Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô Việt Nam trong ngắn hạn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
Đề tài nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô ở Việt Nam trong ngắn hạn từ quý 1 năm 1996 đến quý 4 năm 2014 bằng mô hình VAR đệ quy năm biến, bao gồm GDP thực, chi tiêu chính phủ, doanh thu thuế, lạm phát và lãi suất cho vay theo quý. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng mô hình VAR sáu biến thêm lần lượt các biến tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân, tỷ lệ thất nghiệp để xem xét thêm tác động của chính sách tài khóa lên các biến vĩ mô trên theo cách tiếp cận của Ignacio Lozano và Karen Rodríguez (2011). Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
Thông qua chuỗi dữ liệu về các biến vĩ mô như GDP thực, lãi suất, lạm phát, tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân và tỷ lệ thất nghiệp được thu thập từ 1996-2014, đề tài tìm thấy rằng nền kinh tế vĩ mô Việt Nam phản ứng tiêu cực khi xảy ra cú sốc tăng chi tiêu chính phủ. Cụ thể là khi có sự mở rộng của chi tiêu chính phủ thì lập tức GDP phản ứng sụt giảm ngay trong ngắn hạn, đồng thời làm phát cũng gia tăng nhanh trong ngắn hạn và đạt mức cao trong dài hạn. Cú sốc chi tiêu chính phủ cũng làm cho lãi suất cho vay theo quý tăng trong ngắn hạn, tuy nhiên chậm hơn một quý và mức độ ảnh hưởng của cú sốc chi tiêu chính phủ đối với lãi suất cũng nhỏ hơn so với GDP thực và lạm phát. Bên cạnh đó, qua kết quả phân tích của đề tài ta cũng có thể nhận thấy tác động chèn lấn của việc sử dụng chính sách tài khóa mở rộng bằng cách tăng chi tiêu chính phủ ra ngoài khu vực tư nhân thể hiện qua việc khi tăng chi tiêu chính phủ thì tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân đều giảm xuống.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tác động của cú sốc doanh thu thuế trong kỳ nghiên cứu là hết sức mờ nhạt và hầu như không tác động đến các biến kinh tế vĩ mô (các kết quả đều không có ý nghĩa thống kê), ngoại trừ biến lạm phát.
Ngoài ra, kết quả của đề tài cũng thể hiện việc sử dụng chính sách tài khóa để giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam là không có cơ sở thực nghiệm, do tác động của các cú sốc chính sách tài khóa đối với biến tỷ lệ thất nghiệp đều không có ý nghĩa thống kê.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Lý do thực hiện đề tài Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
Đã có nhiều nghiên cứu về tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô Việt nam, tuy nghiên, các nhiên cứu chỉ dừng tại một khía cạnh, hay nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa đến một biến vĩ mô như lạm phát, lao động hoặc chỉ giải thích trên sự biến động của các chỉ tiêu vĩ mô, mà chưa có một nghiên cứu nào thật sự tổng quát, cụ thể về tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô có áp dụng mô hình kinh tế, phân tích định lượng. Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu định lượng về những tác động của việc điều chỉnh chính sách thuế đến việc tiêu thụ và đầu tư; rất ít những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của việc gia tăng chi tiêu chính phủ tới GDP, giá cả và lãi suất.
Chính sách tài khóa đã được thực hiện trên nhiều nước có nền kinh tế phát triển, là một công cụ được đánh giá là hiệu quả để thực hiện ổn định nền kinh tế vĩ mô. Như đối với Mỹ, nền kinh tế đứng đầu thế giới, trong suốt những năm 1970, vấn đề thâm hụt ngân sách đã từng là một mối quan tâm lớn của nền kinh tế Mỹ và đến thập niên 80, thâm hụt ngân sách lại tiếp tục gia tăng khi Tổng thống Ronald Reagan (1981 – 1989) theo đuổi một chương trình cắt giảm thuế và tăng chi tiêu quân sự. Đặc biệt là năm 1986, thâm hụt ngân sách đã vọt lên đến 221 tỉ USD, chiếm hơn 22% tổng chi tiêu của liên bang. Cuối những năm 90, các nhà hoạch định chính sách ít có khả năng hơn trong việc sử dụng chính sách tài khóa mở rộng để đạt được những mục tiêu kinh tế; do vậy, họ tập trung vào những thay đổi chính sách hẹp hơn với mục đích đưa nền kinh tế tăng tới cận biên. Tổng thống Ronald Reagan và người kế nhiệm ông, George H. W. Bush (1989 – 1993) tìm cách giảm thuế lợi nhuận – tức là những khoản tài sản gia tăng từ kết quả đánh giá lại giá trị tài sản như bất động sản hoặc cổ phiếu, cho rằng sự thay đổi như vậy sẽ khuyến khích tiết kiệm và đầu tư nhiều hơn; kết quả là thâm hụt ngân sách đã được thu hẹp. Tổng thống Bill Clinton (1993 – 2001) đã chấp thuận giảm mức thuế lợi nhuận cao nhất từ 28% xuống còn 20% vào năm 1996. Trong khi đó, Bill Clinton cũng tìm cách tác động vào nền kinh tế bằng việc xúc tiến các chương trình giáo dục và đào tạo nghề khác nhau nhằm phát triển lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao hơn, và do đó cũng nâng cao hơn năng suất và tính cạnh tranh. Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 đã cho thấy sự thiếu thông tin thực nghiệm về các mối liên kết giữa chính sách tài khóa và nền kinh tế vĩ mô đã dẫn đến các chính sách tài khóa được triển khai thực hiện bởi các nước công nghiệp (trong đó có cả Mỹ) và một số nước có nền kinh tế mới nổi nhằm bù đắp cho hậu quả của cuộc khủng hoảng là không hiệu quả, nhiều nền kinh tế đi vào giai đoạn khủng hoảng, nhiều doanh nghiệp, ngân hàng phải đi đến phá sản. Do đó, sau cuộc khủng hoảng kinh tế, khi chu kỳ tăng trưởng toàn cầu thay đổi nhiều nước khu vực Đông Á cũng điều chỉnh chính sách tài khóa và tiền tệ, nhiều nước đã tránh áp dụng các gói kích cầu lớn để đạt tăng trưởng và một số nước đã bắt đầu giải quyết vấn đề bền vững tài khóa liên quan đến các chính sách tăng trưởng trước đây.
