nói riêng. Theo dự tính của Hiệp hội Cà Phê – Ca Cao Việt Nam, phát triển sản xuất và xuất khẩu cà phê có thể tạo ra khoảng hơn 950 nghìn việc làm có thu nhập cao vào năm 2010.
2. Vai trò đối với xã hội Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Với tổng diện tích trồng đạt trên 500.000 ha và sản lượng 10 triệu bao mỗi năm, cà phê hiện nay được xếp thứ 2 sau gạo trong danh mục hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Để đạt được sản lượng cao như vậy, ngành cà phê Việt Nam mỗi năm thu hút khoảng 300.000 hộ gia đình với trên 600.000 lao động, đặc biệt vào 3 tháng thu hoạch, con số này có thể lên tới 700.000 đến 800.000 lao động14. Như vậy, số lao động của ngành cà phê đã đạt tới 1,83% tổng lao động trên toàn quốc nói chung và 2,93% tổng số lao động trong ngành nông nghiệp nói riêng. Hơn thế nữa, vụ thu hoạch cà phê thường vào tháng 9, tháng 10 khi mà vụ thu hoạch lúa chưa tới nên việc thu hoạch cà phê sẽ thu hút thêm nhiều lao động trong thời buổi nông nhàn, tạo cho người nông dân không những có việc làm, có thu nhập mà còn giúp họ tránh mắc những tệ nạn xã hội. Đặc biệt là ở các vùng trồng cà phê lại là những vùng tập trung nhiều đồng bào thiểu số và vùng đồng bào khó khăn như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, vùng núi phía Bắc.
3. Vai trò đối với môi trường
Cà phê là loại cây thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng của vùng đồi núi, vùng đất đỏ, những vùng mà có ít loại cây có thể thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng ở đó. Chính vì vậy việc cây cà phê được trồng ở những vùng này sẽ giúp chúng ta phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ được môi trường sinh thái. Tuy nhiên việc chế biến cây cà phê còn có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến môi trường, nhất là phương pháp chế biến uớt dùng nhiều nước sạch trong quá trình chế biến và thải ra nhiểu chất thải không có lợi cho môi trường xung quanh. Nhưng với sự tiến bộ ngày càng cao công nghệ chế biến cà phê cũng ngày càng được hiện đại hoá thì vấn đề này đã và đang được ngành cà phê Việt Nam quan tâm và thử nghiệm nhằm bảo vệ môi trường sinh thái.
III. MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê như: chất lượng cà phê, chính sách của chính phủ, quảng bá thương hiệu…Nhưng tựu chung lại có thể xem xét ở hai nhóm nhân tố sau:
1. Các nhân tố vĩ mô
1.1. Chính sách mở cửa hội nhập kinh tế thế giới
Cũng như mọi loại hàng hoá khác, xuất khẩu cà phê cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ chính sách mở cửa hội nhập. Nhờ có chính sách mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới mà thị trường cho xuất khẩu cà phê được mở rộng. Đối với các quốc gia đang phát triển, chính sách mở cửa hội nhập đúng đắn sẽ giúp các quốc gia này có thể tiếp cận được với các công nghệ sản xuất và chế biến cà phê tiên tiến của thế giới thay thế cho các công nghệ cũ kỹ, lạc hậu trước đó, từ đó mới nâng cao được năng suất và chất lượng của của cà phê xuất khẩu.
Ngoài chính sách mở cửa hội nhập thì việc tham gia vào các tổ chức định chế tài chính nói chung như tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các khu vực thực hiện chung về thuế quan của các quốc gia Đông Nam Á (CEPT/AFTA) hay Tổ chức cà phê thế giới (ICO), Hiệp hội các nước xuất khẩu cà phê thế giới (ACPC)…cũng sẽ giúp cho việc xuất khẩu cà phê giảm thiểu những rào cản tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu cà phê. Theo lịch trình thực hiện AFTA từ 1/7/2003, thuế nhập khẩu cà phê thành phẩm giảm từ 50% xuống còn 20%. Hiệp định mậu dịch tự do Trung Quốc – Asean cũng quy định rằng thuế nhập khẩu sẽ giảm xuống 0% đối với Trung Quốc vào năm 2010 và vào năm 2015 đối với các nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanma15. Lộ trình cắt giảm này đang được đàm phán để đẩy nhanh hơn nữa. Như vậy việc nhập cà phê thành phẩm của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cà phê Việt Nam từ Lào và Trung Quốc sẽ có tác động tích cực. Tuy lượng cà phê thành phẩm nhập khẩu là không đáng kể, nhưng điều này cũng làm cho việc kinh doanh xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam có thêm điều kiện để kinh doanh mặt hàng cà phê trên thị trường quốc tế.
