Khóa luận: Thực trạng về nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng về nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô Việt Nam trong ngắn hạn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Cơ sở chọn mô hình nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu của đề tài sẽ dựa trên mô hình nghiên cứu của Ignacio Lozano và Karen Rodríguez (2011). Do ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về chủ đề này sử dụng các phương pháp định lượng, sử dụng mô hình VAR nên chưa có một mô hình chuẩn cho việc nghiên cứu. Vì vậy, đề tài sẽ sử dụng mô hình nghiên cứu ở nước có nền kinh tế mới nổi như Colombia làm nền tảng cho nghiên cứu của mình.

3.2. Mô hình nghiên cứu

3.2.1. Mô hình cơ sở

Nghiên cứu này áp dụng mô hình cơ sở được Ignacio Lozano và Karen Rodríguez (2011) sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng của các cú sốc chính sách tài khóa đến nền kinh tế vĩ mô tại Colombia, đây là một mô hình VAR đệ quy năm biến với phân rã Cholesky, trong đó, các biến bao gồm: dữ liệu hàng quý về GDP thực (yt), chi tiêu chính phủ (gt), doanh thu thuế (tt), lạm phát (cpit) được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và lãi suất cho vay theo quý (rt). Kết hợp phương pháp tiếp cận của Blanchard-Perotti (2002) đồng thời kết hợp với phương pháp tiếp cận đệ quy đã được Caldara và Kamps sử dụng trong nghiên cứu năm 2008, tác giả đã xây dựng được một mô hình VAR đệ quy như sau: Khóa luận: Thực trạng về nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Thứ tự được đề xuất bởi những tác giả trong bài nghiên cứu của Ignacio Lozano và Karen Rodríguez (2011) đối với một mô hình VAR đệ quy năm biến dựa trên phỏng đoán sau đây:

  • Chi tiêu chính phủ được đặt đầu tiên (gt), do chi tiêu chính phủ là cú sốc cho các biến khác trong hệ thống và không chịu tác động của các biến khác trong mô hình.
  • GDP thực được đặt thứ hai (yt), có nghĩa là nó không chịu tác động thuế, lạm phát và lãi suất nhưng lại bị ảnh hưởng bởi những cú sốc chi tiêu chính phủ.
  • Lạm phát là biến thứ ba trong thứ tự (cpit) có nghĩa là lạm phát không chịu tác động của thuế và lãi suất nhưng lại bị ảnh hưởng bởi những cú sốc chi tiêu chính phủ và GDP thực.
  • Doanh thu thuế là vị trí thứ tư (tt), có nghĩa là nó không chịu tác động của lãi suất nhưng lại bị ảnh hưởng bởi chi tiêu chính phủ, GDP thực và các cú sốc lạm phát.
  • Lãi suất là cuối cùng (rt) bởi vì các nhà nghiên cứu trước đây cho rằng nó bị ảnh hưởng bởi tất cả những cú sốc của các biến khác trong mô hình.

Ngoài ra, các tác giả Ignacio Lozano và Karen Rodríguez (2011) còn sử dụng mô hình VAR 6 biến phát triển dựa vào mô hình cơ sở trên bằng cách lần lượt thêm các biến tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân và tỷ lệ thất nghiệp vào mô hình để phân tích thêm việc tác động của chính sách tài khóa đến các biến vĩ mô trên.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

3.2.2. Mô hình VAR đệ quy Khóa luận: Thực trạng về nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Mô hình VAR được giới thiệu đầu tiên bởi Sims (1980), so với các mô hình truyền thống trước đó thì các biến được chia thành biến nội sinh và biến ngoại sinh. Tuy nhiên theo Sims thì tất cả các biến trong mô hình đều được xem là biến nội sinh, điều này là phù hợp khi đánh giá tác động của các biến vĩ mô.

Trong mô hình VAR một biến không chỉ chịu tác động của các biến khác trong mô hình mà còn chịu ảnh hưởng bởi biến trễ của chính nó. Mô hình VAR về cấu trúc là gồm hệ phương trình, là một mô hình động của một biến số thời gian. Mô hình VAR của 2 biến Y1, Y2 với độ trễ p được viết như sau:

Trong đó: Y1t và Y2t là chuỗi dừng và là biến nội sinh, ε1t và ε2t là các sai số phần dư.

Bernanke và Mihov (1998) là các nhà kinh tế đầu tiên đề xuất ra mô hình VAR đệ quy bởi theo họ mô hình này được xây dựng sao cho các phần dư không tương quan với các phần dư trong phương trình hồi quy trước đó. Phương pháp phân rã Cholesky được sử dụng trong mô hình này.

Tuy nhiên phương pháp phân rã Cholesky lại phụ thuộc vào việc sắp xếp thứ tự các biến theo Sarno và Thornton (2004). Cụ thể:

  • Các biến sắp xếp theo một thứ tự giả định, khi đó biến đứng trước được giả định sẽ gây ra tác động cho những biến ở sau nó, trong khi các biến sau không gây ra tác động tới biến đứng trước nó mà chỉ chịu tác động của các biến trễ của chính nó.
  • Với thứ tự sắp xếp khác nhau sẽ cho ra kết quả khác nhau. Do vậy đề tài thực hiện thống nhất cách sắp xếp thứ tự các biến theo Ignacio Lozano và Karen Rodríguez (2011).