Đối với Chính phủ Việt Nam, giai đoạn 1991 – 2007 chính sách tài khóa đã có những thay đổi cơ bản như giảm mức huy động nguồn thu thuế thông qua chương trình cải cách thuế bước hai và ba; đặc biệt gia tăng chi đầu tư công thông qua các chương trình kích cầu từ nguồn vốn ngân sách và phát hành trái phiếu chính phủ…
Đến giai đoạn 2007 – 2008, Chính phủ nước ta thực hiện tăng cường công tác thu ngân sách để bảo đảm nhiệm vụ được giao, kết hợp với việc rà soát nợ đọng thuế, chống thất thu; tiếp tục rà soát lại chi ngân sách, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cắt giảm, đình hoãn các dự án đầu tư chưa thực sự cấp bách và dự án đầu tư không có hiệu quả; không tăng chi ngoài dự toán, dành nguồn kinh phí cho bảo đảm an sinh xã hội; xem xét điều chỉnh giảm mức thuế xuất khẩu, nhập khẩu nhằm bình ổn thị trường. Từ sau khủng hoảng kinh tế, một trong những giải pháp chủ yếu để khôi phục nền kinh tế và khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng là chính sách tài khóa mở rộng, gồm các gói kích cầu. Gói kích cầu thứ nhất đã được triển khai nhằm hỗ trợ lãi suất khoảng 17.000 tỉ đồng, gói kích cầu thứ hai, với tổng nguồn vốn khoảng 8 tỉ USD, hỗ trợ lãi suất trong trung và dài hạn nhằm kích cầu đầu tư, phát triển sản xuất. Ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô và tạo việc làm, đây là hai điều quan trọng nhất thể hiện khá rõ vai trò của Nhà nước thông qua các gói kích cầu. Việc thực hiện một cách linh hoạt và đồng bộ các chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác đã giúp nền kinh tế Việt Nam vượt qua khủng hoảng.
Việc xác định ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô Việt Nam trong ngắn hạn sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn cụ thể, chi tiết hơn về việc thiết lập thời điểm áp dụng chính sách tài khóa, cũng như việc áp dụng các chính sách tài khóa phù hợp với từng thời điểm nhằm giúp ổn định và thúc đẩy nền kinh tế vĩ mô Việt Nam, giúp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các chính sách tài khóa trong thời gian tới.
Trước đây, mô hình VAR đệ quy cũng đã được sử dụng để đánh giá tác động của các cú sốc chính sách tiền tệ, tại Việt Nam cũng đã có nhiều bài nghiên cứu sử dụng mô hình VAR đệ quy để nghiên cứu sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990, mô hình này đã được sử dụng để đánh giá tác động của những cú sốc chính sách tài khóa, đặc biệt là đối với Mỹ và các nước Châu Âu. Đối với các nền kinh tế mới nổi việc sử dụng các mô hình VAR đệ quy để đánh giá các tác động của chính sách tài khóa đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô là rất khan hiếm, chủ yếu là do thiếu các dữ liệu chất lượng tốt vì mô hình đòi hỏi dữ liệu hàng quý trong khoảng thời gian đủ dài. Bài nghiên cứu này sử dụng nguồn dữ liệu hàng quý và hàng năm của Quỹ Tiền tệ quốc tế (gọi tắt là IMF: International Monetary Fund) về Việt Nam. Ảnh hưởng của những cú sốc tài khóa được đánh giá trên GDP, tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân, lạm phát, lãi suất cho vay theo quý và tỷ lệ thất nghiệp.
Do vậy, để có được sự đánh giá tổng quan về ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô Việt Nam trong ngắn hạn, trong đó sử dụng các phương pháp định lượng cụ thể đã được các nhà nghiên cứu áp dụng cho các nước trên thế giới, từ đó nhằm đưa ra những khuyến nghị cụ thể cho các nhà hoạch định chính sách tài khóa tại Việt Nam giúp ước lượng được hiệu quả của các chính sách tài khóa trong thời gian qua, từ đó giảm thiểu rủi ro và có hướng đi đúng đắn hơn trong việc xây dựng các chính sách tài khóa trong tương lai. Và đó cũng là lý do tác giả chọn đề tài “Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô Việt Nam trong ngắn hạn”.
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu nhằm cung cấp bằng chứng về ảnh hưởng của chính sách tài khóa nên nền kinh tế vĩ mô Việt Nam trong ngắn hạn.
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu
Chính sách tài khóa ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế vĩ mô Việt Nam trong ngắn hạn?