1.2. Cầu và thị trường nước nhập khẩu
Cũng như bất kỳ một loại hàng hoá nào khác, cà phê xuất khẩu cũng chịu ảnh hưởng bởi cầu của nước nhập khẩu. Khi các nước nhập khẩu có nhu cầu cao về cà phê thì hoạt động xuất khẩu của nước xuất khẩu sẽ được đẩy mạnh. Nhưng nhu cầu từ nước nhập khẩu không chỉ là nhu cầu chung về cà phê mà còn là nhu cầu về các chủng loại cà phê khác nhau. Việt Nam là nước chủ yếu sản xuất cà phê vối (Robusta), nếu nước nhập khẩu cà phê có nhu cầu cao loại cà phê này thì sẽ thúc đẩy xuất khẩu cà phê của Việt Nam, còn nếu nước nhập khẩu có nhu cầu cao về cà phê nhưng lại là loại cà phê khác thì cũng không làm tăng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
Dung lượng của thị trường nước nhập khẩu về cà phê cũng ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu cà phê. Nếu nước nhập khẩu có nhu cầu về cà phê nhưng dung lượng của thị trường này không lớn thì lượng cà phê được nhập vào thị trường này cũng không đáng kể và do đó cũng không làm tăng xuất khẩu cà phê của nước nhập khẩu là bao nhiêu. Ngoài nhu cầu ra thì thị trường nước nhập khẩu cũng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu cà phê của các nước xuất khẩu. Cho dù nước nhập khẩu có nhu cầu cao về cà phê và dung lượng thị trường lớn nhưng nước nhập khẩu có các chính sách nhằm hạn chế nhập khẩu cà phê nhằm bảo hộ cho các nhà sản xuất cà phê trong nước thì cũng làm hạn chế khả năng xuất khẩu cà phê của các nước xuất khẩu cà phê.
1.3. Môi trường cạnh tranh Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Môi trường cạnh tranh càng gay gắt sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động xuất khẩu cà phê của một quốc gia. Nhu cầu về chủng loại cà phê trên thế giới ngày càng đa dạng, tuy nhiên Việt Nam lại là nước chủ yếu chỉ sản xuất loại cà phê vối (Robusta). Chính sự nghèo nàn về chủng loại cà phê cũng như chất lượng cà phê lại thấp hơn các nước khác như Brazil, Colombia, Indonesia đã làm cho việc xuất khẩu cà phê của chúng ta gặp rất nhiều khó khăn. Ngược lại khi mà thị trường cà phê thế giới có sự cạnh tranh không cao như cầu vượt quá cung thì sẽ làm cho xuất khẩu cà phê có nhiều thuận lợi.
1.4. Các chính sách hỗ trợ xuất khẩu của Chính phủ
Mỗi quốc gia đều có những chính sách riêng nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc xuất khẩu cà phê. Nếu như chính phủ Việt Nam hỗ trợ hoạt động xuất khẩu cà phê bằng các chính sách về tài chính như khoanh nợ, xoá nợ hay hỗ trợ xúc tiến thương mại thì Brazil lại tìm cách nâng cao giá trị cà phê xuất khẩu bằng các giải pháp như chính phủ tài trợ 50% chi phí cho nghiên cứu và phát triển (R & D) cho các nhà xuất khẩu và sản xuất các sản phẩm cà phê chế biến từ quỹ (FIMEF) của Bộ Khoa học – công nghệ và Ngân hàng phát triển quốc gia (BNDES)16. Ngoài ra, chính phủ Brazil cũng thực thi những chính sách hỗ trợ về lãi suất, tín dụng uư đãi hàng trăm triệu USD để duy trì hoạt động xuất khẩu cà phê một cách có hiệu quả. Mặc dù, cuộc khủng hoảng kinh tế trong thời gian qua có ảnh hưởng đến ngành cà phê thế giới nhưng nhờ có những chính sách hỗ trợ đúng đắn từ phía chính phủ mà vị thế xuất khẩu của hai quốc gia này vẫn giữ vững. Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới sau Brazil và là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới.