3.3. Cơ sở dữ liệu

Việc thu thập dữ liệu của bài nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân là do việc công bố các dữ liệu về ngân sách quốc gia và việc thống kê các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam chưa được phổ biến, liên tục và công khai trên mạng thông tin điện tử. Đối với các số liệu về ngân sách, Chính phủ chỉ thực hiện công bố công khai từ năm 2006, tuy nhiên phần lớn là các số liệu dự toán ngân sách hàng năm; đồng thời, đối với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô thì Tổng Cục thống kê Việt Nam đã thực hiện thống kê và công khai trên trang thông tin điện tử, nhưng các dữ liệu này không liên tục, kỳ thống kê của từng loại dữ liệu là khác nhau và chỉ được công bố dưới dạng tháng hoặc năm. Vì vậy, trong bài viết này ta thống nhất sử dụng nguồn dữ liệu được công bố trên trang thông tin điện tử của Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF từ năm 1996 đến năm 2014.

Một số biến không được công bố với số liệu hàng quý, do vậy, số liệu được sử dụng trong bài viết này đa số được thu thập từ nguồn dữ liệu của IMF thống kê theo hàng năm sau đó dùng chương trình Eview 6.0 để thực hiện chuyển đổi sang số liệu hàng quý, cụ thể:

Dữ liệu của các biến như chi tiêu chính phủ, GDP thực, doanh thu thuế, tiêu dùng cá nhân, đầu tư tư nhân, tỷ lệ thất nghiệp được thu thập từ dữ liệu hàng năm của Việt Nam do IMF công bố và được thực hiện chuyển đổi qua chương trình Eview để có được dữ liệu hàng quý.

Dữ liệu của biến lạm phát (thể hiện bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI) và biến lãi suất cho vay theo quý được lấy từ bộ dữ liệu của IMF.

3.3.1. Mô tả biến Khóa luận: Thực trạng về nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Trong phần này đề tài sẽ trình bày cách đo lường các biến nghiên cứu, cụ thể như sau:

Bảng 3.1: Mô tả và đo lường các biến nghiên cứu

Để có cái nhìn tổng quát hơn về các biến sử dụng trong mô hình, ta thực hiện thống kê mô tả các biến bằng phần mềm Eview như sau:

Bảng 3.2: Kết quả thống kê mô tả các biến sử dụng trong nghiên cứu

3.3.2 Biến động của các biến trong mô hình

Hình 3.1: Biến động của các biến trong mô hình VAR đệ quy 5 biến

Trong việc phân tích nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2014 cần chú trọng các mốc biến động của nền kinh tế thế giới có ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam, cụ thể như: Biến động của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1997-1998 chịu sự ảnh hưởng lan truyền của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của khu vực Đông Á, điều này có thể nhận thấy qua chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp đạt mức cao nhất trong năm 1998. Bên cạnh đó, sau một thập kỷ từ 2007-2008 là khủng hoảng tín dụng toàn cầu, bắt nguồn từ nợ dưới chuẩn tại Mỹ và nhanh chóng ảnh hưởng đến hệ thống tài chính quốc tế, trong đó có Việt Nam, điều này có thể dễ dàng nhận thấy qua việc tốc độ tăng của các chỉ tiêu đầu tư tư nhân, tiêu dùng cá nhân và doanh thu thuế ở các năm 2008 và 2009 đều giảm so với giai đoạn trước.

Đồng thời, để có sự phân tích sự biến động của nền kinh tế vĩ mô một cách toàn diện, ta cũng cần chú ý đến sự thay đổi trong các cơ chế chính sách của Chính phủ Việt Nam, các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ được áp dụng trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2014 như: các gói kích cầu của Chính phủ sau khủng hoảng tín dụng toàn cầu, các điều chỉnh trong chính sách thuế, cơ chế thỏa thuận lãi suất được áp dụng từ năm 2002 Tuy nhiên trong bài nghiên cứu này, ta chỉ tập trung đánh giá sự tác động của chính sách tài khóa lên nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam, chủ yếu đánh giá qua việc biến động của chi tiêu chính phủ và doanh thu thuế tác động lên các biến kinh tế vĩ mô.

3.4. Phương pháp kiểm định mô hình Khóa luận: Thực trạng về nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam

3.4.1. Kiểm định tính dừng

Trong các nghiên cứu thực nghiệm khi sử dụng dữ liệu theo chuỗi thời gian, đặc biệt là sử dụng mô hình VAR đệ quy thì để kết quả được chính xác đòi hỏi chuỗi dữ liệu phải dừng, nếu chuỗi dữ liệu không dừng sẽ cho ra kết quả sai

Một chuỗi dữ liệu thời gian được xem là dừng nếu trung bình và phương sai không thay đổi theo thời gian và hiệp phương sai giữa hai thời điểm chỉ phụ thuộc vào khoảng cách hay độ trễ về thời gian chứ không phụ thuộc vào thời điểm đang xét.