1.3. Phạm vi nghiên cứu
Chính sách tài khóa bao gồm chi tiêu chính phủ và doanh thu thuế; các biến kinh tế vĩ mô bao gồm GDP thực, lãi suất, lạm phát, tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân, tỷ lệ thất nghiệp từ năm 1996 đến nay. Lý do chọn kỳ nghiên cứu này là do năm 1996 Quốc hội thông qua Luật Ngân sách nhà nước trong đó quy định rõ các khoản thu, chi ngân sách nhà nước cũng như việc phân cấp thu chi được quy định chi tiết, cụ thể hơn so với giai đoạn trước. Bên cạnh đó, năm 1996 là năm bắt đầu chính sách cải cách thuế giai đoạn 2 của Chính phủ; đồng thời, trong giai đoạn này Chính phủ cũng bắt đầu hoàn chỉnh các quy định về thuế, ban hành các Luật thuế mới (Luật thuế giá trị gia tăng thay thế cho Luật thuế doanh thu và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thay thế cho Luật thuế lợi tức) có thể coi là bước đột phá quan trọng nhất của công cuộc cải cách Thuế tại Việt Nam, cho thấy hệ thống thuế của Việt Nam trong giai đoạn này đã bắt đầu hoàn thiện hơn so với giai đoạn trước năm 1996.
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập, xử lý từ năm 1996 đến năm 2014.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để phù hợp với nội dung, yêu cầu và mục tiêu nghiên cứu đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến gồm:
- Phương pháp phân tích định tính: Đề tài thực hiện sưu tầm, thống kê và phân tích dữ liệu các biến để đánh giá sự biến động của chính sách tài khóa và các biến vĩ mô trong kỳ nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích định lượng: Đề tài sử dụng mô hình VAR đệ quy với phân tích Cholesky bằng phần mềm Eviews 6.0 cho việc xem xét sự tác động của cú sốc chính sách tài khóa đến các biến kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn.
1.5. Điểm mới của đề tài Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
Hầu hết các nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô Việt nam chỉ dừng tại một vài khía cạnh, hay nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa đến một biến vĩ mô như lạm phát, lao động hoặc chỉ giải thích trên sự biến động của các chỉ tiêu vĩ mô, mà chưa có một nghiên cứu nào thật sự tổng quát, cụ thể về tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô có áp dụng mô hình kinh tế, phân tích định lượng. Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu định lượng về những tác động của việc điều chỉnh chính sách thuế đến việc tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân; rất ít những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của việc gia tăng chi tiêu chính phủ tới GDP, lạm phát và lãi suất.
Trong phạm vi nghiên cứu của mình đề tài áp dụng phân tích định lượng để đánh giá tác động của việc điều chỉnh chi tiêu chính phủ và chính sách thuế đến sản lượng quốc gia, lãi suất, lạm phát, tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân, tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam trong ngắn hạn.
1.6. Kết cấu của đề tài
Nhằm để trả lời cho những vấn đề nêu trên, đề tài chia bố cục bài viết làm năm chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận
2.1. Các lý thuyết tiền đề Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
Chính sách tài khóa là hệ thống các chính sách của chính phủ về tài chính, thường được hoạch định và thực hiện trọn vẹn trong một niên khóa tài chính, nhằm tác động đến các định hướng phát triển của nền kinh tế, thông qua những thay đổi trong kế hoạch chi tiêu chính phủ và chính sách thu ngân sách (chủ yếu là các khoản thu về thuế).
Chính sách tài khoá có thể tạm chia thành chính sách tài khoá cân bằng, chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tài khoá thắt chặt, cụ thể như sau:
- Chính sách tài khoá cân bằng là chính sách tài khoá mà theo đó, tổng chi tiêu của Chính phủ cân bằng với các nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác mà không phải vay nợ.
- Chính sách tài khoá mở rộng (hay còn gọi là chính sách tài khóa thâm hụt) là chính sách nhằm tăng cường chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách: gia tăng mức độ chi tiêu chính phủ mà không tăng nguồn thu; hoặc giảm nguồn thu từ thuế mà không giảm chi tiêu; hoặc vừa gia tăng mức độ chi tiêu của chính phủ đồng thời giảm nguồn thu từ thuế.
- Chính sách tài khoá thắt chặt (hay còn gọi là chính sách tài khóa thặng dư) là chính sách hạn chế chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách: chi tiêu của chính phủ ít đi nhưng không tăng thu; hoặc không giảm chi tiêu nhưng tăng thu từ thuế; hoặc vừa giảm chi tiêu vừa tăng thu từ thuế.
Thông qua việc thu thập và tìm hiểu các nghiên cứu trước đây, đề tài nhận thấy rằng khi nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô của một quốc gia, các nhà kinh tế thường tập trung chứng minh hai lý thuyết chính là học thuyết của Keynes và học thuyết của Trường phái Tân cổ điển:
2.2.1. Học thuyết của Keynes
John Maynard Keynes (1883 – 1946) là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh. Ông là giáo sư Trường Đại học Cambridge và là chủ bút tờ Tạp chí Kinh tế (Economic Journal). Ông là một chuyên gia về tài chính và tiền tệ trong Bộ tài chính Anh và giữ vai trò chủ chốt trong việc hình thành mọi chủ trương, chính sách của Hiệp hội Kinh tế Hoàng gia Anh. Ông cũng là người có công trong việc sáng lập ra Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF. Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
Học thuyết của trường phái Keynes khẳng định những cú sốc do tăng chi tiêu công và các cú sốc do giảm thuế có tác động lớn và tích cực đến GDP, tiêu dùng, đầu tư tư nhân và tỷ lệ thất nghiệp.