1.5. Yếu tố về sản xuất chế biến Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Việc quy hoạch vùng trồng cà phê hợp lý sẽ giúp khai thác được lợi thế vùng trong sản xuất cà phê góp phần nâng cao được năng suất, chất lượng của cà phê, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho chế biến và xuất khẩu cà phê ở các quốc gia. Công nghệ chế biến cũng ảnh hưởng tới xuất khẩu cà phê. Nếu có được công nghệ chế biến cà phê hiện đại với công suất lớn thì sẽ nâng cao được giá trị của cà phê xuất khẩu cũng như tạo ra sức cạnh tranh mạnh so với các nước xuất khẩu cà phê khác trên thế giới.
Việc phân bổ các nhà máy chế biến, các cơ sở kinh doanh cà phê cũng như các vùng sản xuất cà phê hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình vận chuyển, chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê. Qua đó sẽ giảm được chi phí trong hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh của cà phê xuất khẩu. Ngoài ra các yếu tố cơ sở hạ tầng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới xuất khẩu cà phê. Nếu có được cơ sở hạ tầng tốt thì giúp cho việc vận chuyển cà phê từ nơi sản xuất tới nơi chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê được thuận lợi hơn, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê xuất khẩu, qua đó nâng cao được kết quả và hiệu quả hoạt động của cà phê xuất khẩu.
1.6. Các nhân tố về quản lý
Có thể nói con người có ý nghĩa quyết định trong mọi vấn đề, đặc biệt là trong kinh doanh. Với kinh doanh xuất khẩu cà phê cũng vậy, cho dù có đầy đủ các nhân tố thuận lợi khác nhưng nếu như không có những công nhân lành nghề, có khả năng vận dụng khoa học kỹ thuật hay khả năng sử dụng máy móc trang thiết bị hiện đại trong sản xuất chế biến cà phê thì hoạt động xuất khẩu cà phê cũng không có hiệu quả. Ngoài ra, cho dù một quốc gia có được mặt hàng cà phê có chất lượng và có sức cạnh tranh cao nhưng không có người am hiểu về thị trường kinh doanh xuất nhập khẩu thì hoạt động xuất khẩu cà phê của quốc gia đó cũng không thể có được kết quả tốt. Chính vì vậy mà những người làm công tác quản lý vĩ mô, hoạch định các chính sách liên quan đến hoạt động xuất khẩu cà phê đóng một vài trò rất quan trọng trong hoạt động xuất khẩu cà phê. Nếu những người này có khả năng chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức tốt thì sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của sản xuất và xuất khẩu cà phê theo hướng bền vững và có hiệu quả.
2. Các yếu tố thuộc vi mô Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
2.1. Kênh và dịch vụ kênh phân phối của doanh nghiệp xuất khẩu
Một kênh phân phối tốt không những giảm chi phí trong hoạt động, nâng cao sức cạnh tranh cho cà phê xuất khẩu của doanh nghiệp mà còn giúp cho quá trình xuất khẩu cà phê của doanh nghiệp được nhanh chóng, dễ dàng và nắm bắt tốt thông tin từ nguồn cung ứng cũng như từ phía khách hàng.
Dịch vụ phân phối tốt cũng sẽ giúp khách hàng hài lòng hơn khi mua sản phẩm của doanh nghiệp. Dịch vụ phân phối còn là vũ khí cạnh tranh hữu hiệu của các nhà xuất khẩu nhằm tăng sức cạnh tranh cho cà phê xuất khẩu của doanh nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cà phê của một quốc gia.
2.2. Giá cả và chất lượng
Đây là yếu tố có tính chất quyết định và ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại cũng như chỗ đứng của cà phê trên thị trường trong khi yêu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao cùng với cạnh tranh gay gắt. Nếu một sản phẩm cà phê vừa có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý và hàng hoá có độ an toàn cao cùng với đó là quảng cáo độc đáo thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng. Đặc biệt, khi nước ta đã gia nhập WTO thì vấn đề đó càng trở nên quan trọng nếu muốn tăng sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp mình. Do đó, phải nâng cao chất lượng, đa dạng hóa chủng loại, sử dụng công nghệ hiện đại để tăng hiệu quả bán hàng đồng thời tránh được sự ép giá. Bất kể hàng hoá nào cũng vậy, nếu chất lượng tốt thì có sức cạnh tranh cao và sẽ được tiêu thụ nhanh và mạnh hơn.