Để kiểm tra tình dừng đề tài sẽ sử dụng kiểm định Augmented Dickey Fuller (ADF) là công cụ phổ biến, được áp dụng rộng rãi trong kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian. Trong đó, các độ trễ thời gian sẽ được lựa chọn theo tiêu chuẩn AIC (Akaike Information Criteria). Đồng thời đề tài còn sử dụng phương pháp Phillips–Perron theo tiêu chuẩn Newey-West Bandwidth để nhằm kiểm định chính xác hơn tính dừng của dữ liệu. Nếu chuỗi dữ liệu không dừng đề tài sẽ sử dụng kỹ thuật lấy sai phân để đưa chuỗi dữ liệu về dạng dừng.

3.4.2. Xác định độ trễ tối ưu của mô hình Khóa luận: Thực trạng về nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Tất cả các biến trong mô hình VAR đều là biến nội sinh, biến nghiên cứu phụ thuộc vào độ trễ của nó. Do đó, có quá nhiều tham số phải ước lượng (2n2-n hệ số) nên việc thực hiện kiểm định để lựa chọn độ trễ tối ưu của mô hình VAR là quan trọng. Các nhà kinh tế thường dựa vào một số tiêu chuẩn sau đây để xác định độ trễ tối ưu của mô hình: phương pháp tiêu chuẩn FPE và AIC của Akaike (1790, 1974); phương pháp tiêu chuẩn HQ của Hannam và Quinn (1979); phương pháp tiêu chuẩn LR của Sims (1980); phương pháp tiêu chuẩn khác như Schwarz (1978), Shibata (1981) và Rice (1984), mỗi phương pháp đều có các tính chất tối ưu riêng biệt.

3.4.3. Kiểm định nhân quả Granger

Đề tài thực hiện kiểm định nhân quả Granger nhằm xem xét với một độ trễ đã chọn thì các biến trong mô hình có quan hệ nhân quả với nhau về mặt thống kê không. Mô hình kiểm định Granger chỉ đơn giản được dùng để trả lời cho câu hỏi có hay không sự thay đổi của biến X gây ra sự thay đổi của biến Y và ngược lại. Phương trình hồi quy trong kiểm định Granger mô tả như sau:

Ta có các trường hợp sau:

Nếu  khác không và có ý nghĩa thống kê, nhưng  không có ý nghĩa thống kê thì sự biến động của biến X là nguyên nhân gây ra sự biến động của biến Y.

Nếu không có ý nghĩa thống kê, nhưng  khác không và có ý nghĩa thống kê thì biến X chịu sự tác động bởi sự thay đổi của biến Y.

Nếu và đều có ý nghĩa thống kê thì X và Y tác động qua lại lẫn nhau.

Nếu và đều không có ý nghĩa thống kê thì X và Y độc lập với nhau.

3.4.4. Kiểm tra tính ổn định của mô hình Khóa luận: Thực trạng về nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Việc kiểm tra tính ổn định của mô hình nhằm xem xét mô hình mà đề tài sử dụng có ổn định không, nếu mô hình không ổn định thì kết quả của việc ước lượng đặc biệt là kết quả thu được (sai số chuẩn) của hàm phản ứng thúc đẩy IRF sẽ không có giá trị. Để kiểm tra tính ổn định của mô hình VAR đề tài sử dụng kiểm định AR Roots Graph và AR Roots Table theo đó nếu tất cả các nghiệm đều có modulus < 1 và không có nghiệm nào nằm ngoài vòng tròn nghiệm đơn vị thì mô hình được xem như là ổn định, ngược lại nếu có một dấu chấm nằm ngoài vòng tròn nghiệm đơn vị thì xem như là mô hình không ổn định.

3.4.5. Hàm phản ứng thúc đẩy (IRF)

Hàm phản ứng thúc đẩy là một chức năng quan trọng phát sinh từ mô hình VAR. Nó cho phép xác định hiệu ứng cú sốc của một biến nội sinh nào đó đối với các biến khác trong mô hình theo thời gian.

3.4.6. Phân rã phương sai (Variance decomposition)

Phần phân tích hàm phản ứng thúc đẩy đã cho biết có hay không sự ảnh hưởng của cú sốc đến các biến còn lại nhưng như thế là chưa đủ vì có thể tác động truyền dẫn của các cú sốc từ các biến khác nhau sẽ có mức độ ảnh hưởng đến từng biến trong mô hình là khác nhau. Do vậy, trong phân tích các nhà kinh tế thường sử dụng kèm theo kỹ thuật phân rã phương sai để xác định xem mức độ ảnh hưởng của một biến đến biến số nghiên cứu là bao nhiêu. Khóa luận: Thực trạng về nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển nền kinh tế vĩ mô Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Thực trạng về nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Ảnh hưởng tài khóa đến kinh tế vĩ mô Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464