Keynes giải thích tác động trên thông qua khái niệm số nhân của chính sách tài khóa, cụ thể:
Ta có Y = C + I + G + EX- IM
Trong đó:
- Tổng cầu của nền kinh tế (thu nhập quốc dân)
- Tiêu dùng của hộ gia đình
- Đầu tư
G: Chi tiêu của chính phủ
EX: Xuất khẩu
IM: Nhập khẩu
Nhà nước có khả năng tác động tới tổng cầu qua nhiều hình thức. Thứ nhất, nhà nước có thể tác động lên tổng lượng chi tiêu của chính phủ đối với các hàng hóa và dịch vụ trong nước, G. Thay đổi G sẽ làm thay đổi tổng cầu Y. Tuy nhiên đây không phải là cách duy nhất chính phủ có thể tác động đến tổng cầu. Chính phủ có thể gián tiếp tăng tiêu dùng, C, và đầu tư I, thông qua hình thức cắt giảm thuế. Việc chính phủ tăng chi tiêu có tác động lên nền kinh tế theo cấp số nhân. Một sự thay đổi trong chi tiêu của chính phủ làm dịch chuyển đường tổng cầu, tuy nhiên, độ lớn của sự dịch chuyển đường tổng cầu sẽ lớn hơn độ lớn của mức thay đổi chi tiêu chính phủ. Trước hết, tăng chi tiêu chính phủ G làm tăng Y, dẫn tới mức tăng thu nhập khả dụng của hộ gia đình, vì vậy họ chi tiêu nhiều hơn và Y tiếp tục tăng nhiều hơn. Đây chính là hiệu ứng số nhân của chính sách tài khóa.
Bằng các lý luận của mình J.M Keynes khẳng định để nâng cao tổng cầu Chính phủ phải tăng chi tiêu, hoặc giảm thuế cho doanh nghiệp, qua đó nâng cao mức tiêu dùng trong nền kinh tế và hiệu lực của cơ chế số nhân sẽ khiến cho sản lượng tăng và việc làm trong xã hội tăng lên. Ông cho rằng khi chính phủ tăng chi tiêu (chuyển giao hoặc đầu tư công), thì sự chi tiêu tăng thêm này sẽ trở thành thu nhập khả dụng tăng thêm và được tiêu xài. Khoản tiêu dùng tăng thêm này cũng chuyển đổi thành thu nhập khả dụng tăng thêm vòng thứ hai. Cứ mỗi vòng tiếp theo thì tác động lên cầu sẽ giảm đi, nhưng tổng tác động là lớn hơn nhiều so với vòng chi tiêu đầu. Keynes gọi tác động tích lũy của việc tăng chi tiêu là hệ số nhân, đây là tưởng trọng tâm cho kết luận của ông rằng tăng chi tiêu của chính phủ trong thời kỳ suy thoái có thể đẩy nền kinh tế đi đến toàn dụng lao động. Các vòng tiêu dùng kế tiếp nhau có nghĩa là tác động của đợt kích thích ngân sách là lớn hơn bản thân gói kích thích đó, có lẽ không được 5 lần vì sẽ có rò rỉ vào hàng nhập khẩu và thuế, nhưng Keynes tin rằng tác động này lớn hơn 1. Ông cho rằng hệ số nhân có thể lớn hơn khi thất nghiệp cao, nói cách khác khi nền kinh tế đang sản xuất thấp hơn nhiều so với sản lượng tiềm năng.
Ông cũng cho rằng, sự thay đổi trong chính sách thuế có thể tác động đến khuynh hướng tiêu dùng, thông qua thuế, chuyển giao ngân sách, hàng hóa, dịch vụ nhà nước tạo ra hiệu ứng kích thích tiêu dùng và đầu tư.
2.2.2. Học thuyết của Trường phái Tân cổ điển Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
Học thuyết của Trường phái Tân cổ điển phản đối những khẳng định của học thuyết Keynes khi cho rằng những cú sốc do tăng chi tiêu công và các cú sốc do giảm thuế có tác động tiêu cực đến GDP, tiêu dùng, đầu tư tư nhân, làm gia tăng lạm phát và không thể giải quyết các vấn đề về việc làm.
Những nhà kinh tế theo Trường phái Tân cổ điển cho rằng khi chính phủ tăng chi tiêu thì sẽ phải thực hiện hai biện pháp tăng thuế hoặc đi vay để bù đắp phần chi tiêu tăng lên. Việc chính phủ tăng nhu cầu vay mượn sẽ làm tăng lãi suất của nền kinh tế, lãi suất tăng lên sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp cũng như nhu cầu vay mượn cho tiêu dùng của khu vực hộ gia đình từ đó làm giảm tiêu dùng và đầu tư tư nhân, trong dài hạn sẽ ảnh hưởng đến sản lượng quốc gia. Đối với việc tăng thuế sẽ làm giảm hành vi sản xuất vì thuế đánh vào thu nhập từ lao động, tiết kiệm, đầu tư hay những hình thức khác. Thuế thu nhập cá nhân làm giảm thu nhập khả dụng của người lao động, không khuyến khích họ làm việc nhiều và thậm chí còn làm nản chí trong việc tìm kiếm việc làm. Lao động giảm dẫn đến giảm tổng cung trong khi thu nhập giảm dẫn đến giảm tổng cầu. Thuế thu nhập doanh nghiệp làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp và dẫn đến tổng cung giảm. Thuế đánh vào tiết kiệm làm giảm động cơ tiết kiệm và do đó, tạo được ít nguồn vốn hơn cho đầu tư của các doanh nghiệp sản xuất. Đồng thời, để thực hiện bù đắp cho nguồn ngân sách thiếu hụt khi tăng chi tiêu chính phủ quá mức là chính phủ có thể thực hiện phát hành thêm tiền bằng cách ngân hàng nhà nước thực hiện in tiền, điều này sẽ gây ra lạm phát, bất ổn kinh tế vĩ mô.