Giá cả luôn bị ảnh hưởng bởi quan hệ cung cầu. Giá thấp thì khối lượng xuất khẩu có thể tăng lên nhưng giá trị xuất khẩu sẽ không tăng hoặc thậm chí là giảm. Ngược lại khi giá cà phê cao thì sẽ khuyến khích các nước xuất khẩu thúc đẩy hoạt đồng xuất khẩu của chính mình trong khi các nước nhập khẩu thì giảm nhu cầu từ cà phê. Chính vì thế cho dù nước xuất khẩu cà phê có thể xuất khẩu với lượng ít đi nhưng giá trị lại tăng lên, đem lại hiệu quả cao cho hoạt động xuất khẩu cà phê.
2.3. Công nghệ chế biến của doanh nghiệp xuất khẩu Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
Nếu doanh nghiệp có công nghệ tiên tiến và hiện đại thì doanh nghiệp đó sẽ có sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường xuất khẩu do giá của cà phê chế biến luôn luôn cao hơn nhiều so với cà phê nhân. Khi năng suất lao động được nâng lên, chất lượng hàng hoá được tốt hơn, giá trị gia tăng trong mỗi đơn vị hàng hoá cao hơn sẽ tạo cho doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh tiêu thụ tốt hàng hoá của chính mình trên thị trường thế giới. Ngược lại nếu doanh nghiệp chế biến xuất khẩu có máy móc, công nghệ và trang thiết bị lạc hậu thì các sản phẩm cà phê xuất khẩu của doanh nghiệp sẽ không có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới, đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay. Sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp sẽ chỉ là sản phẩm thô, cà phê nhân có giá trị và chất lượng thấp nên sẽ bị ép giá. Từ đó sẽ kìm hãm hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp và cũng làm ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê của cả một quốc gia.
2.4. Nguồn lực tài chính của công ty
Nguồn lực tài chính là yếu tố rất quan trọng đối với bất kỳ công ty nào đặc biệt là những công ty tham gia hoạt động xuất khẩu cà phê. Nếu không có đủ nguồn lực tài chính thì các công ty xuất khẩu cà phê sẽ không thể dự trữ cà phê lâu để chờ đợi thời cơ thuận lợi và như vậy sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu cà phê của công ty. Mặt khác khi không đủ nguồn lực tài chính thì các công ty không thể tiến hành các biện pháp liên quan đến xúc tiến bán hàng và tìm kiếm thị trường xuất khẩu. Chính vì vậy mà khả năng xuất khẩu của công ty sẽ giảm và góp phần ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê của cả ngành.
2.5. Nguồn nhân lực của công ty
Có thể nói trong các yếu tố thuộc vi mô thì yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất. Nguồn nhân lực không chỉ ảnh hướng tới khâu sản xuất, chế biến cà phê mà ngay cả trong quản lý, kinh doanh thương mại quốc tế về cà phê. Chính trình độ tay nghề của những công nhân, nhân viên sản xuất, chế biến của công ty sẽ ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của cà phê xuất khẩu. Qua đó ảnh hưởng đến giá cả cà phê xuất khẩu và hiệu quả xuất khẩu cà phê của công ty và của cả ngành.
2.6. Các nhân tố khác
Thương hiệu của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu cà phê nói riêng của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thương hiệu mạnh không những nâng cao được khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường mà con nâng cao được cả giá trị sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp đó. Có thương hiệu mạnh doanh nghiệp sẽ chủ động xuất khẩu trực tiếp sản phẩm của mình mà không phải qua các trung gian vì thế sẽ kích thích doanh nghiệp thúc đẩy xuất khẩu. Ngược lại, nếu doanh nghiệp không có thương hiệu thì sản phẩm của doanh nghiệp rất khó tiêu thụ được trên thị trường thế giới đặc biệt là thị trường đòi hỏi cao về nhãn mác như thị trường Hoa Kỳ, EU. Khóa luận: Xuất khẩu cà phê tại công ty Generalexim
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Khái quát về sản xuất cà phê tại Cty Generalexim

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Biện pháp NC xuất khẩu cà phê tại Cty Generalexim