Ngoài ra, các nhà kinh tế học tân cổ điển còn cho rằng đầu tư công sẽ “lấn át” đầu tư tư nhân, đầu tư công gia tăng sẽ khiến đầu tư khu vực tư nhân bị thu hẹp lại. Lý do là nhu cầu của chính phủ về hàng hóa dịch vụ có thể khiến lãi suất gia tăng, nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn, theo đó, tác động tiêu cực đến khu vực tư nhân. Ngoài ra, việc tài trợ cho chi tiêu đầu tư từ ngân sách nhà nước, thường được thực hiện bởi tăng thuế hay vay nợ, đã cạnh tranh một cách trực tiếp với khu vực tư nhân trong việc tiếp cận các nguồn lực tài chính khan hiếm của nền kinh tế. Với quan điểm được đồng thuận là đầu tư công thường có hiệu quả thấp hơn đầu tư tư nhân, thì giả thiết “lấn át” đưa ra khuyến nghị cắt giảm đầu tư công để hỗ trợ tăng trưởng.
Bên cạnh đó, một số nhà kinh tế cho rằng một số khoản chi tiêu chính phủ khuyến khích việc lựa chọn những hành vi tiêu cực. Nhiều chương trình trợ cấp của chính phủ dẫn đã dẫn đến những quyết định không mong muốn về mặt kinh tế, các chương trình phúc lợi khuyến khích mọi người lựa chọn nghỉ ngơi thay vì lao động, các chương trình bảo hiểm thất nghiệp làm giảm động cơ tìm việc…. điều này cho thấy việc tăng chi tiêu của chính phủ có thể làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và làm giảm sản lượng quốc gia bởi vì chúng thúc đẩy sự phân bổ và sử dụng nguồn lực một cách sai lầm.
Đồng thời, các nhà kinh tế của Tân cổ điển cũng cho rằng chi tiêu tăng thêm của chính phủ sẽ không có tác động lên mức thu nhập vì người dân sẽ lập tức bắt đầu tiết kiệm nhiều hơn để trả thuế tăng lên trong tương lai hoặc bù lại lạm phát cao hơn do chính phủ tăng chi tiêu trong hiện tại.
Ngoài ra, vào năm 1968, Friedman công bố lý thuyết về “thất nghiệp tự nhiên.” Lý thuyết này cho rằng không thể dùng chính sách kích thích kiểu Keynes để đẩy nền kinh tế tới toàn dụng nhân công trong một thời gian dài. Thường thì cái giá phải trả cho chính sách kích thích thích như thế là lạm phát và nếu cứ theo đuổi mong muốn giảm thiểu thất nghiệp, nền kinh tế sẽ rơi vào cảnh lạm phát triền miên. Và nguy hiểm hơn nữa, khi lạm phát đã thành kinh niên thì tất cả cùng chia sẻ một mức kỳ vọng về lạm phát và cùng đòi hỏi tăng giá theo cùng một mức đó, thì khi đó tỷ lệ thất nghiệp sẽ trở nên ổn định như khi không có chính sách can thiệp. Tóm lại, Friedman cho rằng cần thừa nhận và chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp “tự nhiên” trong nền kinh tế, các chính sách không nên cố cưỡng bức nền kinh tế giảm mức thất nghiệp xuống dưới mức này thông qua các chính sách kích thích, vì kết quả sẽ chỉ là lạm phát triền miên mà thôi.
2.2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
2.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển
Trong thời gian qua, trên thế giới đã có một số nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn nhưng chủ yếu là nghiên cứu dựa trên dữ liệu của các nước phát triển. Trong đó, các tác giả đã sử dụng các mô hình định lượng để kiểm định các lý thuyết về sự tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô của quốc gia. Kết quả là nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các ý kiến, nhận định khác nhau về sự tác động của chính sách tài khóa đến các biến vĩ mô của nền kinh tế, tuy nhiên, nhìn chung hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định: chính sách tài khóa có ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô của một quốc gia; đồng thời, tùy theo các điều kiện giả định, dữ liệu thu thập, các thể chế chính trị, xã hội của từng quốc gia và thời kỳ nghiên cứu mà các tác giả đã đưa ra những kết quả thực nghiệm chứng minh cho các lý thuyết trên.
Đầu tiên, nghiên cứu Một thực nghiệm mô tả tác động thúc đẩy của sự thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế đối với sản lượng đầu ra của Olivier Blanchard và Roberto Perotti năm 2002 là một trong những nghiên cứu tiền đề về tác động của chính sách tài khóa đến biến vĩ mô có sử dụng mô hình định lượng và phương pháp Blanchard – Perotti cũng đã được nhiều tác giả áp dụng khi phân tích đề tài này. Mục tiêu chính của các tác giả của bài nghiên cứu này là mô tả một cách chi tiết nhất sự biến động của sản lượng đầu ra đối với các cú sốc thuế và các cú sốc chi tiêu trong thời kỳ sau chiến tranh tại Mỹ. Các tác giả đã sử dụng một mô hình VAR ba biến trong đó bao gồm chi tiêu chính phủ, thuế ròng và GDP thực tế cho dữ liệu của Mỹ, từ đó đưa ra những kết luận sau: Thứ nhất, kết quả nghiên cứu là phù hợp lý thuyết tiêu chuẩn: khi tăng chi tiêu chính phủ thì sản lượng tăng và khi tăng thuế thì sản lượng giảm. Thứ hai, các tác giả tiếp tục phân tích chi tiết sự tác động của những cú sốc chi tiêu trên những thành phần khác nhau của sản lượng đầu ra. Các tác giả đã chia sản lượng đầu ra thành hai thành phần là tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân; kết quả thu được là sau cú sốc chi tiêu, trong khi tiêu dùng cá nhân tăng lên thì đầu tư tư nhân lại giảm xuống một mức đáng kể, cả xuất khẩu và nhập khẩu cũng giảm.
Kết quả của nghiên cứu này là phù hợp với khẳng định của Keynes về những cú sốc do tăng chi tiêu công và các cú sốc do giảm thuế có tác động lớn và tích cực đến GDP và tiêu dùng. Tuy nhiên, khi chi tiêu công tăng thì phản ứng của đầu tư tư nhân là giảm (và giảm thuế là tăng), phù hợp hơn với lý thuyết của trường phái tân cổ điển.
Một phương pháp nghiên cứu tương tự đã được sử dụng bởi Perotti (2004) và Galí và các cộng sự (2006) nhưng với các thông số kỹ thuật trong mô hình VAR khác nhau. Trong nghiên cứu của Perotti, một mô hình VAR năm biến được sử dụng đối với năm nước thuộc OECD, bao gồm cả đánh giá tác động của chính sách tài khóa đến lãi suất ngắn hạn và giá cả. Kết quả chính của nghiên cứu này cho thấy những tác động của chính sách tài khóa đối với GDP có xu hướng nhỏ hơn và yếu hơn đáng kể theo thời gian và chỉ có trong các kỳ sau năm 1980, có một số bằng chứng (nhỏ) về tác động tích cực của chi tiêu chính phủ đối với lãi suất . Trong trường hợp của Galí và các cộng sự, các tác giả đã sử dụng một mô hình VAR bốn biến, bao gồm việc làm và lãi suất thực tế được đánh giá dựa trên dữ liệu của Mỹ. Kết quả của họ cho thấy GDP và tiêu dùng gia tăng để đáp ứng với một cú sốc tăng chi tiêu công; các biến việc làm phản ứng tương tự.
Một kỹ thuật nghiên cứu khác được sử dụng bởi Fata và Mihov (2001), các tác giả đã sử dụng một mô hình VAR năm biến cho dữ liệu của Mỹ và tập trung vào tác động của chi tiêu công. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự gia tăng trong chi tiêu là nhân tố thúc đẩy dẫn đến sự gia tăng liên tục trong đầu ra của tiêu dùng tư nhân và đầu tư nhà ở. Chính sách nới lỏng tài khóa gắn liền với tăng tiền lương sản xuất và tăng tổng số việc làm tư nhân. Ngoài ra, phản ứng của lãi suất thực luôn là tích cực và đáng kể.
Ngoài ra, đối với Mỹ năm 2008 đã có nghiên cứu Những ảnh hưởng nào từ những cú shock tài khóa? Một phân tích so sánh dựa trên phương pháp VAR của Dario Caldara và Christophe Kamps; trong đó, tác giả đã thử nghiệm những phương pháp tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu những cú sốc tài khóa như phương pháp đệ quy, phương pháp Blanchard-Perotti, phương pháp giới hạn dấu hiệu và phương pháp nghiên cứu tình huống, theo số liệu hàng quý của Mỹ trong giai đoạn 1995-2006, các phương pháp trên đều cho những kết quả tương tự nhau. Nghiên cứu đã tách biệt cú sốc tài khóa thành hai loại sốc về thuế và cú sốc về chi tiêu chính phủ. Nghiên cứu này đã cung cấp những phương pháp đánh giá tác động khác nhau của các cú sốc tài khóa lên các biến số vĩ mô trên cơ sở sử dụng hai mô hình VAR năm biến và sáu biến để tính toán những thay đổi trong những chỉ số vĩ mô (như GDP, chi tiêu của chính phủ, thuế thuần, lạm phát, lãi suất, việc làm và tiền lương). Nghiên cứu nhân thấy cú sốc chi tiêu chính phủ tăng thì GDP thực, tiêu dùng cá nhân và tiền lương thực tế đều phản ứng tăng lên một cách đáng kể, trong khi đó việc làm không phản ứng. Trong khi đó cú sốc thuế phản ứng tùy thuộc vào phương pháp phân tích và ước lượng với kết quả phản ứng là từ không ảnh hưởng đến các biến kinh tế vĩ mô đến có ảnh hưởng mạnh lên các biến kinh tế vĩ mô. Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
Trong bối cảnh của các nước EU, Marcellino (2002) đã áp đặt các hạn chế đương thời để xác định một mô hình VAR cho Pháp, Đức, Ý và Tây Ban Nha. Tác giả đã tìm thấy kết quả không đồng nhất từ các quốc gia trên, cùng với một số hiệu ứng không mong muốn. Giordano và các cộng sự (2005) đã thực hiện nghiên cứu đối với Ý, Biau và Girard (2005) đối với Pháp, De Castro (2006) đối với Tây Ban Nha và Perotti (2005) và Heppke-Falk và cộng sự (2006) đối với Đức; các tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tương tự nhau. Các kết quả cho nền kinh tế EU là rất nhiều nhưng nhìn chung bao gồm các vấn đề sau: Một là, tác động ngắn hạn của những cú sốc chi tiêu là rộng và đối với phần lớn các trường hợp nghiên cứu, số nhân đầu ra là lớn hơn một. Hai là, tác động tích cực đối với tiêu dùng cá nhân tương tự như các kết quả trước đó. Ba là, những cú sốc của thuế ròng có tác động không đáng kể trên phần lớn các biến số kinh tế vĩ mô và trong một số trường hợp nghiên cứu, các dấu hiệu này trái ngược với lý thuyết của Keynes. Bốn là, phản ứng của lạm phát và lãi suất đối với các chính sách tài khóa mở rộng là tích cực. Và cuối cùng là không có kết luận về tác động lên đầu tư tư nhân.
Đối với Bồ Đào Nha, gần đây đã có nghiên cứu của António Afonso và Ricardo M. Sousa, 2010 về Những tác động kinh tế vĩ mô đến chính sách tài khóa tại Bồ Đào Nha: một phân tích SVAR kiểu Bayes. Trong đó, bài viết đã đánh giá những tác động của chính sách tài khóa đến kinh tế vĩ mô ở Bồ Đào Nha trong thời gian từ quý 1 năm 1979 đến quý 4 năm 2007, dựa trên dữ liệu hàng quý mới được xây dựng từ dữ liệu hàng tháng của Chính quyền trung ương. Bằng chứng thực nghiệm của nghiên cứu này cho thấy rằng, những cú sốc chi tiêu chính phủ: nói chung, tác động tiêu cực trên GDP; dẫn đến sự sụt giảm của cả tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân; làm tăng mức giá liên tục; đồng thời, cũng có tác dụng hỗn hợp trên chi phí trung bình của việc tái cấp vốn cho các khoản nợ. Cụ thể hơn, một cú sốc tăng 1% chi tiêu chính phủ có tác động tăng tối đa 0,1% GDP, trong khi tác động đến cả tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân với mức giảm tương ứng là 0,12% và 0,2%. Ngoài ra, các cú sốc thuế có tác động tiêu cực đến GDP, cả tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân, mặc dù phản ứng xuất hiện với độ trễ khoảng bốn quý. Trong thực tế, ở giai đoạn đầu, một cú sốc tăng 1% thuế của chính phủ có thể tạo ra một phản ứng tăng của 0,06% GDP, làm tăng cả tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân tương ứng là 0,04% và 0,14%. Sau đó, những tác động của cú sốc thuế làm cho các biến vĩ mô bị giảm xuống và thậm chí trở thành tiêu cực. Những kết quả này cho thấy sự mở rộng của chi tiêu chính phủ có liên quan đến một đợt suy thoái tài chính. Tương tự như vậy, sự gia tăng thuế của chính phủ được theo sau bởi một chính sách tài khóa phần nào ít tuân theo các quy tắc. Khi chúng ta xem xét một cách rõ ràng các phản ứng trước cú sốc từ nợ chính phủ, lãi suất (dài hạn) trở nên nhạy cảm hơn, phản ứng của GDP là nhẹ và ít đáp ứng, và những tác động của chính sách tài khóa trên các biến này cũng trở nên dai dẳng hơn. Ngoài ra, các kết quả cung cấp bằng chứng yếu nhưng ổn định về tác động của mức nợ trên cán cân ngân sách cơ bản.
Mặt khác, và từ một quan điểm về kiểm soát lạm phát, chi tiêu chính phủ cũng sẽ tạo áp lực lên trên mức giá.
2.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm đối với các quốc gia có nền kinh tế mới nổi Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
Có ít nghiên cứu áp dụng mô hình định lượng để đánh giá tác động của các cú sốc tài khóa ở các nước mới nổi hơn so với các nước phát triển. Cerda và các cộng sự (2005) đã sử dụng mô hình VAR tiêu chuẩn với ba biến đối với Chile. Kết quả của họ không thuyết phục khi họ phát hiện ra rằng một cú sốc chi phí (thuế) tăng đã có một tác động tiêu cực (và biên tế) trên sản lượng trong quý đầu tiên và sau đó hiệu ứng mất đi. Đối với Cộng hòa Séc, Stikova (2006) ban đầu áp dụng mô hình SVAR ba biến tiêu chuẩn và đã có kết quả đáng kể. Sau đó, tác giả sử dụng mô hình SVAR năm biến, bao gồm lạm phát và lãi suất ngắn hạn. Một cách đáng ngạc nhiên là các tác động của hiệu ứng mở rộng chi tiêu (và giảm thuế) đã có các thông số kỹ thuật không đáng kể và những ảnh hưởng đối với giá cả và lãi suất là không thuyết phục.
Trong một nghiên cứu so sánh giữa Chile và Colombia, Restrepo và Rincón (2006) đã sử dụng mô hình tiêu chuẩn SVAR ba biến cho giai đoạn 1990-2005. Kết quả cho thấy, đối với trường hợp Chile, sự gia tăng trong doanh thu thuế (chi tiêu) có tác dụng tạm thời tiêu cực (tích cực) đối với GDP; tuy nhiên, đối với Colombia, kết quả là trái ngược vì một cú sốc thuế không có tác động đến GDP và ảnh hưởng của một cú sốc chi tiêu hầu như không đáng kể.
Nghiên cứu nền tảng cho luận văn: Tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô Colombia của Ignacio Lozano và Karen Rodríguez năm 2011 Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
Qua nghiên cứu tác động ngắn hạn của chính sách tài khóa ở Colombia lên nền kinh tế vĩ mô giai đoạn từ năm 1980 – 2007, nghiên cứu của các tác giả trên đã thu được những kết quả nhất định như sau: trong được nghiên cứu sử dụng mô hình VAR đệ quy đã được khuyến cáo rộng rãi bởi một số bài báo thực nghiệm trước đó. Trong suốt thời gian nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách cho đất nước đã tiến hành một loạt các cải cách sâu rộng về kinh tế và chính trị để hiện đại hóa nhà nước và tăng cường hoạt động sản xuất. Chính sách tài khóa đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt được những mục tiêu này.
Ban đầu, các hiệu ứng kinh tế vĩ mô của cú sốc tài khóa được đánh giá bằng mô hình đơn giản (SVAR ba biến). Hoặc tăng chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế có tác động làm tăng GDP đáng kể trong sáu tháng đầu; sau đó, những tác động có xu hướng biến mất dần trong trung hạn. Những phát hiện này tương phản với kết quả không đáng kể được tìm thấy trước đây đối với Colombia. Ngược lại, mô hình tiêu chuẩn của bài nghiên cứu này là một mô hình VAR đệ quy năm biến trong đó có bổ sung thêm CPI – lạm phát và lãi suất danh nghĩa ngắn hạn. Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng thêm mô hình VAR sáu biến, thêm lần lượt tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân, tỷ lệ thất nghiệp và mức lương tối thiểu thực tế. Tác giả cũng chia doanh thu thuế và chi tiêu chính phủ thành các thành phần để phân biệt các tác động riêng biệt của chúng. Kết quả cho thấy những tác động sau đây của một cú sốc tăng chi tiêu chính phủ; thứ nhất, GDP phản ứng tăng và đáng kể trong sáu tháng đầu và cho thấy một hình bướu hình điển đỉnh điểm trong quý thứ ba. Sau đó, nó giảm dần và đạt đến không sau bốn năm. Thứ hai, cả lạm phát và lãi suất danh nghĩa cũng phản ứng tích cực và đáng kể, đặc biệt là sau năm thứ hai. Thứ ba, các phân tích cho thấy một phản ứng tăng đáng kể của cả tiêu dùng cá nhân và đầu tư tư nhân mặc dù phản ứng của đầu tư tư nhân là lớn hơn và ngắn hơn. Thứ tư, liên quan đến tác động bởi các thành phần của chi tiêu công, ta thấy sản lượng và đầu tư tư nhân phản ứng mạnh mẽ với một cú sốc đầu tư công, đồng thời, phản ứng với cú sốc chi tiêu công của chính phủ là yếu và không có ý nghĩa đáng kể. Và thứ năm, tỷ lệ thất nghiệp phản ứng giảm đáng kể cho một cú sốc tăng trong chi tiêu chính phủ.
Tác động đến các biến kinh tế vĩ mô của một cú sốc thuế ròng tăng là không đáng kể mặc dù các tác giả tìm thấy một số kết quả đáng ghi nhận. Trong một trường hợp, lạm phát và đặc biệt là lãi suất danh nghĩa ngắn hạn giảm xuống đáng kể. Tuy nhiên, phản ứng của các biến này không tiếp tục sau năm thứ hai. Trong trường hợp khác, các cú sốc về thuế thu nhập ở Colombia dường như rõ ràng gây ra sự biến động nhiều hơn, bởi vì chúng chủ yếu ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân, trong khi những cú sốc về thuế tiêu thụ dường như không ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất trong ngắn hạn.
2.2.3. Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
Đối với những nghiên cứu tại Việt Nam, trong thời gian qua vẫn chưa có nghiên cứu áp dụng mô hình VAR đệ quy để nghiên cứu về tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô mà chỉ chủ yếu sử dụng các mô hình đơn giản để thống kê, đánh giá tác động của một số riêng lẻ biến như thuế, chi tiêu công đến lạm phát, GDP Theo đánh giá của TS. Vũ Thị Minh Luận (2012) tại nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã khẳng định chi thường xuyên của Chính phủ tác động tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn là rất lớn. Đồng thời, qua nghiên cứu tác động h c ra trong kinh tế vĩ mô, Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung (2010) cũng đã khẳng định việc sử dụng chính sách tài khóa mở rộng của chính phủ đã làm tăng lãi suất, dẫn đến giảm đầu tư tư nhân, từ đó giảm hiệu quả của chính sách khóa. Ngoài ra, đối với tác động của chi tiêu chính phủ đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn thì theo đánh giá của Th.S Đặng Văn Cường và Bùi Thanh Hoài (2014) khi nghiên cứu Tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế: Minh chứng dữ liệu chuỗi tại TP. Hồ Chí Minh thì tác động này là nghịch chiều, tuy nhiên, chỉ đối với dữ liệu của TP. Hồ Chí Minh thì kết quả nghiên cứu của các tác giả trên vẫn chưa thể bao quát hết về nền kinh tế Việt Nam.
Bên cạnh các nghiên cứu trên, cũng có nghiên cứu của PGS.TS Sử Đình Thành (2011) đã sử dụng phương pháp kiểm định nhân quả Granger trong mô hình VAR đa biến để xem xét tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam; kết quả của nghiên cứu trên chỉ ra rằng chi tiêu chính phủ có tác động tích cực lên GDP, đồng thời không phát hiện mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và đầu tư tư nhân.
2.3. Tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước đây
Nhằm cung cấp một cái nhìn mang tính tổng quát các nghiên cứu thực nghiệm đã được trình bày, đề tài tổng hợp tất cả các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến kinh tế vĩ mô thông qua các mô hình định lượng như sau: Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng về nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển nền kinh tế vĩ mô Việt Nam